Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lời Nói Dối Thứ Ba

Tiểu thuyết Cuốn Sổ Lớn (Le Grand Cahier) được viết dưới hình thức một cuốn sổ ghi chép của hai cậu bé sinh đôi. Trong thời gian về miền quê để tránh chiến tranh, hai cậu bé tự học cách mô tả những sự kiện xảy ra chung quanh và ở chính mình. Hai cậu tập làm văn trên những tờ giấy rời. Khi nào viết được một bài hoàn chỉnh, thì hai cậu chép nó vào một cuốn sổ lớn. Các chương của cuốn tiểu thuyết chính là những bài tập làm văn ấy. Hai cậu bé sinh đôi đã tự quy định cho mình một nguyên tắc hành văn như sau: "Les mots qui définissent les sentiments sont très vagues; il vaut mieux éviter leur emploi et s'en tenir à la description des objets, des êtres humains et de soi-même, c'est-à-dire à la description fidèle des faits." [Những chữ định tính các xúc cảm thì rất mơ hồ. Tốt hơn nên tránh dùng chúng, và hãy chú tâm vào việc miêu tả các vật thể, con người, và chính mình, nghĩa là miêu tả trung thành các sự kiện.] (trang 34, chương “Nos études” [Việc học của chúng tôi]) Đó chính là cái bút pháp độc đáo của cuốn tiểu thuyết Le Grand Cahier: đơn giản và vô cảm. Mọi sự kiện đều được nhìn qua con mắt của hai đứa trẻ, ghi lại bằng ngòi bút của hai đứa trẻ, và không bị diễn dịch theo bất cứ một định kiến nào. Và chính vì thế, độc giả sẽ thấy cuộc sống bày ra tất cả những góc cạnh lạ lùng nhất của nó. Một điểm độc đáo khác: suốt cả cuốn tiểu thuyết, hai đứa trẻ sinh đôi luôn luôn có cái nhìn hoàn toàn đồng nhất, luôn luôn có hành động hoàn toàn đồng nhất, và luôn luôn phát ngôn hoàn toàn đồng nhất. "Chúng tôi", chứ không bao giờ "tôi". "Chúng tôi thấy", "chúng tôi làm", "chúng tôi nói"... Điều này có nghĩa là gì? Phải chăng đó là một ẩn dụ? Câu trả lời sẽ dần dần hiện ra trong hai cuốn tiểu thuyết tiếp theo. *** Tiểu thuyết được viết dưới hình thức một cuốn sổ ghi chép của hai cậu bé sinh đôi. Trong thời gian về miền quê để tránh chiến tranh, hai cậu bé tự học cách mô tả những sự kiện xảy ra chung quanh và ở chính mình. Hai cậu tập làm văn trên những tờ giấy rời. Khi nào viết được một bài hoàn chỉnh, thì hai cậu chép nó vào một cuốn sổ lớn. Các chương của cuốn tiểu thuyết chính là những bài tập làm văn ấy. Hai cậu bé sinh đôi đã tự quy định cho mình một nguyên tắc hành văn như sau: "Les mots qui définissent les sentiments sont très vagues; il vaut mieux éviter leur emploi et s'en tenir à la description des objets, des êtres humains et de soi-même, c'est-à-dire à la description fidèle des faits." [Những chữ định tính các xúc cảm thì rất mơ hồ. Tốt hơn nên tránh dùng chúng, và hãy chú tâm vào việc miêu tả các vật thể, con người, và chính mình, nghĩa là miêu tả trung thành các sự kiện.] (trang 34, chương “Nos études” [Việc học của chúng tôi] - tập 1 - Cuốn sổ lớn.) * Đó chính là cái bút pháp độc đáo của bộ 3 cuốn tiểu thuyết của