Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Khoảng Cách Từ Nói Đến Làm

Tại sao lại có quá nhiều khoảng cách giữa những điều mà các công ty biết là họ nên làm với những việc họ thực sự làm? Tại sao lại có quá nhiều các công ty không thể áp dụng những kinh nghiệm và kiến thức mà họ đã phải rất nỗ lực mới tích lũy được? Khoảng cách từ nói đến làm (The Knowing-Doing Gap) là cuốn sách đầu tiên đối mặt với thách thức biến kiến thức về cách nâng cao hiệu suất hoạt động thành hành động thực sự tạo ra những kết quả có thể định lượng được. Trong cuốn sách này, Jeffrey Pfeffer và Robert Sutton, những tác giả và giảng viên nổi tiếng, đã xác định nguyên nhân của khoảng cách từ-biết-tới-làm và đưa ra cách lấp đầy khoảng cách đó. Thông điệp trong cuốn sách rất rõ ràng - các công ty muốn biến kiến thức thành hành động phải tránh xa "bẫy nói suông"(smart talk trap). Những kế hoạch, phân tích, cuộc họp, buổi trình bày của nhà điều hành để truyền cảm hứng cho công việc không thể thay thế cho hành động. Những công ty mà hành động dựa trên kiến thức sẽ loại bỏ được nỗi sợ hãi, sự cạnh tranh nội bộ, biết được cái gì quan trọng và củng cố vai trò người lãnh đạo, người vốn hiểu rõ công việc của từng nhân viên trong công ty. Các tác giả lấy ví dụ từ hàng tá công ty để chỉ ra tại sao một số có thể vượt qua khoảng cách từ-biết-đến-làm, một số dù cố nhưng không thể và một số khác tránh được ngay từ đầu. Khoảng cách từ nói đến làm chắc chắn là cuốn sách hữu ích đối với những giám đốc điều hành ở mọi nơi trên thế giới hàng ngày đang phải đấu tranh để giúp công ty của họ vừa biết lại vừa làm được những gì họ biết. Đây là một cẩm nang thực tế, hữu ích trong vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp ngày nay. TÁC GIẢ : Jeffrey Pfeffer là một nhà lý luận kinh doanh người Mỹ. Ông là giáo sư chuyên về Hành vi tổ chức tại Trường Cao học Kinh doanh thuộc Đại học Stanford, và được coi là một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất hiện nay. Robert I. Sutton là giáo sư Khoa học và Kỹ thuật Quản lý tại Đại học Stanford. Sutton đã viết 5 quyển sách trong đó có "The No A** hole Rule: Building a Civilized Workplace and Surviving One That Isn't" nằm trong danh sách bán chạy nhất của New York Times và đã giành giải Quill Award dành cho sách kinh doanh hay nhất năm 2007. *** Biết phải làm gì thôi chưa đủ Tại sao chúng ta đổ bao công sức vào giáo dục và đào tạo, tư vấn quản lý, nghiên cứu kinh doanh, rồi sách vở, bài viết, nhưng lại có quá ít thay đổi trong hành động thực tế của các nhà quản lý và tổ chức? Năm 1996 có hơn 1.700 cuốn sách kinh doanh được xuất bản ở Hoa Kỳ, và con số này ngày càng tăng. Rất nhiều trong số đó chứa đầy những phân tích và công thức giống nhau, chỉ khác về ngôn ngữ và hình ảnh, và đặc biệt, chẳng có gì khác những cuốn sách được xuất bản trước đó. Trên thực tế, vô số ý tưởng tự xưng là mới ra năm nay đều đã xuất hiện trong những cuốn sách được in từ hàng thập kỷ trước. Dù thế, các cuốn sách mới này vẫn được thị trường đón nhận vì những ý tưởng đó vẫn chưa được thực hiện dù được coi là hữu dụng và được nhiều người biết đến. Vì vậy, các tác giả vẫn tiếp tục cố gắng, một phần bằng cách thay đổi mẫu mã kiểu dáng và cập nhật thông tin, để làm thế nào đó khiến các nhà quản lý không chỉ biết, mà còn áp dụng những gì họ nắm được. Và các nhà quản lý tiếp tục mua những cuốn sách đầy rẫy những điều họ đã biết bởi họ hiểu rằng chỉ biết thôi chưa đủ. Họ hy vọng rằng việc mua và đọc thêm một cuốn sách, biết đâu đấy, sẽ chuyển hóa kiến thức đó thành hành động tổ chức. Mỗi năm, các tổ chức đổ hơn 60 tỷ đô-la vào đào tạo, đặc biệt là đào tạo quản lý. Phần nhiều trong các hoạt động đào tạo đó, với những chủ đề như Quản lý Chất lượng Toàn diện (Total Quality Management − TQM), dịch vụ khách hàng, xây dựng lòng trung thành của khách hàng, khả năng lãnh đạo và thay đổi cơ cấu, đều dựa trên những kiến thức và nguyên tắc về cơ bản là vĩnh cửu: không thay đổi và không được thay đổi. Dù vậy, quá trình đào tạo thường lặp đi lặp lại. Nhưng dù chất lượng nội dung, cách truyền đạt, hay tần suất lặp lại đến đâu đi nữa, đào tạo quản lý vẫn không thể thay đổi các thực tiễn tổ chức. Giáo sư Mark Zbaracki của Đại học Chicago đã nghiên cứu quá trình đào tạo Quản lý Chất lượng Toàn diện tại 5 tổ chức có đội ngũ cán bộ cấp cao tin rằng phương pháp TQM có thể nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của họ, cũng như là quá trình đào tạo đó đã thay đổi cách con người làm việc. Thế nhưng Zbaracki thấy rằng các phương pháp định lượng TQM không hề được sử dụng trong 4 tổ chức và chỉ được dùng một cách hạn chế ở tổ chức thứ 5. Kết quả này không phải chỉ xảy ra ở TQM, mà chúng tôi đã thấy chuyện tương tự xảy ra liên tục trong quá trình nghiên cứu. Mỗi năm, các tổ chức đang cần lời khuyên tiêu tốn hàng tỷ đô-la vào các dịch vụ tư vấn quản lý – ước tính là 43 tỷ đô-la vào năm 1996. Nhưng lời khuyên hiếm khi được áp dụng. Một nhà cố vấn, khi thuyết trình thuyết phục một ngân hàng lớn của Mỹ giao việc cho mình, đã bật một slide chứa các khuyến nghị từ 4 nghiên cứu được thực hiện 6 năm trước cho ngân hàng này. Cả 4 bộ nghiên cứu đều đi đến cùng một kết luận, điều này không có gì ngạc nhiên vì đều do những con người rất thông minh tuy từ bốn hãng khác nhau nhưng được cung cấp các thông tin về cơ bản là giống nhau thực hiện. Người thuyết trình, người đang bán việc áp dụng và thay đổi hơn là bán dịch vụ phân tích, đã hỏi những nhà điều hành ngồi đó, “Tại sao các vị lại muốn trả tiền để nhận vẫn câu trả lời đó lần thứ năm?” Hãng của ông đã nhận được hợp đồng. Một ví dụ nữa về việc biết-nhưng-không-làm trong thế giới cố vấn quản lý: hai nhà cố vấn của một hãng hàng đầu làm việc cho một công ty điện lớn ở Mỹ Latinh đang đối mặt với quá trình bãi bỏ các quy định. Họ đều rất chán nản khi biết rằng ban quản lý đã có một tài liệu dày 500 trang, từ 4 năm trước, với các kế hoạch và khuyến nghị chi tiết, do một hãng cố vấn khác làm trong hợp đồng trước. Họ báo cáo lại: Tài liệu đã có rất tốt. Nó cung cấp các nghiên cứu đánh giá chi phí tiêu chuẩn từ các công ty dân dụng hiệu quả nhất trên thế giới, các tóm tắt về các hệ thống đào tạo thành công nhất ở các công ty công nghiệp khác, và các lịch trình thực hiện khá chi tiết... Do phân tích của chúng ta cũng dựa trên chính... các thông tin được đưa cho các nhà cố vấn từ bốn năm trước... các khuyến nghị của chúng ta về cơ bản là y hệt. Vấn đề không phải là phân tích, mà là thực hiện. Mặc dù chúng ta có thể xác định được các vùng mới cần cải thiện, nhưng cốt lõi gần như giống hệt tài liệu cũ... Khách hàng đã có từ trước các thông tin chúng ta đang đưa cho họ. Mỗi năm, hàng trăm trường kinh doanh ở Hoa Kỳ đào tạo ra hơn 80.000 thạc sĩ quản trị kinh doanh và thực hiện rất nhiều nghiên cứu về các chủ đề kinh doanh. Nghiên cứu và giáo dục kinh doanh đang tăng lên cả về phạm vi và tầm quan trọng trên khắp thế giới. Dù thế, việc chuyển hóa quá trình nghiên cứu và đào tạo quản lý này thành thực tiễn hoạt động diễn ra rất chậm chạp và thất thường. Có rất ít bằng chứng cho thấy mối liên kết giữa việc nhân sự được đào tạo chuyên sâu về kinh doanh với việc tổ chức hoạt động hiệu quả. Rất nhiều hãng hoạt động tối ưu – như Southwest Airlines, Wal-Mart, The Men’s Wearhouse, ServiceMaster, PSS/World Medical, SAS Institute, AES, Whole Foods Market, và Starbucks – không tuyển người từ những trường kinh doanh hàng đầu và không đặt nặng về vấn đề bằng cấp trong hoạt động nhân sự của họ. Nhiều nhà nghiên cứu đã thấy rằng “những điều được dạy trong trường đại học hay trường kinh doanh không thực sự chuẩn bị cho các nhà quản lý tương lai những kiến thức thực tế về quản lý.” Một báo cáo cho thấy 73% các thạc sĩ vừa tốt nghiệp chương trình MBA khi được hỏi đã nói là “các kỹ năng MBA của họ được dùng rất ít hoặc không dùng gì trong công việc quản lý đầu tiên của họ.” Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao bao nhiêu nỗ lực đổ vào giáo dục và đào tạo, tư vấn quản lý, các nghiên cứu tổ chức và rất nhiều bài viết, sách báo, nhưng lại có quá ít thay đổi trong thực tiễn quản lý như vậy? Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao chút ít thay đổi trong quản lý thực sự xảy ra đó lại gặp quá nhiều khó khăn thế không? Tại sao mà cuối các khóa đào tạo hoặc các cuốn sách, nhiều nhà lãnh đạo nói là đã “sáng ra” và “khôn lên” nhưng vẫn không thay đổi được gì trong tổ chức của họ? Chúng tôi cũng đã tự hỏi điều đó và đã lên đường thực hiện nhiệm vụ thám hiểm một trong những bí ẩn lớn nhất về quản lý tổ chức: Tại sao kiến thức về những việc cần làm thường xuyên không thể dẫn tới hành động hoặc hành vi nhất quán với kiến thức đó? Chúng tôi gọi đây là vấn đề từ-biết-đến-làm (knowing-doing problem): Thách thức đến từ việc biến kiến thức nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức thành hành động nhất quán với kiến thức đó. Cuốn sách này đại diện cho những gì chúng tôi học được về các nhân tố tạo nên khoảng cách từ-biết-đến-làm, lý do và cách thức một số tổ chức có thể áp dụng kiến thức của họ thành công hơn số còn lại. Chúng tôi đã mất 4 năm để học hỏi về những điều tạo ra khoảng cách từ-biết-đến-làm và cách thu hẹp khoảng cách đó, cũng như một số cách giúp các tổ chức né tránh được khoảng cách đó ngay từ đầu. Bắt đầu bằng việc lùng sục các văn bản học thuật cũng như đại chúng để tìm kiếm các câu chuyện, các tình huống cụ thể, các nghiên cứu diện rộng của nhiều hãng có thể cung cấp cách nhìn thấu đáo về vấn đề từ-biết-đến-làm. Đã có các bằng chứng cho thấy mọi ngành công nghiệp đều có các tổ chức gặp phải “căn bệnh” này. Nhưng hiếm có câu trả lời thỏa đáng nào về nguyên nhân hay cách chữa nó. Vì thế chúng tôi thực hiện hàng tá các nghiên cứu định tính và định lượng về các vấn đề từ-biết-đến-làm trong các tổ chức, từ các hãng dịch vụ tài chính, thiết kế sản phẩm, tới các tập đoàn sản xuất truyền thống chuyên “cắt gọt kim loại”, các công ty khai thác mỏ, công ty sản xuất điện, và các chuỗi nhà hàng và bán lẻ. Chúng tôi cũng đã dạy ở Đại học Stanford, trong cả trường kinh doanh và kĩ thuật, nơi các sinh viên quản trị của chúng tôi thực hiện khoảng 100 bài tập tình huống của riêng họ về các vấn đề từ-biết-đến-làm và các vấn đề này có thể đã và sẽ được giải quyết thế nào. Chúng tôi đã kiểm tra diện rộng một loạt các phương cách tổ chức để tìm hiểu về khoảng cách từ-biết-đến-làm. Tuy nhiên, chúng tôi tập trung hơn vào một bộ những phương thức, dù hiếm được thực hiện, nhưng hầu hết các nhà quản lý đều biết đến, được tuyên truyền rộng rãi trong các tổ chức, và đã cho thấy có khả năng tăng cường hiệu suất tổ chức một cách nhất quán: chúng được gọi là phương thức quản lý hiệu suất cao hay cam kết cao độ. Các phương thức này đã được mô tả và ảnh hưởng tích cực của chúng đến hiệu suất hoạt động đã được phân tích trong rất nhiều bài viết và sách vở. Chúng ta sẽ dùng đến bằng chứng này nếu cần để hỗ trợ luận cứ về khoảng cách từ-biết-đến-làm, nhưng sẽ không đưa ra các mô tả chi tiết về từng phương thức hoặc một đánh giá chuyên sâu về bằng chứng cho thấy hiệu quả tích cực của nó đối với hiệu suất hoạt động. Mối quan tâm của chúng ta nằm ở việc nắm rõ được những rào cản của quá trình chuyển hóa kiến thức thành hành động và cách thức một số hãng đã vượt qua các rào cản đó. Các vấn đề từ-biết-đến-làm mà chúng ta đã quan sát được có tính chất phổ thông và hiện hữu trong nhiều chủ đề, từ ứng dụng các kiến thức tiếp thị và các phương thức tốt nhất trong dịch vụ khách hàng tới việc bảo lưu và thực hiện các phương thức sản xuất ưu việt. Chúng tôi đã không tìm thấy được những câu trả lời đơn giản cho thế lưỡng nan từ-biết-đến-làm này. Dựa trên tầm quan trọng của vấn đề từ-biết-đến-làm, nếu những câu trả lời đơn giản có tồn tại, thì hẳn là chúng đã được thực thi rộng rãi. Và những hãng hiếm hoi có thể chuyển hóa kiến thức thành hành động một cách nhất quán cũng không thể tận dụng được lợi thế cạnh tranh đáng kể đó như hiện nay. Chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những nhận thức và chẩn đoán về một số nguồn sinh ra các vấn đề từ-biết-đến-làm, và những ví dụ về các công ty phải chịu hậu quả nặng nề từ vấn đề này, những công ty chưa từng gặp cũng như một số công ty đã có thể khắc phục lỗ hổng từ-biết-đến-làm. Nhưng một trong những nhận thức quan trọng nhất từ nghiên cứu của chúng tôi đó là kiến thức thực sự được vận dụng nhiều khi được rút ra sau khi thực hành thay vì đọc, lắng nghe hay suy ngẫm. Những điều chúng tôi có thể làm được cho bạn trong cuốn sách này rất giới hạn, dù cho chúng tôi đã thu được nhiều nhận thức sâu sắc. Chúng tôi khuyên các bạn nên thực hiện những hành động có suy xét thận trọng thường xuyên hơn. Hãy hạn chế thời gian dự tính và phàn nàn về các vấn đề của tổ chức. Hành động sẽ giúp bạn rút ra nhiều kinh nghiệm hơn. Khi mô tả lỗ hổng từ-biết-đến-làm cho những người khác, chúng tôi thường nhận được chung một lời đáp. Họ sẽ nói rằng lỗ hổng đó bắt nguồn từ những vấn đề cố hữu của cá nhân, do thiếu kiến thức, kỹ năng hoặc có vấn đề về “tính cách”, và sự tồn tại của nó phản ánh sự không hoàn hảo của một cá nhân. Thật sai lầm! Nếu bạn làm việc ở một nơi mà bạn hoặc các đồng nghiệp của mình không biến kiến thức thành hành động, đó có thể không phải hoàn toàn là lỗi của bạn. Rõ ràng, một số người có thể biến kiến thức thành hành động nhanh hơn, số khác có tư duy nhanh nhạy hơn và có khả năng thích nghi tốt hơn người khác, và rằng tâm lý cá nhân đóng một vai trò nào đó trong vấn đề khoảng cách từ-biết-đến-làm mà chúng tôi đang phân tích. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng chúng không đóng vai trò chính yếu trong câu chuyện. Có những tổ chức có thể chuyển kiến thức thành hành động một cách nhất quán và vẫn làm được vậy dù họ có mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhân sự hay thâu tóm thêm các công ty khác hay không. Các tổ chức khác, dù sở hữu những nhân viên thông minh, chăm chỉ, nhanh nhạy nhưng lại không thể chuyển hóa kiến thức về hoạt động tổ chức thành hành động thực tiễn. Cứ như là đã tồn tại một “máy hút não” trong những tổ chức đó chuyên hút kiệt trí tuệ và tầm nhìn của các thành viên. Sự khác biệt giữa các tổ chức phần nhiều xuất phát từ hệ thống quản lý và các phương châm hoạt động của họ thay vì sự khác biệt về chất lượng con người. Các công ty lớn thu được hiệu quả đáng kinh ngạc nhờ những người bình thường. Những công ty không-quá-lớn thu hút các nhân tài và đánh mất lợi thế đến từ tài năng, nhận thức và động lực của họ. Đó là lý do chúng tôi tập trung vào các phương thức quản lý có thể tạo ra hoặc giảm thiểu khoảng cách từ-biết-đến-làm. Thực hiện hay lờ đi: Khoảng cách từ-biết-đến-làm có thực sự tồn tại? Làm sao chúng ta biết kiến thức không phải lúc nào cũng được áp dụng vào thực tiễn và đây là vấn đề ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của tổ chức? Và quan trọng hơn, làm thế nào các tổ chức nắm được mức độ mà tại đó họ đã không làm những điều nên làm? Đây là những vấn đề quan trọng nhưng không quá phức tạp. Bằng chứng về khoảng cách từ-biết-đến-làm Có rất nhiều các nghiên cứu bên trong những ngành công nghiệp riêng lẻ cho thấy các đường hướng ưu việt giúp quản lý con người và tổ chức công việc của họ. Dù những đường hướng được cho là ưu việt đó được biết đến tương đối rộng rãi, nhưng việc lan tỏa chúng diễn ra chậm chạp và không trơn tru, còn chuyện thụt lùi là phổ biến. Một nghiên cứu về ngành dệt may đã cho thấy rằng quy trình sản xuất mô-đun (modular production) tập trung vào sản xuất theo nhóm đạt được hiệu quả sản xuất kinh tế cao hơn xét theo nhiều tiêu chí so với hình thức sản xuất trọn gói (bundle) truyền thống sử dụng nhân công làm từng sản phẩm và đào tạo giới hạn. Các ấn bản thương mại, hiệp hội ngành và các công đoàn có liên quan đã lên tiếng ủng hộ quy trình sản xuất mô-đun từ đầu thập niên 1980. Ấy vậy mà đến năm 1992, khoảng 80% các sản phẩm dệt may vẫn được làm theo hình thức trọn gói, và các nhà máy đã từng áp dụng quy trình sản xuất mô-đun cũng quay về với hệ thống trọn gói. Mời bạn đón đọc Khoảng Cách Từ Nói Đến Làm của tác giả Jeffrey Pfeffer & Robert I. Sutton.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thuật Gây Ảnh Hưởng Hay Là Truyền Bá Tư Tưởng
Cuốn sách gồm 2 phần: Đặt vấn đề truyền bá tư tưởng, tuyên truyền. Truyền bá tư tưởng hay là tuyên truyền như thế nào? Mỗi phần tác giả lý giải vai trò, nguyên nhân tại sao và cách làm như thế nào để có thể truyền bá được cái mình muốn truyền đạt một cách hiệu quả. Cuốn sách này gửi đến bạn những nghiên cứu tâm lý cùng kỹ thuật tuyên truyền để giúp giải đáp các hỏi trên. Cuốn sách nằm trong Tủ sách Học làm người của học giả Hoàng Xuân Việt. Ông từng đảm nhiệm vị trí hiệu trưởng của Trường Nhân Xã Học Làm người (1966-1975), Trường Hán Nôm Học Làm Người Nguyễn Trãi (1993-2001), và là tác giả của hơn 300 đầu sách trong nhiều lĩnh vực, nổi bật là sách học làm người. Trích dẫn: - Trước hết xin bạn hãy là tín đồ của thần chân lý. Phải phục vụ chân lý thì cuộc đời mới thực có chân giá trị. Tuyên truyền dù tinh xảo đến đâu mà bạn phổ biến tà thuyết thì công lao của bạn rút cục là bia cho đời nguyền rủa. Nói chân lý là nói những lý ít ra không bị lung lay dưới sự kiểm soát của triết học và khoa học. Không có gì khốn đốn cho một đời người bằng hy sinh phục vụ trọn kiếp cho một tà thuyết. Cũng có gì đáng nguyền rủa bằng dùng tà thuyết mà mê hoặc hạng ngu dốt, xô đẩy thế hệ này qua thế hệ kia vào vòng mê hoặc. Đời này đã lỗ đời sau không có gì bảo đảm vốn lời. - Con đường của những danh nhân đi là con đường chân lý hay ít ra họ cho là chân lý. Các ý tưởng của họ được nối kết lại thành hệ thống mà người ta gọi là ý thức hệ. Con đường của họ chắc cũng là con đường bạn nhắm vì có thể bạn không nuôi cao vọng làm vĩ nhân nhưng bạn vẫn ước mong truyền bá những tư tưởng của mình. Ai trong chúng ta mà từ lúc trên ghế trung đại học không có lúc ngồi nghĩ khi ra trường sẽ hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị hay cứu nhân độ thế cách nào đó. Mộng đó là một trong muôn ngàn mộng đẹp của tuổi xuân. Còn nói cho khi ra trường mà ta gặp ngay một cơ hội nào đó để hoạt động. Nói hoạt động là nói truyền bá ý tưởng bằng ngôn từ, cử chỉ, hành vi. - Cuộc đời của bạn sẽ là một cuộc đời có thực giá nếu bạn theo một chính thuyết, phục vụ một chân giáo, trọn đời theo đuổi khoa học, phụng sự nhân loại. Vũ trụ và con người cho đến bây giờ còn là cái rừng u minh. Các chân lý chưa được khám phá bao nhiêu. Bạn hãy tiếp tay với các danh nhân tiền bối vào công việc khai trí, khai tâm nhân loại. Đời còn thiếu những thế hệ trẻ giàu nhiệt huyết phục vụ lý tưởng ấy. Khi nắm được chân lý, bạn đừng để chân lý khô khan. Nếu vàng người ta làm thành dây tay, kính, lắc để hấp dẫn sự trang sức thì chân lý cũng cần được chuyển thành những ý lực trong một hệ thống. *** Bộ Sách Tủ Sách Học Làm Người gồm có: Thinh Lặng Cũng Là Hùng Biện Nên Thân Với Đời Thất Nhân Tâm Thuật Nói Chuyện Hàng Ngày Đầu Tư Tương Lai Thuật Gây Ảnh Hưởng Hay Là Truyền Bá Tư Tưởng *** Ông Hoàng Xuân Việt tên thật là Nguyễn Tùng Nhân, sinh năm 1930 tại Bến Tre, viết sách từ năm 18 tuổi. Ra đi ở tuổi 84, ông Hoàng Xuân Việt để lại khối lượng sách do ông trước tác lên đến gần 300 đầu sách thuộc nhiều lĩnh vực. Cùng với hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Duy Cần, Hoàng Xuân Việt là một trong ba người viết nhiều sách về cách học làm người, rèn luyện các kỹ năng sống và giao tiếp. Ngoài ra, ông cũng nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử, triết học với các sách xuất bản: Tìm hiểu lịch sử chữ quốc ngữ (NXB Văn Hóa Thông Tin, 2007), Lược sử triết học Ðông phương, Lược sử triết học Tây phương (Khai Trí xuất bản trước 1975), Bách khoa danh ngôn từ điển: văn minh nhân loại (NXB TP.HCM, 1992)... Ngoài viết sách, ông Hoàng Xuân Việt dành cả đời mình để mở các khóa dạy, truyền đạt kinh nghiệm sống, các quy chuẩn đạo đức, những cách thức ứng xử sao cho văn minh, lịch thiệp... Ðáng kể nhất là mô hình "trường học làm người" ông mở tại tư gia, dạy học viên không phân biệt đối tượng, độ tuổi. Ðã có rất nhiều giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, luật sư đến những nhà sư, giới trẻ... đều ghi danh theo học và nhận mình là học trò của thầy Hoàng Xuân Việt. Với các nội dung thông đạt học, giao tế học, đắc nhân tâm, thuật hùng biện... các học viên tự rút ra những kiến thức, kinh nghiệm sống cho mình. Có những sinh viên, ngoài giờ học vẫn tranh thủ đến lớp học này để nghe ông giảng về những điều mà ở trường không có. Mời các bạn đón đọc Thuật Gây Ảnh Hưởng Hay Là Truyền Bá Tư Tưởng của tác giả Hoàng Xuân Việt.
