Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nàng Aura

“HÃY ĐỌC THÔNG BÁO ẤY: một loại mời chào mà không phải ngày nào cũng đăng đâu. Hãy đọc đi đọc lại thông báo đó. Nó dường như nhằm vào bạn, chứ không phải bất kỳ ai khác,” cho đến khi bạn, hay chính là nhà sử học trẻ tuổi đang hồi thất nghiệp Felipe Montero, trả lời thông báo và bước chân vào ngôi nhà tăm tối, ẩm ướt và lạnh lẽo đến kỳ bí, nơi góa phụ 105 tuổi Consuelo Llorente sống cùng cô cháu gái mắt xanh Aura. Theo đề nghị của Consuelo, Felipe sẽ ở lại ngôi nhà để viết một cuốn hồi ký về người chồng quá cố nguyên là một tướng quân của bà, đổi lại là một khoản thù lao hậu hĩnh. Chàng trai trẻ bắt tay ngay vào công việc. Nhưng rồi, chàng rơi vào mối tình với Aura xinh đẹp, để rồi từ đó chàng dần dần chứng kiến những sự thật kinh hoàng về thân phận thật chính mình và hai người phụ nữ trong căn nhà ma quái… “Ông là một nhà văn đại tài, và (ngạc nhiên hơn) có phong cách viết rất đặc biệt ở thể loại truyện kinh dị.” – Pseudointellectualreviews *** Đàn ông đi săn và chiến đấu. Đàn bà mưu mô và mơ ước; là mẹ của trí tưởng tượng, của các vị thần. Đàn bà có được tầm nhìn thứ hai, những đôi cánh cho phép bay tới cõi hư vô của ham muốn và trí tưởng tượng… Các vị thần cũng giống như những người đàn ông, được sinh ra và chết đi trên ngực của một người đàn bà… Jules Michelet *** Review sách “Nàng Aura” – Carlos Fuentes Do năm nào cũng thấy Nàng Aura vào trong danh sách đại giảm giá của đợt Xả kho, nên mình muốn viết 1 bài giành lại justice cho tác phẩm này, rằng nó rất hay và độc đáo. Hy vọng trong những đợt dọn kho kế kiếp các bạn sẽ không “dòng người vội vàng lướt qua” em nó… NÀNG AURA VÀ OLALLA – MỐI TƯƠNG QUAN KÌ LẠ Năm 1885, khi đang rà soát lại bản thảo của cuốn sách rồi đây sẽ trở thành kinh điển – Chuyện về bác sỹ Jekyll và ông Hyde – Robert Louis Stevenson đã mơ một giấc mộng, để rồi sau này trở thành hiện thân cho tiểu thuyết ngắn Olalla. 77 năm sau, Carlos Fuentes viết ra một kiệt tác khác – Nàng Aura vào năm 1962 mà không dư hay thiếu chữ nào, để rồi sau đó sẽ bị cấm vì các dụng ý “gợi dục”. Cách nhau gần 80 năm, thế nhưng có thể nói ý tưởng về hai kiệt tác như cuộc “đồng mộng dị sàng” thú vị của hai nhà văn thuộc hai thời đoạn, hai nền văn hóa và hai phong cách hoàn toàn riêng biệt. * Có thể thấy rằng, Mỹ Latin dường như là cái nôi mắn đẻ cho những bối cảnh cần đến phép màu. Nơi đây không cần những người con sinh ra từ đất, mà ngay cả những bên tham chiến trong cuộc chiến tranh Bán đảo giữa khối Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Liên hiệp Anh cũng có thể mang trong mình một tàn lửa nhất định, và rất có thể Stevenson là một trong số đó. Không cần Freud giải mã giấc mơ, dường như chính miền đất huyền diệu ấy đã phôi thai và ám hương lên hình dung của Stevenson; để những câu chuyện kì dị, gothic, liêu trai thành hình, dù cho khái niệm gothic không đến từ vùng đất này. Riêng với Carlos Fuentes – gã khổng lồ của văn chương Mexico nói riêng và châu Mỹ Latin nói chung; vùng đất của ông vừa hoang dại nhưng cũng đậm dấu ấn một cách không ngờ. Trong văn chương của Juan Rulfo, người ta nhận ra cái nóng hầm hập ngày càng đi xuống như của một cổ quan tài, nơi không có gió và chỉ có riêng tiếng sỏi lạo xạo. Triển khai từ chính cái lặng im đấy, Fuentes mang gothic vào đô thị, nhưng giờ đây cũng triệt tiêu hoàn toàn dải âm nghe thấy, để đọng lại những tạp âm trắng duy nhất về sự xôn xao của một cõi lòng xáo động. BỐI CẢNH SONG SONG Câu chuyện của Fuentes và Stevenson nhìn chung là có sự tương đồng khá thú vị. Hai nhân vật chính đều là nam giới, và định mệnh run rủi cho họ vào một tình cảnh không thể đoan trước. Trong Nàng Aura, đó là nhà sử học Montero làm việc viết sử cho một góa phụ có chồng đã chết; trong khi Olalla là một chàng lính Anh nghỉ dưỡng sau khi bị quân đội bỏ lại. Cả hai đã hơn một lần khước từ ngẫu nhiên, để nằm sau các cách cấu thành cốt chuyện, đó là trò chơi định mệnh, khi Montero không chỉ thấy một lần mẫu tin rao vặt cần một sử gia thạo tiếng Pháp, còn chàng lính Anh cũng không nguôi được nghỉ dưỡng ở gia tộc nay suy tàn dẫu cho đã được cảnh báo. Bối cảnh cách nhau một thời gian dài, nhưng nhìn chung cả hai nhà văn đều mang được sắc màu của thời đại vào tác phẩm mình. Nếu Stevenson viết trong thời đoạn Chiến tranh Bán đảo, nơi dinh thự có các cầu thang đá lớn, cửa kiểu Moor; thì Fuentes hiện đại hơn, với tòa nhà phong cách Baroque Mexico cùng các tượng thánh, giàn nho phất phơ cũng như mùi rêu ẩm mốc cùng phong cách thuộc địa cũ. Gothic trong phong cách kiến trúc được hai nhà văn khắc họa một cách rõ ràng, dẫu ở đâu thì vùng đất ấy đã mang sẵn trong mình một sự huyền ảo. “Nhân sư” dẫn dắt nhân vật chính đi vào đóng hỗ lốn của mình cũng đặc biệt giống nhau. Nếu chàng Montero luôn được một thiếu phụ áo xanh, thân thể trắng muốt, dong dỏng cao dẫn dắt trong những mê lộ hành lang của căn nhà thiếu ánh sáng vì đô thị xung quanh xây chen; thì trong Olalla, người đảm nhận vai trò này, mà khốn thay, cũng trùng cái tên Filipe như chàng Montero – em trai của Olalla. Filipe được mô tả lúc thì ngây ngô hát những bài đồng dao, nhưng cũng có khi tàn ác như khi vặn cổ chú sóc. Hai dáng hình ấy đưa nhân vật vào một không gian chung của câu chuyện có phần tương đồng, nhưng chính ở đây mọi thứ rẽ khác. HIỆN THỰC – KÌ ẢO Nếu Stevenson mang được chất huyền ảo của Latin vào trong bối cảnh nhưng hầu như câu chuyện là thực; thì Fuentes tiếp nhận và nâng cao chất kì ảo đặc trưng của dải đất quê hương, nơi ông xây dựng