Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

MM - Chuyện Về Cô Gái Ấy

“Khi tịch dương chạm vào đường chân trời, chúng tôi trao nhau nụ hôn đầu tiên. Một nụ hôn như trong ước nguyện. Hành tinh xanh vẫn yên lặng chuyển động, màn đêm dần kéo đến từ phía trời Đông. Chúng tôi cùng hẹn ước tình yêu giữa khoảnh khắc giao nhau của ánh sáng và bóng tối. Tình yêu tuổi mười lăm vẫn còn quá non nớt, nhưng chúng tôi đều vô cùng chân thành. Cả hai đều cố gắng tìm ra những gì có thể làm cùng nhau. Phát minh ra một tình yêu mới, khắc sâu mối quan hệ này vào tâm khảm. Chỉ cần mình đủ mạnh mẽ, tôi nghĩ, nhất định sẽ chiến thắng vận mệnh. Có đúng không?” *** 3.5/5 sao. Lâu rồi mình không đọc tiểu thuyết tình cảm, vài tháng trước đọc lại "Mắt biếc" đã quá chán, tiểu thuyết ngôn tình thì ôi thôi đọc xong quên sạch không nhớ tí gì. Nhưng không ngờ rất lâu sau "Bí mật của Ella và Micha" lại có 1 cuốn truyện lãng mạn làm mình thích được. Lúc đầu mình hứng thú với quyển này vì đọc giới thiệu của Nhã Nam có câu "Chỉ cần mình đủ mạnh mẽ, tôi nghĩ, nhất định sẽ chiến thắng vận mệnh. Có đúng không?", chắc câu chuyện sẽ liên quan đến bói toán, tử vi, vượt lên hoàn cảnh,... đại loại là thể loại gay cấn. Nhưng mà không, nhầm hoàn toàn, nó chẳng liên quan gì đến những chuyện mà mình đề cập. Đó cũng là lý do mình khá hụt hẫng khi đọc xong. Nhưng bỏ qua cái kỳ vọng của mình thì nội dung câu chuyện rất ổn. Minamikawa Momo - nàng thơ của câu chuyện, và nam chính (nhân vật tôi) - Sasa Tokio (Momo gọi là Jiro) học chung lớp cấp 2, đều là học sinh chuyển trường nhưng Jiro đến trước Momo vài năm. Tất cả các nhân vật đều liên quan đến xưởng may chi phối đời sống của cả thị trấn vì hầu như học sinh ở đây đều là con em của cán bộ và công nhân trong xưởng may. Momo là con gái của giám đốc xưởng, nghiễm nhiên trở thành nữ hoàng, Jiro sống với mẹ để trốn nợ ở thị trấn này, bà làm thêm ở quán ăn chứ không phải ở xưởng. Hai người chẳng liên quan gì đến nhau bắt đầu mối quan hệ từ lúc Momo nhờ Jiro viết hồi ký 15 năm cuộc đời cho mình (có trả lương), từ đó dần dần hai người hiểu về nhau hơn. Tình cảm trong truyện được miêu tả rất ngây ngô, trong trẻo đúng chất mối tình đầu, không lẩn tránh ngại ngùng mà vô cùng bộc trực, cũng có những hiểu lầm cãi vã, giận dỗi nhưng vô cùng trong sáng. Ngoài cặp chính còn có cặp phụ rất đáng yêu (đoạn cuối truyện họ có thể sắp làm đám cưới) là Tobio và Kikuchi - nữ sinh chuyển trường người ngoại quốc. Kết thúc mở nhưng với mình đấy là Happy ending rồi vì Momo đã trở về trường của Jiro và đọc cuốn sách hồi ký về cô mà Jiro đã hoàn thành, trở nên vô cùng nổi tiếng trong trường. Chuyện gặp lại nhau chỉ là vấn đề thời gian. Câu chuyện xoay quanh Momo nên tác giả xây dựng nhân vật này có vẻ quá hoàn hảo và hơi điêu. Đấy là một điểm trừ. Momo xinh đẹp, cao ráo, con nhà giàu, có bố là giám đốc lắm tiền đẹp trai và mẹ là nữ diễn viên kiêu sa đỏng đảnh, lại vô cùng hào phóng và thông minh. Nhưng chuyện một cô gái 15 tuổi hiểu được bố mình vi phạm pháp luật và dám đứng ra tố cáo bố, đòi quyền lợi cho công nhân, cuối cùng bỏ nhà ra đi và lẩn trốn truyền thông vô cùng hoàn hảo thật khó tin, chưa kể cô gái này còn có suy nghĩ rất sâu sắc về quyền lực, về nghề nghiệp và tương lai. Jiro may mắn hơn vì dù 2 mẹ con phải trốn nợ khắp nơi do bố phá sản nhưng hóa ra ông bao năm vẫn làm mọi cách trả hết nợ nần và âm thầm bảo vệ 2 mẹ con, chuyện đoàn tụ chỉ là sớm muộn. Giọng văn của Ichikawa Takuji rất giàu chất thơ, diễn biến câu chuyện nhanh nhưng không bị