Viết Gì Cũng Đúng - Các Thủ Thuật Để Thành Công Trong Tranh Luận
Cuốn sách này giúp người đọc có một nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn về biện luận, đó không phải chỉ đơn thuần là việc đưa ra những ý kiến của mình dưới một dạng thức mới, mà là việc đưa ra hàng loạt lý do hay bằng chứng để củng cố cho kết luận. Biện luận không phải là tuyên bố hay tranh cãi về một quan điểm hay vấn đề nào đó, mà là cố gắng bảo vệ cho một quan điểm nhất định với các lý lẽ và bằng chứng rõ ràng. Cuốn sách cung cấp cho bạn đọc những kiến thức như: · Những nguyên tắc cơ bản để xử lý các cuộc tranh luận ngắn: xác định giả thuyết và kết luận; phát triển ý tưởng của bạn... · Khái quát hóa: sử dụng nhiều ví dụ; sử dụng các ví dụ điển hình... · Sử dụng phép loại suy từ các ví dụ tương tự; · Các nguồn trích dẫn: tìm kiếm nguồn thông tin; kiểm tra chéo thông tin;... Đôi khi, chúng ta thường coi biện luận là công việc vô ích và chẳng hay ho gì, nhưng chúng ta cũng nhận thức được rằng biện luận là hoàn toàn cần thiết, nhất là trong xã hội ngày nay, con người được trang bị ngày một đầy đủ hơn, toàn diện hơn cả về kiến thức cũng như công cụ để tìm tòi, nghiên cứu, thì biện luận thông minh là cách hữu hiệu để bảo vệ quan điểm cá nhân. Như chính Anthony Weston - tác giả của cuốn sách này đã nói, “Chân lý không bao giờ thay đổi, chỉ có thời gian thay đổi mà thôi.”, và cuốn sách này sẽ giúp bạn đọc làm sáng tỏ nhiều hơn chân lý đó. Về tác giả: ANTHONY WESTON hiện đang giảng dạy triết học và nghiên cứu môi trường tại Đại học Elon. Ông đã xuất bản 6 cuốn sách và trên 50 bài viết trải dài từ lĩnh vực triết học môi trường và triết lý giáo dục cho tới đạo đức học và tư duy phê phán. *** Lời giới thiệu (Cho bản tiếng Việt) Độc giả thân mến, Có một câu cách ngôn nổi tiếng rằng “Chân lý sinh ra trong tranh luận” và cũng chết đi trong đó. Nếu chúng ta hiểu biết về cách thức lập luận và vận dụng nó phù hợp thì cuộc tranh luận có thể giúp ta làm sáng tỏ chân lý. Ngược lại, nếu ta lập luận bằng mọi cách chỉ cốt để bảo vệ những định kiến đã có sẵn thì chân lý sẽ chết chìm trong những trận luận chiến kéo dài. Bởi vậy, để cuộc tranh luận hay diễn thuyết thành công, điều cốt yếu là phải đưa ra được những lập luận logic, có cơ sở hợp lý.  Tại Việt Nam, chưa có cuốn sách nào thật sự ngắn gọn mà vẫn đầy đủ và dễ hiểu hướng dẫn người đọc các phương pháp biện luận hiệu quả, hữu dụng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Bởi vậy, chúng tôi lựa chọn xuất bản và giới thiệu bộ sách về biện luận nói chung và tranh luận nói riêng với hy vọng sẽ mang đến cho các bạn những kiến thức bổ ích và dễ dàng áp dụng, giúp bạn thành công trong công việc và cuộc sống.  Viết gì cũng đúng của Athony Weston là cuốn sách đầu tiên trong bộ sách này. Tác giả đưa ra nghệ thuật viết và cách thức lập luận sắc bén, thông qua các nguyên tắc cụ thể được giải thích và minh họa đầy đủ, ngắn gọn. Đây được xem như cuốn giáo khoa thư nổi tiếng, đã được dịch sang 8 ngôn ngữ ‒ vẫn là lựa chọn đầu tiên với những ai tìm kiếm một cuốn sách hướng dẫn dễ hiểu về cách đưa ra các lập luận vững chắc.  Tiếp theo Viết gì cũng đúng, chúng tôi sẽ xuất bản cuốn Cãi gì cũng thắng – một cuốn sách thực sự lôi cuốn về cách tư duy phản biện và tranh luận sắc sảo, đặc biệt thích hợp với những ai có nhu cầu rèn luyện và nâng cao khả năng thuyết trình, thuyết phục.  Hy vọng bộ sách sẽ là người bạn đồng hành cùng bạn chinh phục con đường tư duy sắc sảo nhất.  Xin trân trọng giới thiệu tới độc giả. Hà Nội tháng 12/2011 CÔNG TY SÁCH ALPHA *** Lời tựa Quyển sách này giới thiệu ngắn gọn về nghệ thuật viết và đánh giá những lập luận, đồng thời bám rất sát mục tiêu này. Tôi nhận ra rằng hầu hết sinh viên và tác giả thường chỉ cần một danh sách vài dòng ghi nhớ và nguyên tắc chứ không cần giải thích, giới thiệu dài dòng. Do đó, quyển sách này được xây dựng xoay quanh một số nguyên tắc nhất định, được giải thích và minh họa đầy đủ nhưng rất ngắn gọn. Đây không phải một quyển sách giáo khoa mà là một quyển sách nguyên tắc. Tôi nhận ra rằng hầu hết giáo viên có thể cũng muốn giới thiệu một quyển sách nguyên tắc kiểu này để sinh viên tham khảo và tự tìm hiểu, ngõ hầu tránh lãng phí thời gian trong lớp. Một lần nữa tôi cần phải nhắc lại rằng tiêu chí ngắn gọn rất quan trọng vì mục tiêu của cuốn sách này nhằm giúp sinh viên dễ dàng viết một bài luận hay đánh giá một lập luận, nhưng các nguyên tắc cần phải dựa trên giải thích đầy đủ để giáo viên chỉ cần yêu cầu sinh viên xem Nguyên tắc 6 hay Nguyên tắc 16 hơn là phải viết cả một đoạn giải thích bên lề bài viết của sinh viên. Ngắn gọn mà đầy đủ ‒ đó là tiêu chí mà tôi theo đuổi. Quyển sách này cũng có thể được sử dụng trong chương trình học chuyên về lập luận. Tất nhiên, cần phải đưa thêm nhiều bài tập và ví dụ được trình bày rất đầy đủ trong những quyển sách có sẵn khác. Tuy nhiên những quyển sách đó cũng cần được hỗ trợ bởi quyển sách này vì mục đích của nó là tập hợp những nguyên tắc đơn giản để kết hợp các lập luận vững chắc lại với nhau. Có rất nhiều sinh viên hoàn thành khóa học về biện luận mà chỉ biết cách “bắn hạ” (hay đôi khi cũng chỉ “bắn trúng”) những ngụy biện nhất định. Họ thường xuyên không thể giải thích tại sao những lập luận đó không đúng hay đưa ra lập luận của riêng mình. Lý luận phi chính thức có thể làm tốt hơn thế: quyển sách này là một nỗ lực đưa ra cách thức làm điều đó. Xin hoan nghênh các ý kiến nhận xét và phê bình của quý bạn đọc. ANTHONY WESTON Tháng 8 năm 1986 *** Giới thiệu Tại sao phải tranh luận? Một vài người nghĩ rằng tranh luận chỉ đơn thuần là nêu lên những định kiến có sẵn theo một cách khác. Đây cũng chính là lý do vì sao nhiều người cho rằng