Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Casanova Ở Bolzano

Năm 1756, trốn thoát khỏi buồng chì kiên cố ở Venice, không cưỡng nổi sự thôi thúc bí ẩn của định mệnh, kẻ phiêu lưu khét tiếng và phong tình lừng danh của thế kỷ 18 Giacomo Casanova tìm đường trở về Bolzano, nơi chàng từng chạm trán Tử thần trong cuộc quyết đấu cùng vị hôn phu quyền lực của thiếu nữ Francesca tuyệt sắc. Lần trở lại này của Casanova khiến cả thành phố chấn động. Tin tức cũng lan tới lâu đài của Bá tước Parma, lúc này đã kết hôn cùng Francesca. Bá tước tới nơi chàng Casanova trọ để làm một cuộc thương lượng lạ lùng. Một bí mật sẽ vĩnh viễn trở thành kỷ niệm, một nỗi đau sẽ được gói lại lần cuối, để không gì còn xen vào cuộc sống của người đàn bà quý giá của đời ông...  Hư cấu và tưởng tượng, không vay mượn từ Histoire de ma vie của nhân vật có thực Giacomo Cassanova nổi tiếng trong lịch sử, Márai Sándor  đã tạo nên một kiệt tác văn chương tràn ngập hơi thở mãnh liệt, cám dỗ nồng nàn của cuộc sống, với những đối thoại lạ lùng, thông thái, đam mê, bất ngờ và đầy tính cách ngôn sâu xa xoay quanh một tình yêu khắc khoải. Casanova ở Bolzano chứng minh rằng Márai Sándor - một trong những bậc thầy xuất sắc của nền văn học Hungary và thế giới - đã in dấu ấn vô cùng đặc biệt trên diện mạo văn chương thế kỷ 20. *** Lời khen tặng dành cho Casanova ở Bolzano “Câu chuyện mê đắm về tình yêu, tình bạn và sự phản bội…  Phong phú, cám dỗ, nồng nàn và châm biếm.” - Elle   “Sâu sắc và đầy chiêm nghiệm… Tràn ngập niềm vui cuộc sống.” - Vogue “Sáng chói… Cuộc đấu phức tạp của những trí tuệ… Casanova ở Bolzano cung cấp thêm bằng chứng về sự xuất sắc bị quên lãng của tác gia lớn trong thời đại chúng ta: Márai Sándor.”  - Chicago Tribune *** Ghi chú Trong gương mặt và tính cách nhân vật của tôi chắc hẳn độc giả tưởng mình nhận ra diện mạo đặc trưng của Giacomo Casanova1 kẻ phiêu lưu khét tiếng vào thế kỷ 18. Thật khó cưỡng lại nổi sự nhận biết này, mà trong mắt một số người có thể nó cũng là sự phê phán. Nhân vật của tôi cực kỳ giống anh chàng liều lĩnh, vô gia cư và dẫu sao có lẽ vẫn bất hạnh, người vào nửa đêm ngày 31 tháng Mười năm 1756 đã dùng thang dây trèo từ buồng giam mái lợp chì của Công quốc Venice, còn gọi là buồng chì, xuống eo biển và cùng một tu sĩ đã bị tước quyền hành đạo tên là Balbi bỏ trốn khỏi lãnh địa của Nước Cộng hòa2 về phía Munchen. Điều biện hộ cho tôi là từ câu chuyện cuộc đời của nhân vật, tôi không quan tâm đến câu chuyện lãng mạn, mà quan tâm đến tính cách lãng mạn của anh ta. Vì thế những thứ khác, như thời điểm và hoàn cảnh cuộc trốn thoát, tôi không vay mượn từ cuốn Những hồi tưởng3lừng danh. Tất cả những thứ khác mà độc giả tìm thấy trong tiểu thuyết này, đều là chuyện hư cấu và tưởng tượng. M.S. *** Một đức ông, từ Venice Chàng từ biệt những người chèo thuyền ở Mestré; người bạn hư hỏng Balbi thiếu chút nữa đã làm chàng rơi vào tay cảnh sát ở đây, vì đúng lúc chiếc xe ngựa chở khách khởi hành thì chàng hoài công tìm kiếm, mãi rồi mới thấy anh ta trong một quán cà phê - đang vô tư nhâm nhi một cốc sô cô la - và tán tỉnh cô hầu bàn. Đến Treviso thì chàng hết sạch tiền; họ lủi qua cổng Saint Thomas ra cánh đồng, và theo sau những khu vườn, đi men theo ven những cánh rừng, lúc mặt trời lặn thì đến trước những ngôi nhà của Valdepiadene. Đến đây chàng rút con dao găm ra dọa người bạn đường khó chịu, hai người hẹn sẽ gặp nhau ở Bolzano, rồi chia tay. Cha Balbi buồn bã bước đi giữa những thân cây trơ trụi trong rừng ô liu; nom ông gầy guộc và nhếch nhác, vừa đi vừa ngoái nhìn lại bằng cái nhìn vụng trộm tăm tối, lủi thủi như một con chó ghẻ bị chủ xua đuổi. Khi cha cố đã đi khuất, chàng đi vào thành phố, bằng một bản năng mù lòa và đáng tin cậy chàng hỏi chỗ ở trong nhà của viên chánh cẩm. Bà vợ ông ta, một phụ nữ thuần hậu, tiếp đón chàng, cho chàng ăn tối, rửa các vết thương cho chàng - trên gối và trên mắt cá chân máu đã đông lại, trong khi chạy trốn, lúc nhảy từ những mái nhà lợp chì, khuỷu tay và gối chàng bị xước -, và trước khi đi ngủ chàng được biết ông chánh cẩm đang đi vắng, ông đang săn lùng chính chàng, kẻ chạy trốn. Lúc rạng sáng chàng bỏ đi. Chàng ngủ ở Pergine, sang ngày thứ ba thì đến Bolzano trên xe ngựa, vì giữa đường đã moi được của một người quen sáu đồng tiền vàng. Balbi đã đợi chàng. Chàng thuê phòng trong một quán trọ có tên là Con Hươu. Chàng không có đồ đạc gì, quần áo rách mướp, chiếc áo đuôi tôm may từ thứ lụa màu nay chỉ còn lại những mảnh tơi tả, không có áo khoác ngoài. Ở Bolzano, trên những con phố hẹp gió tháng Mười một đã bắt đầu quất mạnh. Người chủ quán lúng túng nhìn những vị khách rách rưới. -      Những phòng đẹp nhất ư?! - ông ta lúng túng. -      Những phòng đẹp nhất! - chàng đáp khẽ, dứt khoát. - Và hãy chú ý đến đồ ăn đấy! -      Ở đây các người hay nấu với các thứ mỡ đã ôi, thay vì dầu, và từ khi rời khỏi Nước Cộng hòa ta chưa được ăn ở đâu một miếng cho tử tế! Hãy quay gà trống thiến và mái tơ vào bữa tối, không phải một, mà ba con, với hạt dẻ. Và kiếm loại vang Cyprus. Ngươi nhìn quần áo ta ư?... Ngươi tìm hành lý của ta ư? Ngươi ngạc nhiên vì ta đến đây tay không ư? Tin tức không tới đây hay sao? Ngươi không đọc Leyden Gazette sao!... Đồ ngốc! - chàng gào lên giọng khản đặc, vì giữa đường chàng bị cảm lạnh, và cơn ho đang hành hạ phế quản chàng. - Ngươi không nghe tin một nhà quý tộc Venice và thư ký cùng đám gia nhân vừa bị cướp ngoài biên giới ư? Cảnh sát còn chưa tới tìm ta ư? -      Dạ chưa thấy, thưa đức ông, - người chủ quán hốt hoảng đáp. Balbi bụm miệng cười. Cuối cùng đúng là họ đã được những phòng đẹp nhất: phòng khách, hai cửa sổ có cánh mở ra quảng trường chính, những đồ gỗ có chân mạ vàng và gương Venice đặt trên lò sưởi. Giường kiểu Pháp có màn che. Balbi ở phía cuối hành lang, gần một cầu thang hẹp và dốc dẫn lên tầng áp mái của những người hầu. Cách bố trí như thế làm chàng rất mãn nguyện. -      Thư ký của ta đấy, - chàng giới thiệu Balbi với ông chủ quán trọ. -      Cảnh sát, - người chủ quán trọ nói như thanh minh. - Ở đây cảnh sát cũng rất nghiêm. Họ sẽ đến đây ngay. Họ xem xét tất cả những người lạ mặt. -      Bảo với họ rằng, - chàng đáp qua loa - có khách quý. Một đức ông... -      Nhưng dù sao! - người chủ quán cố nài, và cúi đầu thật thấp, tay cầm chiếc mũ, tò mò và lễ phép. - Một đức ông, từ Venice! - chàng nói. Chàng nói điều này như thể thông báo một phẩm tước đặc biệt nào đó. Đến mức Balbi cũng phải chú ý tới âm điệu của chàng. Rồi bằng nét chữ nhọn và thành thục, chàng viết tên mình vào quyển sổ lớn. Người chủ quán hồi hộp đến đỏ mặt: day day thái dương bằng những ngón tay mập mạp, và không biết nên chạy đi gọi cảnh sát hay quỳ mọp xuống để hôn tay chàng? Thế là ông ta cứ đứng một chỗ, bối rối và im lặng. Rồi ông châm đèn và đưa các vị khách lên tầng trên. Những người phục dịch đã xếp dọn các phòng: mang nến đến trên những giá đỡ lớn mạ vàng, nước nóng đựng trong các bình bạc, những chiếc khăn lau Limburg bằng vải bông. Chàng bắt đau chậm rãi cởi quần áo, như một đấng quân vương, giữa đám hầu cận: chàng đưa từng chiếc áo bẩn cho người chủ quán trọ và những người hầu phòng, chiếc quần lụa dính máu bết vào da thịt phải dùng kéo cắt ở phía ngoài hai bên ống quần, chàng ngâm chân khá lâu trong cái chậu rửa bằng bạc, người ngả trên một chiếc ghế bành, lim dim ngủ vì mệt mỏi, nom tã tượi và thế thảm. Thỉnh thoảng chàng chợt ngủ trong một khoảnh khac, lẩm bẩm, hét lên một tiếng. Balbi, ông chủ quán, những người hầu phòng há miệng đi đi lại lại quanh chàng: người ta đang trải giường trong buồng ngủ, kéo kín các rèm cửa, tắt gần hết nến. Đến giờ ăn tối họ gõ cửa rất lâu. Sau bữa ăn chàng lại đi ngủ ngay; chàng ngủ đến trưa ngày hôm sau, với gương mặt vô tư và bình thản, lạnh lùng như người mới chết một ngày. Một đức ông, các cô gái bảo nhau rồi ai vào việc nay, khe khẽ hát, cười và thầm thì với nhau, trong bếp và dưới hầm, họ đi rửa xe và lau bát đĩa, chẻ củi, mang nước uống, họ nói nhỏ hơn, đưa ngón tay che miệng, lại khúc khích cười, rồi lại làm mặt nghiêm và truyền nhau cái tin ấy, vẻ quan trọng và cười