Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cây Kim Rỗng

Truyền thuyết kể rằng, Cây Kim Rỗng xứ Étretat là nơi ẩn chứa một bí mật được truyền lại qua nhiều đời vua nước Pháp. Và bí mật ấy, như một lẽ tất nhiên, đã trở thành lời mời gọi không thể cưỡng lại đối với tên trộm tài hoa. Cứ ngỡ sẽ tới đích suôn sẻ, ngờ đâu Lupin đã gặp phải một chướng ngại vật “khó nhằn”, một đối thủ ngang sức ngang tài: chàng thám tử trẻ tuổi Isidore Beautrelet. Arsène Lupin phải làm thế nào mới có thể vượt qua thử thách lần này, khi mà mọi đường đi nước bước của hắn dường như đều không thể qua mắt được đối thủ sừng sỏ ấy? *** “Siêu trộm hào hoa”, “Hoàng tử đạo chích”, “Robin Hood của giới tội phạm”, đó là những mỹ danh được dành tặng cho một trong những nhân vật tiếng tăm nhất của dòng văn học trinh thám phiêu lưu nước Pháp: Arsène Lupin. Ra mắt độc giả vào năm 1905 dưới dạng truyện ngắn dài kỳ trên tạp chí Je sais tout, gã đạo chích thông minh, quyến rũ nhưng không kém phần hài hước và láu cá ấy đã khiến cảnh sát khốn khổ vò đầu bứt tai, cánh nhà giàu ngày đêm lo ngay ngáy vì mất của, còn công chúng thì thích thú tán thưởng và hồi hộp dõi theo những màn trình diễn đầy hấp dẫn và không thể đoán trước kết cục. *** Arsène Lupin là một nhân vật hư cấu xuất hiện trong loạt truyện thám tử, tiểu thuyết trinh thám của nhà văn Pháp Maurice Leblanc, cũng như một số phần tiếp theo và rất nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh như Night Hood, Arsène Lupin, các vở kịch và truyện tranh phỏng theo.   Cùng thời với Arthur Conan Doyle, Maurice Leblanc (1864-1941) đã sáng tạo ra nhân vật Arsène Lupin, một nhân vật có tầm phổ biến rộng khắp và lâu dài ở các nước nói tiếng Pháp, giống như Sherlock Holmes (tải eBook) ở các nước nói tiếng Anh. Serie Arsène Lupin gồm hai mươi tập truyện được viết bởi chính Leblanc cộng thêm năm phần tiếp đã được ủy quyền cho nhóm viết của Boileau-Narcejac thực hiện, cũng như nhiều tác phẩm khác phỏng theo. Nhân vật Lupin được giới thiệu lần đầu trên tạp chí Je Sais Tout qua một loạt truyện ngắn, bắt đầu từ số thứ 6, ngày 15 tháng 7 năm 1905. Ban đầu nhân vật mang tên Arsène Lopin, nhưng vấp phải sự phản đối từ một chính trị gia trùng tên, kết quả là "Lopin" đã bị đổi thành "Lupin". Arsène Lupin là một siêu đạo chích có tài hóa trang, một tên trộm quý tộc chuyên trộm đồ của nhà giàu trong khi núp bóng quý ông lịch thiệp. Nhân vật Lupin giống với Marius Jacob nên có khi được cho là dựa trên hình mẫu này.xuất hiện trong 12 tập truyện ngắn đã cho thấy đây là một nhân vật có thể sánh ngang cùng với các nhân vật khác như Holmes cua Conan Doyle, Hercule Poirot cuả Agatha. Hình tượng Lupin đã được nhiều bộ phim nổi tiếng lấy làm mẫu nhân vật như Kaito Kid trong bộ manga nổi tiếng Thám tử lừng danh Conan (tải eBook). *** Maurice Leblanc sinh năm 1864 tại Rouen, Pháp. Tên tuổi của ông thực sự được biết tới và để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả suốt hơn một thế kỷ qua nhờ series truyện dài kỳ cho tạp chí Je sais tout về nhân vật siêu đạo chích Arsène Lupin. Nhờ những cống hiến không ngừng nghỉ của mình, Leblanc đã được trao tặng Huân chương Bắc Đẩu bội tinh. Ông mất năm 1941 tại Perpignan. Dưới đây là một số tác phẩm của Maurice Leblanc được dịch và xuất bản tại Việt Nam: - Cái chết rình rập - Đối đầu Sherlock Holmes - Sa bẫy địa ngục - Những cú siêu lừa của Arsène Lupin - Những cuộc phiêu lưu của Arsène Lupin - Tám vụ phá án của Arsène Lupin - Ngôi nhà bí ẩn - Báo Thù - Nữ bá tước