những cuộc tranh luận thường khó chịu và vô vị. Trong một cuốn từ điển, người ta định nghĩa “tranh luận” là “tranh cãi”. Theo cách hiểu này, chúng ta thường nói rằng hai người đang “tranh cãi” nghĩa là đang đấu đá bằng mồm. Việc này diễn ra thường xuyên đến mức người ta cũng phải công nhận nó. Nhưng đó không phải là tranh luận. Trong quyển sách này, “đưa ra một lập luận” có nghĩa là đưa ra những lý do hay bằng chứng để hỗ trợ một kết luận. Ở đây, lập luận không chỉ đơn thuần là phát biểu về một quan điểm nào đó và cũng không đơn thuần là một cuộc tranh cãi. Lập luận là những nỗ lực sử dụng lý lẽ nhằm chứng minh quan điểm của mình. Tranh luận cũng không vô vị; thực tế nó rất quan trọng và hấp dẫn. Đầu tiên, tranh luận quan trọng bởi đó là cách để tìm ra quan điểm nào đúng hơn. Không phải tất cả các quan điểm đều đúng. Một vài kết luận dựa trên nền tảng của lý lẽ vững chắc trong khi những kết luận khác được hỗ trợ kém hơn nhiều. Nhưng thường thì chúng ta không thể kết luận cái nào là cái nào. Chúng ta cần phải nêu ra nhiều lý lẽ cho nhiều kết luận khác nhau và sau đó đánh giá những lập luận đó để xem xét chúng vững chắc thế nào. Theo cách hiểu này, tranh luận là một quá trình thẩm tra. Chẳng hạn, một số triết gia và nhà hoạt động xã hội tuyên bố rằng hình thức trại nuôi động vật lấy thịt gây ra đau khổ cho động vật, vì thế đó là điều phi lý và thiếu đạo đức. Phát biểu đó có đúng không? Bạn không thể trả lời bằng định kiến của mình được. Có rất nhiều vấn đề liên quan ở đây. Thí dụ như chúng ta có bị ràng buộc đạo đức với những loài khác không hay nó chỉ xấu xa khi con người là chủ thể chịu đựng đau khổ? Con người sẽ sống ra sao nếu thiếu thịt? Một vài người ăn chay đã sống rất lâu. Liệu điều này có nghĩa là chế độ ăn chay thì lành mạnh hơn? Hay nó không hề có liên quan gì khi xét đến việc nhiều người ăn thịt cũng sống lâu? (Bạn có thể tiếp tục suy nghĩ vấn đề này bằng cách đặt ra câu hỏi liệu phần trăm người ăn chay sống lâu có nhiều hơn không.) Hay ngược lại có thể là những người sống lành mạnh có xu hướng trở thành người ăn chay? Tất cả những câu hỏi này cần được suy xét rất cẩn thận và những câu trả lời thoạt đầu đều chưa rõ ràng. Lập luận cũng quan trọng vì một lý do khác. Một khi chúng ta đi đến kết luận với những lý lẽ hỗ trợ đầy đủ, lập luận là cách chúng ta giải thích và bảo vệ kết luận đó. Một lập luận tốt không chỉ đơn thuần lặp lại những kết luận. Thay vào đó, nó cung cấp những lý lẽ và bằng chứng để người khác có thể tự đưa ra quyết định. Thí dụ như nếu bạn tin rằng chúng ta cần phải thay đổi cách nuôi và sử dụng động vật, bạn cần phải đưa ra những lập luận để giải thích cách thức bạn đi tới kết luận đó. Đó là cách bạn thuyết phục người khác: đưa ra những lý lẽ và bằng chứng đã thuyết phục bạn. Có quan điểm vững vàng không phải là một sai lầm. Sai lầm chính là bạn không có gì ngoài những quan điểm. Hiểu rõ sự khác biệt giữa bài văn và bài luận  Những nguyên tắc trong tranh luận không mang tính tùy ý; nó có mục đích nhất định. Tuy nhiên, sinh viên (cũng như một số tác giả khác) không phải lúc nào cũng hiểu mục tiêu đó khi được giao viết bài luận – và nếu bạn không hiểu nhiệm vụ, bạn khó có thể làm tốt nhiệm vụ đó. Rất nhiều sinh viên khi được yêu cầu bảo vệ quan điểm trong một số vấn đề đã viết rất tỉ mỉ quan điểm của mình nhưng không nêu ra bất kỳ lý do thực sự nào để chứng minh rằng quan điểm của họ là đúng. Họ đang viết một bài văn, không phải một bài luận. Đây là hiểu lầm thuộc về bản chất. Ở bậc trung học, các học sinh tập trung học những chủ đề khá rõ ràng và không mang tính tranh luận. Bạn không cần tranh luận chuyện Hiến pháp Hoa Kỳ quy định ra ba nhánh cầm quyền trong chính phủ hay Shakespeare viết vở Macbeth. Bạn chỉ cần nắm vững những thực tế này và bài viết của bạn chỉ cần lặp lại chúng. Các sinh viên bước vào đại học với suy nghĩ mọi chuyện sẽ tương tự như thế ở một cấp cao hơn. Tuy nhiên, rất nhiều chương trình ở bậc đại học – đặc biệt là những chương trình yêu cầu sinh viên phải viết – lại nhắm vào mục tiêu khác. Những chương trình này liên quan đến cơ sở niềm tin của chúng ta; chúng yêu cầu sinh viên phải thẩm tra niềm tin và tìm cách bảo vệ quan điểm của họ. Những vấn đề thảo luận trong chương trình đại học thường không rõ ràng và chắc chắn. Đúng là Hiến pháp quy định ba nhánh cầm quyền trong chính phủ nhưng liệu Tòa án tối cao có nên có quyền phủ quyết đối với hai nhánh kia không? Đúng là Shakespeare viết vở Macbeth nhưng vở kịch đó có ý nghĩa gì? Những lý lẽ và bằng chứng có thể được đưa ra cho những câu trả lời khác nhau. Các sinh viên được yêu cầu phải học cách tự suy nghĩ để thiết lập quan điểm riêng một cách có trách nhiệm. Khả năng bảo vệ được quan điểm của mình là một thước đo cho kỹ năng đó và cũng là lý do tại sao các bài luận lại rất quan trọng. Thực tế, như nội dung từ Chương 7 đến Chương 9 sẽ giải thích, để viết một bài luận tốt, bạn sẽ phải sử dụng các lập luận vừa như một công cụ thẩm tra vừa là cách thức để giải thích cũng như bảo vệ kết luận của mình. Bạn phải chuẩn bị bài viết của mình thông qua nghiên cứu những lập luận từ góc nhìn của các bên đối lập. Sau đó, bạn sẽ phải đưa ra các lập luận trong bài viết của mình để bảo vệ kết luận bạn đưa ra và đánh giá nghiêm túc một vài lập luận từ góc nhìn của các bên đối lập. Dàn bài Quyển sách này bắt đầu bằng việc thảo luận những lập luận tương đối đơn giản và cuối cùng hướng đến cách viết một bài luận hoàn chỉnh. Từ Chương 1 đến Chương 6 trình bày cách hình thành và diễn đạt những lập luận ngắn. Một lập luận “ngắn” đơn thuần đưa ra các lý do và bằng chứng một cách ngắn gọn, thường chỉ trong vài câu hoặc một đoạn văn. Chúng ta bắt đầu với những lập luận ngắn