Agota Kristof: đơn giản và vô cảm. Mọi sự kiện đều được nhìn qua con mắt của hai đứa trẻ, ghi lại bằng ngòi bút của hai đứa trẻ, và không bị diễn dịch theo bất cứ một định kiến nào. Và chính vì thế, độc giả sẽ thấy cuộc sống bày ra tất cả những góc cạnh lạ lùng nhất của nó. Một điểm độc đáo khác: suốt cả cuốn tiểu thuyết, hai đứa trẻ sinh đôi luôn luôn có cái nhìn hoàn toàn đồng nhất, luôn luôn có hành động hoàn toàn đồng nhất, và luôn luôn phát ngôn hoàn toàn đồng nhất. "Chúng tôi", chứ không bao giờ "tôi". "Chúng tôi thấy", "chúng tôi làm", "chúng tôi nói"... Điều này có nghĩa là gì? Phải chăng đó là một ẩn dụ? Câu trả lời sẽ dần dần hiện ra trong hai cuốn tiểu thuyết tiếp theo. Bộ sách Twins Trilogy gồm có: Cuốn Sổ Lớn Bằng Chứng Lời Nói Dối Thứ Ba *** Agota Kristof sinh năm 1935 tại Hungary, rời bỏ quê hương năm 1956 khi quân đội Liên-Xô tràn vào đàn áp cuộc nổi dậy của sinh viên và công nhân ở Budapest. Cùng chồng và đứa con gái 4 tuổi, bà sang tỵ nạn ở Neuchâtel, Thụy-sĩ. Sau 5 năm sống với cảm thức cô đơn và đau đớn của một người lưu vong, bà quyết định từ bỏ việc làm của một công nhân, ly dị với chồng, rồi bắt đầu học tiếng Pháp và viết truyện, viết kịch, viết tiểu thuyết và làm thơ. Sau nhiều năm vật vã với ngòi bút, Agota Kristof cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay Le Grand Cahier [Cuốn sổ lớn] năm 1986. Tác phẩm này là một thành công, đoạt giải "Prix du Livre Européen", và thúc đẩy bà tiếp tục viết thêm hai cuốn tiểu thuyết nữa để hoàn tất một bộ ba. Cuốn thứ nhì La Preuve [Bằng chứng] được xuất bản năm 1988, và cuốn cuối cùng của bộ ba tiểu thuyết là Le Troisième Mensonge [Lời nói dối thứ ba] được xuất bản năm 1991 và đoạt giải "Prix du Livre Inter" năm 1992. Sau đó, bà xuất bản tiểu thuyết Hier [Hôm qua] năm 1995, rồi tiểu thuyết L'Analphabète [Người Đàn Bà Mù Chữ] năm 2004. Hoàng Ngọc-Tuấn Sydney, 14/08/2006 *** Tôi ngồi tù tại cái thành phố nhỏ thời thơ ấu. Không phải là một nhà tù thực sự, đó là một phòng giam trong ngôi nhà của cảnh sát địa phương, một tòa nhà hai tầng như biết bao những nhà khác của thành phố. Phòng giam của tôi xưa kia là một xưởng giặt, cửa và cửa sổ trông ra sân. Những chấn song cửa sổ đã được gắn vào bên trong để cho không ai có thể chạm vào và đập vỡ kính. Một góc vệ sinh được che sau một cái riđô. Giáp với một bức tường, có một cái bàn và bốn cái ghế gắn chặt xuống đất, giáp với bức tường phía trước có bốn cái giường có thể gập xuống. Ba cái đã được gập. Chỉ có một mình tôi trong phòng giam. Trong thành phố này có rất ít tội phạm, và khi có, người ta lập tức đưa đến thành phố bên, thủ phủ của vùng này cách đây hai mươi cây số. Tôi không phải là tội phạm. Tôi ở đây là do giấy tờ của tôi không hợp lệ, hộ chiếu của tôi hết hạn. Với lại tôi cũng có nợ tiền. Buổi sáng, người coi tù mang đến cho tôi bữa sáng, sữa, cà phê, bánh