gượng, cũng không buồn ngủ. Tuy vậy mình thấy xuất sắc hẳn thì chưa mà phù hợp đọc để thư giãn thôi nên chỉ cho 3.5/5. *** Mỗi lần mỏi mệt tôi lại tìm về với những tác phẩm của Ichikawa Takuji, để được trải lòng, để được bình lặng. “Chuyện về cô gái ấy” vẫn mang nét đặc trưng của tác giả, cái nét trầm trầm, buồn buồn, nhè nhẹ. Momo và Jiro gặp nhau trong một hiệu sách nhỏ, từ đó, hai người trở thành tâm điểm trong mắt nhau, cuộc sống của họ chầm chậm xoay quanh nhau, có những sự việc xảy ra xung quanh, có cảm xúc ngây ngô, vụng dại. Tất cả mọi thứ xảy đến, diễn ra, để viết nên một một câu chuyện không thể quên, về một cô gái dũng cảm và một anh chàng gan dạ, về sự bóc lột giữa các tầng lớp trong xã hội ngày ấy, về những ngày xưa cũ, về những mảnh ký ức nhạt dần theo thời gian. Một tác phẩm êm đềm và nhẹ nhàng, ấm áp. Câu chuyện cứ chầm chậm trôi, thời gian cứ lặng lẽ lướt qua, có hai con người dừng lại, trái tim đập chung một nhịp đập yêu thương. Dù chỉ là những cô cậu bé, dù không mang tầm vóc lớn lao, thế nhưng tâm hồn và suy nghĩ của họ đủ rộng, đủ bao la để khiến bản thân tôi ngưỡng mộ, trầm trồ. Giọng văn của tác giả dịu dàng nhưng không hề nhàm chán mà vẫn luôn cuốn hút. Câu chuyện về cô gái ấy có thực sự chỉ là một câu chuyện bình thường hay chất chứa trong đó có biết bao nhiêu ý nghĩa tác giả muốn gửi gắm?, từng trang giấy, từng câu chữ có chứa đựng nỗi buồn sâu lắng, trầm lặng như bao tác phẩm khác của Ichikawa? Đó là những câu hỏi tôi đặt ra trước khi đọc tác phẩm, may mắn là MM không bi lụy, và buồn như các tác phẩm khác của ông, câu chuyện có nét tươi sáng và vui vẻ hơn, thế nhưng, khép lại tác phẩm, vẫn đọng lại trong lòng sự tiếc nuối mơ hồ và những cảm xúc loáng thoáng chẳng thể gọi tên. |  Trần Lan Hương *** Đôi lời mở đầu Gửi tới các bạn độc giả một ngày nào đó sẽ đọc cuốn sách của tôi. Ngày xửa ngày xưa, xưa rất là xưa, khi nàng còn đang theo học ở ngôi trường này. Cái “ngày xưa” đó cách đây bao lâu, còn tùy thuộc vào việc bạn đọc cuốn sách tại thời điểm nào. Nếu bạn cầm nó lên vào ngày kế tiếp (hay “ngày hôm sau”) cái ngày tôi khẽ khàng đặt nó lên giá sách thư viện (ở góc Hồi ký, nằm giữa cuốn Vua phát minh Edison và Cuộc đời Marie Curie), thì đó mới là chuyện của năm năm về trước mà thôi. Phải rồi, chỉ mới có năm năm thôi đấy, vậy mà tôi lại có cảm giác đã là chuyện xa xưa lắm rồi, tựa như những câu chuyện cổ tích hay thần thoại từ thời tiền sử vậy. Có lẽ vì lý do đó mà trong câu chuyện này, tôi đã tự ý cho thêm vào cả những “hồi ức tưởng tượng” do chính tôi tạo nên. À không, đương nhiên tôi cũng muốn viết cho thật chính xác chứ. Có điều việc hồi tưởng lại quá khứ cũng giống như sáng tác mới vậy, ngay cả những người cùng sống ở thời ấy lúc đọc truyện có khi cũng phải ngạc nhiên, cứ như thể được nghe một câu chuyện hoàn toàn khác. Chúng ta làm đẹp quá khứ, phóng đại mọi chuyện và thổi phồng sự việc lên. Chúng ta tỉa tót thêm cho hồi ức trong vô thức, rồi cứ thế dựng lên cái gọi là “kỷ niệm thời xưa”. Ví dụ như khi viết lại các cuộc đối thoại chẳng hạn, dù cho đã cố tái hiện một cách trung thực nhất có thể, không hiểu sao tôi vẫn cứ trộn lẫn cách nói chuyện của tôi hiện tại vào trong câu thoại của họ. Nếu bạn đọc để ý thấy lời nói của nhân vật có cảm giác già dặn quá, xin cứ xem như đó là lỗi của việc “vô thức tỉa tót thêm cho hồi ức” nhé (nói vậy nhưng thực sự chúng tôi là những đứa trẻ lớn trước tuổi. Chính “hoàn cảnh gia đình phức tạp” đã buộc chúng tôi phải trưởng thành sớm). Nói ra thì giống như lấy cớ vậy, nhưng phải viết lại hết tất cả những chuyện mình đã biết, dưới góc độ khi chưa biết gì cả, quả là khó khăn lắm thay! Phần lớn tôi sẽ viết theo kiểu vờ như mình chưa hề biết đến diễn biến tiếp theo, nhưng có đôi khi tôi vẫn nhịn không nổi, lỡ thốt ra những lời thoại như nhà tiên tri. Nếu bạn đọc tới khúc ấy, xin đừng suy nghĩ nhiều quá, hãy cứ nhẹ nhàng lướt qua là được. Mà thôi, gì thì gì tôi cũng đã cố gắng làm tốt nhất rồi. Cũng một phần vì thế mà thành ra mất tới tận năm năm. Nói sao nhỉ, đây là “công việc” của tôi, mà đã là công việc, thì tuyệt đối không được phép qua loa. Chỉ cần bạn đọc cuốn sách này, nhất định sẽ thấy được tôi đã cố gắng đến nhường nào. Mặc dù nó chẳng có vẻ gì giống một quyển hồi ký, nhưng tôi chỉ có thể dùng lối viết như vậy thôi (nói đúng ra đây không phải “hồi ký” theo ý nghĩa thông thường, cũng chẳng phải thứ gì đó giống như hồi ký, dù tôi đã được nhờ cậy viết như thế. Lý do chủ yếu nằm ở chỗ cuốn sách này viết ra cho ai, điều này sẽ được làm rõ hơn trong tác phẩm, vì thế xin các bạn cố chờ thêm một chút). Hy vọng tôi có thể kể lại cho các bạn một cách chân thật nhất về nàng. *** 1 Hôm ấy là một ngày hè nóng nực, độ ẩm cũng cao kinh khủng khiếp. Tôi đang ở trong một hiệu sách nho nhỏ nằm trên con phố trước nhà ga. Mặc cho máy lạnh vẫn đang chạy, phát ra âm thanh như tiếng thở dài của loài khỉ rú (có lúc lại giống như tiếng bị mắc đờm), nhiệt độ trong cửa hàng cũng chẳng đỡ hơn bên ngoài là bao. Tôi vừa dùng vai áo lau đi từng dòng mồ hôi chảy dài trên má, vừa đứng đọc một quyển sách. Một bản dịch tên Con đường ngắn nhất để trở thành biên kịch tại Hollywood. Dù rằng cái tiêu đề nghe như đùa, nội dung bên trong quả thật có viết rất nhiều điều cần thiết để trở thành một biên kịch, nên từ tận đáy lòng tôi cực kỳ muốn có nó. Có điều, đối với quyển sách 600 trang thì cái giá của nó đắt đến mức lố bịch. Vì lẽ đó mà kể từ ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè, hôm nào tôi cũng ghé qua đây (không tới 30 phút mỗi ngày - thì tôi cũng chưa muốn bị cấm cửa mà. Ông cụ chủ hiệu sách tạo cho người ta cảm giác lầm lì bảo thủ, hẳn không phải là người dễ tính thân thiện gì cho cam), và vùi đầu cố gắng đọc xong hết tất cả các trang sách (tiện thể học thuộc hết luôn nếu có thể). Đang giữa lúc tập trung ấy, tôi bỗng giật mình khi bị ai đó vỗ vào vai. Và hình như tôi còn bật thốt lên thành tiếng nữa, “Oái”, chỉ một tiếng rất khẽ thôi. Mình bị ông chủ hiệu sách để ý tới rồi sao, tôi nghĩ. Có lẽ ông cụ sắp hết kiên nhẫn với mình rồi. Dè dặt quay đầu nhìn lại, tôi trông thấy nàng ở đó. Minamikawa Momo. Điều này lại càng đáng ngạc nhiên hơn. Tôi cảm thấy có chút bối rối. Bởi vì mặc dù cùng học chung một lớp, chúng tôi chưa lần nào bắt chuyện với nhau. “Nói chuyện chút được chứ?” Nàng đề nghị. Không hiểu sao trong giọng nói của nàng có vẻ gì đó như tức giận. Nàng mặc một chiếc áo khoác đen tuyền bên ngoài áo sơ mi trắng (đến cả chiếc quần bò bó nàng mang cũng màu đen nốt). Mùa hè mà ăn mặc thế này ư? Ấy vậy mà trông nàng vẫn rất thong dong, thậm chí còn chẳng vương giọt mồ hôi nào. “Nói chuyện ấy à?” Mình có từng làm gì khiến nàng khó chịu không nhỉ? Tôi vắt óc lục lọi ký ức, nhưng tuyệt nhiên không nhớ ra được điều gì. Mà cũng phải thôi, giữa hai chúng tôi hoàn toàn chưa từng có một tiếp điểm nào, tính đến giờ phút này. “Ừm, mình có việc muốn nhờ Sasa.” Nhờ? Nhưng nhờ cái gì nhỉ? Tôi càng thấy khó hiểu hơn. “Việc gì thế?” Tôi hỏi lại nàng. “Đi nơi khác nhé?” Nàng vừa nhìn quanh hiệu sách vừa đáp lời, “Ở đây không tiện cho lắm.” “Ừ, được thôi.” Tôi nói, và thế là chúng tôi cùng nhau tới quán cà phê cách hiệu sách ba căn nhà. Mời các bạn đón đọc MM - Chuyện về cô gái ấy của tác giả Ichikawa Takuji & Mai Mai (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nơi Cuối Cầu Vồng - Cecelia Ahern