vì một số lý do. Lý do thứ nhất là vì những lập luận này rất phổ biến. Thực tế, nó phổ biến đến nỗi trở thành một phần trong hội thoại thường nhật. Lý do thứ hai là những lập luận dài thường là sự diễn giải của các lập luận ngắn hay một chuỗi các lập luận ngắn được kết nối với nhau. Nếu bạn học cách viết và đánh giá những lập luận ngắn trước, bạn có thể mở rộng kỹ năng của mình sang những bài luận. Lý do thứ ba nên bắt đầu với những lập luận ngắn vì những lập luận này là ví dụ minh họa tốt nhất cho các hình thức lập luận phổ biến và những lỗi điển hình trong lập luận. Trong những lập luận dài, việc tìm ra vấn đề chính thường khó hơn. Do đó, dù rằng một vài nguyên tắc có vẻ rất hiển nhiên khi được đề cập đến, hãy nhớ rằng bạn đang hưởng lợi từ những ví dụ đơn giản. Những nguyên tắc khác đủ khó để đóng vai trò quan trọng ngay cả trong những lập luận ngắn. Chương 7, 8 và 9 chuyển sang bàn đến vấn đề viết luận. Chương 7 trình bày bước đầu tiên: nghiên cứu vấn đề. Chương 8 phác họa những điểm chính trong một bài luận và Chương 9 thêm vào những nguyên tắc cụ thể để viết bài luận. Tất cả những chương này đều dựa trên những gì được thảo luận từ Chương 1 đến Chương 6. Đừng bỏ qua phần đầu và nhảy ngay sang những chương về cách viết bài luận dù rằng bạn tìm đọc quyển sách này cho mục đích đó. Quyển sách này đủ ngắn để đọc xuyên suốt đến Chương 7, 8 và 9 và khi đến những chương này bạn đã được trang bị những công cụ cần thiết để sử dụng chúng một cách hiệu quả. Các giảng viên có thể chỉ định sinh viên đọc từ Chương 1 đến Chương 4 vào đầu học kỳ và sau đó là từ Chương 6 đến Chương 9 vào thời điểm viết bài luận. Chương 10 bàn về những ngụy biện, những lập luận sai lạc. Chương này tổng hợp tất cả những lỗi chung được thảo luận trong các phần khác của quyển sách và kết thúc bằng một danh sách liệt kê rất nhiều lập luận sai lạc đầy cám dỗ và phổ biến đến nỗi có cả tên riêng cho mỗi loại. Phần Phụ lục nêu ra một số nguyên tắc xây dựng và đánh giá các định nghĩa.   Mời các bạn đón đọc Viết Gì Cũng Đúng - Các Thủ Thuật Để Thành Công Trong Tranh Luận của tác giả Anthony Weston.
Để Có Trí Nhớ Tốt
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, con người luôn không ngừng học tập nên mọi người trong xã hội đều sôi nổi nhiệt tình và hứng thú với việc học tập của bản thân và hy vọng sẽ có được kết quả học tập như mong muốn Phương pháp học tập có hiệu quả cũng cần phải kết hợp với đặc điểm của bản thân, trải qua sự rèn luyện và học tập chăm chỉ mới có thể thực sự nắm vững và có được hiệu quả thực tế. Mà khi đã nắm vững phương pháp, hình thành được nền tảng trình độc học tập chắc chắn thì bạn sẽ thấy được lợi ích mà nó đem lại trong suốt cả cuộc đời. Có thể nói, việc học tập của chúng ta đã cần có tri thức rồi nhưng phải biết cách học. Hy vọng rằng cuốn sách này sẽ giúp bạn nhiều điều trên con đường đi tới tri thức nhân loại. Sách có những nội dung chính sau: Chương 1: Đôi điều về trí nhớ. Chương 2: Cách phát triển bộ nhớ. Chương 3: Cách nhớ những con số. Chương 4: Cách gửi ký ức vào những hộp an toàn trong não bạn. Chương 5: Bí mật của trí nhớ được tập luyên. Chương 6: Cách nhớ những dãy số và số liệu thống kê. Chương 7: Bí mật của việc nhớ tên, gương mặt và sự kiện về người khác. Chương 8: Bí mật của việc nhớ tên, gương mặt và sự kiện về người khác. Chương 9: Bí mật của việc nhớ những nhóm người. Chương 10: Cách sử dụng ký ức như một sổ ghi nhớ. Chương 11: Dùng sức mạnh trí nhớ để chiến thắng sự đãng trí. Chương 12: Sử dụng trí nhớ để cải thiện bản thân. *** LỜI NGỎ Bạn đọc thân mến, Có bao giờ bạn nghĩ rằng có được một trí nhớ tốt là điều rất quan trọng và nó giúp bạn thành công? Nếu đã từng nghĩ đến, bạn sẽ nhận thấy rằng thế giới ngày nay đòi hỏi phải có những người “nhiều kinh nghiệm”. “Kinh nghiệm" chính là khả năng của ai đó, giúp họ nhớ, đánh giá, phân loại và sử dụng thành công kiến thức mà họ áp dụng trong nghề nghiệp. Người nào có khả năng nhớ chính xác những điều đã trải qua thì họ có thể áp dụng chúng thành công trong công việc hiện tại, bằng cách né tránh những sai lầm trong quá khứ và phát huy tốt mặt tích cực. Việc đơn giản quá phải không? Bởi vì, khi người ta tập trung tất cả sức mạnh tinh thần vào một vấn đề và tìm ra giải pháp thành công, tức là họ đã phát huy được khả năng “nhớ dai” để tìm ra những “kiến thức tồn kho” của họ. Càng nhiều kiến thức tích lũy thì họ càng có khả năng áp dụng chúng để thành công trong công việc. Điều này cho thấy, những người biết cách rèn luyện trí nhớ của mình là những người dễ thành đạt trong tương lai. Vâng, thưa bạn, trí nhớ là cái cốt lõi của sự thành công trong nghề nghiệp. Những người được khen là “nhớ dai” là người biết cách làm lợi cho họ. Họ gặt hái tiền bạc và uy tín trong các văn phòng, xí nghiệp và trong cộng đồng. Trí nhớ là một cây nho sản sinh ra trái thành công bằng vàng. Chỉ có những người có khả năng luyện trí nhớ là người nhặt những quả có chất lượng ngon nhất và tốt nhất. Trí nhớ không phải là một trò bịp huyền bí. Nó cũng không phải là mánh khóe. Nó là sức mạnh tiềm ẩn trong con người bạn. Sức mạnh này có thể rút ra được. Chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những phương pháp đơn giản và bạn sẽ dễ dàng nhận ra và áp dụng chúng. Tất cả những gì bạn cần làm là tuân theo các quy tắc trong quyển sách này. Một khi đã học được cách chiết ra sức mạnh của ký ức tiềm ẩn, bạn sẽ khám phá ra rằng khả năng tinh thần và khả năng làm việc của bạn được nhân lên. Ngoài ra bạn còn làm tăng thêm uy tín của mình đối với người khác. Bạn có thể nhớ những dãy số điện thoại có 7 con số, những bảng phân công, những thời khóa biểu và cả nhiều điều khác nữa. Ngoài ra, bạn có thể nhớ lại từng cái