mỳ. Tôi uống chút cà phê rồi tôi đi tắm. Người coi tù ăn nốt bữa sáng của tôi và quét dọn phòng giam. Cửa để mở, tôi có thể ra sân nếu tôi muốn. Đó là một cái sân có tường cao phủ dây trường xuân và nho dại bao quanh. Đằng sau một bức tường, ở phía trái khi ra khỏi phòng giam là một cái hành lang có mái che của một trường học. Tôi nghe tiếng trẻ con cười, đùa, la hét trong giờ ra chơi. Khi tôi còn bé, trường học đã ở đó rồi, tôi nhớ, dù tôi không bao giờ đến trường, nhưng nhà tù thì hồi đó lại ở nơi khác, tôi cũng nhớ bởi vì tôi đã đến đó một lần. Buổi sáng một giờ, và buổi tối một giờ, tôi đi bộ ngoài sân. Đó là thói quen tôi đã có từ thuở nhỏ, khi tôi mới lên năm, tôi đã buộc phải tập đi. Điều này khiến người coi tù khó chịu, vì lúc đó tôi không nói và không nghe một câu hỏi nào. Mắt nhìn xuống đất, tay chắp sau lưng, tôi bước đi, tôi đi vòng quanh dọc theo các bức tường. Mặt đất có lát đá, nhưng cỏ vẫn mọc giữa các kẽ đá. Cái sân gần như vuông, chiều dài mười lăm bước, chiều rộng mười ba bước. Giả sử bước chân của tôi dài một mét thì diện tích cái sân là một trăm chín mươi lăm mét vuông. Nhưng chắc chắn bước chân của tôi ngắn hơn. Giữa sân có một cái bàn tròn và hai cái ghế, và giáp với bức tường cuối vườn là một cái ghế dài bằng gỗ. Ngồi xuống ghế dài đó tôi có thể nhìn thấy một phần lớn bầu trời thuở nhỏ của tôi. Từ hôm đầu, bà chủ hiệu sách đã đến thăm tôi và mang đến cho tôi các đồ dùng cá nhân và một món xúp rau. Bà tiếp tục đến hàng ngày vào giờ trưa với món xúp rau của bà. Tôi bảo bà rằng ở đây tôi được nuôi dưỡng tốt, người coi tù mang đến cho tôi một ngày hai bữa đầy đủ từ nhà hàng trước mặt, nhưng bà ấy tiếp tục mang xúp đến. Tôi ăn một chút để giữ lễ, rồi tôi đưa cái xoong cho người coi tù ăn nốt. Tôi xin lỗi bà chủ hiệu sách vì sự lộn xộn tôi đã để lại trong căn hộ của bà. Bà nói: - Có quan trọng gì đâu. Tôi và con gái tôi đã dọn dẹp cả rồi. Chỉ có rất nhiều giấy. Tôi đã đốt những tờ giấy nhàu nát và những tờ ném vào sọt. Những tờ khác, tôi đã đặt lên bàn, nhưng cảnh sát đã đến và lấy đi. Tôi im lặng một lát, rồi nói: - Tôi còn thiếu bà hai tháng tiền nhà. Bà ấy cười: - Tôi đã đòi ông quá đắt cho căn hộ nhỏ đó. Nhưng nếu ông muốn thì ông có thể hoàn lại cho tôi khi ông được về. Có lẽ là sang năm. - Tôi không nghĩ là sẽ về. Người được ủy thác của tôi sẽ thanh toán cho bà. Bà ấy hỏi tôi có cần gì không, tôi nói: - Có, tôi cần giấy và bút chì. Nhưng tôi không còn tiền. - Đáng lẽ tôi đã phải tự nghĩ ra. Hôm sau, bà ấy trở lại với món xúp, một gói giấy kẻ và nhiều bút chì. Mời các bạn đón đọc Lời Nói Dối Thứ Ba của tác giả Agota Kristof.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ma Cà Rồng Sa Ngã - Jie May
"NGƯỜI SÓI VÀ MA CÀ RỒNG LUÔN LÀ NHỮNG KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP KHÔNG ĐỘI TRỜI CHUNG... " Truyện này dành cho các bạn thích thể loại tình cảm pha chút viễn tưởng nha. Tác phẩm xoay quanh ba nhân vật chính: MIE - JAY (vampire) - YUL (wolf) Yul vì một mối thù truyền kiếp của làng yêu sói với gia tộc ma cà rồng nên khiến anh luôn phải đối đầu với Jay. Và khi số phận đẩy đưa đã mang hai người đem lòng yêu cùng một cô gái. Để rồi trớ trêu thay, cả ba người họ đều bị rơi vào vòng xoáy của ái tình. Liệu kết thúc sẽ ra sao? Họ có tìm được hạnh phúc? Hay là tất cả sẽ phải ra đi, rời xa người mình yêu mãi mãi? MIE: một cô bé bình thường, cô có một trái tim vô cùng thuần khiết. Vào một chuyến đi định mệnh năm đó đã cho cô gặp hai chàng trai rất kỳ lạ. Một người là ma cà rồng, người kia là một yêu sói. JAY : người thừa kế của một gia tộc ma cà rồng luôn phải chịu sự huấn luyện tàn khốc từ người cha độc ác và máu lạnh của mình. Cậu không giống với những ma cà rồng khác vì bản thân cậu mang dòng máu lai. YUL : một người sói sống trong làng yêu sói. Anh sống nội tâm và khép kín. Chấp nhận chỉ là người mãi mãi dõi theo Mie. Yul vì một mối thù truyền kiếp của làng yêu sói với gia tộc ma cà rồng nên khiến anh luôn phải đối đầu với Jay. Để rồi số phận trớ trêu thay khi hai người họ đã đem lòng yêu cùng một cô gái. Điều đó đã làm cho ba người họ bị cuốn vào vòng xoáy của ái tình. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất . Mình khai thác nội tâm của cả ba nhân vật chính luôn. Vì vậy, để biết ai là người đang được đề cập đến thì mình sẽ ghi cấu trúc chap như sau : CHAP: NHÂN_VẬT_ĐANG_KỂ - TÊN CHAP Ví dụ : CHAP 11: JAY - TÔI GỌI MIE LÀ CHỊ thì người đang kể chuyện là Jay, tên Chap là : Tôi gọi Mie là chị. *** Vì trận chiến này đã khiến cho Kris tàn phế, đôi chân kia không còn cử động được. Anh đã từng nghĩ, đó là cái giá phải trả cho những việc mà mình đã gây ra. Luôn bày kế hãm hại Jay, luôn muốn chiếm giữ vị trí độc tôn trong gia đình này. Và trước giờ cứ mở miệng ra là mắng nhiếc người khác, luôn cho rằng bản thân là đúng, buộc người khác phải phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của mình. Nhưng thật tốt cho Kris là vẫn còn một người luôn kiên nhẫn ở bên cạnh, giúp anh vượt qua sóng gió lần này. Dù cho thời gian đầu có một chút khó khăn để anh có thể chấp nhận được điều đó : - 'Bốp!' Các ngươi ra ngoài hết cho tôi! Kris xua đuổi tất cả người hầu, những ai muốn tiếp cận để chăm sóc cho anh. Khiến cho mọi người càng lúc càng xa lánh anh hơn. - Anh lại bày trò nữa à? Cứ thích mắng nhiếc người khác mỗi khi thấy không vừa ý sao? Có tiếng chân bước vào, là một cô gái... - Mau đi ra ngoài cho tôi! - Kris lại hét lớn. Cô gái ấy không trả lời, lẳng lặng cầm chậu nước tiến đến bên giường, định giúp anh xoa nắn đôi chân tê cứng kia. - 'Xoảng' - Cái chậu bằng sứ rơi xuống nền nhà, vỡ vụn - Cô đang ám chỉ rằng tôi rất vô dụng có phải không? ... Mời các bạn đón đọc Ma Cà Rồng Sa Ngã của tác giả Jie May.
Khởi Sinh Của Cô Độc - Paul Auster
Mọi điều đều bắt đầu và kết thúc bằng sự cô độc. Auster viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên, khởi sinh từ sự cô độc ấy. Cuốn sách được chia thành hai phần rõ rệt. Phần đầu tiên được kể ở ngôi thứ nhất, có tựa Chân dung một người vô hình. Đó là một cuộc hành trình. Hành trình bước vào một bí mật, khi Auster không cố tình tìm kiếm, không chờ đợi, không kỳ vọng. Từ những vết dấu để lại của người cha trong suốt mười lăm năm sống đơn độc, từ những mảnh ghép lấp chồng trong quá khứ hiện về rời rạc, vô thức, Auster đã tạo nên hình ảnh của người cha mà trước đó ông không thể chạm vào. Những bước chân của ông trên cuộc hành trình ấy, không dẫn lối ông về lòng hoài nhớ quá khứ, mà đi đến sự thấu cảm đầy sầu não. Người cha mà ông đã từng biết, không phải là người mà ông luôn nhìn thấy. Người cha đã từng vô hình, bỗng trở nên hữu hình với ông. Từ những điều ấy, sự đồng cảm nảy nở. Đó là cái khoảng ấm áp, cái tình yêu mà Auster gần như không bao giờ cảm thấy khi cha còn sống.   Ở cuốn sách đầu tay này, Auster cũng đã bắt đầu bày tỏ những trăn trở về việc viết văn. Có lẽ cái khởi đầu của cô độc mà ông nhận ra ấy, đã đẩy ông đến gần hơn với ngôn ngữ. Lối viết của Auster ở đây đã tỏ ra vô cùng linh hoạt, và đa dạng khi cố tình phá bỏ cấu trúc thông thường của tiểu thuyết, để lồng ghép những tiểu thuyết nhỏ trong tiểu thuyết lớn, đặt những câu chuyện tưởng như tách bạch  nhau bên cạnh nhau, tạo thành một đường dây liên văn bản đầy sáng tạo, hứng khởi và thách thức. Thế giới văn chương của Paul là một thế giới văn chương biến hóa khôn lường. Bắt đầu từ Khởi sinh của cô độc, và sau này là Trần trụi với văn chương, Moon Palace, Người trong bóng tối, Nhạc đời may rủi... Paul Auster luôn có cách khiến độc giả bị hấp dẫn ban đầu bởi những đề tài độc đáo, những chi tiết “câu khách”, với lối viết đa dạng, kết hợp nhiều thể loại, như trinh thám, điều tra, đầy bí ẩn, đầy mâu thuẫn, đầy phi lý... Nhưng tất cả những chi tiết ấy, hòa trộn với nhau để tạo thành thế giới nghệ thuật Paul Auster, hoàn toàn đứng vững trên ranh giới giữa nghệ thuật đỉnh cao, và giải trí rẻ tiền. Tác phẩm của Auster rất phổ biến tại Mỹ, nhưng không phải vì thế mà văn chương của ông tầm thường. Ngược lại, tận cùng hạt nhân của những tác phẩm ấy, chính là một sự suy nghiệm nhân sinh độc đáo, khúc tr *** Tôi biết đến Khởi sinh của cô độccủa Paul Auster qua bài viết “Đau lòng sổ bụi, những bức thư không gửi” của Trần Trọng Vũ. Anh Vũ viết bài này trong khi biên soạn và chọn lọc từ di cảo khổng lồ của bố anh, nhà thơ Trần Dần để in thành sách. Trong bài, anh Vũ viết: “Năm 1997, bố tôi, nhà thơ Trần Dần mất tại Hà Nội. Phải đợi nhiều thời gian sau tôi mới cảm thấy sẵn sàng mở lại di cảo của ông. Nhưng không phải với hy vọng được xích lại gần với ông hơn, không phải để hiểu ông hơn. Cũng không phải vì sợ mất ông. Tôi đã không thể xử sự được như