Cagliostro - Hòn Đảo 13 chiếc quan tài - Hai Nữ Tướng Cướp - Tam giác vàng ma quỷ - Arsene Lupin và Hồi Ức Bí Mật - Vụ Chơi Khăm Ngài Triệu Phú - Cây Kim Rỗng - Lời Thú Tội - ... *** Raymonde lắng tai nghe. Tiếng động lặp lại tới hai lần, đủ rõ để tách bạch khỏi mớ âm thanh hỗn độn mơ hồ trong màn đêm tĩnh lặng tột cùng, nhưng lại quá khẽ để đoán ra tiếng động ấy ở gần hay xa, quanh quẩn trong những bức tường của dinh thự đồ sộ miền thôn dã này, hay vọng tới từ bên ngoài, giữa những ngóc ngách tối tăm nơi hoa viên kia. Cô nhẹ nhàng ngồi dậy. Cửa sổ phòng cô chỉ khép hờ: Cô đẩy cánh cửa mở toang ra. Ánh trăng phủ trên khung cảnh bình yên với những bãi cỏ, bụi cây, nơi phế tích còn sót lại của tu viện cũ nằm rải rác và nổi bật trong những dáng hình điêu tàn bi thảm, những chiếc cột gãy gục, những cổng vòm đổ nát, những mảnh mái hiên vỡ và những mảng vòm chống đã sập tự khi nào. Một làn gió nhẹ lửng lơ lướt trên vạn vật nơi bề mặt, nhẹ nhàng lùa qua những cành cây cao khẳng khiu bất động, nhưng lại khẽ lay những chiếc lộc non nhỏ xíu của mấy lùm bụi thấp. Và, bất thình lình, cô lại nghe thấy âm thanh đó. Nó phát ra từ phía bên trái, ở ngay tầng dưới, nghĩa là trong phòng khánh tiết bên cánh tây lâu đài. Dẫu vốn là người gan dạ và mạnh mẽ, cô gái vẫn thấy sợ. Cô khoác áo choàng ngủ và cầm lấy mấy que diêm. “Raymonde, Raymonde!” Có tiếng ai nhẹ như hơi thở cất lên gọi cô từ phòng kế bên, cửa phòng bên ấy ăn thông sang bên này, cánh cửa vẫn chưa đóng lại. Cô dò dẫm lần ra đó vừa lúc Suzanne, em họ cô, bước ra và ngã vào vòng tay cô. “Raymonde, là chị đấy à? Chị có nghe thấy…?” “Có. Vậy là em chưa ngủ ư?” “Chắc tiếng chó sủa đã làm em tỉnh giấc, cũng được một lúc lâu rồi. Nhưng bây giờ không thấy tiếng nó nữa. Mấy giờ rồi hả chị?” “Khoảng bốn giờ.” “Nghe kìa! Chắc chắn, có người đi trong phòng khánh tiết!” “Không có gì nguy hiểm cả đâu, cha em đang ở dưới đó mà, Suzanne.” “Nhưng sẽ nguy hiểm cho ông, phòng của ông ngay cạnh phòng khách nhỏ.” “Ngài Daval cũng ở dưới đó mà…” “Ở đầu đằng kia lâu đài, ngài ấy không đời nào nghe thấy được đâu.” Hai chị em do dự, không biết phải làm sao. Họ có nên hô hoán lên không? Hay hét to kêu cứu? Họ không dám, họ sợ cả giọng nói của chính mình. Nhưng Suzanne, lúc bấy giờ đã chạy ra cửa sổ, cố nén tiếng hét: “Nhìn kìa! Một người đàn ông! Gần đài phun nước!” Một gã đàn ông đang rảo những bước gấp gáp. Hắn cắp dưới nách một thứ khá lớn, hai chị em không nhận ra đó vốn là cái gì? Nó đập vào chân và làm vướng víu những bước đi của hắn. Họ thấy hắn tới gần nhà nguyện cũ nằm trong khu di tích tu viện, nhưng băng ngang qua nhà nguyện và rẽ sang hướng cái cửa ngách trên một bức tường có lỗ hổng. Cánh cửa hẳn đang mở, vì gã đàn ông nọ đột nhiên biến mất khỏi tầm mắt và hai chị em không hề nghe thấy tiếng kẽo kẹt thông thường của mấy tấm bản lề. “Hắn từ phòng khánh tiết ra.” Suzanne thì thầm. “Không, cầu thang và hành lang nhà ta phải dẫn hắn dịch về mé trái nhiều hơn mới đúng, trừ khi…” Một ý nghĩ cùng nảy ra trong đầu họ. Họ nhoài người ra bên ngoài. Bên dưới họ, một cái thang dựng ngay trước nhà, chân thang ở lầu một⦾. Có ánh sáng lập lòe ngoài ban công đá. Và một gã khác, cũng mang theo thứ gì đó bên người, trèo qua lan can, trượt xuống cái thang và tẩu thoát theo cùng một lối với gã đầu tiên. Suzanne, sợ đến suýt ngất, khuỵu gối xuống đất, lắp bắp nói: “Ta phải kêu lên, ta phải kêu cứu thôi…” “Ai sẽ đến bây giờ? Cha em… mà nếu vẫn còn nhiều tên nữa trong nhà… thì bọn chúng sẽ xông cả