Đôi bạn thân thiết Alex và Rosie từ khi bảy tuổi đã bắt đầu trao nhau những bức thư chia sẻ  mọi điều buồn vui trong cuộc sống, từ chuyện con chó cưng của Alex cho tới cô Casey có cái mũi to xấu xí. Tuổi thơ láu lỉnh và nghịch ngợm trôi qua, cho tới thuở mười lăm, mười sáu ẩm ương với những xúc cảm hồi hộp và lãng mạn chớm nở… tất cả được gói gọn trong những lá thư dấu kín dưới hộc bàn lớp học. Rồi đột ngột, cha Alex được thăng chức, cậu đành phải miễn cưỡng theo gia đình chuyển tới Boston, rời xa Rosie và những ngày tháng ngọt ngào... Nơi cuối cầu vồng, cuốn tiểu thuyết viết lên từ những dòng thư, những cuộc chat và những tấm bưu thiếp qua năm tháng, đã tiếp tục đưa Cecelia Ahern trở thành một tác giả bestselling trên khắp thế giới. Nồng ấm tình bạn, tình yêu, đầy ắp những rung cảm mãnh liệt và những chi tiết bất ngờ, Nơi cuối cầu vồng không chỉ là một cuốn sách hấp dẫn, mà còn lời nhắn gửi dành riêng cho những tâm hồn tri kỷ phải vượt qua mọi thử thách để đến với nhau, và đủ dũng cảm nói lên những lời chân thật. *** Cecelia Ahern, sinh ngày 30-9-1981, là con gái của cựu Thủ tướng Bertie Ahern Ireland, bắt đầu viết tiểu thuyết từ năm 2004. Ngoài ra, cô còn có nhiều truyện ngắn in trong các tuyển tập, mà tất cả nhuận bút đều được dành để làm từ thiện. Năm 2000, cô từng tham gia một ban nhạc về thứ ba trong cuộc thi nhạc pop toàn quốc để chọn ứng viên tham dự cuộc thi Eurovision Song. Trước khi bắt đầu viết văn, cô đã tốt nghiệp đại học ngành báo chí và truyền thông đại chúng. Năm 2002, Cecelia Ahern viết tiểu thuyết đầu tay, PS, I Love You, được xuất bản năm 2004, và sau đó trở thành sách bán chạy số 1 ở Ireland, Vương quốc Anh, Mỹ, Đức và Hà Lan. Nó cũng được bán ở hơn 40 nước khác. Cuốn sách cũng đã được chuyển thể thành phim và ra rạp năm 2007. Tiểu thuyết thứ hai của cô, Where Rainbows End (Nơi cuối cầu vồng), cũng là sách bán chạy số 1 ở Ireland và Vương quốc Anh, và giành giải CORINE của Đức năm 2005. Tiểu thuyết mới nhất của cô là 'The Gift' và đã được xuất bản cuối năm 2008. *** Rosie đọc bức thư có đến lần thứ một triệu trong đời, gập lá thư lại thành những hình vuông gọn gàng và nhét trở vào phong bì. Mắt cô dõi theo từng chồng thư từ, bưu thiếp, email được in ra, những đoạn chat in ra, những tờ fax và cả những ghi chú nguệch ngoạc từ hồi đi học của cô. Có đến hàng trăm lá trải ra trên sàn nhà, mỗi lá lại kể câu chuyện riêng mình về niềm vui hay nỗi buồn, mỗi lá đại diện cho một giai đoạn trong đời cô. Cô đã giữ lại tất cả. Cô ngồi trên một tấm thảm da cừu phía trước lò sưởi trong phòng ngủ của mình ở Connemara, và tiếp tục xếp những dãy chữ đang trải ra trước cô. Cuộc đời cô viết bằng mực. Cô đã mất cả đêm đọc lại tất cả, và lưng cô đau nhức vì cúi khom xuống và mắt cô cay xè. Cay xè vì mệt mỏi và vì nước mắt. Những người cô yêu quý đã quay trở lại thật sống động trong tâm trí cô suốt những giờ ấy khi cô đọc thấy nỗi sợ hãi, cảm xúc và những suy nghĩ của họ, những thứ từng là thật nhưng bây giờ đã ra khỏi cuộc đời cô. Những người bạn đã đến rồi đi, đồng nghiệp, bạn học, người yêu và các thành viên gia đình. Cô đã ôn lại cả cuộc đời mình đêm đó chỉ trong chừng ấy giờ đồng hồ. ... Mời các bạn đón đọc Nơi Cuối Cầu Vồng của tác giả Cecelia Ahern.