Nàng Aura như một hỗn hợp vừa thực mà cũng không thực- vẩn vơ, bảng lảng và mù sương khói. Stevenson vẫn dùng văn chương thuần tuyến tính của phương Tây vào thời điểm đó, ông không cách tân lối viết, tuy có dùng những yếu tố như khởi nguồn đặc trưng sau này của châu Mỹ Latin, như hình tượng cơn gió độc, bà mẹ ủ ê, thú tính vật vờ trong ánh sáng ban ngày. Hoàn toàn ngược lại, Fuentes đóng kín nhân vật của mình trong ngôi nhà số 815 phố Donules, để người đọc thấy được vòng tròn quẩn quanh mà ông tạo ra, như một kiểu mê cung của Borges. Chàng sử gia Montero hết đi đến phòng trên cao rồi lại đến chỗ bàn ăn, từ bàn ăn đi vào phòng ngủ nơi chứa những tập bản thảo cũ mốc… Câu chuyện được tiếp diễn qua vài ba vòng lặp như thế, để cứ mỗi một lần như lát cắt phạm, Fuentes tung ra sự thật từng chút một; từ cô gái trẻ xanh xao không bao giờ dùng bữa, cho đến sự xuất hiện hầu như bất động khi có mặt đồng thời bà góa và cô nàng thanh xuân, cho đến con thỏ và cuối cùng là ba đêm tội lỗi. Tuy Stevenson rất có thể nói là người đặt nền móng cho yếu tố kỳ ảo đậm chất Latin trong tác phẩm của mình; thế nhưng Fuentes mới là người nhân nó lên và biến nó trở thành đặc biệt. Olalla của Stevenson đến sau cùng vẫn tồn tại và có thật, cô không giống Aura của Fuenets, mang nhiều dáng hình cũng như cảm xúc. Fuentes với cách viết nhiều vòng tròn đồng tâm lan ra từ từ, kết hợp với yếu tố gothic – kinh dị, khóa chặt người đọc vào văn bản của mình. Ông là nhà văn thiên về tâm lý, trong khi Stevenson chỉ đơn giản thuật lại, tuy là mới mẻ nhưng không đào bới tận cùng. Với hai cách diễn đạt khác nhau, nhưng bất ngờ thay, sau cuối cả hai đều là những câu chuyện tình đau thương. GIỌT MÁU CHUNG TÌNH Tuy tiếp cận câu chuyện từ hai hướng và hai phong cách viết, thế nhưng ẩn sau tầng tầng lớp lớp yếu tố kì dị, thì tình yêu ngăn cấm là thứ mà hai nhà văn hướng đến. Stevenson không những dùng sớm yếu tố kì ảo, mà còn cho thấy vấn đề muôn thủa của lục địa này, để rồi sau đó chính Marquez sẽ nhân nó lên làm thành tác phẩm huy hoàng nhất của mình – hôn phối cận huyết. Chính yếu tố sáng rõ này là thứ phân đôi tình yêu của Olalla và chàng lính trận, để kết thúc dòng máu suy vong, để ấn định cái kết của một gia tộc. Có lẽ nào chính ngọn gió độc, tiếng thét điên cuồng của bà mẹ điên trong đêm đen thẫm hay cơn khát máu bập vào thịt sống; là những dấu chỉ rõ nhất cho thứ bệnh điên cần được loại bỏ? Hơn một lần Olalla cầu xin chàng ta rời khỏi nơi đó, để cuối cùng trên ngọn đồi cắm phập thánh giá, một lần nữa họ gặp lại nhau để Stevenson “thánh hóa” sự hy sinh của tình yêu không được đền đáp. Lần gặp thứ hai như xác tín cho đức tin, sự minh triết cũng như những gì họ đã bỏ qua. Cũng thư thế, Fuentes mất đến ba đêm để chắc chắn thứ trước mắt chàng Montero không là ảo ảnh. Từ hành động lột da dê song song ở hai người đàn bà, một ở bếp và một ở phòng ngủ, Montero bắt đầu có những nghi ngại đầu tiên. Thế nhưng bởi dục vọng chìm đắm trong sắc đẹp của Aura, chàng đã ở lại với đôi mắt thỏ và những linh hồn lẩn khuất trong đêm. Đêm đầu tiên, chàng cảm thấy da thịt của một cô gái trẻ, đúng là Aura với chiếc váy xanh mà chàng thèm muốn. Thế nhưng đến đêm thứ hai, đó đã là da thịt trưởng thành, cứng lại, rắn đanh, mang dấu ấn thời gian của người đàn bà trung niên với tình yêu dường như đã đi qua một nữa đời mình. Đêm thứ ba, đêm cuối cùng; da thịt mơn man đã về lại với nhăn nheo ở quãng đời cuối, của sự co lại, gập gềnh núi đá lởm chởm, đó cũng là khi Montero biết mình dấn thân vào câu chuyện gì. Cả Fuentes và Stevenson không kết thúc một cách rõ ràng câu chuyện của mình. Montero bừng tỉnh trong đêm thứ ba và câu thoại (hay là tuân mệnh?) đi tìm Aura thanh xuân; trong khi anh lính trẻ không ngừng quay lại để thấy Olalla đứng mãi bên cây Thánh giá. Nàng đã hóa thánh, được gột rửa sạch và nhận hết mọi tội lỗi của dòng tộc suy vong; trong khi giờ đây Montero như bị thôi miên trong những vòng màu đan cài, giữa thời khắc của cổng thời gian kéo dài ba ngày, có thể mãi mãi hay không bao giờ đóng, liệu còn gắn bó hay sẽ chia phôi với Nàng Aura, ai biết. Nhưng dẫu sao đó là chuyện tình đau thương và đầy muộn phiền của sự đứt gánh. * Là mối tương giao kì lạ của hai nhà văn ở hai thời kì, Nàng Aura và Olalla mang trong mình sự tương đồng ở nhiều yếu tố trong cốt truyện, thế nhưng bằng phong cách viết cũng như triển khai cốt truyện khác nhau, phản ảnh 1:1 giữa hai tác phẩm cho ta góc nhìn thú vị về câu chuyện tình yêu vừa đẹp đẽ nhưng cũng đau đớn. Stevenson dưới cách thể hiện khác lạ nhiều yếu tố Latin mang đến Olalla lạ lẫm và đầy say mê; trong khi Fuenetes quán triệt đặc trưng của lãnh địa mình, hình thành một vòng thời gian khác lạ và đầy thôi miên. Một sự tương đồng độc đáo. Review của độc giả Ngô Minh – Nhã Nam reading club *** “NÀNG AURA” (Carlos Fuentes) – Nhân duyên tiền định hay dục vọng vô biên? Ra mắt năm 1962,*** Nàng Aura*** ***(Aura) ***là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của tác giả Carlos Fuentes, cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của nền văn học Mỹ Latin đương đại. Vinh dự được trao giải thưởng cao quý Miguel de Cervantes Saavedra, tác phẩm đã đưa Fuentes trở thành một trong những tượng đài lớn của văn học Mỹ Latin bên cạnh Gabriel Garcia Marquez, Mario Vargas Llosa, … Câu chuyện của Nàng Aura bắt đầu từ đoạn tình cảm lỡ dở, gập ghềnh và trắc trở kéo dài 27 năm đằng đẵng giữa Giorente và Consuelo. Khi còn trẻ, họ đã đến với nhau bởi tiếng sét ái tình và trở thành đôi vợ chồng đầu ấp tay gối đến tận lúc đầu bạc răng long. Tưởng rằng cái c.h.ế.t sẽ là dấu chấm hết cho mối tình đẹp đẽ, nhưng Consuelo lại không nghĩ như vậy. Consuelo sở hữu một pháp lực trời ban, cùng niềm khao khát thanh xuân vĩnh cửu, bà đã nhập thân vào hình hài cô gái đôi mươi Aura để sống một cuộc đời trẻ mãi không già. Nhưng cũng bởi vậy, bà cũng phải chứng kiến sự già đi rồi chết dần của Giorente, người mình yêu thương nhất. Cứ vậy, suốt 27 năm về sau, Consuelo, trong thân phận “nàng Aura”, vẫn sống một kiếp đời bất tử trong nỗi nhớ nhung da diết giày vò từng ngày từng đêm. Để rồi khi một chàng trai trẻ tên Felipe xuất hiện, ngọn lửa tình yêu cuồng nhiệt lại nhen nhóm trong Consuelo một lần nữa. Bởi Consuelo biết, anh chính là chuyển thế của Giorente, được định mệnh sắp đặt để tái ngộ với bà. Cách Felipe đến với “nàng Aura” hệt như Giorente thuở nào, từ ánh mắt si tình chỉ trong lần đầu gặp gỡ “nàng Aura”, đến cái cách anh nâng niu từng trang sách lịch sử, những trang hồi ký của người chồng quá cố. Tiếc rằng, chỉ có khuôn mặt kia, đã không còn là Giorente bà từng biết nữa. Nhưng với ma pháp cao cường của Consuelo, bà rắp tâm biến mọi thứ không thể phải thành CÓ THỂ. Một âm mưu kinh hoàng dần được bày ra, với hàng loạt những ám thị nối đuôi nhau. Những bí mật khuất lấp dần được hé lộ, về người đàn bà Consuelo, và về ngôi nhà cổ quái của bà ta. Một bí mật về tuổi xuân vĩnh cửu, về dục vọng ẩn sâu. Và đó cũng là câu chuyện tình vượt thời gian, vượt qua cả cái c.h.ế.t, bất chấp mọi giới hạn mà con người có thể tưởng tượng ra. Bằng một câu chuyện giản đơn chỉ vỏn vẹn chưa đầy trăm trang giấy, Carlos Fuentes đã dẫn độc giả bước vào không gian Mỹ Latin cổ xưa đậm chất Gothic ma mị nhưng không kém phần quyến rũ. Lồng ghép trong một câu chuyện tình vượt thời gian, cốt truyện cũng sử dụng những nút thắt mở tài tình, khiến cho độc giả phải xoay mòng mòng trong những giác cảm mơ hồ giữa thực và mơ, giữa quá khứ và hiện tại. **Nàng Aura **bắt đầu bằng một không gian Mỹ Latin đầy hoài niệm: đó là khung cảnh những dinh thự cổ có kiến trúc kiểu Baroque Mexico từ thời thuộc địa, với những bức tượng thánh cổ quái cùng những hành lang tróc sơn cũ kĩ. Ở nơi đó cũng thấp thoáng những dấu hiệu chuyển giao thời đại, với những khu dân cư hỗn tạp đủ mọi mọi ngành nghề dần chiếm chỗ khu dinh thự, với nhịp sống hối hả và bộn bề tấp nập đang từng bước thay thế đời sống cũ. Những đoạn văn gợi tả đó, dù chỉ ngắn gọn trong vài trang đầu, nhưng đủ để làm nền cho cảnh trơ trọi lẻ loi của ngôi nhà cổ quái của Consuelo giữa trung tâm khu phố xưa, làm bật lên vẻ ma mị đáng sợ cổ quái với những ai ghé thăm nơi đây lần đầu tiên. Motif kinh dị lãng mạn của** Nàng Aura** có thể nói là không quá mới mẻ, nhưng chất liệu Mỹ Latin lại là nhân tố đáng chú ý khiến mình phải lưu tâm tới. Không gian trong Nàng Aura được bao trùm bởi màu sắc hiện thực huyền ảo hiển hiện trong nhiều chi tiết, từ sự già đi bất thường của “nàng Aura” đến màn hóa thân gây choáng váng của nàng. Nó còn ẩn hiện trong những hành tung kì quái và sự xuất hiện đồng thời của cả hai người phụ nữ là Consuelo và “nàng Aura”, đến những ảo giác ma quỷ thoắt ẩn thoắt hiện trong tiềm thức Felipe mỗi đêm. Không chỉ vậy, Carlos Fuentes cũng thể hiện xuất sắc trong việc khắc họa bầu không khí Gothic vừa quỷ dị vừa huyền ảo trong căn nhà của Consuelo. Ngôi nhà bị bao trùm bởi bóng tối dày đặc, chìm nghỉm lúc nhúc giữa các tòa nhà hiện đại đan xen nhau, tựa như hình ảnh người chủ nhân phải chịu cảnh cô đơn hiu quạnh suốt năm tháng. Trong cái không gian chật hẹp đó, những tiếng mèo kêu nhức óc, lũ chuột và con thỏ mắt đỏ được thêm thắt vào như là những yếu tố gợi mở đầy ẩn ý. Trong căn phòng được bày ngổn ngang các dụng cụ thờ cúng, nhưng thực ra lại để dành cho một nghi thức tà đạo ma quái. Chỉ có ánh nến lờ mờ dường như là nguồn sáng duy nhất hiện diện giữa bóng tối u minh. Nhưng đâu ai biết, những lúc chập chờn, lúc chạng vạng có hay mới là lúc ma quỷ hiện diện rõ ràng nhất. Sự khắc họa những góc tối sâu thẳm trong nhân tâm của truyện cũng khiến mình băn khoăn rất nhiều, trước khi nút thắt cuối cùng được bật mở. Đó là một Consuelo bị ám ảnh bởi cái c.h.ế.t và tuổi xuân vĩnh hằng. Đó là Giorente – kẻ mà dù ở kiếp nào, dù mang hình hài Llorente hay Fellipe, đều tỏ rõ là hạng người dễ bị cám dỗ bởi dục vọng và dường như không có khả năng kháng cự lại nó. Nực cười là, Giorente đã từng chê trách rằng Consuelo “đã từ thiên thần hóa quỷ dữ”, rằng bà đã quá tham lam khi cố níu kéo thanh xuân, nhưng chẳng phải chính bản thân ông ta, ở cả hai kiếp sống, cũng không thể cưỡng lại sự ham muốn với vẻ đẹp của “ác quỷ” đó sao? Chẳng phải chính ông cũng giấu trong lòng cơn thèm khát không thể tả bằng lời với nét thanh xuân rạng rỡ của “nàng Aura” sao? Tuy vậy, khi gấp lại cuốn sách, mình hoàn toàn không cảm thấy đáng sợ hay căm ghét họ, bởi xét cho cùng, dục vọng của họ chỉ là đại diện cho ước mơ muôn thuở của con người. Khi còn trẻ, chúng ta giống Felipe, khao khát yêu đương, khao khát sống hết mình vì tuổi trẻ. Còn khi về già, chúng ta trở thành Giorente và Consuelo, lại hoài niệm về thanh xuân, hoài niệm đến ăn mày dĩ vãng, dẫu cho đó là điều bất khả không bao giờ trở thành hiện thực được, chỉ trừ trong** Nàng Aura.** Review của độc giả Kiên Trần – Nhã Nam reading club Mời các bạn mượn đọc sách Nàng Aura của tác giả Carlos Fuentes & Phạm Triệu Lập (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Xóm Vắng
Sương bước lên cầu, đứng dựa lan can nhìn làn nước trong xanh lặng lờ trôi giữa giòng sông. Ánh nắng lung linh trong ánh nước. Nàng đứng thẫn thờ nhìn dòng sông, rồi lại nhìn cảnh đồng ruộng bao la trước mắt. Nàng thở dài, không hiểu tại sao mình đến đây và đến để làm gì? Bên kia cầu, một ngôi cổ tự nằm im lìm dưới rặng dương cao vút, và xa xa rải rác những thôn trang đang sưởi mình dưới nắng. Sương bước qua cầu, đi thẳng về phía thôn xóm tiêu điều. Trời tháng năm, ánh nắng càng lúc càng gay gắt, khó chịu. Mồ hôi nhễ nhãi, đôi chân nặng nề nhưng Sương vẫn cố lê chân bước tới. Hai bên đường, dấu vết chiến tranh còn in hẳn nét tang thương. Đây đó cây cối xác xơ, cành rơi lá đổ. Ngoài xa, những vườn rau, các luống hoa lài vừa mới vun bồi, gầy dựng lại. Sương thở dài, tiếp tục lê chân. Nàng bỗng ngạc nhiên dừng lại trước một ngôi nhà đổ nát bên đường. Có lẽ ngôi nhà này bị phá hủy từ lâu, sao đến bây giờ chưa có ai sửa sang lại? Ngôi nhà cất theo lối mới, kiến trúc thật đẹp, tỉ mỉ, cứ nhìn qua những bức tường đổ nát và vườn tược còn sót lại chung quanh, cũng nhận thấy đó thuộc một gia đình vào hàng phong lưu, khá giả. Sương bước rẽ vào cổng nhà, trên cột trụ xi-măng tấm bảng đồng vẫn còn nguyên vẹn: "Mai Trang". Khung cửa sắt chỉ khép hờ, bên trong, lá khô đổ đầy mặt đất, cành gãy, gạch vụn rơi tứ tung, dây leo bám đầy vách. Nhìn cảnh "Mai Trang" hoang tàn đổ nát, lòng Sương buồn lâng lâng. Nơi đây chắc đã có một thời êm đẹp lắm. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Chủ nhân của ngôi nhà này và luôn cả gia đình không còn một người sống sót chăng? Sương lách mình qua cánh cửa sắt bước vào trong, ngồi nghỉ chân trên bực thềm. Ánh chiều đã xuống, nắng vàng còn lảng vảng trên mấy bức tường màu xám xịt. Mấy đóa hoa hồng cố vươn mình giữa đám cỏ hoang lắc lư dưới cơn gió chiều. Nhìn cảnh hoang tàn, thê lương bất giác Sương thở dài. Đâu đây có tiếng sột soạt trên lá khô khiến Sương giật mình lo sợ. Phía sau bức tường đổ, trong đám dây leo rậm rạp, có một chàng thanh niên từ từ đứng dậy. Sương suýt kêu lên một tiếng kinh hoàng, vì nàng không ngờ trong cảnh hoang tàn này lại còn có người ở. Có lẽ người ấy đã nằm trong góc tường từ lâu và sống như một bóng ma. Nàng đưa tay bụm miệng, cố ngăn không cho tiếng la xuất phát ra ngoài. Nàng trố mắt nhìn chàng trai đang lững thững bước đi. Chàng đưa tay lần theo vách tường đổ, còn một tay chống gậy cồm cộp trên mặt đất, đi ngay về phía nàng. Tim Sương đập thình thịch, nàng đang đứng giữa khoảng trống phía trước sân nhà, không một chỗ nào khuất để lẩn tránh. Thanh niên đã nhìn thấy rõ ràng và có lẽ đã trông thấy rõ nàng từ lâu nhưng Sương đã lầm, chàng ta quờ quạng bước tới, tay chống gậy dò đường, một tay lần vách. Rõ ràng là một người mù, mặc dầu đôi mắt chàng vẫn không khác gì người thường. Nàng thở một hơi dài trước hoàn cảnh đáng thương ấy. Nàng nhìn chàng trân trân, theo dõi từng bước đi của người tàn tật giữa cảnh hoang tàn đổ nát. Nhìn kỹ đó là một chàng thanh niên đứng tuổi, có lẽ đã xấp xỉ cỡ 40. Nét mặt chàng in rõ vẻ ưu tư sầu khổ, có lẽ trong đời chàng đã gặp quá nhiều sóng gió. Rồi Sương lại thấy thích những nét mặt dày dặn, rắn rỏi, có nhiều sức chịu đựng như thế. Chàng ăn mặc chỉnh tề, y phục may rất khéo, đó là một điều rất lạ đối với người đã bị tàn phế. Nhìn qua dáng điệu, nàng cũng đoán biết chàng là một người trong gia đình khá giả, nhưng tại sao lại đến nơi hoang vắng này? Chàng lần dò từng bước giữa những đống gạch vụn. Có lúc bị vấp chân, chàng loạng choạng muốn ngã. Bóng chàng nằm dài dưới ánh nắng chiều... Thỉnh thoảng lại chớp chớp đôi mi như suy nghĩ điều gì khó khăn lắm. Bóng người cô đơn tàn phế giữa cảnh hoang tàn khiến Sương xúc động, đôi mi nàng ươn ướt lúc nào không hay. Bỗng nhiên chàng vấp phải một mẩu gạch to, người lảo đảo về phía trước suýt té. Sương giựt mình không kịp suy nghĩ gì cả, vội chạy tới đỡ chàng: - Ý... Coi chừng. Thanh niên giựt mình kinh ngạc, rồi chớp chớp đôi mi như cố nhìn Sương: - Ai đó? Giọng chàng trầm ấm nghe rất dễ có cảm tình... Sương không trả lời ngay được, mà chỉ ngẩng mặt nhìn chàng trân trân. Đã ngoài 30 tuổi rồi, đây là lần thứ nhất nàng mới nhìn thấy một gương mặt thanh niên in rõ nét đau khổ, xót xa và chan chứa những hy vọng tha thiết trong lòng. Không nghe nàng trả lời, chàng lại hỏi tiếp: - Ai vậy? Vừa... Vừa giúp tôi đó? Sương thở ra nhè nhẹ, trấn tĩnh tinh thần: - Dạ tôi. - Tôi?... Mà là ai? *** Quỳnh Dao (sinh ngày 20 tháng 4 năm 1938) là nữ nhà văn, biên kịch, nhà sản xuất người Đài Loan chuyên về tiểu thuyết lãng mạn dành cho độc giả nữ. Tập truyện ngắn đầu tay của bà mang tên Ngoài khung cửa sổ ra đời trong khoảng thời gian bà tốt nghiệp trung học và dự thi vào đại học nhưng không thành công. Các tác phẩm của bà được dịch ra và xuất bản rộng rãi ở Việt Nam từ cuối thập niên 1960. Ngoài ra, bà còn là một nhà sản xuất phim với những bộ phim truyền hình dựa theo chính nội dung các cuốn tiểu thuyết của bà. Tác phẩm: Song Ngoại (1963) Hạnh Vận Thảo (1964) Lục Cá Mộng (1964) Thố Ty Hoa (1964) Dòng sông ly biệt (Yên Vũ Mông Mông - 1964) Triều Thanh (1964) Kỷ Độ Tịch Dương Hồng (1964) Thuyền (1965) Nguyệt Mãn Tây Lâu (1966) Hàn Yên Thúy (1966) Tử Bối Xác (1966) Tiễn Tiễn Phong (1967) Thái Vân Phi (1968) Xóm vắng hay Vườn rộng sân sâu (Đình Viện Thâm Thâm - 1969) Tinh Hà (1969) Thủy Linh (1971) Hồ ly trắng (Bạch Hồ - 1971) Hải Âu Phi Xứ (1972) Băng Nhi (1985) Tuyết Kha (1990) Hoàn Châu cát cát (1999) Đoạn Cuối Cuộc Tình (tháng 8/2006) Không phải hoa chẳng phải sương (2013) Thủy Vân Gian Cỏ Xanh Bên Hồ Giấc Mộng Sau Rèm Mời các bạn đón đọc Xóm Vắng của tác giả Quỳnh Dao.
Người Đàn Bà Trên Cầu Thang
Trong một phòng tranh ở Sydney, người đàn ông tình cờ bắt gặp bức tranh vẽ cô gái đã từng khiến ông sẵn sàng vứt bỏ hết thảy để rồi ngoạn mục biến khỏi đời ông. Sau đó, như từ bóng tối bước ra sân khấu, những nhân vật chính mắc kẹt trong cuộc tình tay bốn năm xưa đều xuất hiện. Họa sĩ nổi tiếng thế giới, nhà tài phiệt, và luật sư tái ngộ cùng cô gái trong tranh trên một bờ vịnh Úc, mong muốn giành lại thứ họ nghĩ phải thuộc về mình. Nhưng chuyện đời không đơn giản - đối với một tác phẩm nghệ thuật mà mọi bảo tàng thế giới đều săn lùng, cũng như đối với Irene mà cuộc đời có nhiều góc khuất, khi tuổi tác của tất cả họ đều đã về chiều, và định mệnh thì thường khắc nghiệt... *** Người đàn bà trên cầu thang của tác giả Bernhard Schlink, một câu chuyện tình lãng mạn, thậm chí có phần “sến sẩm". Nhưng qua đó, mỗi người đọc đều có thể tìm cho mình kho tàng kiến thức đáng quý, về một thời đã qua của nước Đức, ẩn sau những tình tiết, câu chữ đầy mê hoặc. Cuốn tiểu thuyết vừa mới được giới thiệu tới độc giả Việt Nam trong buổi ra mắt sách diễn ra tại Viện Gothe. Dịch giả của cuốn sách – Lê Quang cùng biên tập viên Trần Kiều Vân là 2 diễn giả chính trong buổi tọa đàm này. Thông qua Người đàn bà trên cầu thang, qua câu chuyện xoay quanh chuyện tình tay bốn giữa họa sĩ nổi tiếng thế giới, nhà tài phiệt, luật sư và cô gái, Bernhard Schlink đã phơi bày bức tranh sự thật về thực tế lịch sử của nước Đức. Đó là thời kì mà bức tường Berlin đã chia cắt nước Đức thành 2 nửa Tây và Đông Đức. Và nhân vật cô gái trong truyện, vì chạy trốn sự truy nã của nhà cầm quyền Cộng hòa liên bang Đức do tham gia một tổ chức khủng bố, đã rời bỏ người chồng tài phiệt giàu có, cùng với anh họa sĩ trốn sang Cộng hòa Dân chủ Đức ở phía Đông. Cô gái đã kịp nhận ra vẻ đep của một Đông Đức mà trước đó cô chưa hề nhận thấy, cho đến khi bức tường Berlin sụp đổ đảo chiều tất cả. Quang cảnh buổi giới thiệu "Người đàn bà trên cầu thang" Tác giả Bernhard Schlink là một luật sư, ở ông có sự khô khan và thực tế. Nhưng đọc truyện của ông, người đọc vẫn có thể thổn thức với sự gợi cảm mà ở đó, từng chi tiết và câu từ được ông vuốt ve thật mượt mà. Với biệt tài mổ xẻ những ẩn ức tăm tối trong lòng người, Bernhard Schlink đã viết nên một tiểu thuyết về tình yêu thật cuốn hút, mê hoặc. Và dịch giả Lê Quang, với sự am hiểu về ngôn ngữ cùng văn hóa Đức, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Người đàn bà trên cầu thang là câu chuyện mà với người đọc “hăng hái“ có thể lướt qua nó trong vòng 2 ngày. Nhưng có lẽ, đó khó có thể là một câu chuyện mà bất kì ai có thể cảm nhận được hết giá trị chỉ với một lần mở sách, về những ý nghĩa, kiến thức mà tác giả đã lồng ghép đầy tinh tế qua từng câu từ", dịch giả Lê Quang nói. Đây không phải là một cuốn tiểu thuyết tình cảm nhẹ nhàng, để ta mang theo khi du lịch, vừa đọc vừa thư giãn dưới ánh đèn mờ rồi bỏ nó lại khách sạn sau những ngày nghỉ. “Người đàn bà trên cầu thang” ẩn chứa nhiều vấn đề khiến người ta phải suy ngẫm. Nó mang nhiều giá trị, ý nghĩa và lợi ích cho độc giả mà ai cũng có thể rút ra được một chút kiến thức (nói một cách khiêm tốn) cùng bài học đáng quý. Bernhard Schlink (sinh 1944 ở Đức) là giáo sư Luật và thẩm phán Tòa án hiến pháp cấp bang, đã viết gần 20 tác phẩm, được trao nhiều giải thưởng văn học trong và ngoài nước Đức. Ông nổi tiếng với tiểu thuyết Người đọc (1995) - giải Prix Laure Bataillon cho văn học dịch của Pháp, giải Grinzane Cavour của Ý... Tiểu thuyết mới nhất Người đàn bà trên cầu thang vừa xuất bản đã lọt vào danh sách bestseller của tác chí Der Spiegel, và bán bản quyền dịch cho hơn 10 nước trên thế giới. Bernhard Schlink hiện đang sống ở Berkshire (Massachusetts) và Berlin.    *** Bernhard Schlink (sinh 1944 ở Đức), là giáo sư luật và là thẩm phán tòa án hiến pháp cấp bang, đã viết gần 20 tác phẩm, được trao nhiều giải thưởng văn học trong và ngoài nước Đức. Ông nổi tiếng với tiểu thuyết "Người đọc" (1995) - giải Prix Laure Bataillon dành cho văn học dịch của Pháp, giải Grinzane Cavour của Italia... Tiểu thuyết "Người đàn bà trên cầu thang" của ông vừa xuất bản đã lọt vào danh sách bestseller của tạp chí Der Spiegel, đã bán bản quyền dịch cho đối tác tại hơn 10 quốc gia. Trong "Người đàn bà trên cầu thang", tình tiết xoay quanh các nhân vật chính gồm một họa sĩ nổi tiếng thế giới, một nhà tài phiệt, một luật sư - cả ba cùng yêu một cô gái. Với biệt tài mổ xẻ ẩn ức trong lòng người, cách hành văn dễ hiểu, trong trẻo và trí tuệ, Bernhard Schlink đã viết nên một tiểu thuyết cuốn hút, khiến bạn đọc ngẫm ngợi về thân phận con người. *** Có thể một hôm nào đó mọi người sẽ thấy bức tranh. Nó mất tích đã lâu rồi, nay đột ngột xuất hiện, và bảo tàng nào cũng săn đuổi. Chả gì thì Karl Schwind giờ đây cũng là họa sĩ nổi danh nhất và đắt giá nhất thế giới. Vào dịp sinh nhật thứ bảy mươi của ông, tôi thấy mặt ông trên mọi tờ báo và kênh tin tức, dù là phải ngắm mất một lúc mới nhận ra chàng trai ngày nào sau gương mặt già nua hôm nay. Nhưng bức tranh thì tôi nhận ra được ngay. Tôi bước vào gian cuối của phòng tranh, nó treo ở đó và làm tôi choáng váng như ngày nào, khi tôi vào phòng khách nhà Gundlach và thấy nó lần đầu. Một cô gái đang xuống thang. Chân phải cô đặt lên bậc dưới, chân trái còn chưa rời bậc trên nhưng đã dợm vào bước tiếp theo. Cô gái khỏa thân, da xanh tái, gò vệ nữ và mái đầu phủ vàng rơm, tóc cô lóng lánh phản chiếu ánh sáng. Khỏa thân, xanh tái, vàng rơm - trên nền xanh xám của những bậc thang và tường vẽ mờ ảo, cô bồng bềnh nhẹ trôi về phía người thưởng lãm, nhưng đồng thời cặp đùi thon dài, phần hông nở tròn trịa và hai bầu vú săn chắc lại trĩu nặng đam mê. Tôi chầm chậm tiến lại gần bức tranh. Tôi ngượng ngùng, và đó cũng là cảm xúc giống ngày nào. Hồi ấy tôi ngượng ngùng vì cô gái trước đó một hôm còn ngồi trước mặt tôi trong quần bò, crop top và áo khoác, nay hiện ra trần trụi trước mắt. Hôm nay tôi ngượng ngùng vì bức tranh nhắc tôi nhớ đến những gì xảy ra ngày đó, những gì tôi sa vào và sau đó chỉ muốn xóa khỏi trí nhớ thật nhanh. “Người đàn bà trên cầu thang”, tấm biển nhỏ cạnh bức tranh ghi vậy, và cho biết tác phẩm được mượn về. Tôi tìm ông giám tuyển và hỏi ai là người cho phòng tranh nghệ thuật này mượn. Ông đáp, ông không được phép nói tên. Tôi nói, tôi quen người phụ nữ trong tranh và chủ nhân tác phẩm, và có thể báo trước cho ông rằng sẽ có tranh cãi về quyền sở hữu bức tranh. Ông nhíu mày nhưng không đổi ý, không được phép cho tôi biết tên. Chuyến bay trở về Frankfurt của tôi được đặt vào chiều thứ Năm. Sau khi kết thúc các thương lượng ở Sydney vào sáng thứ Tư, lẽ ra tôi có thể đổi chuyến bay sang chiều thứ Tư. Song tôi thích đến Vườn Bách thảo vào chiều hôm ấy. Tôi định ăn trưa ở đó, nằm lăn ra cỏ và tối đến Nhà hát nhạc kịch xem vở Carmen. Tôi thích Vườn Bách thảo, nó giáp với một nhà thờ lớn về phía bắc, còn phía nam nằm kề Nhà hát nhạc kịch, trong đó có Phòng trưng bày nghệ thuật và Nhạc viện, và từ đỉnh đồi ấy có thể phóng tầm mắt xuống vịnh. Vườn Bách thảo có các khu trồng cọ, hồng và thảo mộc, có ao hồ, khu ngồi nghỉ dưới tán cây, tượng và nhiều bãi cỏ với cây cổ thụ, có ông bà và các cháu, có những người đàn ông và đàn bà cô đơn dắt chó, các nhóm picnic và đôi tình nhân, người đọc sách và người nằm ngủ. Trên bao lơn của nhà hàng giữa vườn, thời gian như ngừng trôi: cột nhà cổ kính bằng gang đúc, lan can sắt và các cây to có chồn bay, chim chóc với bộ lông sặc sỡ và mỏ cong. Tôi đặt đồ ăn rồi gọi điện cho bạn đồng nghiệp. Ông ta là người chuẩn bị vụ sáp nhập doanh nghiệp về phía Úc, tôi làm bên phía Đức. Như trong các vụ sáp nhập doanh nghiệp, hai chúng tôi vừa là đối tác lại vừa là đối thủ. Nhưng chúng tôi cùng tuổi, đều là chuyên gia thuộc một trong những phòng luật lớn chưa bị người Mỹ hay người Anh thôn tính, cả hai đều góa vợ và thân nhau. Tôi hỏi ông về dịch vụ thám tử mà phòng luật của ông sử dụng, và ông cho tôi biết tên. “Chúng tôi có thể giúp gì cho ông không?” “Không có gì đâu, chỉ chút tò mò từ lâu, nay cần giải đáp.” Tôi gọi điện đến dịch vụ thám tử, cần biết ai là chủ sở hữu bức tranh của Karl Schwind trong Phòng tranh New South Wales, có phải đó là một phụ nữ tên họ khai sinh là Irene Gundlach hoặc khi lấy chồng mới lấy họ Gundlach theo chồng, và có phụ nữ nào tên như thế sống ở Úc không. Ông giám đốc phòng thám tử hy vọng sẽ cung cấp tin cho tôi sau vài ngày. Tôi hứa sẽ thưởng nếu ngay sáng mai có thông tin. Ông ta cười. Hoặc hôm nay lấy được thông tin từ phòng tranh nghệ thuật, hoặc vài hôm nữa mới có, thưởng hay không thưởng cũng vậy thôi. Ông hứa sẽ gọi lại. Mời các bạn đón đọc Người Đàn Bà Trên Cầu Thang của tác giả Bernhard Schlink & Lê Quang (dịch).
Alabama Song (Tiếng Việt)
Có những kẻ ẩn mình để trộm cắp, để giết chóc, để bội phản, để yêu thương, để hưởng thụ. Tôi thì phải ẩn mình để viết. Vừa tròn hai mươi tôi đã rơi vào vòng chi phối - chế ngự - của một người đàn ông lớn tuổi hơn đôi chút, người ấy muốn định đoạt cuộc đời tôi và đã tiến hành chuyện đó hết sức bất lương. *** Montgomery, Alabama, 1918. Zelda Sayre, con gái một gia đình quyền quý, gặp viên trung úy Scott Fitzgerald, một cuộc gặp gỡ định mệnh. Với những rạo rực của một cô gái trẻ bước vào đời, mong muốn vượt thoát mọi ràng buộc của xã hội tỉnh lẻ miền Nam, Zelda cùng Scott lao mình về phía thiên đường. Thành công vang dội của cuốn tiểu thuyết đầu tay của viên trung úy sau này được ca tụng là nhà văn lỗi lạc nhất nhì thời đại đã biến cặp đôi thành đứa con cưng của giới thượng lưu New York. Vậy nhưng thiên đường có là vô tận khi tiếp nối chuỗi những dạ tiệc xa hoa, hội hè rực rỡ là những cơn say triền miên, là chứng tâm thần phân lập, là những giày vò giằng xé lẫn nhau đưa đến cái kết của một bi kịch phủ nhung? Hóa thân thành Zelda Fitzgerald trong cuốn tự truyện hư cấu, Gilles Leroy hé lộ phần nào số phận bí ẩn và bi thảm của cặp đôi từng là hai ngôi sao sáng chói trên vòm trời văn chương phương Tây những năm 20 thế kỷ trước: Scott Fitzgerald, tác giả The Great Gatsby và Zelda, vợ ông. Alabama Song đã mang lại cho tác giả giải Goncourt 2007.   “Leroy kể lại nỗi đau của một người đàn bà mà để trở thành nàng thơ của một thiên tài đã từ từ bước xuống địa ngục.”– L'Express *** “Cuốn tự truyện hư cấu này được dẫn dắt bởi một bàn tay bậc thầy.” – Le Point   “Tác giả hóa thân tuyệt vời trong giọng điệu của một người phụ nữ đổ vỡ. Người đọc chạm đến sự tinh tế tuyệt đỉnh.” – Danielle Laurin - Radio-Canada   “Tài năng của Gilles Leroy là không dùng tưởng tượng mà lên đường đến tận Montgomery để mang đến cho người đọc mùi hương nồng nàn của hoa mộc lan, giọng điệu xúc động của người đàn bà đứng đằng sau một cây viết vĩ đại.” – Elle *** Gilles Leroy sinh năm 1958 tại Bagneux (Haute-de-Seine), có bằng cử nhân văn chương hiện đại năm 1979. Ông đã từng làm nhiều nghề trước khi trở thành nhà báo. Năm 1996, Gilles Leroy rời Paris về sống ở nông thôn để chuyên tâm viết văn và tự nghiên cứu văn học Mỹ cùng văn học Nhật. Xuất bản năm 2007, Alabama Song đã giành được giải Goncourt trong năm đó. ***     Bỗng nhiên, thành phố lơ mơ ngái ngủ của chúng tôi bị xâm chiếm bởi hàng nghìn thanh niên trai tráng, phần lớn là những gã trai thảm hại, bị lôi ra khỏi trang trại, đồn điền, quầy hàng của họ, từ khắp các bang miền Nam trong khi các sĩ quan mới tốt nghiệp trường quân sự của họ lại xuống từ phương Bắc, từ vùng Hồ Lớn và từ các thảo nguyên (kể từ nội chiến đến giờ người ta chưa khi nào thấy ngần ấy bọn yankee trong thành phố, mẹ bảo tôi như vậy). Trẻ như thế, hừng hực như thế, các chiến binh tươi cười ồn ã sà xuống chúng tôi và đổ dồn theo những con phố của chúng tôi tựa như những đám mây chim chóc dày đặc trong bộ lông màu xanh lơ hoặc xám hoặc xanh lục, một số có mào bằng vàng hoặc bằng bạc, điểm đốm mắt bằng những ngôi sao cho lòng quả cảm và những phù hiệu nhiều màu - nhưng tất cả, lũ chim hạng lính tổng động viên cũng như lũ chim hạng sĩ quan chuyên nghiệp, những kẻ chủ trương ly khai hay những người ủng hộ phong trào phế nô, rốt cuộc cũng liên kết lại, nếu không phải là hòa giải với nhau, tất cả chẳng bao lâu sẽ lại lên đường cho một chuyến đi dài vượt Đại dương về phía châu Âu già cỗi, vẫn chưa phải châu Âu trong mơ của chúng tôi mà là châu lục của một nỗi kinh hoàng lạ lẫm, sự lạ lẫm nằm ở chỗ người ta phải chết trong một cuộc chiến ngoại quốc. Nếu có sợ đi chăng nữa, họ cũng không để lộ ra ngoài. Những buổi khiêu vũ diễn ra khắp nơi trên phố, tại các khu sân bay bao quanh thành phố và trong các trại huấn luyện. (Đó là sự lạ, quả đúng vậy, một sự hi hữu, chưa được lý giải: không một thành phố nào diện tích khiêm tốn như Montgomery lại có chừng ấy sân bay. Và vậy là thành phố nực cười của chúng tôi được chọn làm nơi huấn luyện hàng loạt các cậu bé mà người ta sẽ giao nộp cho chiến trận - Cuộc chiến, họ gọi thế, Trận chiến.) Tôi còn nghe thấy từ họ phát ra những âm thanh lộn xộn đầy cuồng nhiệt: tiếng giày nhà binh kiêu hãnh gõ đôm đốp xuống mặt đường, tiếng gào rống và tiếng ly cốc chạm vào nhau, như thể hai mươi nghìn gã trai đang tạo thành một cơ thể to lớn duy nhất, một người khổng lồ với các mạch máu nóng bỏng nơi người ta có thể nghe thấy chất ađrênalin sôi ùng ục và một bầu nhựa sống căng tràn không thể kìm nén. Như thể mối nguy cận kề và niềm tin chắc vào những cú sốc khác, vào những cơn quá khích khác, những cú sốc và những cơn quá khích chết người, đã khiến những gã đàn ông này thêm phần quậy phá ồn ĩ, thơ trẻ và sảng khoái lạ thường. Và chúng tôi, những Mỹ nhân miền Nam, tôi không rõ những cậu trai này nhìn chúng tôi như thế nào: một đàn ong phát tiếng vo vo, có lẽ vậy, hay một chuồng chim ruồi và vẹt mái hốt hoảng cũng nên. Lý do duy nhất để thức dậy và sống, đó là chờ đợi cuộc duyệt binh mới trong thành phố, và, đối với những cô gái may mắn như tôi, không bị bố mẹ kìm giữ bằng vòng mũi để vực ngựa, thì là chờ đợi buổi vũ hội tiếp theo tại Country Club hoặc tại phòng ăn của doanh trại Sheridan. Bố đã hết sức cố gắng giam lỏng tôi trong nhà chừng nào các đội quân vẫn lưu lại trong thành phố. Ông, vị viên chức nhà nước xanh rớt và rụt rè, vị luật gia khắc khổ tối nào cũng ngủ cùng lúc với mặt trời, dĩ nhiên là ông chỉ nhìn ra trong đám lính hung hãn vô kỷ luật một lũ thô lậu đồi bại đầy ám muội, những tên tội phạm cưỡng dâm và sát nhân. Minnie - cảm ơn mẹ - đã cho phép tôi tới Country Club, chứ không phải bất kỳ một vũ hội nào khác, một khán phòng nào khác, cho phép đi tới nửa đêm. Bà thức đợi tôi về mới đi ngủ, lúc đó đã quá mười hai giờ đêm từ lâu. Trung úy Fitzgerald hai mươi mốt tuổi và đã bộc lộ nhiều tài năng. Anh khiêu vũ rất tuyệt tất cả các điệu thịnh hành, dạy tôi nhảy turkey trot, maxie và aeroplane; anh viết những truyện ngắn trong nay mai sẽ được đăng báo, anh chắc chắn về điều ấy; anh sạch sẽ và lịch lãm, anh biết tiếng Pháp - chính nhờ thạo tiếng Pháp mà anh được đào tạo thành trung úy lục quân sau khi tốt nghiệp Princeton, những người nói tiếng Pháp đều được hưởng quyền ưu đãi đẩy họ lên tới hàng sĩ quan - và nhất là anh lại sạch sẽ và chải chuốt, cách ăn vận của anh đỏm dáng chẳng khác nào một dandy*. Bộ quân phục của anh được cắt may tại tiệm anh em nhà Brooks ở New York. Đi cùng chiếc quần cưỡi ngựa màu xanh lá mạ của anh, thay vì đôi ghệt bằng vải như thường thấy là đôi giày ống cao, màu vàng rơm, với những chiếc đinh thúc ngựa đem lại cho anh một dáng vẻ không thực lắm của một người hùng trên báo ảnh. • Dandy là từ dùng để chỉ những người đặc biệt kỹ tính và có gu trong ăn mặc. (Các chú thích nếu không có lưu ý gì thêm đều là của người dịch) Anh thấp bé, đúng vậy, nhưng khiếm khuyết thiếu vài centimet này được bù lại bằng một thân hình cân đối được tôn bật nhờ chiếc áo vest ôm sát người của bộ quân phục, bằng một vầng trán cao và một cái-gì-tôi-không-rõ (lòng tự tin vì đang là một ai đó, sự chắc chắn vào bản thân, ý thức rằng một định mệnh vô song đang chờ đợi), bằng một dáng vẻ phi thường, cái thực ra đã nâng anh cao thêm một cái đầu. Lũ đàn bà sửng sốt và lũ đàn ông cũng vậy. Một ngày nào đó tôi sẽ phải suy ngẫm về cái sự kỳ quái này: không một ai trong số các đồng đội ganh ghét với anh hay tức tối. Không hề, như thể những gã đàn ông khác đều chấp nhận sức lôi cuốn của anh và cổ vũ cho điều đó... Càng làm tôi bối rối bao nhiêu anh càng trêu ngươi tôi bấy nhiêu! Đoạn tuyệt với những giấc mơ của mi đi. Ngay lập tức. Mời các bạn đón đọc Alabama Song (Tiếng Việt) của tác giả Gilles Leroy.
Săn Và Bẫy Thú
Từ trước đến nay những câu chuyện về săn thú, bẫy thú thường rất hấp dẫn. Từ chuyện đi dụ voi rừng, đánh hổ bằng đòn xóc tới chuyện đào hang con trút, rồi ngay cả việc bẫy chim, thổi ống xì đồn bắn cá tràu bông đều có những lý thú riêng biệt. Tập này gồm 6 truyện: săn rái cá, săn khỉ, săn gấu, săn chồn vàng, săn lợn rừng …. Ở mỗi truyện đều có những nét hấp dẫn và phong phú. Là người đi săn, ai cũng mong bắt, bắn được thú, nhưng có khi săn hụt vẫn đem lại niềm vui cho con người. Các con thú đều có cái tinh khôn riêng, nhưng dù to như gấu, hung dữ như hổ, tất thảy đều thua trí thông minh con người. Các bạn sẽ tìm thấy ở đây một số kiến thức bổ ích về thú vật, về săn bắn và bẫy thú. *** Trưa ấy, trên đường trở về cơ quan, Thiện và Đối, anh bạn tí hon rất xông xáo ấy, nghỉ chân ở một bìa rừng ăn nốt phần cơm nắm còn lại. Thiện ăn xong trước. Anh tìm lối đi xuống bờ suối lấy nước lên nấu uống. Uống với nụ vối rừng chín tươi mới hái vàng như hoa ngâu thì rất ngọt cổ. Vốn là tay quen nghề săn bắn nên bước đi của anh đã thành thói quen, bước thật nhẹ nhàng. “Hắn đi như mèo đi”, anh em thường bảo đùa vậy. Chưa đến bờ suối, bỗng anh nghe rõ ở dưới kia có những tiếng lõm bõm lạ tai, giống như có con vật gì đang ăn chùm quả chín làm rơi rụng đôi trái xuống mặt nước suối. Thiện càng bước khẽ, không đặt chân vào lá khô, một tay nắm khéo chiếc cà – mèn không cho nó chạm vẹt vào cành cây hay tảng đá, cũng không cho phần quai sắt đu đưa lắc lư qua về trên miệng cà – mèn. Đã ở trong quân đội qua ba năm chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên, lại thêm chuyên nghề săn bắn, anh có nhiều kinh nghiệm trong lối phục kích giặc – cũng như phục kích thú săn. Chỉ nghe qua tiếng động, anh phân biệt chính xác từng lối đi con thú ... Đó, đó là cả đoàn voi: bước đi ào ào như máy ủi cây, kiểu đi luôn hiên ngang, ỷ đến sức mạnh không chỉ riêng vào từng con mà chung cả bầy, vừa bước vừa ném vòi vít cành vít ngọn bẻ rắc những thân cây nào ngang tầm vòi với tới, và trước khi tống cả túm là vào miệng còn huơ vòi đập vào chân mình bên này bên kia mấy cái để phủi kiến, phủi sâu, y như kẻ nhổ mạ xong vội quay đập túm rễ vào chân mình cho văng bớt bùn, bớt đất. Đó là con hổ: đi dè dặt khoan thai để dễ bề trở quẻ, rất cảnh giác đề phòng, hai chân trước mỗi chân vững, khoẻ gấp đôi so với mỗi chân sau, nhưng phép đặt bước lại quá hiền, quá êm, không gây thành tiếng động, đang đi bình thường mặc dù chẳng gặp một lá non nào cản trở, cũng dừng lại “phè gió” một cái lấy oai rồi mới bước tiếp. Đó là con heo rừng, heo một: dám đi ăn giữa ban ngày ban mặt, đôi nanh như đôi kiếm ưỡn cong, bước đi lúm chúm, vừa đi vừa hất hất mặt như muốn sinh sự với tất cả, ỷ vào cái mũi rất thính của mình nên không cần dè dặt lắm, bước được mấy bước lại dừng lại hướng mặt lên cao nghe ngóng như điệu đi của những người mù, luôn với tư thế sẵn sàng xốc tới. Đó là con chồn đèn: con vật chuyên ăn đêm, sở dĩ phải đi ra ban ngày là vì vừa rồi chắc gặp phải con thú khác săn đuổi, bước đi rất đắn đo, vừa bước vừa ngửi đất đánh hơi, mũi thính có thể phân biệt được cách đây khoảng ba hôm, trên lối mòn này đã có chân con cọp hay con beo bước qua. Chồn đi thường không dám theo vết đường mòn mà chỉ xuyên rừng xuyên bụi, cứ gần đến một lối mòn cắt ngang trước mặt thì chuẩn bị thật cẩn thận chu đáo, giỏng đôi tai ngang song song với cái mặt đưa ra trước, nhìn qua nhìn về xong là phóng vút như ném con thoi ... Mời các bạn đón đọc Săn Và Bẫy Thú của tác giả Trần Thanh Địch.