vào ông ư?” “Vậy… vậy thì… chúng ta có thể gọi những người hầu tới, chuông của chị rung đến tầng họ ở mà.” “Phải, phải rồi, có lẽ thế sẽ hay hơn. Miễn là họ đến kịp lúc!” Raymonde quờ tay, lần tìm chiếc chuông điện ở cạnh giường và nhấn nút. Họ nghe tiếng chuông kêu vang lên ở tầng trên và tưởng như âm thanh chói tai đó khiến bất kỳ ai ở bên dưới cũng nghe thấy rõ mồn một. Hai chị em chờ đợi. Sự yên ắng trở nên đáng sợ và con gió nhẹ kia không còn rung những chiếc lá trên mấy lùm bụi nữa. “Em sợ… sợ quá!” Suzanne rên rỉ. Và, đột nhiên, từ trong bóng tối sâu hun hút bên dưới họ vọng lên tiếng vật lộn, tiếng đồ đạc đổ vỡ loảng xoảng, tiếng thét, tiếng kêu la và tiếp đó, một tiếng rên khản đặc, kinh hoàng và đáng sợ, tiếng rú của một người đàn ông bị giết…   Mời các bạn đón đọc Cây Kim Rỗng của tác giả Maurice Leblanc.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Sự Ràng Buộc Êm Đềm - Maxine Sullivan
Nick Valente hoàn toàn bất bình khi cha yêu cầu phải cưới Sasha Blake. Không phải anh không ham muốn nàng. Nụ hôn chớp nhoáng lên đôi môi nũng nịu ấy bảy năm về trước đã khơi gợi một điều gì đó gần như rạo rực. Nhưng anh không thích một mối duyên cưỡng ép, càng không thích trói chân mình vào một chiếc giường trong khi còn nhiều giường khác luôn nồng nàn mời gọi. Vậy mà chẳng bao lâu sau khi rời bàn thờ Chúa, Nick nhận ra anh không cần viện đến những ảo ảnh êm đềm để duy trì cuộc hôn nhân này đủ lâu như cha mong mỏi. Một thứ tình cảm đắm say pha lẫn nồng nhiệt khát khao thể xác mau chóng phủ lấy anh. Màn sương đượm mùi da thịt của những đêm ân ái chưa tan, Nick đã cồn cào trong thèm khát vắng xa về một hạnh phúc miên viễn. Đúng lúc sắp thu hết can đảm để thổ lộ lòng mình, Nick ngẫu nhiên phát hiện ra động cơ hôn nhân thật sự của Sasha. Bấy giờ chỉ có tình yêu, một tình yêu thấu hiểu và độ lượng mới thực sự gắn kết họ lại được. Nick có, nhưng Sasha thì sao? *** Mỗi buổi sáng tiếp theo giống như một kỳ trăng mật nhỏ với cả hai. Thời tiết vẫn ấm áp và Nick luôn về nhà sau giờ làm, họ bơi cùng nhau, cùng thong thả ăn tối cho đến khi trời tối hẳn rồi lui về phòng ngủ. Và dần dần, Sasha nhận ra mình cũng không phải là người hay e thẹn. Nàng chỉ cần khắc phục tâm lý dè dặt của mình, với sự chỉ dẫn tận tình của Nick. Nàng cảm thấy hạnh phúc, và cả tình yêu ngập tràn với Nick. Rồi một sáng nàng đi xem xét khu nhà, trời xui đất khiến thế nào nàng lại đi qua phòng hồi nhỏ của Nick, nàng dừng lại trước cửa một lúc rồi bước vào. Trong phòng có một chiếc giường lớn cùng những đồ trang trí với các tông màu nâu từ đậm đến nhạt thể hiện rõ chủ nhân là một đứa trẻ nhà giàu rất có phong cách. Trên kệ tủ là cúp thi đấu các giải trường học về crickê, bóng đá và bơi lội. Nàng không biết mình định sẽ tìm thấy điều gì ở đây nhưng chắc chắn nơi này lưu giữ, một điều gì đó, điều đó sẽ khiến nàng tin chắc Nick là người sâu sắc hơn nàng từng biết. Nhưng nàng không biết chính xác đó là điều gì. Có lẽ tốt nhất là nàng không nên tìm kiếm nó. Kệ anh ấy, thế thôi. Nàng không muốn cuộc đời mình có thêm chút rắc rối nào nữa. Lại nói về rắc rối... Sasha thấy lòng buồn bã vì mẹ nàng đã ghé thăm vài giờ trước, đúng vào bữa trưa, bà lấy cớ là sang thăm hai vợ chồng nàng. Nàng đã mời mẹ ăn cơm cùng. Nhưng việc đó không phải là lý do để nàng bận tâm, mà điều khiến nàng lo lắng là chắc chắn bà đang có một dự định gì đó. Nàng cảm thấy chuyến viếng thăm có liên quan đến cha mình. ... Mời các bạn đón đọc Sự Ràng Buộc Êm Đềm của tác giả Maxine Sullivan.