trong văn học.” Những lời này hình như để phân biệt để việc anh đi tìm “bản gốc” của Trần Dần với hành trình ngược thời gian của Paul Auster. Ba năm sau khi đọc bài viết của anh Trần Trọng Vũ, tôi mới tìm đọc Khởi sinh của cô độc, vào lúc mà chính tôi cảm thấy nhu cầu lục lọi lại quá khứ, một quá khứ tưởng chừng như đang tuột khỏi tay mình. Đọc quyển sách này đối với tôi là một sự cứu rỗi. Tôi hiểu ra rằng Paul Auster dọn dẹp lại đống đồ cũ trong ngôi nhà cũ cùng với chồng chất ký ức không phải vì ông hy vọng hiểu hơn về người bố đã mất, không phải để xích lại gần, không phải vì sợ mất cái mà đằng nào cái chết cũng đã lấy đi. “Đi tìm thời gian đã mất” chỉ có thể là tên của một quyển sách. Cái mà Paul Auster tìm thấy là cái mà ông chưa bao giờ có, hoặc là chưa bao giờ biết rằng mình có. Đó là tình yêu. Chỉ thời gian mới là cái lọc để cho ta chắt từ cuộc đời ra tình yêu đích thực. GS. Ngô Bảo Châu *** CÁNH CỬA MỞ RỘNG   Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu, nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ   Tủ sách CÁNH CỬA MỞ RỘNG được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu những đầu sách có giá trị của thế giới và trong nước đến bạn đọc Việt Nam, đặc biệt là bạn đọc trẻ, góp phần thúc đẩy việc đọc sách, tinh thần hiếu học, coi trọng tri thức và những giá trị sống. Các tựa sách trong tủ do nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu. Tủ sách được phân thành ba mảng: văn học, khoa học xã hội – kinh tế, và khoa học tự nhiên; trước mắt cấu tạo tủ sách gồm 80% các sách có khả năng tiếp cận đông đảo bạn đọc và 20% cho các sách chuyên ngành. *** Trong hành trình tìm kiếm sự thật, hãy sẵn sàng với những điều không ngờ tới, vì sự thật rất khó tìm và khi đã tìm ra bạn cũng sẽ thấy thật khó hiểu. HERACLITUS   Mới ngày nào còn sống đó. Một người, giả dụ đang ở đỉnh cao sức khỏe, thậm chí chưa già, chẳng có tiền sử bệnh tật gì. Mọi thứ vẫn như xưa, như lúc nào cũng vậy. Ông ta sống từ ngày này sang ngày khác, lo việc của mình, mơ về cuộc đời đang trải ra trước mắt. Thế rồi, đùng một cái, cái chết đến. Ông thở nhẹ một hơi, sụp xuống ghế của mình, và thế là chết. Sự đột ngột của cái chết chẳng để chỗ trống cho suy nghĩ, chẳng cho tâm trí cơ hội tìm kiếm từ ngữ nào để an ủi mình. Ta chẳng còn gì ngoài cái chết, một thực tế không thể thay đổi được trong sự vĩnh cửu của chính ta. Chúng ta cam chịu chấp nhận cái chết sau một quãng thời gian bệnh tật kéo dài. Thậm chí cái chết vì tai nạn cũng được cho là bởi số phận. Nhưng một người đàn ông chết mà chẳng rõ nguyên nhân, một người đàn ông chết chỉ vì ông ta là người, đưa ta đến thật gần với ranh giới vô hình giữa sống và chết mà ta chẳng còn biết mình đang ở bên nào. Sự sống trở thành cái chết, như thể cái chết đã luôn sở hữu sự sống ngay từ đầu. Chết không cảnh báo. Như thể có khẩu lệnh: Đời dừng. Và nó dừng bất cứ khi nào. Tin về cái chết của cha đến với tôi ba