tên, từng gương mặt mà bạn muốn nhớ. Những sự kiện, hình ảnh, dữ liệu, những lời phát biểu và bất cứ cái gì khác mà bạn muốn lưu trữ trong bộ nhớ, đến khi cần thiết bạn có thể “rút ra tất cả"! Quyển sách này sẽ cho bạn thấy cách tổ chức quá trình ký ức của bạn. Vâng, nó sẽ chứng minh rằng bạn không phải là người đãng trí và cũng chẳng có trí nhớ “tồi”. Chẳng qua là chúng ta có muốn tập luyện để nhớ dai hay không mà thôi. Bất kỳ ai muốn nhớ dai đều có thể rèn luyện được! Tuy nhiên, vạn sự khởi đầu nan. Có thể bạn sẽ gặp khó khăn đôi chút khi tiếp cận các phương pháp ghi nhớ trong quyển sách này. Song, lúc đã thành thạo, bạn sẽ thấy mọi việc đều vô cùng đơn giản. Chúc bạn thành công! VƯƠNG TRUNG HIẾU *** I. Trí nhớ là gì? Trí nhớ là khả năng ghi nhận, tồn trữ và hồi tưởng được các thông tin của não người. Nói cách khác, nó giữ lại được mọi kinh nghiệm thông qua quá trình hoạt động của trí não. Thông thường, hoạt động của trí nhớ gồm có ba giai đoạn: - Tiếp nhận và ghi lại những gì đã tri giác được (từ tai, mắt, mũi...). - Lưu trữ những thông tin đã tiếp nhận. - Nhớ lại những thông tin đã lưu trữ. Con người có nhiều dạng trí nhớ, trong đó có ba dạng phổ biến nhất: trí nhớ thị giác, trí nhớ thính giác và trí nhớ vận động... Người nào có trí nhớ thị giác thì thường nhớ rất lâu những gì đã được nhìn thấy. Người có trí nhớ thính giác lại nhớ rất tốt những gì đã nghe được. Còn người có trí nhớ vận động thì cần phải viết hay đọc đi đọc lại nhiều lần điều gì đấy mới nhớ dai được. *** II. Rối loạn trí nhớ Theo Thạc sĩ y khoa Cao Phi Phong, rối loạn trí nhớ gồm có những dạng sau: a. Sự giảm nhớ: dù những việc xảy ra đã lâu hay mới đây, người bị dạng này bị giảm khả năng nhớ lại một cách đáng kể. b. Quên: bao gồm quên tất cả các sự việc diễn ra trong quá khứ hay quên từng phần quá khứ (quên một số việc đã diễn ra dù mới hay cũ). Người bị rối loạn trí nhớ có thể bị quên thuận chiều, nghĩa là quên những việc vừa xảy ra trong quá khứ gần (vài giờ hoặc vài tuần sau khi bệnh) hay bị quên ngược chiều, còn gọi là quên xa (quên những việc xảy ra vài tháng trước khi bệnh). Ngoài ra, rối loạn trí nhớ có thể dẫn tới việc: - Quên trong cơn: “quên sự việc xảy ra trong cơn như cơn vắng ý thức”. - Quên do ghi nhận kém và nhớ lại kém: việc ghi nhận kém dẫn tới cái gọi là quên gần, tức không nhớ những sự việc vừa xảy ra; còn việc nhớ lại kém đưa tới sự quên xa, tức là quên những việc đã xảy ra từ rất lâu. - Quên tiến triển: sự việc xảy ra gần đây thì quên trước, còn sự việc diễn ra từ lâu thì quên sau. Cái quên này tăng dần theo thời gian của người bệnh. c. Loạn nhớ: nhớ nhầm thời gian diễn ra sự việc trong quá khứ hay nhớ nhầm những việc xảy ra của người khác là của mình. d. Tăng nhớ: nhớ lại những sự việc diễn ra từ rất lâu, không có ý nghĩa gì trong hiện tại hay chỉ nhớ những chi tiết vụn vặn, không ăn khớp với nhau. - Nguyên nhân rối loạn trí nhớ: Khả năng tạo ra trí nhớ và trí nhớ gần bị giảm thường là do bị chấn thương, tai biến mạch máu não, viêm não do virus, bị u tân sinh hoặc do thiếu máu cục bộ hay thiếu vitamin B1. Còn mất trí nhớ xa và mất trí nhớ sau khi chấn thương là do “sự gián đoạn chức năng hệ viền liên quan đến sự lưu trữ và nhớ lại”. Rối loạn trí nhớ còn có nguyên nhân do nghiện rượu nặng, sử dụng chất kích thích như ma túy... Mời các bạn đón đọc Để Có Trí Nhớ Tốt của tác giả Vương Trung Hiếu.
Khởi Nghiệp Bán Lẻ
Không chỉ có Sam Walton của đế chế bán lẻ Walmart, thế kỷ 21 đang chứng kiến sự bùng nổ của dân số, công nghệ và mua sắm trực tuyến, theo đó hàng loạt tỷ phú bán lẻ mới đã ra đời. Ở Mỹ có Jeff Bezos của Amazon. Ở châu Âu có Ortega với chuỗi bán lẻ thời trang Zara. Ở Trung Quốc có Lý Gia Thành của chuỗi cửa hàng mỹ phẩm - dược phẩm Watsons, Jack Ma của Taobao. Ở Việt Nam cũng có Nguyễn Đức Tài với chuỗi bán lẻ Thế Giới Di Động. Họ khác nhau về tuổi tác, màu da, trình độ học vấn, nhưng họ giống nhau ở hai điểm: họ kinh doanh bán lẻ và rất thành công. Khởi Nghiệp Bán Lẻ là quyển sách không thể thiếu cho những ai muốn thành công và giàu có bằng những cửa hàng đông khách. Sách được viết bởi một doanh nhân kinh nghiệm gần 10 năm trong ngày bán lẻ, từng mở hơn 65 cửa hàng thời trang trên toàn quốc. Quyển sách này dành cho: Các bạn đang kinh doanh online và cửa hàng offline. Các chủ shop muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của cửa hàng. Nhà sản xuất muốn mở showroom bán sản phẩm của mình. Hay bất kỳ ai yêu thích kinh doanh và ấp ủ giấc mơ làm giàu bền vững. *** Phần 1: Mơ về đảo vàng Mở đầu “Khởi Nghiệp Bán Lẻ”, tác giả đặt cho chúng ta câu hỏi: “Tại sao bán lẻ là ngành hấp dẫn?” Chắc chắn rằng không ít bạn trẻ đã từng thử và trải nghiệm kinh doanh cũng như mang về cho mình những khoản nợ nhưng điều đó lại khiến kinh doanh đem đến sức hút mạnh mẽ hơn nữa. Phần 2: Bản đồ kho báu Ý tưởng không đến từ việc bạn chỉ ngồi đó và suy nghĩ. Ý tưởng đến từ việc bạn đứng dậy và bắt đầu đi tìm từ những điều xung quanh mình. Nếu bạn đang chông chênh trước những ý tưởng kinh doanh mơ hồ, hãy lựa chọn những gì mình thích, cảm thấy hứng thú và đặc biệt là phải biết chút ít kỹ năng về nó. Phần 3: Đóng thuyền ra khơi Phần này trong “Khởi Nghiệp Bán Lẻ” sẽ trả lời cho bạn câu hỏi làm sao để tìm được mặt bằng tốt, thiết kế cửa hàng, quản lý bán hàng và tổ chức khai trương thật đông khách. Mặt bằng là yếu tố quan trọng đối với cửa hàng kinh doanh bán lẻ. Mặt bằng quan trọng bởi vì nó là công cụ quảng cáo đắc lực nhất. Mặt bằng tốt sẽ thu hút khách hàng bởi khi họ nhìn thấy cửa hàng của bạn mỗi ngày trên phố, nó sẽ in dấu trong tâm trí họ và khi có nhu cầu cửa hàng bạn là nơi họ chọn đầu tiên để quyết định mua sản phẩm. Tiêu chí vị trí được xem là tiêu