Một Nỗi Đau Riêng - Kenzaburo Oe
Kenzaburo Oe là nhà văn Nhật Bản thứ hai được trao giải Nobel Văn học (năm 1994). Buổi lễ mừng giải thưởng danh giá của Kenzaburo Oe là một ngày hội vô cùng đặc biệt. Các nhạc công hàng đầu của "đất nước mặt trời mọc" đã biểu diễn mười tác phẩm của nhạc sĩ trẻ Hikari Oe- người con trai tật nguyền, người đã khiến Kenzaburo Oe tìm được "lối đi" trong sáng tác văn chương và khiến ông cùng con trai như được "tái sinh"... Kenzaburo Oe thuộc lớp nhà văn hậu chiến, hiện tên tuổi đang được xếp hàng đầu trong danh sách các nhà văn Nhật Bản. Sinh ngày 31 tháng 1 năm 1935 tại đảo Shikoku, một trong bốn hòn đảo lớn nhất của Nhật Bản, cuộc đời ông đã chứng kiến và đồng hành cùng những thăng trầm của một đất nước được bao bọc bởi biển cả, với ba ngàn hòn đảo lớn nhỏ.  Năm Kenzaburo Oe lên 4 tuổi, Thế chiến thứ hai bùng nổ ở khu vực châu Âu và năm sau lan sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đất nước của ông dưới thời Nhật Hoàng Hirohito là một thành viên của trục phát xít Berlin - Roma - Tokyo, đã gây ra biết bao tội ác đối với nhân dân các nước trong khu vực châu Á. Giống như hết thảy những người Nhật Bản cùng thế hệ, những hồi ức ảm đạm về cuộc chiến tranh phi nghĩa, về sự ngã gục của nước nhà khi Thế chiến hai kết thúc luôn đè nặng trong lòng Kenzaburo Oe. Nhưng nổi lên trên hết, trong tâm hồn nhạy cảm của một người có khiếu văn chương như Kenzaburo Oe, hình ảnh của hai cột nấm khổng lồ màu vàng cùng với hàng ngàn cột lửa đỏ lựng bùng lên ở Hirosima và Nagasaki vào cái ngày mồng 8 và mồng 10 tháng 8 năm 1945 ấy hình như mỗi ngày mỗi to hơn, rộng hơn, nóng bỏng hơn, khủng khiếp hơn. Hai cột nấm ấy đã hủy diệt sinh mạng của mấy chục vạn người dân Nhật vô tội. Những cơn mưa phóng xạ khởi nguồn từ hai cột nấm ấy đã làm cho không ít người chết dần, chết mòn trong vòng vài chục năm sau đó và một số người khác, trong đó có người con trai đầu của Kenzaburo Oe, ngay từ khi mới sinh ra đã mang trong mình những căn bệnh trầm kha mà y học đến nay vẫn phải bó tay. Trong Diễn văn trao giải Nobel Văn học cho Kenzaburo Oe, Viện Hàn lâm Thụy Điển khẳng định: "Một đề tài xuyên suốt các tác phẩm của Kenzaburo Oe là bi kịch gia đình cùng tình thương và trách nhiệm đối với người con trai cả Hikari sinh ra đã bị dị tật. Kenzaburo Oe đã sáng tạo ra một thế giới tưởng tượng đầy chất thơ, đã miêu tả tình trạng đau đớn trong khổ cảnh của con người thời hiện đại bằng sự ngưng kết những ngụ ngôn và sinh hoạt hiện thực. Đồng thời ông cũng miêu tả thành công quan hệ của con người trong một thế giới hỗn độn, một thế giới mà ở đó trí thức, tình cảm, giấc mơ, dã tâm, thái độ đã hòa quyện với nhau một cách kỳ diệu"… Trong diễn văn đáp từ, Kenzaburo Oe cũng thừa nhận "Phong cách viết của tôi khởi nguồn từ những vấn đề cá nhân, sau đó gắn kết chúng với xã hội, với cuộc đời và thế giới này. Với tư cách nhà văn, tôi phải thừa nhận rằng chủ đề trung tâm của các tác phẩm trong hầu hết văn nghiệp của tôi là cái cách gia đình tôi đã học cách sống với đứa con tật nguyền…". Có thể kiểm chứng những lời phát biểu này trong "Một nỗi đau riêng", "Sự cố cá nhân", "Sổ tay Hirosima", "Nước ngập hồn tôi", "Trận bóng đá năm Vạn diên thứ nhất", "Trò chơi đương đại", "Hãy đứng lên, hỡi những chàng trai của thế hệ mới"… Kenzaburo Oe bắt đầu sáng tác khi còn là sinh viên chuyên ngành Văn học Pháp tại Đại học Tokyo và năm 23 tuổi, với tiểu thuyết "Nuôi thù", ông đã nhận được giải thưởng Akutagawa, một giải thưởng mà các nghệ sĩ Nhật Bản hằng mong ước. Từ đó trở đi ông sáng tác đều đặn và coi viết văn là nghề mà ông trọn đời theo đuổi. Ba năm sau khi nhận giải thưởng Akutagawa, cuộc đời Kenzaburo Oe bắt đầu rẽ sang một lối khác. Sau khi kết hôn cùng Yukan, con gái của một đạo diễn điện ảnh danh tiếng,  vợ chồng Kenzaburo Oe sinh được một bé trai. Nhưng chẳng như mong đợi và kỳ vọng của đôi vợ chồng trẻ, Hikari là một dị nhân: đầu to quá mức bình thường, đôi mắt không có khả năng nhận biết ánh sáng. Cậu bé cũng không có khả năng nhận biết và nói tiếng người, chỉ có thể phát ra tiếng chiêm chiếp như loài chim. Sự chào đời của Hikari là một "cú giáng trí mạng" đối với Kenzaburo Oe. Đã có lúc ông nghĩ đến việc tự tử để trốn chạy đứa trẻ. Rồi có lần ông định giết Hikari để giải thoát cho