tuần trước. Đó là một buổi sáng Chủ nhật, tôi đang trong bếp chuẩn bị bữa sáng cho cậu con trai nhỏ, Daniel. Trên lầu, vợ tôi vẫn ngủ, ấm áp dưới lớp chăn, tận hưởng thêm mấy tiếng ngủ nướng. Mùa đông ở vùng nông thôn: một thế giới im lặng, mùi khói gỗ, màu trắng. Tâm trí tôi đang ngổn ngang suy tư về đoạn mình vừa viết đêm qua, chỉ mong chờ đến chiều để quay lại với công việc. Rồi điện thoại đổ chuông. Tôi biết ngay là có sự không lành. Không ai gọi điện đến vào lúc tám giờ sáng Chủ nhật nếu không phải vì một tin tức không thể chờ đợi. Và tin mà không thể đợi thì lúc nào cũng là tin dữ. Tôi không thể tập trung vào một ý nghĩ ra hồn nào. Thậm chí trước khi đóng gói đồ đạc và khởi hành chuyến xe dài ba tiếng tới New Jersey, tôi biết mình phải viết về cha. Tôi chẳng có kế hoạch, chẳng có ý tưởng trước nào về chuyện này. Tôi thậm chí còn không thể nhớ mình đã quyết định thực hiện nó nữa. Nó cứ ở đó, là điều hiển nhiên, một nhiệm vụ choán lấy tôi từ khoảnh khắc tôi nhận được tin. Tôi nghĩ: Cha đi rồi. Nếu tôi không hành động nhanh lên, toàn bộ cuộc đời cha sẽ biến mất cùng ông. Giờ nhìn lại chuyện ấy, thậm chí chỉ sau vỏn vẹn ba tuần lễ, tôi đã thấy đó là một cách phản ứng thật kỳ quặc. Tôi đã luôn tưởng tượng rằng cái chết sẽ khiến mình đờ ra, bất động trong nỗi đau đớn. Nhưng giờ chuyện đã xảy ra như vậy, tôi không rỏ giọt nước mắt nào, tôi không cảm thấy thế giới quanh mình đổ sụp. Theo một lối lạ lùng, tôi như đã chuẩn bị kỹ một cách đáng kinh ngạc cho cái chết này, bất chấp sự đột ngột. Điều khiến tôi phiền lòng là chuyện khác, không liên quan đến cái chết hay phản ứng của tôi trước chuyện ấy: đó chính là việc nhận ra cha mình chẳng để lại dấu vết nào. ... Mời các bạn đón đọc Khởi Sinh Của Cô Độc của tác giả Paul Auster.
Hôn Ước Và Nỗi Đau - Mun Lương
Nếu bạn đang tìm kiếm một câu chuyện đầy sắc hồng của hạnh phúc thì câu chuyện này không dành cho bạn rồi. Từ đầu cho đến cuối, câu chuyện đều mang trên mình một màu xanh lạnh băng, một màu đen đau khổ và cả một màu đỏ đớn đau. Câu chuyện kể về cuộc sống giữa nó và hắn trong hôn nhân do hai bên gia đình sắp đặt và những nỗi đau của nó do hắn gây nên. Từ việc hắn hiểu lầm nó đến việc mất đi đứa con rồi đến cả việc hắn lạnh nhạt, tàn nhẫn và vô tình với nó. *** Hôm nay là đám cưới của nó và hắn. Nó mặc trên mình một chiếc áo soire màu trắng thuần khiết, một đôi giày cao gót cũng màu trắng nốt, tóc nó được búi cao gọn gàng, nó được trang điểm một cách thật nhẹ nhàng nhưng trông nó còn đẹp hơn cả hằng ngày. Nó ngồi trong phòng trang điểm mà cứ run: - Uyên ơi, tao sợ quá. - Có gì đâu mà sợ. - Tao sợ tao làm không được. - Mày chỉ cần lên đó nói ba lần con đồng ý là được. - Nhưng... Cánh cửa phòng được mở ra, hắn khoát trên mình một bộ vest trắng trông vô cùng điển trai bước vào, hắn tiến đến bên nó: - Anh nghe nói vợ anh đang sợ hả? ... Mời các bạn đón đọc Hôn Ước Và Nỗi Đau của tác giả Mun Lương.
Thám Tử Kỳ Duyên - Tài Tử Kim Thiền Khánh
Là tựa truyện ngôn tình mang lẫn thể loại truyện teen, Thám Tử Kỳ Duyên còn mở ra cho bạn đọc những tình tiết rùng rợn trong truyện ma, hứa hẹn sẽ đầy hấp dẫn nhé. Xin nói qua một chút cá nhân, tôi viết truyện trinh thám này cũng khá mệt mỏi, âu cũng do sức khỏe và căn bệnh khó thở hành hạ, ngồi máy tính chưa được 5 phút đã lên cơn, mỗi lần như vậy tôi phải hít vào thật sâu, cố gắng thông khí trong buồng phổi cho dễ thở hơn, những ngày ngủ đủ giấc thì còn đỡ; những ngày căng thẳng và suy nghĩ nhiều thì đúng là cực hình. Căn bệnh sơ phổi quả thật ảnh hưởng không nhỏ đến việc viết lách của tôi. Dù vậy, tác phẩm cũng hoàn thành, tôi rất mừng và tự hào về mình. Truyện viết xong cũng là lúc vong linh cô ấy được đem về chùa, cầu cho cô sớm siêu thoát, những gì tôi viết ra một phần là để giải nỗi oan cho cô. Cô đã sống như vậy và đã chết như vậy, cô muốn tôi viết, muốn cho mọi người thấu nỗi oan của cô, tôi đã hoàn thành ý nguyện đó giúp cô, cũng là lúc cô trả lại linh hồn cho tôi tiếp tục con đường sáng tạo mà tôi đã chọn. Hai mười năm gắng kết, nghiệp duyên đã dứt… *** Ghi chép của Khôi Nguyên. Ngọc Diệp đã nhắc nhở tôi rất đúng lúc. Vụ án mà tôi đang theo đuổi vẫn chưa kết thúc. Cây đinh gãy đó buộc tôi phải lật lại hồ sơ. Cây đinh đó và người đàn ông bí ẩn đã hẹn hò với Kiều Oanh trước lúc cô ấy chết... một biến số cần phải có lời giải ngay lập tức. Bằng không, tôi vẫn chưa thể kết thúc vụ án. Người đàn ông đó là ai? Tôi đã dò hỏi những thông tin liên quan đến con người đó thông qua Văn Phú nhưng vẫn không thu được kết quả như mong muốn. Chỉ có một manh mối rất mơ hồ do Văn Phú cho biết. Anh ta nói: Có một lần anh ấy gọi điện thoại cho Kiều Oanh, lúc đó Kiều Oanh đang hẹn hò với anh chàng kia. Qua điện thoại, Văn Phú nghe rất nhiều tiếng ồn; anh ta khẳng định lúc đó Kiều Oanh đang ở một nhà hàng người Hoa. Tôi có hỏi Văn Phú dựa vào đâu mà anh ta lại quả quyết như vậy? Văn Phú nói: “Tôi nghe thấy tiếng ăn uống, tiếng bát đũa, và tiếng hai người đang nói chuyện, điều đáng nói là hai người đó nói với nhau bằng tiếng Trung Quốc.” Văn Phú nhận mình kém cỏi thua anh chàng đó; đáng lý, Văn Phú phải hiểu hơn về người đàn ông đó mới phải, đằng này ngay cả cái tên của tình địch cũng không biết. Anh ta quá bí ẩn. Và Kiều Oanh cũng vậy, cô ấy ngay từ đầu đã không xem anh là “người thân”, không chỉ đối với Văn Phú, mà đối với bạn bè khác cũng vậy, Kiều Oanh rất kín đáo chứ không cởi mở như vẻ bề ngoài của cô ấy. Tôi có gọi điện hẹn Minh Hằng để hỏi cô ấy một số thông tin liên quan đến Kiều Oanh. Minh Hằng đã cung cấp cho tôi một thông tin khá thú vị. Cô ấy cho biết, trước lúc Kiều Oanh tự tử, cô ấy đã thấy một “giấu hiệu lạ”. Tôi hỏi đó là giấu hiệu gì? Thì cô ấy trả lời: “Tôi thấy trên cổ Kiều Oanh có những vết bầm.” Tôi hỏi lại: “Một vết hay là nhiều vết?” Kiều Oanh đáp: “Nhiều vết.” Ngoài ra Minh Hằng còn phát hiện trên cầu vai trái của Kiều Oanh có vết răn rất sâu. Tôi hỏi: “Làm sao Minh Hằng thấy được?” Minh Hằng trả lời: “Hôm đó Kiều Oanh đến nhà Minh Hằng, Kiều Oanh đã thiếp đi có lẽ do quá mệt mỏi, lúc kéo chăn đắp cho Kiều Oanh vô tình Minh Hằng phát hiện được. ... Mời các bạn đón đọc Thám Tử Kỳ Duyên của tác giả Tài Tử Kim Thiền Khánh.