chí số 1 mà bạn cần định hình rõ ràng. Tiêu chí thứ 2 là diện tích. Tiêu chí thứ 3 là giá thuê. Tiêu chí thứ 4 là mức độ nhận biết. Mặt bằng không cần ở khu trung tâm nhưng cần thuận lợi về đường đi, dễ nhìn thấy từ xa và gây chú ý cho người đi đường. Tiêu chí thứ 5 là mức độ thuận tiện. Vị trí bạn chọn có dễ dàng để khách ghé qua hay không? Tiêu chí thứ 6 là thời hạn thuê. Tiêu chí thứ 7 là tình trạng mặt bằng. Tiêu chí này tùy thuộc vào nhu cầu của cửa hàng bạn có cần sữa chữa hay xây dựng lại cho phù hợp hay không. Tiêu chí thứ 8 là hướng nhà. Hướng nhà ảnh hưởng đến sản phẩm và đôi khi cửa hàng nằm ở hướng hơi nóng sẽ đem đến cảm giác mua sắm không thoải mái và cũng liên quan đến phong thủy bởi bán hàng cũng cần quan tâm đến yếu tố này. Tiêu chí thứ 9 là lối đi và thứ 10 là thái độ của chủ nhà cũng vô cùng quan trọng đối với vấn đề thuê mặt bằng trong khoảng thời gian dài. Bên cạnh đó, một cửa hàng bán lẻ cũng cần quan tâm đến hình thức thiết kế cửa hàng, cách chọn màu sắc và cách đặt tên cho cửa hàng sao cho cuốn hút. Tất cả những vấn đề trên đều được tác giả làm rõ thông qua cuốn sách Khởi Nghiệp Bán Lẻ này! Phần 4: Bắt đúng mạch vàng Như đã nói ở trên yếu tố mặt bằng và cửa hàng sẽ thu hút khách hàng đến với những trải nghiệm mua sắm tại cửa hàng. Khi cửa hàng của bạn làm tốt công việc này thì lượng khách hàng sẽ tăng thêm mỗi ngày. Tuy nhiên để giữ chân khách hàng cũ và tăng thêm khách hàng mới bạn cần đưa ra các chương trình khuyến mãi thường xuyên. Khuyến mãi nên làm với mục đích tri ân khách hàng sẽ gây được hiệu ứng. Phần 5: Ở lại cùng biển cả Có 2 chiến lược mở rộng hệ thống hiệu quả đó là: Lặp lại toàn bộ mô hình và thương hiệu đã thành công để xây dựng hệ thống chuỗi bán lẻ. Lặp lại phương thức quản lý thành công nhưng với sản phẩm mới, thương hiệu mới để có cửa hàng hiệu quả ở ngành hàng khác. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần có ý thức rằng sự thành công không tồn tại mãi mãi, ngày hôm nay bạn có thể đứng ở vinh quang nhưng không ai chắc chắn rằng ngày mai đối thủ sẽ vươn lên đánh bại bạn hay không. Vì vậy cần phải cố gắng, phải giỏi hơn mỗi ngày để không ai có thể đánh bại được bạn. *** LỜI CÁM ƠN Đầu tiên, tôi xin cảm ơn một người anh thân thiết - anh Nguyễn Văn Tuấn — chủ tịch HUVA Sreel Building. Anh chính là khách hàng đâu tiên và cũng là người đã “giang tay cứu vớt” khi doanh nghiệp của tôi đang trên bờ vực phá sản cách đây hơn 10 năm. Không có anh, cuộc đời và sự nghiệp của tôi chắc chắn đã rẽ sang hướng hoàn toàn khác. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến anh Võ Đại Khôi - Chủ tịch của Trung Hậu Group - người anh đã luôn tin tưởng và đồng hành cùng tôi trong những dự án kinh doanh đầy mạo hiểm. Anh chính là tấm gương cho tôi về sự “không ngừng cho đi” trong công việc và cuộc sống. Cảm ơn anh Nguyễn Thiên Lý - CEO của Hoa Lư Group - người đã đồng hành cùng tôi trong những ngày đầu chập chững bước vào thương trường. Chính bạn đã cho tôi ý tưởng về việc nên viết một quyển sách cho người trẻ khởi nghiệp. Cảm ơn anh Nguyễn Phương Nam – CEO của Aothun.vn - người bạn tuyệt vời của tôi — bạn là tấm gương của tỉnh thần làm việc không biết mệt mỗi và góp cho tôi những ý tưởng đắt giá trong quyển sách này. Cảm ơn em Võ Sỹ Tứ - ông chủ trẻ của chuỗi của hàng sữa tã Momstop - đã giúp tôi hoàn chỉnh bản thảo cho quyển sách từ góc nhìn tươi mới của những người trẻ dang khởi nghiệp. Con xin cảm ơn ba mẹ, người đã sinh ra con. Nếu không có công ơn sinh thành và dưỡng dục của ba mẹ, con không bao giờ có được đời sống như hôm nay. Cảm ơn Lê Diễm - người bạn đời của anh. Không có em, anh đã không bao giờ đủ kiên nhẫn, thời gian và năng lượng để viết nên quyển sách đầu tay này. Em luôn là hậu phương vững chắc, thay anh chăm sóc các con, tin tưởng và ủng hộ anh trong mọi hoàn cảnh. Tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp của mình ở chuỗi cửa hàng Bingo và Hanami. Nhờ các bạn làm việc chăm chỉ, quản lý tốt các cửa hàng nên tôi mới có đủ thời gian để viết lách. Các kinh nghiệm góp trong sách này phần lớn đến từ các bạn, tôi chỉ thay mọi người viết lại mà thôi. Cuối cùng tôi xin cảm ơn chính bạn, người đang cầm trên tay quyển sách này, đã tin tưởng và ủng hộ tôi. Đây chỉ là một quyển ghi chép kinh nghiệm cá nhân sau nhiều năm “lặn lội, cày cuốc” với ngành bán lẻ. Mong bạn đọc nó với sự cảm thông cho một tác giả không chuyên và tiếp thu kiến thức của tôi bằng sự hoài nghĩ nhất có thể. Chúc bạn tìm thấy những điều cần thiết và bổ ích cho hành trang khởi nghiệp! Trần Thanh Phong *** LỜI KẾT Vậy là bạn đã kiên nhẫn cùng tôi đi đến những trang cuối cùng của quyển sách này. Tất cả chỉ là ghi chép mang tính kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân cộng với một chút kiến thức kinh doanh mà tôi đã lượm lặt đâu đó trong nhiều quyển sách khác nhau. Chắc hẳn là nó vẫn chưa đầy đủ và tôi biết là bạn còn rất nhiều băn khoăn, lo lắng cho hành trình phía trước. Nhưng tới đây, tôi phải nói lời chia tay với bạn. Như tôi đã chia sẻ, hành trình vạn dặm bắt đầu bằng một bước chân. Tôi mất 10 năm chỉ để đúc kết được bấy nhiêu kinh nghiệm và giờ bạn đã là người lĩnh hội trọn vẹn. Bạn sẽ đi nhanh hơn và sớm có được thành tựu hơn tôi. Điều duy nhất mà bạn cần làm lúc này là hãy quyết định để bước lên hành trình của mình. Đừng chân chừ, do dự hay chờ đợi một thời cơ chín muổi nào vì sẽ không bao giờ có cái thời cơ chín muổi đó. Thời cơ tốt nhất là ngay lúc này! Hãy kết bạn với tôi qua Facebook theo thông tin hướng dẫn ở bìa sau. Chúng ta sẽ cùng lên đường và chia sẻ những khó khăn, thứ thách trên hành trình khởi nghiệp sắp tới. Mời các bạn đón đọc Khởi Nghiệp Bán Lẻ của tác giả Trần Thanh Phong.