chính mình và cho cả đứa con tội nghiệp. Cũng may mà ông đã không đủ điên rồ và gan không đủ lớn để làm cả hai việc đê hèn đó. Ông đã chọn cách chấp nhận, chấp nhận Hikari cùng những bất hạnh của số phận, đồng thời nỗ lực tìm kiếm cách làm cho đứa trẻ "tái sinh". Thường thì bậc làm cha làm mẹ chẳng bao giờ muốn nói về những khuyết tật cùng những thói hư tật xấu của con mình. Nhưng Kenzaburo Oe đã dũng cảm nói về đứa con tật nguyền của mình, không phải một lần, mà là rất nhiều lần. Ông muốn từ nỗi đau của riêng mình nói đến một điều lớn lao hơn: Cần phải học cách chấp nhận những nỗi đau của con người cùng với việc tìm kiếm những cách thức để "tái sinh" những con người bất hạnh.  Kenzaburo Oe đặt tên cho con trai đầu lòng là Hikari, tiếng Nhật có nghĩa là "ánh sáng". Quả thực, Hikari bé bỏng, luôn "cô đơn như hòn sỏi nhỏ trên đám cỏ" đã tạo ra luồng ánh sáng, những vầng hào quang rực rỡ cho những tác phẩm của người cha. Trả lời phỏng vấn một nhà báo nước ngoài, Kenzaburo đã thẳng thắn: "Năm tôi hai mươi tám tuổi, đứa con đầu của tôi chào đời. Lúc đó tôi đã là một nhà văn khá nổi tiếng và đang là sinh viên ngành văn chương Pháp. Nhưng từ khi con trai tôi ra đời với một chứng bệnh trầm kha về não, vào một đêm kia, tôi muốn tìm sự khích lệ từ cuốn sách đầu tiên. Vài ngày sau tôi nhận thấy mình không thể tìm được niềm an ủi trong quyển sách của chính mình, có nghĩa là độc giả cũng sẽ không tìm thấy sự an ủi từ tác phẩm của tôi. Tôi lâm vào tình cảnh chán nản. Nhưng sau chuyến đi thăm một bệnh viện dành cho những nạn nhân bom nguyên tử ở Hiroshima, tôi đã quyết định viết về Hikari, chia sẻ với độc giả những cảm giác của mình khi phải đối mặt với đứa con mang trên mình những di chứng của thảm họa Hiroshima...". Tất cả những gì tích tụ trong lòng từ khi Hikari chào đời được ông giãi bày trong "Một nỗi đau riêng". Kenzaburo Oe cho rằng, chỉ bằng cách ấy, ông và đứa con trai tội nghiệp mới thể "tái sinh". Cái "tầm" của "Một nỗi đau riêng" là ở chỗ, Kenzaburo Oe đã viết về thảm kịch Hiroshima theo một cách rất riêng. Đó là cái cách ông gắn hành trình "tái sinh" của đứa trẻ bị bại não với quá trình hồi sinh của dân tộc Nhật Bản sau thảm họa thất trận năm 1945. Không chỉ dừng lại ở "Một nỗi đau riêng", trong tập tiểu luận "Một gia đình tự chữa lành", Kenzaburo Oe đã miêu tả thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật Điểu khi muốn chối bỏ đứa con tật nguyền của mình, tìm quên trong gái, rượu và những chuyến đi xa. Điểu đã muốn chấm dứt đời của đứa con mang khối u não ác tính bằng một ly sữa độc. Nhưng trong một lần lái xe, khi cố tránh một con chim đã chết trên đường, Điểu ngộ ra rằng cần phải cứu đứa con trước khi quá muộn. Rốt cuộc, cái u ác tính kia chỉ là một cái u thường, sau khi cắt bỏ, đứa bé đã xuất viện bình an… Hành trình tái sinh của Điểu trong "Một nỗi đau riêng", mà thực ra là nỗi đau chung của đồng bào ông, chính là hành trình tái sinh của ông và Hikari. Trong 6 năm trời ròng rã, hai vợ chồng ông đã kiên nhẫn cho Hikari nghe đi nghe lại một cuốn băng ghi âm tiếng hót của các loài chim kèm theo lời thuyết minh về tên của từng loài chim đó. Và điều kỳ diệu đã đến sau ba năm nghe cuộn băng ấy. Khi lên sáu tuổi, Hikari đã bật nói câu đầu tiên: "Đó là chim sẻ", và sau đó là nói đến tên của từng loài chim mà cậu bé đã được nghe qua băng ghi âm trong suốt mấy năm trời. Hikari được cha mẹ đưa đến trường dành cho trẻ em thiểu năng trí tuệ. Ở đây cậu bé được nghe nhạc của Handel, Bach và đến năm 16 tuổi, Hikari trở thành một thiếu niên khỏe mạnh nhưng lại mất thị giác. Vì không thể chơi piano, Hikari đã học sáng tác dưới sự chỉ dẫn của người mẹ… Và đến độ trưởng thành, Hikari đã là một nhạc sĩ danh tiếng, cả ở Nhật và trên thế giới. Những CD nhạc của anh có mặt ở rất nhiều quốc gia, ngay cả nơi dành để bán những ấn phẩm nghệ thuật phục vụ cho lễ trao giải Nobel Văn học. Những bản nhạc của Hikari, theo lời Kenzaburo Oe, "có một nguồn năng lực chữa lành cho trái tim". Ông còn nói: "Khi ta thể hiện ra một cách rốt ráo nỗi tuyệt vọng của con người, ta sẽ chữa lành được chính mình và biết được niềm vui của sự hồi phục…". Trong lễ nhận giải Nobel, Kenzaburo Oe nói rằng, giải thưởng này đúng ra phải trao cho Hikari con trai ông. Ông cũng thông báo từ nay sẽ "gác bút" để tập trung cho Hikari tỏa sáng trên bầu trời âm nhạc. Ông cũng hy vọng âm nhạc của Hikari sẽ mãi là thứ thần dược để chữa lành nỗi đau nhân thế *** Kenzaburo Oe, sinh năm 1935 tại đảo Shikoku (Nhật Bản), đã sáng tác nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết và tiểu luận. Ông đoạt nhiều giải thưởng văn học giá trị tại Nhật như Giải Akutagawa với tác phẩm The Catch, Giải Tanizaki với Football in the First Year of Mannen, Giải Văn học Shinchosha với A Personal Matter (Một nỗi đau riêng).   