cợt: một đức ông, đúng, một đức ông, từ Venice. Đến tối thì có hai viên cớm chìm đến quán; tên chàng, đáng ngờ và quyến rũ, hấp dẫn và nguy hiểm, vừa được mạ vàng bởi tin tức về cuộc phiêu lưu lớn, cuộc tẩu thoát, đã thu hút đám mật vụ ở khắp các thành phố. Và họ muốn biết tất cả. Hắn ta ngủ ư?... Không có hành lý gì à? -      Một con dao găm, - chủ quán nói. - Ông ta đến với một con dao găm. Chỉ có thế. -      Một con dao găm, - họ nhắc lại, vẻ am hiểu và ngơ ngác. - Loại dao gì thế? - họ căn vặn. -      Dao găm Venice, - chủ quán đáp vẻ hâm mộ. -      Không còn gì khác? - họ hỏi. -      Không, - chủ quán trọ đáp. - Không có gì khác. Một con dao găm. Chỉ có thế. Tin này làm hai viên cớm chìm bất ngờ. Họ đã không ngạc nhiên nếu chàng tới đây với đầy chiến lợi phẩm, đá quý, túi đựng, vòng cổ và nhẫn quý tháo ra từ ngón tay của những phụ nữ nhà lành trên dọc đường đi. Tiếng tăm chàng đã đến trước, như một kẻ dẫn ngựa đi tiền trạm, và bố cáo tên chàng. Sáng ra đức giám mục đã thông báo cho viên chánh cẩm, và yêu cầu trục xuất ngay vị khách nguy hiểm. Ở Tirol và Lombardia, buổi sáng sau lễ cầu kinh, buổi tối trong các quán rượu, người ta đã kể cho nhau nghe về cuộc tẩu thoát của chàng. -      Hãy cẩn thận với hắn! - đám cớm chìm nói. - Chúng tôi muốn biết hết hắn nói gì. Phải rất chú ý hắn. Hắn có nhận thư không, và nhận từ ai? Hắn có gửi thư không, và gửi cho ai? Hãy để ý đến nhất cử nhất động của hắn! Hình như, - họ thì thầm, dùng bàn tay chụm lại làm loa ghé sát vào tai ông chủ quán, - hắn có người che chở. Cả đức giám mục cũng chẳng làm gì nổi hắn. -      Trước mắt, - ông chủ quán nói với vẻ từng trải. -      Trước mắt, - những tay cớm chìm buồn bã nhắc lại. Rồi họ nhón chân bỏ đi, gương mặt bí hiểm và đầy lo âu. Ông chủ quán ngồi xuống trong phòng nước, thở dài. Ông không thích những người khách có tiếng tăm, những người gây nên sự chú ý của đức giám mục và cảnh sát. Ông nghĩ tới đôi mắt của vị khách, đen ánh lửa tăm tối và than hồng bập bùng uể oải trong đôi mắt ấy, và ông sợ. Ông nghĩ đến con dao găm, con dao găm Venice, đồ vật duy nhất của người khách, và ông sợ. Ông nghĩ đến tin tức theo sau vị khách, và bắt đầu rủa thầm. -      Teresa! - ông cáu kỉnh gọi. Một cô gái, đã bận áo khoác ngoài buổi tối, bước vào. Cô mười sáu tuổi, một tay cầm cây nến đang cháy, tay kia kéo hai vạt áo ngủ trước ngực. -      Nghe đây! - ông thì thầm, bảo cô bé ngồi xuống gối. - Ta chỉ tin con thôi. Chúng ta có một vị khách nguy hiểm. Teresa, ông khách này... -      Từ Venice đến? - cô bé nói giọng học trò, như hát. -      Đúng, từ Venice, từ Venice, - ông nói hốt hoảng. - Từ trong tù. Từ lũ chuột. Từ dưới giá treo cổ. Nghe đây, Teresa. Hãy chú ý xem ông ta nói những gì. Tai mắt con hãy luôn luôn ở cạnh lỗ khóa. Ta yêu con như con gái ta. Con là con nuôi ta; nhưng nếu ông ta gọi vào phòng thì con đừng ngại. Con sẽ đem bữa sáng cho ông ấy. Hãy coi chừng đức hạnh của con và hãy chú ý. -      Vâng, - cô bé đáp. Rồi vẫn cầm cây nến trên tay, cô bé đi về phía cửa, nhẹ nhàng như một cái bóng. Đến trước cửa, cô bé than, kéo dài giọng như giọng trẻ con: -      Cháu sợ. -      Ta cũng thế, - ông chủ quán nói. - Giờ con đi ngủ đi. Trước đó hãy đem cho ta rượu vang đỏ. Nhưng đêm đầu tiên tất cả đều trằn trọc.   Mời các bạn đón đọc Casanova Ở Bolzano của tác giả Márai Sándor & Giáp Văn Chung (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Minh Nhãn Mai Hoa
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Minh Nhãn Mai Hoa của tác giả Mã Bá Dung & Tố Hinh (dịch). TRIỀU PHỤNG LÀ MỘT DANH TỪ CỔ. Từ này xuất hiện sớm nhất vào thời Hán, vốn là tên một chức quan trong triều. Tới thời Đường, Tống, triều phụng trở thành tên gọi của một loạt các chức quan cố định, như triều phụng sứ, triều phụng lang, triều phụng đại phu v.v... Cách gọi này về sau truyền cả vào dân gian, ví như thư sinh, chủ hiệu buôn# lớn, lái buôn có tiếng tăm, cũng được gọi là triều phụng. Từ sau triều Minh trở đi, triều phụng trở thành cách gọi tôn kính của chủ tiệm cầm đồ, phụ trách mua hàng