Gia đình Buddenbrook
Tiểu thuyết kể câu chuyện về một gia đình đại tư sản ở miền Bắc nước Đức đã giúp tác giả Thomas Mann giành giải Nobel văn chương năm 1929. Gia đình Buddenbrook kể về sự suy tàn của hãng xuất nhập khẩu ngũ cốc Johann Buddenbrook, thực chất là kể về gia đình, tổ tiên của Thomas Mann ở thương cảng nổi tiếng Lubeck. Bốn thế hệ của dòng họ Buddenbrook - một dòng họ tư sản thương nghiệp cứ dần dần lụn bại trên thương trường, suy sụp trong đạo lý, văn hóa. Thomas Mann đã dựng lên một bức tranh toàn diện và chân thực về đời sống của tầng lớp trung lưu: kết hôn và ly hôn, sinh ra và chết đi, thành công và thất bại. Những sự kiện ấy lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ, trong khi gia đình Buddenbrook dần bị cuốn vào vòng xoáy hiện đại dẫn đến sự sụp đổ không thể tránh khỏi của cả dòng họ. Chủ nghĩa bi quan được thể hiện rõ trong tiểu thuyết. Trong tác phẩm, Thomas Mann miêu tả cảnh buôn bán tấp nập, đồng thời là cảnh suy tàn của thương nghiệp ở thành phố cảng nổi tiếng của Đức. Với hơn 400 nhân vật, câu chuyện giàu chi tiết và đầy tính nhân văn, Gia đình Buddenbrook vượt qua các tác phẩm văn chương viết về gia đình vốn thịnh hành ở châu Âu thời điểm đó, và trở thành một hình mẫu của thể loại này.  Gia đình Buddenbrook đứng thứ 7 trong top 100 cuốn tiểu thuyết Đức ngữ hay nhất thế kỷ 20. Cứ 10 người Đức thì có một người đọc tác phẩm này. Ở Trung Quốc, Gia đình Buddenbrook được coi là phiên bản Đức ngữ của Hồng lâu mộng. Cũng giống như độc giả Hồng lâu mộng, người đọc tác phẩm này của Thomas Mann thường vẽ cây phả hệ của gia tộc Buddenbrook nhớ quan hệ của các nhân vật và tiện theo dõi tác phẩm. *** Paul Thomas Mann (1875 - 1955) là nhà văn Đức đoạt giải Nobel Văn học năm 1929 và Giải Goethe năm 1949. Ông được coi là nhà văn lớn nhất của Đức thế kỷ 20. Thomas Mann là nhà văn có tư tưởng nhân đạo. Ông tập trung miêu tả quá trình suy sụp của giai cấp tư sản với một ngòi bút hiện thực, mỉa mai, chú trọng phân tích tâm lý. Văn của Thomas Mann chính xác, từ ngữ gọt giũa kỹ lưỡng, đòi hỏi người đọc phải tập trung suy nghĩ; ông sử dụng nhiều kiến thức về triết học, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, y học, xã hội học, phân tâm học. Năm 1913, cuốn tiểu thuyết ngắn Der Tog in Venedig (Chết ở Venice) được xuất bản, cùng với Tonio Kroger được coi là những tác phẩm xuất sẳc nhất thuộc thể loại này. Thế chiến thứ nhất đã đẩy nhà văn vào một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng, ông viết tập ký 600 trang Betrachtungen eines Unpolitischen (Những suy ngẫm ngoài chính trị, 1918) trong thời gian này. Sau chiến tranh ông trở lại với văn học nghệ thuật, hoàn thành một trong những đỉnh cao sáng tác của minh là Der Zauberberg (Núi thần, 1924). Năm 1929, ông được nhận giải Nobel, chủ yếu vì bộ tiểu thuyết vĩ đại Buddenbrooks - Verfall einer Familie.  