Điểu, nhân vật chính trong Một nỗi đau riêng, là một thanh niên có khuynh hướng chống đối xã hội Nhật, đã có lần khi đương đầu với một vấn đề khó giải quyết, anh tự “cho mình trôi dạt trong biển rượu mạnh như một Robinson Crusoe mất phương hướng”. Nhưng chưa bao giờ anh giáp mặt với một cuộc khủng hoảng cá nhân và nghiêm trọng về viễn cảnh một đời sống tù hãm trong lồng của đứa con mới sinh mang chứng thoát vị não. Liệu anh chạy chữa cho đứa bé được sống? Anh dám giết nó không? Trước khi đi đến quyết định cuối cùng, toàn bộ quá khứ sống dậy trong lòng anh, anh đã bừng tỉnh và nhận ra đó chỉ là một cơn ác mộng của sự lừa dối chính mình. Oe đã tạo nhân vật chính của mình trong tác phẩm này trở thành một trong những khuôn mặt đáng nhớ nhất trong tiểu thuyết hiện đại Nhật Bản.   Năm 1994, Kenzaburo Oe đã được Viện Hàn lâm Thụy Điển trao Giải Nobel Văn chương.  *** Điểu chăm chú nhìn tấm bản đồ châu Phi được phơi bày với vẻ thanh lịch kiêu kỳ của một chú nai rừng trong tủ hàng, anh cố nén tiếng thở dài. Các cô bán hàng không để ý đến anh. Bộ đồng phục họ mặc để lộ ra đôi cánh tay và chiếc cổ nõn nà. Đêm xuống dần. Cái nóng đầu hè, giống như nhiệt độ của một xác chết khổng lồ hạ hẳn xuống. Người ta di chuyển như đang mò mẫm từng bước trong bóng tối của tiềm thức, mong tìm lại ký ức về cái ấm áp ban trưa còn nấn ná chút hơi tàn trong da thịt: họ thốt lên tiếng thở dài mơ hồ. Tháng sáu, sáu giờ rưỡi: không một ai trong phố lại đổ mồ hôi vào lúc này. Nhưng vợ của Điểu thì nằm trần truồng trên một tấm nệm cao su, đôi mắt nhắm nghiền giống như một con gà lôi bị trúng đạn từ trên trời rơi xuống, và trong khi nàng than vãn cơn đau, bày tỏ nỗi âu lo cùng niềm mong đợi thì mồ hôi nhỏ giọt trên cơ thể nàng.   Điểu nhún vai, chăm chú vào những chi tiết của tấm bản đồ. B quanh lục địa châu Phi là màu biển xanh da trời mùa đông của buổi bình minh. Kinh độ và vĩ độ không phải là những đường nét máy móc của chiếc com-pa: những đường nét rõ ràng gợi lên sự phóng khoáng và thất thường của người vẽ. Lục địa trôi giống như chiếc sọ của một người bị treo đầu. Với đôi mắt sầu thảm, chán chường, một con người có cái đầu to tướng đang đăm đăm nhìn châu Úc, miền đất của gấu koala, thú mỏ vịt và kanguru. Bức tiểu họa châu Phi chỉ sự phân bổ dân số nằm dưới góc bản đồ, giống đầu người chết bắt đầu thối rữa. Một bức khác, hiện lên những con đường giao thông, giống đầu người bị lột da lộ ra những mao mạch đau đớn. Cả hai bản đồ châu Phi nhỏ bé này gợi lên sự chết chóc bất thường, nguyên sơ và quá tàn bạo.   “Tôi lấy tập bản đồ cho anh xem?”   “Không, đừng bận tâm,” Điểu nói. “Tôi đang tìm những tấm bản đồ chỉ đường của Tây Phi, Trung và Nam Phi do hãng Michelin in.” Cô gái cúi xuống chiếc ngăn kéo đựng đầy bản đồ Michelin và bắt đầu lăng xăng lục lọi. “Dãy số 182 và 185,” Điểu chỉ cho cô bán hàng, rõ ràng anh là một tay sành sõi về châu Phi.   Tấm bản đồ mà Điểu khao khát bấy lâu nay là một trang trong tập bản đồ bìa da, nặng ký. Một vài tuần trước, anh đã dò giá tập bản đồ và biết nó bằng năm tháng lương giáo viên của anh dạy tại một trường luyện thi. Nếu muốn có đủ tiền mua, anh có thể làm thêm công việc phiên dịch và phải mất ba tháng. Nhưng Điểu còn phải nuôi thân mình và nuôi vợ, vợ anh lại sắp sinh. Điểu là cột trụ của gia đình!   Cô bán hàng chọn hai tấm bản đồ bìa đỏ đặt lên quầy. Đôi tay nàng gầy và vấy bẩn, những ngón tay kỳ nhông bám trên cành cây. Mắt Điểu dán vào nhãn hiệu Michelin nằm dưới ngón tay nàng: một gã đàn ông hằng cao su trông giống như con cóc đang lăn cái ruột xe chạy xuống đường làm anh cảm thấy việc mua bản đồ là điều ngớ ngẩn. Nhưng đây là những tấm bản đồ mà anh muốn dùng vào mục đích quan trọng. ... Mời các bạn đón đọc Một Nỗi Đau Riêng của tác giả Kenzaburo Oe.
Ame và Yuki - Những Đứa con của Sói - Hosoda Mamoru
Câu chuyện này nghe qua như cổ tích, vì nó mở đầu thật đẹp, và cũng thật ly kỳ. Người đẹp và quái vật, công chúa và con ếch… Tiếp nối bao nhiêu câu chuyện tình yêu nổi tiếng với mối duyên nhân - thú, Ame và Yuki - những đứa con của sói, cũng đã mở ra bằng tình cảm đẹp đẽ và bất chấp lẽ thường giữa hoa (Hana) và sói, để tạo ra tuyết (Yuki) và mưa (Ame).  Nhưng câu chuyện này, nếu là cổ tích thì cũng chỉ có một nửa thôi, còn một nửa nữa lại hiện thực đến bùi ngùi. Chẳng bao lâu con sói vì lao lực nuôi gia đình, đã chết trôi dưới gầm cầu, phơi ra khung xương sườn gầy giơ dưới những con mắt bàng quan của người đời. Hana từ đó một tay nuôi nấng hai đứa con lai giống khác thường với những vấn đề oái oăm. Chẳng hạn, khi chúng ốm thì nên đưa đi thú y hay đưa đi nhi khoa? Nên nuôi dạy chúng theo kiểu của sói hay như con người? Cố gắng che giấu thân phận thật sự của các con, cũng như cho chúng có cơ hội tự tìm lấy đường đi của chính mình, cuối cùng Hana đã ôm chúng lên một ngôi nhà trên núi, sống ở ranh giới giữa xã hội và thiên nhiên. Ame và Yuki - những đứa con của sói, là lăng kính về khó khăn của cha mẹ trong suốt quá trình sinh thành dưỡng dục cho đến khi gạt nước mắt thấu hiểu nhìn chúng lựa chọn đường đời của mình. Bởi thế, đây cũng là tụng ca đầy chất nhân văn về công lao và tấm lòng cha mẹ. *** Tác giả: Hosoda Mamoru Sinh năm 1967 tại tỉnh Toyama. Nhà sản xuất, đạo diễn phim hoạt hình nổi tiếng của Nhật Bản. "Nếu có nhà riêng thì thật là tốt. Sẽ được nói tôi về rồi đây, tháo giày, rửa mặt rửa tay rồi ngả người trên ghế. Cảm giác chắc hẳn rất dễ chịu. Tôi sẽ đóng một cái giá sách. Khi nó đầy tôi lại đóng giá mới. Làm gì cũng được vì đó là nhà của mình mà." Mở đầu theo phong cách cổ tích thơ mộng... Kế thừa mô típ tình yêu kỳ ảo giữa người và thú... Câu chuyện khởi nguồn bằng nhân duyên đẹp đẽ giữa sói và một cô gái tên hoa (Hana), từ đó sinh ra mưa và tuyết. Nhưng không gian cổ tích ấy mau chóng chấm dứt khi sói phải oằn mình xuống dưới gánh nặng mưu sinh, rồi chết, không trăng trối, không kịp gặp mặt lần cuối, và hơn hết thảy là để lại cho người vợ mong manh nhiều rắc rối khó lường trong việc nuôi dạy hai đứa con lai khác biệt. Lọc lấy những gian khó và băn khoăn điển hình nhất trong cuộc sống của một người mẹ đơn thân, rồi tái hiện chúng trong một không gian truyện mênh mang kỳ ảo, Ame và Yuki còn là khúc ca đẹp đẽ về công lao và tấm lòng của những người làm cha làm mẹ. *** Mưa vẫn tiếp tục rơi. Trên những mái nhà, những cánh đồng, những ruộng rau, những ngọn núi... Gia đình Hana trải qua mùa hè năm thứ bảy. Mưa lớn kỷ lục đã nhiều lần tấn công vùng đất này. Đây vốn dĩ là khu vực có nhiều mưa. Luồng không khí hút một lượng lớn hơi ẩm từ ngoài biển Nhật Bản vào, va chạm với dãy núi và tạo ra mưa. Vào mùa đông thì lạnh giá, có tuyết. Một lượng lớn nước được lưu trữ trong núi dưới dạng tuyết phủ và sang xuân thì tan chảy để tưới tiêu cho ruộng đồng. Vào mùa hè, nhờ dãy núi chắn ngang nên bão không tràn tới. Nơi đây trở thành vựa gạo hàng đầu, do đáp ứng được yếu tố địa hình phù hợp cho việc trồng lúa. Nhưng cứ vài năm lại có một lần hơi ẩm từ ngoài biển Nhật Bản tràn vào quá nhiều, đông đến tuyết rơi ồ ạt bao phủ trắng xóa khiến khu vực này trở thành một ốc đảo. Khi hè về, frông mưa kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến khí hậu. Lượng ánh sáng ban ngày không đủ đã kìm hãm sự sinh trưởng của cây cối. Không chỉ có vậy, nhiều nông gia đã chuyển đổi từ ruộng đồng thành ruộng vườn theo chính sách cắt giảm, hệ thống tưới tiêu trên những mảnh đất nhiều sét vốn dành để trồng lúa bởi vậy không được chăm sóc nữa. Và khi mưa xối xả đổ xuống, nước thoát không kịp, dâng lên khắp ruộng đồng và gây úng ngập cho cây trồng. ... Mời các bạn đón đọc Ame và Yuki - Những Đứa con của Sói của tác giả Hosoda Mamoru.
Bồ Câu Cô Đơn - Larry Mcmurtry
"Hôm nay, không biềt bao nhiêu lần cổ xe mắc kẹt trong đất bùn nhão nhoét, và không biềt bao nhiêu lần nàng tự hỏi nàng đang làm gì một mình đơn cô trên cổ xe này với một nhóm người tim đường vô danh trong mưa gió lần theo bước chân những người tiên phong đã mất dấu. Những giọt mưa thấm từ vải mui xe dường như biết đích xác những chỗ áo mưa nàng bị rách. Chúng chảy dọc theo sống lưng nàng..." Một câu chuyện tình yêu và thiên anh hùng ca của vùng biên giới, Bồ câu cô đơn là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất từng được viết về những vùng hoang dã cuối cùng, thách thức của Mỹ. Đẹp mắt trong từng câu chữ, câu chuyện sẽ làm cho độc giả cười, khóc, ước mơ và nhớ mãi. Tác phẩm cũng đã  được chuyển thể thành một bộ phim điện ảnh "bom tấn". Nhận định "Bồ câu cô đơn có đủ mọi thứ, trừ cái điều không thể đoán trước được. những nhân vật được khắc họa khéo léo hiện ra ở mỗi chỗ choặt. McMurtry biết rõ tình bằng hữu giữa các cao bồi trên đường chăn lùa bò. Ông biết lòng trung thành mà đàn ông ở vùng này của đất nước có đối với đàn bà. Trong tay ông, chuyến chăn lùa bò trở thành một cách xem xét mộtvấn đề cơ bản. Cách chúng ta sống là quan trọng hay cái mà chúng ta làm được mới thật sự là cần thiết?... Tuyệt tác. " (Wall Street Journal) *** Bồ Câu Cô Đơn (Lonesome dove) của Larry McMurtry là câu chuyện về một chuyến lùa bò đường trường, một khát vọng trong đó tình yêu và tình bạn là hai tuyến luôn làm chúng ta xúc động vì những biến diễn gập ghềnh không ai lường trước nhưng rút cục vẫn chỉ xoay quanh cái trục thủy chung hay bội bạc… Và nữa, anh hùng không trông ở thành hay bại mà trông ở tính cách người. Cho nên, một nhân vật chính chết, một nhân vật chính nữa vì giữ lời hứa đem xác bạn về mà vứt bỏ sự nghiệp lại sau lưng… Rất nhiều đường đất, rất nhiều gian nan, rất nhiều số phận, rất nhiều mừng tủi và chẳng ai giống ai… đó là những điều báo chí danh tiếng ở Mỹ nhất tề khen ngợi. Chúng ta đọc và sẽ thấy cả đến con vật trong truyện cũng rất Miền Tây: kiên cường, quật khởi, chuộng tự do đến lạ lùng. Lịch sử mỏng, nước Mỹ mượn dã sử thay vào. Mà nước Mỹ thì đầy dã sử, song có lẽ Miền Tây với những chặng đường chất ngất máu xương thì mang nhiều dã sử hơn bất kỳ nơi nào khác. *** Larry McMurtry sinh ra ở Archer City, Texas, cách Wichita Falls hai mươi lăm dặm, là con trai của Hazel Ruth (nhũ danh McIver) và William Jefferson McMurtry, một chủ nông trại. Ông lớn lên ở một nông trang bên ngoài Archer City, là mẫu hình của thị trấn Thalia xuất hiện trong nhiều tiểu thuyết của mình. Ông tốt nghiệp Đại học North Texas (B.A. 1958) và Đại học Rice (M.A. 1960). Ông được biết đến với tiểu thuyết Terms of Endearment năm 1975, Lonesome Dove năm 1985, giành giải Pulitzer năm 1986 và được chuyển thể thành phim truyền hình. Tiếp đó, ông cùng Diana Ossana viết kịch bản phim Brokeback Mountain (2005) và nhận giải Oscar. Mời các bạn đón đọc Bồ Câu Cô Đơn của tác giả Larry Mcmurtry.