ra giá, là nhân vật chủ chốt của cửa hàng. Ai đem đồ tới cầm, đều phải chắp tay chào một tiếng “Triều phụng”. Theo dòng thời đại, từ này cũng dần rơi vào quên lãng. Với phần lớn mọi người, đây đã trở thành một từ xa lạ mà bí ẩn. Nhưng đối với tôi, “Lão Triều Phụng” lại là một cái tên không sao quên được, nó thuộc về một con người. Kẻ này đã bán đứng Hứa Nhất Thành ông tôi, khiến ông phải mang tai mang tiếng, ngậm oan mà chết; chưa hết, lão còn giăng bẫy ép bố tôi là Hứa Hòa Bình đâm đầu xuống hồ tự tử; cài người lừa gạt tôi, giết chết bạn tôi. Cái tên này giống như một con quỷ dữ, đeo đẳng ba đời nhà họ Hứa chúng tôi. Lão một tay gây dựng nên mạng lưới làm giả đồ cổ trên toàn quốc, biến nó trở thành khối u ác tính cực lớn của thị trường văn vật Trung Quốc. Về tư, tôi có thù nhà phải tính với lão, về công, không trừ bỏ thế lực của Lão Triều Phụng, thị trường cổ vật sẽ lẫn lộn thật giả, không thể yên ổn. Lão Triều Phụng rốt cuộc là ai? Tôi nhất định phải vạch mặt lão, bằng không cả đời sẽ canh cánh không yên. Trong vụ việc Thanh minh thượng hà đồ, tôi và lão đã tạm thời liên kết lật tẩy âm mưu của Bách Thụy Liên. Đổi lại, Lão Triều Phụng nhận lời sẽ gặp mặt tôi, giải quyết mối ân oán mấy chục năm nay. Giờ đây, sự thật đã ở gần tôi trong gang tấc. *** Tóm tắt Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám của tác giả Mã Bá Dung, kể về câu chuyện của Hứa Nhất Kiệt, một nhà nghiên cứu cổ vật trẻ tuổi, quyết tâm truy tìm tung tích của Lão Triều Phụng, kẻ đã gây ra nhiều tội ác cho gia đình anh. Hứa Nhất Kiệt là cháu nội của Hứa Nhất Thành, một nhà nghiên cứu cổ vật nổi tiếng, bị vu oan làm giả đồ cổ và phải tự sát. Cha của Hứa Nhất Kiệt, Hứa Hòa Bình, cũng bị Lão Triều Phụng hãm hại đến chết. Bản thân Hứa Nhất Kiệt cũng bị Lão Triều Phụng gài bẫy, khiến bạn anh bị giết chết. Với quyết tâm báo thù cho gia đình và trừng trị kẻ ác, Hứa Nhất Kiệt đã bắt đầu cuộc điều tra của mình. Anh đã lần theo những manh mối nhỏ bé, từng bước tìm ra danh tính và tung tích của Lão Triều Phụng. Lão Triều Phụng là một nhân vật bí ẩn và quyền lực. Ông ta là người đứng đầu một mạng lưới làm giả đồ cổ trên toàn quốc. Lão ta đã lợi dụng thị trường cổ vật để kiếm lời, đồng thời cũng tham gia vào nhiều hoạt động phi pháp khác. Hứa Nhất Kiệt đã phải đối mặt với nhiều khó khăn và nguy hiểm trong cuộc điều tra của mình. Anh phải đối đầu với những kẻ hung ác, những thủ đoạn lừa lọc và những âm mưu thâm độc. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của những người bạn, Hứa Nhất Kiệt đã dần tiến gần đến mục tiêu của mình. Review Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám hấp dẫn, với cốt truyện lôi cuốn, những tình tiết bất ngờ và những nhân vật được xây dựng thành công. Cốt truyện của cuốn tiểu thuyết xoay quanh những chủ đề như thù hận, báo thù, chính nghĩa và tội ác. Câu chuyện của Hứa Nhất Kiệt là một câu chuyện về lòng căm thù và sự kiên quyết. Anh ta đã không ngừng nỗ lực để tìm ra kẻ thù của mình và trả thù cho gia đình. Những tình tiết của cuốn tiểu thuyết được xây dựng rất hấp dẫn và lôi cuốn. Tác giả đã sử dụng nhiều thủ pháp kể chuyện như hồi tưởng, ẩn dụ,... để tạo ra những tình tiết bất ngờ và gây tò mò cho người đọc. Các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết được xây dựng thành công. Hứa Nhất Kiệt là một nhân vật đáng yêu và đáng thương. Anh ta là một người thông minh, kiên cường và có ý chí mạnh mẽ. Lão Triều Phụng là một nhân vật phản diện đáng ghét. Ông ta là một kẻ thủ ác, gian xảo và tàn nhẫn. Nhìn chung, Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám đáng đọc. Cuốn tiểu thuyết sẽ mang đến cho bạn những giây phút giải trí tuyệt vời và những bài học ý nghĩa về cuộc sống. Đánh giá cá nhân Theo tôi, Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám rất hay và đáng đọc. Cuốn tiểu thuyết có cốt truyện hấp dẫn, những tình tiết bất ngờ và những nhân vật được xây dựng thành công. Tôi đặc biệt thích nhân vật Hứa Nhất Kiệt. Anh ta là một nhân vật đáng yêu và đáng thương. Anh ta là một người thông minh, kiên cường và có ý chí mạnh mẽ. Tôi cũng thích nhân vật Lão Triều Phụng. Ông ta là một nhân vật phản diện đáng ghét. Ông ta là một kẻ thủ ác, gian xảo và tàn nhẫn. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn tiểu thuyết trinh thám hấp dẫn, thì tôi khuyên bạn nên đọc Minh Nhãn Mai Hoa. ***   DANH GIA CỔ VẬT (trọn bộ 4 tập): - Kỳ Án Đầu Phật - Bí Ẩn Thanh Minh Thượng Hà Đồ - Hôi Của Đông Lăng - Minh Nhãn Mai Hoa *** MÃ BÁ DUNG sinh năm 1980, tại Xích Phong (Ulankhad) thuộc khu tự trị Nội Mông. Ông là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc với bút lực dồi dào, văn phong đa biến. Phạm vi sáng tác trải từ phê bình, tản văn, tiểu phẩm đến tiểu thuyết vừa và dài, thể loại sáng tác phong phú, bao gồm khoa học viễn tưởng, kỳ ảo, lịch sử, trinh thám v.v… Năm 2005, ông đạt giải thưởng Ngân Hà dành cho tác phẩm khoa học viễn tưởng Trung Quốc. Năm 2010, ông đạt giải thưởng Văn học Nhân dân, một trong những giải thưởng văn học uy tín nhất của văn đàn Trung Quốc. Mời các bạn mượn đọc sách Minh Nhãn Mai Hoa của tác giả Mã Bá Dung & Tố Hinh (dịch).
Giọt Máu Ái Tình (2 Tập)
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Giọt Máu Ái Tình (2 Tập) của tác giả Việt Đông. Tên sách: Giọt máu ái tình - Cuốn 1,2 Tác giả: Việt Đông Nơi xuất bản: Sài Gòn Năm xuất bản: 1935 *** Việt Đông là bút danh. Ông tên thật là Lưu Thoại Khải. Hiện vẫn chưa biết năm sinh và mất, thân thế cùng quê quán của ông. Căn cứ vào tư liệu hiện còn thì Việt Đông bắt đầu viết văn từ năm 1930. Từ năm 1931 về sau, ông cùng Ellen Anh Hoa viết chung một loạt tác phẩm với độ dày mỗi cuốn 32 trang và dự định ra mắt bạn đọc mỗi tuần một cuốn. Những tác phẩm này, ông tập hợp trong bộ Việt Đông văn tập ký tên là Văn khoa học sĩ. Chi tiết trên được nhà văn ghi rõ ở trang cuối cuốn tiểu thuyết Tiếng súng lục liên, do nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, ấn hành năm 1931. Theo thông tin quảng cáo ở một số bìa sách thì rất có thể ông là chồng của nữ sĩ Ellen Anh Hoa, tức Huỳnh Thị Anh Hoa và hai người có viết chung một số tiểu thuyết như Ai người hẹn ngọc; Duyên chàng nợ thiếp; Thân gái dặm trường; Con ở chúa nhà ...   Kể cả những tác phẩm viết chung với Ellen Anh Hoa thì Việt Đông đã góp mặt cho văn xuôi Quốc ngữ Nam bộ hồi trước 1945 một khối lượng tác phẩm truyện và tiểu thuyết có thể nói là thật đáng kể, đồ sộ với 67 cuốn lớn nhỏ (có thể còn nhiều hơn, vì hiện chưa tìm được hết, bởi trên trang cuối các tiểu thuyết đã xuất bản, nhà văn có quảng cáo những tác phẩm sẽ xuất bản), với dung lượng ngắn nhất là 12 trang và dài nhất đến 116 trang. Những tác phẩm này thuộc nhiều thể loại khác nhau, được viết trong khoảng 08 năm, từ 1930 đến 1938. Do ông có dự định và bước đầu đã thực hiện được dự định ấy là ra bộ Việt Đông văn tập, mỗi tuần một cuốn, ký tên là Văn khoa học sĩ, nhằm đáp ứng yêu cầu và thị hiếu của số đông công chúng độc giả bấy giờ nên có nhà nghiên cứu cho rằng ông là “nhà văn thị trường” Về cách dựng chuyện và kể chuyện trong tác phẩm của Việt Đông có thể nói là ít có gì đặc sắc; cốt truyện thường dung dị, giản đơn, có khi trơn tuột. Đây cũng là nét chung của nhiều ngòi bút văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ hồi đầu thế kỷ cho đến 1945. Bởi đối tượng tiếp nhận, người đọc phần đông là tầng lớp bình dân như phu xe, chị bán hàng… mà nhà văn có viết như thế thì mới phù hợp với thị hiếu công chúng. Việc xây dựng nhân vật và khắc hoạ tâm lý nhân vật trong nhiều tác phẩm cũng chưa được nhà văn chú tâm khai thác đúng mức. Đây là điểm hạn chế lớn nhất của ngòi bút Việt Đông. Ngôn ngữ kể chuyện trong nhiều tác phẩm thì thường kể với giọng văn không ổn định, mang nhiều giọng: lúc thì trơn tuột, mộc mạc, rất giản dị như lời nói thường ngày; lúc thì cầu kỳ gọt giũa, dùng nhiều điển cố, điển tích; câu văn có lúc viết theo lối biền ngẫu ngày xưa nên phần nào ít phù hợp với hiện thực và tính cách nhân vật được nhà văn phản ánh. Riêng về đoản thiên tiểu thuyết và chuyện thần tiên thì tình tiết tưởng tượng ly kỳ, gay cấn, éo le, ít