Từ những năm 1930, Thomas Mann tích cực tham gia các hoạt động chính tri chống chủ nghĩa phát xít; dưới thời Đức quốc xã sách của ông bị cấm và bị đốt ở Đức, ông bị tước quốc tịch Đức (1936), phải sống lưu vong. Năm 1938 ông sang Mỹ và trở thành công dân Mỹ (1944). Sau chiến tranh ông về thăm cả Đông và Tây Đức, được đón tiếp long trọng nhưng ông không ở lại Đức mà sang định cư ở Zurich (Thụy Sỹ) cho đến khi mất. Ngoài giải Nobel, ông được cả Đông và Tây Đức trao tặng giải thưởng Goethe năm 1949; ông cũng được Đại học Oxford và Đại học Cambridge trao bằng danh dự. ***  Thomas Mann đã muốn thông qua sự sụp đổ của gia đình Buddenbrook về các mặt kinh tế, đạo đức và địa vị xã hội để nói lên sự hủy diệt tất yếu của giai cấp tư sản ăn bám, tàn nhẫn và mục nát. Các nhà nghiên cứu cho biết rằng ông đã miêu tả chính gia đình ông trong cuốn truyện này. Ông nội Thomas Mann cũng là một thương gia kinh doanh lương thực, y như cụ Johann Buddenbrook trong truyện. Thân sinh ông cũng là một cổ đông trong công ty lương thực và cũng kiêm chức tham nghị như ông tham Buddenbrook. Tác giả còn dùng cả gia phả, thư tín, giấy tờ của gia đình mình, lấy những người họ hàng thân thích của mình làm mẫu để xây dựng các nhân vật trong truyện. Tòa nhà cũ của tác giả ở Lübeck cũng được đem vào truyện, cho nên khi cuốn tiểu thuyết này ra đời, tòa nhà đó đã được người đời mệnh danh là “nhà Buddenbrook”. Đọc tác phẩm này, chúng ta thấy ngòi bút của Thomas Mann rất sinh động, không chút giả tạo, hấp dẫn từ đầu chí cuối. Ông đã vẽ lên bức tranh xã hội Đức thời bấy giờ với đủ các mẫu người như thương gia, học giả, nghị viện, mục sư v.v... đặc biệt ông đã phản ánh đầy đủ những đặc điểm chung của tầng lớp thị dân đang trên bước đường suy sụp. Thế lực ngự trị trong xã hội là đồng tiền. Có thể nói khi đụng đến tiền, thì mọi thứ quan hệ trong xã hội đều rạn nứt, đổ vỡ, kể cả quan hệ ruột thịt. Gia đình Buddenbrook sống rất hòa thuận, êm đềm, nhưng đến khi đụng đến gia tài, tiền bạc thì tranh giành cãi cọ nhau, xung đột nhau rất kịch liệt. Tình cảm giữa ông tham Buddenbrook và bác Gotthold, người anh cùng cha khác mẹ; hay giữa Thomas và Christian, hai anh em ruột thịt đã sứt mẻ vì đồng tiền. Khi bà cụ tham lấy tiền cho con rể là mục sư Tiburtius, theo yêu cầu của con gái út lúc hấp hối, Thomas đã to tiếng cãi nhau với mẹ. Hay khi bà cụ tham vừa qua đời, chưa khâm liệm, anh em trong nhà này đã tranh giành của cải, không ai chịu ai, thậm chí còn chửi mắng nhau, đến nỗi Tony phải van xin: “Anh Tom... Anh Christian, me còn nằm đấy chưa khâm liệm...”. Sức mạnh của đồng tiền còn bộc lộ cả trong việc hôn nhân. Họ lấy vợ lấy chồng không phải vì thương yêu nhau mà là lấy tiền lấy của. Cụ Johann Buddenbrook lấy cụ bà thuộc dòng họ Duchamps ở Hamburg, ông tham Buddenbrook lấy bà Elisabeth Kröger hay Thomas lấy Gerda Arnoldsen đều vì được thu về những khoản hồi môn rất lớn. Antonie, con gái yêu quý của ông tham Buddenbrook yêu Morten, sinh viên trường thuốc, nhưng không lấy được vì anh chỉ là con một viên chức thường, ông tham không bằng lòng gả, trái lại cô phải lấy Grünlich, một tên bịp bợm, cuối cùng hạnh phúc tan vỡ. Bên cạnh đó có một số con gái lớn tuổi, không lấy chồng được cũng chỉ vì không có của hồi môn (như ba chị em con ông Gotthold Buddenbrook ở phố Breiten, hay Klothilde và một số người khác). ... Mời các bạn đón đọc Gia đình Buddenbrook của tác giả Thomas Mann.
Trái Tim Chó - Mikhail Bulgakov
"Trái tim chó" kể về câu chuyện xảy ra khi nhà bác học Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó với tuyến yên não người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người. Ông hi vọng cải biến sinh vật đó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, sinh vật đó đã trở thành mối nguy hiểm đe doạ ngay cả người tạo ra nó, và cái sai lầm của thí nghiệm là ở chỗ nhà bác học đã cấy não của một con người cụ thể là Clim Trugunkin - một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Saricov - cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim - không đại diện cho loài người nói chung, mà ở hắn tập trung những gì xấu xa, thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh, cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng. Qua "Trái tim chó" tác giả cảnh báo về nguy cơ "Saricov", một dạng người có trái tim chó, hay nói đúng hơn là một dạng người mang tâm lí chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh. *** Nội dung câu chuyện kể về 1 ông bác sĩ nổi tiếng, GS Philip Philipovich Preobrazhensky đã thành công trong phẫu thuật, một thí nghiệm chưa từng có, cấy ghép và biến 1 con chó hoang tên là Sharik thành người. Kết quả vượt quá sự mong đợi – nó dần dần bắt đầu có hình dạng con người và mang cái tên người Sarikov, chỉ duy nhất còn trái tim là của loài chó! Sharikov vẫn nhớ thời nó phải làm 1 con chó, lang thang kiếm ăn và bị người ta đánh đập. Giờ nó muốn đòi lại sự “công bằng”, trả món nợ áp bức bất công trước đây. Nó bắt đầu chống lại loài người với tất cả những gì xấu xa nhất, đểu giả nhất và vô lương nhất trong tim 1 con chó. Từ săn đuổi 1 con mèo, gây gổ với nhà bên, nhậu nhẹt, gẹo gái, trộm cắp, dối trá và lừa đảo cho đến giết người. Hối hận vì đã biến 1 con chó thành người, vị giáo sư đáng kính Preobrazhensky muốn sửa chữa sai lầm… nhưng đã muộn. *** Mikhail Afanasievitr Bulgacov (15/5/1891 - 10/3/1940) là một nhà văn có số phận - cuộc đời cũng như sáng tác - chìm nổi, nhiều khát vọng, đau khổ, vinh quang. Với những gì xảy ra trong hơn một thế kỉ từ khi ông sinh ra và hơn bảy mươi năm từ khi ông qua đời, có thể khẳng định rằng tên tuổi ông sẽ được lưu giữ lâu dài. Xuất thân trong một gia đình trí thức thần học tại thành phố Kiev, nhà văn tương lai với tấm bằng Bác sĩ cứu người đã bị cuốn vào những sự kiện sôi động đẫm máu của cuộc Đại chiến Thế giới I, rồi Cách mạng Vô sản tháng Mười và Nội chiến. Khi tiếng súng lắng lại, từ cuối năm 1921, ông đến Moskva và sống ở đó tới cuối đời, hiến mình cho văn chương, nghệ thuật. M. Bulgacov bắt đầu sự nghiệp bằng viết báo, sáng tác các tiểu phẩm, hoạt cảnh kịch. Tác phẩm lớn đầu tiên mang lại danh tiếng cho ông là tiểu thuyết Bạch vệ, sau được chuyển thành kịch bản Những ngày tháng của anh em Turbin mang đến một thành công vang dội. Tiếp sau đó là các truyện vừa Ổ quỷ, Những quả trứng định mệnh, Trái tim chó… cùng hàng loạt vở kịch, và cuối cùng là Tiểu thuyết sân khấu. Đặc biệt trong 12 năm cuối đời, ông đã viết nên kiệt tác bất hủ Nghệ nhân và Margarita. Sáng tác của Bulgacov thường gây nhiều tranh cãi, nhiều vở kịch của ông bị cấm diễn, hàng mấy chục năm, cả khi ông còn sống và sau khi ông đã qua đời, tác phẩm của ông không được in một dòng nào. Tuy nhiên đến cuối thế kỉ XX, chân lí nghệ thuật đã trở lại, và chiến thắng: tất cả các tác phẩm của ông được in, được hâm mộ, phần lớn tác phẩm chính được đưa lên sân khấu, màn ảnh, được dịch ra nhiều thứ tiếng, đưa lên mạng internet... *** Ư-ư-ư-ư-ư-hư-hư-hư-ư! Ôi khốn nạn thân tôi, tôi chết mất đây! Dưới vòm cổng, bão tuyết đang gào rít bản nhạc tống biệt tôi, và tôi cũng tru lên cùng với gió tuyết. Đời tôi thế là hết, thế là hết thật rồi. Một thằng súc sinh đội mũ không vành cáu bẩn, cái lão đầu bếp ở nhà ăn bình dân của các nhân viên thuộc Hội đồng Kinh tế Quốc dân Trung ương ấy, đã hắt nước sôi làm bỏng cả một bên sườn trái của tôi. Cái đồ đểu giả đến vậy, mà lại còn là vô sản nữa chứ! Trời đất ơi, đức Chúa của tôi ơi, đau quá! Nước sôi bỏng thấu tận xương. Bây giờ tôi chỉ biết tru lên, nhưng tiếng tru nào phỏng giúp được gì! Tôi đã làm gì động đến hắn? Chẳng lẽ nếu để tôi đào bới trong đống thức ăn thải thì cái Hội đồng Kinh tế Quốc dân kia sẽ khánh kiệt đi sao? Đồ súc sinh bần tiện! Có khi nào đó các người thử nhìn cái mặt của hắn xem - chiều ngang rộng hơn chiều dọc! Một thằng ăn cắp mặt dầy. Ôi, bàn dân thiên hạ ôi! Giữa trưa, hắn dội cho tôi một gầu nước sôi, còn bây giờ trời đã nhập nhoạng tối, cứ ước theo mùi hành phi bay ra từ khu nhà ở của đội cứu hoả phố Pretristenca thì chắc đã khoảng bốn giờ chiều rồi. Như các người biết đấy, bữa tối lính cứu hoả thường ăn cháo. Đấy là một món mạt hạng, cũng giống như nấm ấy. Thế nhưng mấy thằng chó đực quen trên phố Pretristenca lại kể rằng, dường như ở nhà hàng “Bar” trên đại lộ Neglinnưi người ta thường chén món nấm dầm nước sốt cay giá ba rúp bảy mươi lăm copek một suất. Tuy nhiên đó là chuyện khẩu vị từng người, nó cũng chẳng khác gì việc liếm giầy cao su vậy... Ư-ư-ư-ư-ư... Hông đau không chịu nổi, và tôi đã thấy rõ mồn một cái viễn cảnh của tôi: ngày mai sẽ bắt đầu những vết loét, và thử hỏi lúc đó tôi lấy gì để chữa chạy? Mùa hè thì còn có thể dông tuốt lên công viên Soconiki, ở đấy có một loại cỏ đặc biệt làm thuốc hết sẩy; ngoài ra đến đó còn được chén đẫy không mất tiền các mẩu lạp xường thừa, tha hồ liếm láp những tờ giấy gói đẫm mỡ mà quý vị công dân vứt tứ tung khắp nơi. Và nếu như không gặp phải một mụ già cáu bẳn nào đó hát trong dàn đồng ca dưới trăng - “Ôi Aida yêu dấu”(1) - đến rụng tim, thì cuộc đời thật sự hết ý. Còn bây giờ tôi biết đi đâu? Người ta có thường phết giầy vào đít các người không? Có chứ. Các người đã được nếm món gạch chọi vào sườn chưa? Từng xơi đủ. Tôi đã trải qua tất cả, tôi nhẫn nhục cam chịu cái số kiếp của mình. Nếu bây giờ tôi khóc rên thì cũng chỉ là bởi thân xác của tôi lạnh cóng và đau đớn, vì linh hồn tôi hãy còn chưa tắt... Linh hồn loài chó vốn sống dai. Nhưng thân thể tôi thì đã bị tàn giập, xơ xác, cái giống người hành hạ giày vò nó kể cũng gớm ghê. ...   Mời các bạn đón đọc Trái Tim Chó của tác giả Mikhail Bulgakov.
Tình Đầu Trao Anh - Barbara Cartland
Barbara Cartland tên đầy đủ là Maria Barbara Cartland Hamilton sinh ngày 9/7/1901 là một nhà văn người Anh. Bà được coi là một trong những cây bút sáng tác mạnh mẽ nhất của thế kỷ 20 và luôn có tên trong sách kỷ lục Guinness như một trong những nhà văn xuất bản nhiều tác phẩm nhất trong một năm. Sự nổi tiếng của bà gắn liền với những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hư cấu dưới bút danh Barbara Cartland, ngoài ra bà cũng sáng tác dưới bút danh sau khi đã lập gia đình là Barbara McCorquodale. Ước tính lượng sách bán được lên đến hơn một tỷ bản đã khiến bà trở thành một trong những biểu tượng xã hội của thành phố London cũng như một trong những nhân vật được giới truyền thông Anh săn đón nhiều nhất. Điểm đặc trưng nhất trong phong cách của Barbara Cartland là đoạn kết với tuyên ngôn tình yêu sẽ chinh phục mọi thử thách. "Những nhân vật nữ chính luôn là chìa khóa trong mọi tình huống. Họ là những phụ nữ độc lập, thông minh và tự tin vào bản thân. Barbara Cartland đã tạo ra sức hấp dẫn cho những câu chuyện bà kể bằng công thức vô cùng đơn giản: Luôn là một kết thúc có hậu nhưng trong suốt chiều dài câu chuyện người đọc lại luôn bị thu hút bởi ý nghĩ liệu nút thắt có bao giờ được cởi bỏ thành công" – Miller nói. Trong suốt sự nghiệp của mình Barbara Cartland đã viết khoảng 723 cuốn sách được dịch sang 38 ngôn ngữ. Quãng thời gian sáng tác dồi dào nhất của bà phải kể đến 650 tiểu thuyết lãng mạn được viết trong 20 năm cuối đời. Ngày 21/5/2000 bà qua đời ở tuổi 98 sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng chỉ một năm trước đó. *** Hầu tước Mounteagle bước ra khỏi xe ngựa và nói với người đánh xe: - Hãy quay lại sau một giờ nữa! - Vâng, thưa ngài. Hầu tước bước lên cầu thang dẫn vào Câu lạc bộ White[1]. Chàng được người phục vụ chào đón lễ phép. Chàng nhìn qua cánh cửa mở rộng của căn phòng và nhận ra người mình đang cần gặp, đang ngồi trong một chiếc ghế bành da. Khi chàng sắp bước tới phía đó, thì chợt nghe thấy ai đó bên cạnh thì thào nhưng có vẻ cố ý để chàng nghe thấy: - Nhìn kìa, Hầu tước Mounteagle! Lạy chúa, đừng để ông ấy xem được cuốn sổ cá cược! Hầu tước sững lại. Nhưng rồi với bản lĩnh tự kiềm chế đáng khâm phục, chàng không nhìn về hướng giọng nói phát ra, mà cố ý bắt chuyện với một người cạnh đó. Anh này, gần đây cũng hay đến khu chợ mới. - Anh đã thắng cuộc chứ? - Hầu tước hỏi. - Tôi không có được cái may mắn đó của ngài! - Anh ta trả lời. ... Mời các bạn đón đọc Tình Đầu Trao Anh của tác giả Barbara Cartland.