nhiều cũng gợi được sự tò mò và hấp dẫn cho người đọc. Như trên đã giới thiệu, số lượng truyện và tiểu thuyết của Việt Đông thì nhiều, nếu không muốn nói là đồ sộ, nhưng tư duy nghệ thuật, bút pháp kể chuyện của ông thì không mấy nổi bật, chưa tạo được dấu ấn riêng. Đọc truyện và tiểu thuyết của ông, người đọc cảm thấy nhàn nhạt, có khi nhàm chán. Đó cũng là lý do để cắt nghĩa tại sao tác phẩm và tên tuổi của Viết Đông chưa được người đọc nhắc đến nhiều và ít được các nhà văn học sử, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu nếu so với các cây bút khác cùng thời như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức, Tân Dân Tử chẳng hạn. Nhìn chung, điều đáng quý là những tiểu thuyết của Việt Đông dù viết theo thể loại nào ít nhiều cũng đều có tính giáo dục, khuyến thiện trừng ác, sống đạo đức, khơi gợi lòng yêu nước, lòng tự hào về quê hương với những truyền thống đạo lý tốt đẹp. *** Tóm tắt Cuốn 1 Giọt Máu Ái Tình kể về câu chuyện của hai gia đình giàu có ở Sài Gòn trong những năm đầu thế kỷ 20. Gia đình Trần Văn Khải là một gia đình danh giá, có nhiều đất đai và nhà cửa. Gia đình Nguyễn Văn Hiếu cũng là một gia đình giàu có, có nhiều tiền bạc và quyền lực. Vào một ngày nọ, Trần Văn Khải và Nguyễn Văn Hiếu gặp nhau trong một cuộc đấu thầu. Cả hai đều muốn giành được quyền khai thác một khu đất vàng ở Sài Gòn. Trong cuộc đấu thầu, Trần Văn Khải đã giành chiến thắng. Nguyễn Văn Hiếu rất tức giận và muốn trả thù Trần Văn Khải. Ông ta đã sai người giết chết Trần Văn Khải. Sau khi Trần Văn Khải qua đời, vợ ông ta là bà Trần Thị Mai đã phải gồng gánh gia đình. Bà đã phải bán hết nhà cửa và đất đai để nuôi các con. Hai con trai của Trần Văn Khải là Trần Văn Liêm và Trần Văn Lợi đã trưởng thành. Trần Văn Liêm là một người đàn ông tài giỏi và có chí hướng. Ông ta đã thành lập một công ty xây dựng và trở nên giàu có. Trần Văn Lợi là một người đàn ông yếu đuối và nhu nhược. Ông ta đã bị Nguyễn Văn Hiếu lợi dụng và trở thành con rối của ông ta. Cuốn 2 Trong cuốn 2, Trần Văn Lợi đã kết hôn với con gái của Nguyễn Văn Hiếu là Nguyễn Thị Hoa. Ông ta đã bị Nguyễn Văn Hiếu ép buộc phải kết hôn với Hoa để đổi lấy một số quyền lợi kinh doanh. Trần Văn Liêm đã yêu Hoa từ lâu. Ông ta đã rất đau khổ khi biết tin Hoa sẽ kết hôn với Trần Văn Lợi. Sau khi kết hôn, Trần Văn Lợi và Nguyễn Thị Hoa đã có một đứa con trai. Tuy nhiên, hôn nhân của họ không hạnh phúc. Trần Văn Lợi vẫn yêu Hoa nhưng Hoa lại không yêu ông ta. Trong khi đó, Trần Văn Liêm đã kết hôn với một người phụ nữ khác. Ông ta đã có một cuộc sống hạnh phúc bên vợ và con cái. Cuối cùng, Nguyễn Văn Hiếu đã bị trừng trị vì những tội ác của mình. Ông ta đã bị bắt và bỏ tù. Review Giọt Máu Ái Tình là một tiểu thuyết tình yêu và báo thù. Tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20. Tác phẩm có những điểm mạnh sau: Truyện có cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách và tâm lý phức tạp. Ngôn ngữ trong truyện giàu chất thơ, mang đậm màu sắc của văn học lãng mạn. Tuy nhiên, tác phẩm cũng có một số điểm hạn chế như: Một số tình tiết trong truyện còn thiếu logic. Nhân vật Nguyễn Thị Hoa được xây dựng chưa thực sự thuyết phục. Nhìn chung, Giọt Máu Ái Tình là một tác phẩm đáng đọc đối với những ai yêu thích thể loại tiểu thuyết tình yêu và báo thù. Đánh giá Giọt Máu Ái Tình là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả bởi cốt truyện hấp dẫn, nhân vật sinh động và ngôn ngữ giàu chất thơ. Tác phẩm đã phản ánh một cách chân thực những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp giàu nghèo, giữa cái thiện và cái ác, giữa tình yêu và thù hận. Tác phẩm cũng thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác giả. Tác giả lên án những thế lực xấu xa, những kẻ gây ra đau khổ cho người khác. Đồng thời, tác giả ca ngợi tình yêu chân chính, tình mẫu tử và tình cảm gia đình. Giọt Máu Ái Tình là một tác phẩm văn học có giá trị. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Mời các bạn mượn đọc sách Giọt Máu Ái Tình (2 Tập) của tác giả Việt Đông.
Tạ Ơn Thượng Đế
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch). Bức tranh thơ mộng này thuật lại cuộc đời của ba thế hệ người Cajun, những người tiên phong rời nước Pháp đến định cư ở Lousiana. Những nhân vật này rất mạnh mẽ, phóng khoáng, cực đoan: Edius Raqun, người tiên phong cứng đầu, bà vợ Bazelle và cô con gái Azeline. Rồi đến chàng rể tương lai, Farouche Ferraille Crowley, người sống ngoài vòng pháp luật. Còn cả Palestine Northwood, thủy thủ từ Nantucket, và còn nhiều nhân vật khác của câu chuyện bắt đầu ở những nhánh sông và kết thúc ở New Orleans, vào thời điểm nhạc jazz xuất hiện. Lối hành văn của tác giả mô phỏng thổ ngữ ở Lousiana. *** Giải Goncourt, giải thưởng văn học danh giá của nước Pháp, vừa được trao cách đây vài giờ cho tác giả Hervé Le Tellier với tác phẩm «L'anomalie», được xuất bản bởi Gallimard. Lần gần nhất nhà xuất bản này có sách đoạt giải Goncourt là vào năm 2016 với «Chanson Douce» (Người lạ trong nhà) của tác giả Leïla Slimani. --- Giải Goncourt (Prix Goncourt) là một giải thưởng văn học Pháp được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896. Hội văn học Goncourt thành lập chính thức năm 1900 và giải đầu tiên được trao ngày 21 tháng 12 năm 1903. Giải Goncourt, được sáng lập để trao mỗi năm cho «tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm», nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Nó là giải thưởng văn học Pháp được mong muốn nhất. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng lớn thay thế. Các thành viên của viện Goncourt họp vào các thứ ba đầu tiên mỗi tháng trong phòng khách của họ tại tầng hai nhà hàng Drouant ở Paris (Place Gaillon, quận 2). Tên người được giải sẽ công bố ngày 3 tháng 11 sau bữa ăn trưa tại nhà hàng (Năm nay, do ảnh hưởng của Covid-19 nên thời gian công bố đã được lùi lại). Giải chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần. Duy có Romain Gary năm 1956 nhận giải với tiểu thuyết «Racines du ciel» (Rễ trời) và năm 1975 nhận một giải nữa với «La vie devant soi» (Cuộc sống ở trước mặt), nhưng dưới bút danh Émile Ajar. --- Một số cuốn sách đoạt giải đã được xuất bản tại Việt Nam: 1905: Những kẻ văn minh (Les Civilisés) - Claude Farrère 1916: Khói lửa (Le Feu) - Henri Barbusse 1919: Dưới bóng những cô gái đương hoa (À l'ombre des jeunes filles en fleurs) - Marcel Proust 1933: Thân phận con người (La Condition humaine)- André Malraux 1936: Sự tha thứ muộn màng (L'Empreinte du dieu) - Maxence Van der Meersch 1948: Những gia đình cự tộc (Les Grandes Familles)- Maurice Druon 1951: Bờ biển Syrtes (Le Rivage des Syrtes) - Julien Gracq 1956: Rễ trời (Les Racines du ciel) - Romain Gary 1970: Chúa tể đầm lầy (Le Roi des aulnes) - Michel Tournier 1974: Cô thợ thêu (La Dentellière) - Pascal Lainé 1975: Cuộc sống ở trước mặt (La Vie devant soi) - Émile Ajar 1977: Câu chuyện New York (John l'Enfer) - Didier Decoin 1978: Phố những cửa hiệu u tối (Rue des Boutiques obscures) - Patrick Modiano 1984: Người tình (L'Amant) - Marguerite Duras 1985: Những cuộc hôn thú man dại (Les Noces barbares) - Yann Queffélec 1987: Đêm thiêng (La Nuit sacrée) - Tahar Ben Jelloun 1988: Triển lãm thuộc địa (L'Exposition coloniale) - Erik Orsenna 1989: Tạ ơn Thượng Đế (Un grand pas vers le bon Dieu) - Jean Vautrin 1990: Chiến trường vinh quang (Les Champs d'honneur) - Jean Rouaud 1991: Những người con gái dòng Chúa chịu nạn (Les Filles du Calvaire) - Pierre Combescot 1995: Di chúc Pháp (Le Testament français) - Andreï Makine 1996: Chiếc máy bay tiêm kích Zéro (Le Chasseur Zéro) - Pascale Roze 1997: Chiến trận (La Bataille) - Patrick Rambaud 1998: Nỗi niềm (Confidence pour confidence) - Paule Constant 1999: Tôi đi đây (Je m'en vais) - Jean Echenoz 2000: Ingrid Caven - Jean-Jacques Schuhl 2001: Brésil Đỏ (Rouge Brésil) - Jean-Christophe Rufin 2003: Người tình của Brecht (La Maîtresse de Brecht) - Jacques-Pierre Amette 2004: Mặt trời nhà Scorta (Le Soleil des Scorta) - Laurent Gaudé 2005: Ba ngày ở nhà mẹ (Trois jours chez ma mère) - François Weyergans 2006: Những kẻ thiện tâm (Les Bienveillantes) - Jonathan Littell 2007: Alabama Song - Gilles Leroy 2008: Nhẫn thạch (Syngué sabour. Pierre de patience) - Atiq Rahimi 2009: Ba phụ nữ can đảm (Trois femmes puissantes) - Marie NDiaye 2010: Bản đồ và vùng đất (La Carte et le Territoire) - Michel Houellebecq 2012: La Mã sụp đổ (Le Sermon sur la chute de Rome) - Jérôme Ferrari 2013: Hẹn gặp lại trên kia (Au revoir là-haut) - Pierre Lemaitre 2014: Không khóc (Pas pleurer) - Lydie Salvayre 2016: Người lạ trong nhà (Chanson douce) - Leïla Slimani 2017: Chương trình nghị sự (L'Ordre du jour) - Éric Vuillard   Mời các bạn mượn đọc sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch).
Câu Chuyện New York
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch). Didier Decoin sinh năm 1945, bắt đầu con đường cầm bút với nghề làm báo rồi trở thành nhà văn có tên tuổi ở Pháp. Năm 1995, Didier Decoin được bầu làm tổng thư ký Viện Hàn Lâm Goncourt. Tác phẩm mang tên "John l’Enfer" (John Địa Ngục) - qua bản dịch của chúng tôi - "Câu chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Một nhà phê bình văn học viết trên báo Aurore bấy giờ đánh giá: “... Đối với tôi, đó là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi đã đọc trong mùa ấy”. Dịch giả Viễn Nguyên​ *** Didier Decoin viết nhiều truyện dài và kịch bản đã chuyển thành phim. "Khi chiếc xe tải của hãng truyền hình NA đến hiện trường xảy ra tai nạn, đám đông đã tự động tản ra làm hai nhóm; trên lề đường nhốn nháo, ồn ào như thể một đàn ong vỡ tổ. Những người được "may mắn" chứng kiến tận mắt tai nạn - đứng hơi lùi về phía sau. Nhóm những kẻ chạy đến quá muộn đứng gần hơn, bàn tán dựng lại cảnh bi thảm bên chỗ nạn nhân nằm. Họ ước đoán những cơ may sống sót và đưa ra các lời khuyên: "Có thể y bị trật khớp, có phần dập nát" "Đừng đụng vào y, cứ như thế chờ cảnh sát cơ động đến; không được di chuyển, không được cởi mũ y ra." "Máu chảy từ các lỗ mũi thì đó là dấu hiệu xấu rồi! Sao không gập một chiếc áo vét-tông đặt dưới gáy kẻ khốn khổ ấy?"... Còi ôtô cảnh sát New York rú lên từ xa, phía đầu công viên Row, gió nóng hầm hập thổi, uốn cong các cần ăng-ten mềm dẻo."... Tác phẩm này mang tên John l'Enfer (John Địa Ngục) - qua bản dịch của Nhà xuất bản Lao Động - "Câu Chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Xin trân trọng giới thiệu. *** TÓM TẮT Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết của nhà văn Didier Decoin, được xuất bản năm 1977 và giành giải thưởng Goncourt. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. John là một đứa trẻ mồ côi, được một gia đình người Pháp nhận nuôi khi còn nhỏ. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Anh bắt đầu cuộc sống ở thành phố này với tư cách là một nhà văn. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Nhân vật John: Nhân vật chính của truyện. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, đang tìm kiếm bản thân và nguồn gốc của mình. Madame de Saint-Sauveur: Bà là người phụ nữ đã nuôi nấng John khi còn nhỏ. Bà là một người phụ nữ giàu có và quyền lực, nhưng cũng rất yêu thương John. Monique: Một cô gái người Pháp mà John yêu. Cô là một người phụ nữ xinh đẹp và thông minh, nhưng cũng rất bí ẩn. Larry: Một người đàn ông người Mỹ mà John gặp ở New York. Anh là một người đàn ông thành đạt và phóng túng, nhưng cũng rất tốt bụng. Cốt truyện Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết về sự tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Đánh giá Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết xuất sắc của Didier Decoin. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện đã khắc họa một cách chân thực và cảm động hành trình của John trong việc tìm kiếm chính mình. Truyện cũng đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Review Câu Chuyện New York là một cuốn tiểu thuyết rất đáng đọc. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Dưới đây là một số điểm nổi bật của truyện: Cốt truyện hấp dẫn: Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Cốt truyện của truyện được xây dựng một cách logic và chặt chẽ, với nhiều tình huống bất ngờ và hấp dẫn. Nhân vật được xây dựng tốt: John là một nhân vật được xây dựng rất tốt. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, có tính cách phức tạp và đa dạng. Những nhân vật khác trong truyện cũng được xây dựng rất tốt, với những tính cách và số phận riêng. Thông điệp nhân văn sâu sắc: Truyện gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Truyện cho thấy rằng, mỗi người cần phải trải qua những thử thách và trải nghiệm để có thể tìm thấy chính mình. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa thì đây chính là cuốn sách dành cho bạn. Mời các bạn mượn đọc sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch).