Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chú Nhóc Gavroche - Victor Hugo

Sau cái chết của tướng Lamarque, người duy nhất trong giới lãnh đạo Pháp có cảm tình với giai cấp lao động, nhóm sinh viên đứng đầu là Enjolras tức giận với chế độ đã chuẩn bị cho một cuộc cách mạng vào đêm ngày mùng 5, rạng sáng mùng 6 tháng 6 năm 1832. Cuộc cách mạng cũng có sự tham gia của những người nghèo khổ, trong đó có cậu bé lang thang Gavroche (Ga-vơ-rốt). Một trong những người tham gia cách mạng là Marius Pontmercy, một sinh viên bị gia đình xa lánh vì quan điểm tự do của mình, anh đã đem lòng yêu Cosette, bây giờ đã trở thành một thiếu nữ hết sức xinh đẹp. Gia đình nhà Thénardier cũng đã chuyển tới Paris, trở thành những kẻ lang thang trộm cắp, sau khi thỏa thuận với Javert về việc giao nộp Vanjean cho hắn, bọn họ đã tìm cách đột nhập nhà của Valjean trong khi Marius đang đến thăm Cosette. Tuy nhiên con gái của Thénardier là Éponine cũng đã đem lòng yêu người sinh viên và cô đã thuyết phục bọn chúng rời khỏi đó. Ngày hôm sau cuộc cách mạng nổ ra, những sinh viên bắt đầu dựng chiến lũy trên những con phố hẹp ở Paris. Javert đã trà trộn vào hàng ngũ sinh viên nhưng bị Gavroche phát hiện và Enjolras (Ăng-giô-rát) đã bắt giữ hắn. Khi biết người yêu của Cosette cũng tham gia nổi dậy, Valjean đã gia nhập với họ, bởi vì ông muốn bảo vệ Marius. Ông đã xin Enjolras thả Javert. Éponine cũng đứng vào hàng ngũ khởi nghĩa để bảo vệ Marius và cô đã chết hạnh phúc trên tay Marius sau khi hứng một viên đạn thay anh. Trong trận chiến tiếp theo, Valjean cứu sống Javert khỏi tay những người sinh viên và để viên thanh tra đi. Ông cũng cứu được Marius khi đó đã bị thương, nhưng tất cả những người khác, kể cả Enjolras và Gavroche đều đã bị giết. Valjean vác theo Marius chạy trốn theo những đường cống ngầm ở Paris, khi ra đến miệng cống ông chạm trán Javert, ông cố gắng thuyết phục Javert cho mình thời gian để trả Marius về gia đình của anh. Javert đồng ý đề nghị của Jean và nhận ra rằng ông ta đang bị kẹt giữa niềm tin vào luật pháp và niềm tin vào lòng tốt của con người mà Valjean đã cho viên thanh tra thấy, Javert cũng hiểu rằng ông không bao giờ có thể nộp Valjean cho chính quyền được nữa. Không thể chịu đựng nổi tình trạng khó xử này, Javert nhảy xuống sông Seine tự vẫn. ... *** Trên một lối đi của vườn Luxembourg, một người đàn ông đã già cùng một cô thiếu nữ đang đi dạo như thường ngày. Người đàn ông tóc bạc trắng, trạc sáu mươi tuổi. ông có vẻ buồn và nghiêm nghị, người vạm vỡ và dáng mệt mỏi như các quân nhân về hưu. Trông ông có vẻ tốt bụng, nhưng khó gần. Jean Valjean - bởi vì đó chính là ông ta -mặc một chiếc quần màu xanh, một áo rơ-đanh-gốt cùng màu, đội một chiếc mũ rộng vành. Chiếc cà-vạt đen nổi bật trên chiếc áo sơ mi bằng vải toan thô màu trắng. Cô thiếu nữ đi cùng với ông chẳng phải ai khác chính là Cosette. Nàng có thái độ vừa già vừa trẻ con của các học sinh nội trú trong ký túc xá bà xơ. Hai người có vẻ như cha và con. Một chàng thanh niên tầm vóc trung bình, tóc đen dày, trán cao thông minh, vẻ hăng say và hơi kiêu kỳ, cũng có thói quen đi dạo trên lối đi ấy. Chàng tên là Marius de Pontmercy. Lúc nào chàng cũng thấy họ ở đấy. Trong hai ba ngày liền, Marius để ý tìm hiểu người đàn ông có tuổi nhưng chưa phải là một ông già và cô thiếu nữ chưa có vẻ một cô gái trưởng thành ấy. Jean Valjean và Cosette làm như không nhìn thấy chàng, họ trò chuyện với nhau với vẻ bình thản và lãnh đạm. Cô gái thì vui vẻ ríu rít không ngừng. Người đàn ông thì ít nói, thỉnh thoảng lại nhìn cô gái với đôi mắt chứa chan tình phụ tử khó nói nên lời. Ngạc nhiên vì bộ tóc trắng của người đàn ông, Marius đặt tên cho ông ta là Leblanc, tên này hợp quá đến nỗi mặc dầu không ai biết họ, người ta đều nói: - A! ông Leblanc đã đến ghế mình ngồi rồi kìa! Suốt trong một năm đầu tiên ngày nào Marius cũng trông thấy họ như vậy vào cùng một giờ ấy. Chàng thấy người đàn ông thì còn được chứ cô gái thì hơi có vẻ cau có..Sang năm thứ hai, ông ta không có thói quen đến vườn Luxembourg nữa. Marius chẳng hiểu tại sao. Cuối cùng một hôm ông ta trở lại. Đó là một sáng mùa hè trong trẻo, Marius vui lắm. Chàng đi thẳng tới lối đi của mình và nhìn thấy hai người quen biết vẫn ngồi trên chiếc ghế ấy. Khi lại gần, chàng nhận ra vẫn là người đàn ông cũ nhưng cô gái thì hình như không phải. Lúc này chàng nhìn thấy là một cô gái đẹp, cao ráo, có bộ tóc tuyệt vời với đôi má ửng hồng và cái miệng thanh tú thoát ra một tiếng cườn giòn giã. Một bức chân dung thực sự của Raphael. Khi Marius đi qua bên cô, chàng trông thấy hai hàng mi dài buông trên đôi mắt nhìn xuống. ông Leblanc để ý thủ đoạn của chàng trai trẻ và có vẻ khá tức giận. ông muốn bảo vệ Cosette... Marius quyết định đi theo họ. Hai người ở phố Phía Tây, trong một ngôi nhà mới ba tầng, bên ngoài trông nhũn nhặn. Vừa thấy họ khuất sau chiếc cổng xe, Marius bèn đi vào hỏi người gác cổng: - Thưa, có phải ông ở tầng một vừa mới đi vào không ạ? - Không. - Người gác cổng trả lời. - Đó là ông ở tầng ba. Marius tiếp tục hỏi: - ông ấy là người thế nào ấy nhỉ? - Sống bằng lợi tức. Một con người tốt lắm, chuyên làm việc thiện cho kẻ nghèo tuy chẳng giàu có gì. Marius ra đi lòng phơi phới. Ngày hôm sau ông Leblanc và con gái chỉ xuất hiện ở vườn Luxembourg có một lát. Họ ra về lúc trời còn sáng trưng. Marius đi theo họ về phố Phía Tây như mọi khi. Tới cổng xe, ông Leblanc để con gái đi trước, rồi dừng lại trước khi bước qua ngưỡng cửa, quay lại nhìn Marius chằm chằm. Ngày hôm sau, họ không đến vườn Luxem-bourg nữa. Suốt ngày Marius chờ đợi vô ích. Đêm xuống, chàng tới phố Phía Tây và nhìn thấy ánh đèn trên cửa sổ tầng ba. Chàng dạo chơi dưới mấy cửa sổ đó cho tới lúc ánh đèn tắt. Hôm sau nữa, không thấy họ đến vườn Lux-embourg, Marius chờ suốt ngày, đêm thì lại làm.nhiệm vụ canh gác dưới mấy cái cửa sổ cho đến mười giờ. Suốt tám ngày như thế. ông Leblanc và con gái không đến vườn Luxembourg nữa. Buổi tối các cửa sổ tầng ba cũng không còn sáng đèn và cũng không thấy ai đi vào trong nhà nữa. Ngày hôm sau, hai cha con không đến vườn Luxembourg, ở cửa sổ cũng không có ánh đèn. Rèm cửa sổ khép kín và tầng ba tối om. Marius gõ vào cổng xe, chàng vào hỏi người gác cổng: - ông ở tầng ba đâu rồi hả ông? - Dọn nhà đi rồi. - Người gác cổng trả lời. - Thế bây giờ ông ta ở đâu ạ? - Tôi có biết gì đâu. - Thế ông ấy không để lại địa chỉ ạ? - Không. Thế là Marius mất dấu vết của người mà chàng yêu... Hè qua, thu lại, rồi mùa đông tới. Cả ông Leblanc lẫn cô thiếu nữ, không ai đặt chân đến vườn Luxembourg nữa. Marius chỉ có mỗi một ý nghĩ: nhìn lại khuôn mặt dịu hiền dễ thương ấy. Chàng tìm mãi, tìm khắp nơi, mà không thấy. Chàng không còn là Marius nữa, không còn là con người mơ mộng đam mê, quả quyết, hăng hái và kiên định, kẻ dũng cảm thách thức số mệnh nữa. Chàng sa vào nỗi buồn trầm uất. Thế là hết, chàng không muốn làm việc, đi dạo làm chàng mệt mỏi, nỗi cô đơn làm chàng chán ngán. Hình như mọi thứ đều đã biến mất hết. Marius vẫn ở căn nhà nát Gorbeau. Chàng chẳng chú ý đến một ai. Thực ra thì thời kỳ này trong căn nhà chẳng còn ai trừ chàng và gia đình Jondrette mà chàng đã một lần thanh toán hộ tiền nhà nhưng không hề nói chuyện với ông bố, bà mẹ và hai đứa con gái. Những người thuê nhà khác đều đã dọn đi, đã chết hoặc bị đuổi vì không trả tiền nhà. Một ngày mùa đông năm đó, đầu buổi chiều hơi có chút ánh nắng tuy nhiên mới là ngày mồng hai tháng hai. Marius chầm chậm thả bộ trên đại lộ về phía thanh chắn đường để tới phố Saint Jacques. Chàng vừa đi vừa cúi đầu nghĩ ngợi..Bỗng nhiên trong sương mù chàng cảm thấy có ai huých khuỷu tay vào mình. Ngoảnh lại chàng trông thấy hai cô ăn mặc rách rưới, một cô cao gầy, cô kia thấp hơn, chạy qua rất nhanh, thở hổn hển, hoảng hốt như chạy trốn. Hai cô chạy về phía chàng nhưng vì không trông thấy nên va vào chàng. Trong ánh hoàng hôn, Marius nhận ra hai bộ mặt nhợt nhạt, đầu tóc rối tung, mũ mãng thảm hại, sống váy tả tơi và hai đôi chân trần. Vừa chạy hai cô vừa trò chuyện với nhau. Qua những tiếng lóng độc địa Marius hiểu là cảnh sát thành phố đã bắt hụt hai người, chúng thoát được. Marius dừng lại một lát. Chàng đang định đi tiếp thì trông thấy ở dưới đất ngay dưới chân mình một gói nhỏ màu xám. Chàng cúi xuống nhặt lên. Đó là một chiếc phong bì bên trong đựng giấy tờ gì đó. - ái chà, - Chàng lẩm bẩm. - hai cô nàng khốn khổ đánh rơi cái này đây! Chàng quay lại gọi nhưng không thấy họ đâu nữa. Cho rằng họ đã đi xa, chàng bỏ chiếc phong bì vào túi, đi ăn tối. Chàng lại nghĩ tới sáu tháng yêu đương hạnh phúc đã qua giữa không gian và ánh sáng mênh mông dưới cây cối vườn Luxembourg. Buổi tối khi cởi áo đi ngủ, tay chàng sờ phải túi áo trong có cái gói nhặt được trên đại lộ. Chàng đã quên mất nó. Chàng nghĩ nên mở ra thì hơn bởi vì có thể trong gói có địa chỉ của các cô gái. Thực tế nếu nó thuộc về các cô thì ít nhất cũng có những thông tin cần thiết để hoàn trả cho người mất. Chàng mở phong bì ra. Phong bì không dán, trong có bốn lá thư, cũng không dán nốt. Trên có địa chỉ. Cả bốn lá thư đều xộc lên mùi thuốc lá nồng nặc. Bốn lá thư do cùng một người viết, gửi lời đề nghị cứu giúp tới một bà hầu tước, một bà bá tước, một nhà buôn và ông Làm Phúc ở Nhà thờ Saint - Jacques - du - Haut - Pas. Có điều lạ là bên dưới bốn lời nài nỉ được ký bốn tên khác nhau: Don Alvarès, Người đàn bà Balizard, Genflot và Fabantou..Hơn nữa không có gì tỏ ra những lá thư trên thuộc về hai cô gái mà Marius đã gặp ở đại lộ. Cuối cùng thì cũng chỉ là những giấy tờ vô giá trị. Marius cất lại những lá thư vào trong phong bì, vứt tất cả vào một xó rồi đi ngủ. Khoảng bảy giờ sáng hôm sau, chàng vừa dậy và ăn sáng xong, đang cố gắng ngồi vào làm việc thì có tiếng gõ cửa khe khẽ. - Mời vào. - Marius nói. Cửa mở ra. - Bà cần gì ạ, thưa bà Bougon? - Marius nói tiếp, mắt không rời sách vở và bản thảo trên bàn. Một giọng không phải của bà Bougon trả lời: - Xin lỗi, thưa ông... Marius quay ngay lại và thấy một cô gái. Một cô gái trẻ măng đứng giữa cánh cửa hé mở. ánh sáng ban ngày qua chiếc cửa sổ con của gian phòng áp mái chiếu vào đúng trước cửa ra vào, soi tỏ bộ mặt nhợt nhạt của cô ta. Một cô gái xanh xao, hốc hác, gầy còm, mặc mỗi một chiếc áo sơ mi với một chiếc váy mỏng che tấm thân hở hang run rẩy, lạnh giá. Marius đứng dậy, ngạc nhiên ngắm con người không khác gì cái bóng thoáng qua trong giấc mơ. Nhưng bộ mặt này không phải hoàn toàn xa lạ đối với chàng. Chàng như đã trông thấy ở đâu rồi. - Thưa cô, cô cần gì ạ? - Chàng hỏi. Cô gái trả lời với giọng lè nhè sinh ra từ cuộc sống khổ cực. - Có thư cho ông, ông Marius. Cô gọi tên chàng, vậy thì đúng cô có việc với chàng rồi, nhưng cô ta là ai? Sao lại biết tên chàng? Chẳng chờ được mời, cô ta bước vào. Cô bước vào với vẻ kiên quyết và nhìn toàn bộ gian phòng cùng cái giường chưa xếp dọn với một vẻ tự tin đến não lòng. Cô đi chân đất. Những lỗ thủng lớn trên váy cô để lộ ra đôi chân dài và đôi đầu gối còm cõi. Cô run lập cập. Quả thật, tay cô cầm một bức thư giơ ra cho Marius. Mở bức thư, Marius nhận thấy tảng xi dùng dán thư, rộng và to tướng vẫn còn ẩm. Bức thư không phải từ xa tới. Chàng đọc:.Tôi biết ông có lòng tốt với tôi, đã chi trả tiền nhà hộ cho tôi cách đây sáu tháng. Trời phù hộ cho ông, chàng trai trẻ. Cô con gái đầu lòng của tôi sẽ thưa với ông là hai ngày nay chúng tôi không còn lấy một mẩu bánh, mà vợ tôi lại ốm. Nếu lòng tôi không tuyệt vọng như thế này, tôi đâu dám hy vọng trái tim bao dung của ông sẽ thấu tình nhân đạo trước sự trình bày của tôi mà vui lòng độ trì cho tôi, hạ cố cho tôi chút ân huệ. Xin ông nhận ở đây lời chào trân trọng đối với tất cả những người làm việc thiện của toàn nhân loại. Jondrette Tái bút: Con gái tôi chờ lệnh ông, ông Marius kính mến. Mọi việc đột nhiên thế là sáng tỏ. Lá thư này đến từ chỗ bốn lá thư trước. Cùng chữ viết, cùng giọng văn, cùng một thứ chính tả, cùng một thứ giấy, cùng một mùi thuốc lá. Như vậy là năm bức thư, năm câu chuyện, năm tên, năm chữ ký mà chỉ một người ký: Jondrette, nếu như quả thật ông ta tên là Jon-drette. Đã khá lâu rồi, kể từ ngày Marius tới ở căn nhà nát này, chàng rất hiếm khi có dịp gặp người hàng xóm và nhìn rõ mặt ông ta. Có thể vài lần chàng chạm trán Jondrette ngoài hành lang hoặc trên cầu thang, nhưng đối với chàng đó chỉ là những chiếc bóng, chàng đâu có để ý, thế cho nên chiều tối qua ở đại lộ chàng gặp mà không nhận ra hai đứa con gái của Jondrette, bởi vì chính là chúng, vì thế cho nên khi cô gái này thoạt bước vào phòng chàng, mặc dù kinh tởm và thương hại, chàng đã lờ mờ nhận ra mình từng có lần gặp cô ta. Đến giờ thì chàng nhìn sự việc thật tỏ tường. Chàng hiểu ông láng giềng Jondrette trong nỗi tuyệt vọng đã làm ăn trên cơ sở khai thác tình thương ở những con người từ thiện. Hắn tìm kiếm các địa chỉ, dưới các tên giả hắn viết thư cho những người hắn cho là giàu có và có lòng thương người, những bức thư này hắn sai hai đứa con gái mang đi, có nghĩa là đưa con gái vào những việc liều lĩnh nguy hiểm: thì cha chúng liều mạng thí chúng mà lại. Hắn đã đánh bạc với số phận và đem hai con gái mình vào cuộc. Marius hiểu rằng rất có thể, cứ xem như tối qua.chúng trốn chạy hổn hển, hãi hùng và qua những tiếng lóng chàng nghe được, chúng còn làm những việc đen tối khác nữa, kết quả là từ tất cả những cái đó - trong cái xã hội của giống người mà chúng được tạo ra, chúng đã trở thành hai kẻ khốn cùng, trẻ con không phải trẻ con, thiếu nữ không phải thiếu nữ, đàn bà không phải đàn bà, một loại quỷ ô trọc nhưng lại rất đỗi ngây thơ, sản phẩm của nghèo khổ cơ cực. Nhưng mà, trong khi Marius nhìn cô gái một cái nhìn vừa kinh ngạc vừa thống khổ, thì cô gái vẫn cứ đi lại trong căn phòng áp mái với vẻ mạnh dạn của bóng ma. Marius suy nghĩ và để cho cô gái làm gì thì làm. Cô đến gần bàn: - A! - Cô nói. - Sách! Một tia sáng lướt qua con mắt lờ đờ của cô. Cô tiếp tục nói, giọng biểu thị niềm hạnh phúc được khoe khoang một điều mà khi nghe thấy, không ai đã là con người lại có thể vô cảm. - Em biết đọc đấy nhé! Em ấy! Cả biết viết nữa! Cô nhúng bút vào mực và quay về phía Marius: - ông muốn xem không? Lại đây mà xem, em viết một chữ cho coi. Và trước khi chàng kịp trả lời, cô viết luôn lên một trang giấy trắng để ở giữa bàn: Bọn cớm đấy. Rồi vứt bút: - Không có lỗi chính tả đâu nhé. ông coi mà xem. Em và em gái em cũng đã được học hành đấy chứ, không phải lúc nào cũng như bây giờ đâu. Cô đến bên Marius và đặt một bàn tay lên vai chàng. - ông không để ý đến em chứ em thì em biết ông, ông Marius ạ. Em gặp ông ở cầu thang, rồi em thấy ông vào nhà cái ông gọi là bố Mabeuf ở phía Austerlitz ấy, thỉnh thoảng em đi chơi phía ấy mà. Tóc ông bù lên như thế này nom hay quá nhỉ. Giọng cô dịu dàng hẳn đi chỉ còn nghe khe khẽ. Marius hơi lùi lại..- Thưa cô, - Giọng chàng trang trọng và lạnh lẽo. - tôi nhặt được cái gói này có lẽ của cô. Xin cho tôi hoàn lại cô. Và chàng đưa ra chiếc phong bì trong có bốn bức thư. Cô gái vỗ hai tay vào nhau, reo lên: - Chúng em tìm khắp nơi. Rồi cô ta cầm ngay lấy gói thư, mở ra. - Trời ơi là trời! Thế mà hai chị em em cứ tìm mãi. Té ra ông tìm thấy ư? Trên đại lộ, đúng không nào? Con em cận thị của em chẳng được việc gì. Về đến nhà không thấy đâu nữa. Để khỏi phải đánh, chẳng được ích gì, chúng em bảo là đã đưa thư đến những người đó nhưng họ không cho gì. Tuy nhiên cô giở lá thư thỉnh cầu gửi đến "ạng làm phúc ở Nhà thờ Saint - Jacques - du - Haut - Pas" ra. - Đây này! Thư này là cho ông già vẫn đi lễ này. à, nhưng mà về việc này thì đến giờ rồi. Em mang thư đi đây. Có thể ông ta sẽ cho chút gì mà ăn. Thế là Marius nhớ lại mục đích cô gái khốn khổ đến tìm chàng. Chàng tìm trong túi áo ghi-lê, chẳng thấy gì cả. Lục sâu mãi hết túi nọ đến túi kia, cuối cùng Marius tìm được năm frăng mười sáu xu. Đó là tất cả những gì mà lúc này chàng có trên đời. Chàng giữ lại mười sáu xu, đưa năm frăng cho cô gái. Cô gái cầm lấy đồng năm frăng. - Tốt rồi! - Cô nói. - Thế là có nắng rồi! Cô xốc áo sơ mi lên hai vai, cung kính chào Marius, rồi thân mật vẫy tay, vừa đi ra cửa vừa nói: - Chào ông nhé. Dù sao cũng có chút gì. Em đi tìm ông già đây. Này ông Marius, ông biết không, em vẫn thấy ông đi theo ông già ấy với cô con gái ông ta ở vườn Luxembourg thời gian gần đây... Marius giật nẩy mình: - Em biết họ ư? Em có biết họ ở đâu không? Bảo tôi với nào! Muốn gì em cũng có..- Đấy nhé, em biết ông quá rõ nhé! - Cô đáp. - Còn địa chỉ họ ấy à, để em xem... Khi đi ngang qua tủ com-mốt, cô thấy một mẩu bánh mì đã khô, phát mốc lên trong bụi, cô bèn chớp lấy, rồi đi ra. ... Mời các bạn đón đọc Chú Nhóc Gavroche của tác giả Victor Hugo.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tổ Ấm Gia Đình
Những kỷ niệm thời thơ ấu không như những kỷ niệm thời đã đứng tuổi, chúng không được sắp xếp trong khung cảnh thời gian. Đó chỉ là những hình ảnh rời rạc, bị sao lãng mọi bề và những nhân vật đại diện cho chúng ta lại rất khác biệt với bản thân chúng ta đến nỗi có rất nhiều hình ảnh như xa lạ hẳn với chúng ta. Nhưng những hình ảnh khác để lại trong tính tình chúng ta những dấu vết khó mà phai nhòa đến mức ngày nay, do những hậu quả mạnh mẽ của chúng, ta nhận ra đó là những thực tế đã qua. Tựa như khi nghiên cứu lịch sử một xứ sở, chúng ta không thể cảm thông thế nào là kiếp sống nô lệ của người nông dân đứng giữa tầng lớp Giáo hội và quý tộc, mà chỉ hình dung ra kiếp ấy qua quan sát ở trong làng xóm chúng ta những nỗi hận thù không sao giải thích nổi còn rơi rớt lại. Vậy nên trong tình cảm chúng ta hiện nay những nỗi chán chường điên cuồng cùng những sở thích đáng lên án mà chúng ta nhận ra những dư ba yếu ớt của sự rung chuyền từ ba mươi năm trước đã từng xáo động những nhóm tế bào mà nay chúng ta là những người nối dõi. Ký niệm xa xưa nhất của Đơnidơ Herpanh là kỷ niệm về một ngày trên bờ biển. Lâu nay, hè nào bà Herpanh cũng thuê một biệt thự ở Bơdơvan bên bờ biển Noocmăngởđi. “Tôi thuê trước hết là cho lũ trẻ”, bà nói. Ngôi nhà mang tên “biệt thự Côlibri”. Hai mươi năm rồi mà Đơnidơ vẫn hình dung lại được cái mái ngói có đường diễu bằng gỗ cắt theo hình những trái tìm cùng các đường xoắn trang trí, những thanh dầm gỗ xiên xiên hay thắng đứng giữa những hàng gạch, hàng hiên có cửa kính, cánh cửa ra vườn mỗi khi mở làm rung cái chuông nhỏ và các bồn sắt to trên cửa số với những cây phong lữ thảo sống lay lắt, ở đó bốc lên mùi đất và mùi lá ủng. Đơnidơ mặc tắm áo may ô đỏ đang đứng chống xẻng bên lũy một cái pháo đài em vừa đào đắp. Em nhìn ra biển. Những mảng bóng đen to lớn, gió cuốn chạy lô xô trên mặt nước xanh khi đỗ đến gần bờ lại trở thành màu cát. Nước triều đã rạc. Phía trước pháo đài trải dài một dải những hòn cuội nhỏ và mảnh sò vỏ ốc vụn, đi đất có thể bị đứt chân. Xa hơn nữa là những cồn cát mịn màng và chắc với những dòng sông uốn khúc quanh co trông đẹp mắt. Dưới đáy những ngòi ấy, cát đóng chắc thành hình sóng lượn. Đơnidơ bỗng thèm được cảm thấy độ bền của lớp cát ấy đưới chân mình, em buông xẻng, chạy về phía các vũng nước. Có tiếng quát: “Đơnidơ...”. Em dừng phắt ngay lại và chậm chạp quay về. Nơtx Kêrinhtơn, cô có những bực dọc trong lòng. Có trời biết tại sao cô lại làm cho cái gia đình Herpanh này, vốn chỉ là dân tiểu tư sản tỉnh lẻ, thậm chí xe riêng cũng chẳng có. Trước đó, cô đã từng dạy dỗ con cái của bá tước Thiănggiơ có cả một tòa lâu đài và con cái gia đình Oetbergiê mỗi năm đến ở Biaritz hàng bốn tháng trời. Nơtx Kêrinhtơn là con gái một người buôn bán tạp hóa ở Phânkớtxtơn. Cô có tham vọng trở về nước Anh khi tuổi chừng năm mươi để mở một ngôi nhà trọ, khách vừa ăn vừa ở. Ở Pháp, cô mong muốn được sống lẫn với các gia đình giầu có hay quyền quý. Trên cái bãi biển còn quê kệch vào những năm 1900 này, cô không thấy có những nữ gia sư người Anh nào khác. Buộc lòng phải ngồi với các chị vú sữa, cô đồ trách nhiệm cho cả vũ trụ về sự sa sút này. Phòng riêng của bọn trẻ bé quá. Nhà chỉ có một buồng tắm. Tính nết Đơnidơ quá tệ không chịu cho hai em là Lôlôtơ' và Bêbê mượn đồ chơi. Yow are a very naughty lile girl...I']I telÏ your mother about you...” Nơtx nói: Đơniđơ hờn dỗi ngồi tách ra một chỗ. Cái xẻng của em tên là Olali, nó cũng là người hẳn hoi thì cho Lôlôttơ mượn làm sao được cơ chứ! Mỗi đồ chơi đều có một cái tên bí mật cắm được nói ra. Cái gối tên là Sêbatchiêng, cái xô đựng nước là ông Ghibôren, như ông cụ làm vườn ở Pông đờ Lorơ vẫn thường đem đến hàng trăm chậu nhỏ đề trồng thu hải đường và hương nhật quỳ. Ngồi bên miệng hố em đã đào làm nơi ấn nấp, em vục đầy tay cát mịn và ấm cho chảy lọt qua kẽ các ngón tay, một viên sỏi hay mảnh vỏ ốc lẫn trong cát mắc lại ở kẽ các ngón tay sít nhau. Nước triều lên. Đơnidơ ngắm nhìn những làn sóng nhỏ từ xa dồn đến tung bọt trắng xóa trải dài trên cát, sóng rút, sau khi được tắm thứ nước ấy, cát trơ ra, bóng loáng như hải cầu. Ở bên trái, về phía Đivơ và Cabua những chiếc thuyền nhỏ đang đánh cá trên mặt biển sáng long lanh. Đơnidơ nghĩ giá được đi trên những con thuyền ấy hẳn là thích lắm và “người lớn thực là bất công và độc ác”. *** André Maurois (1885 - 1967) là nhà văn lớn Pháp, tên thật là Emile Herzog. Viện sĩ trong Viện Hàn lâm Pháp. Ông xuất thân trong một gia đình công nghiệp ở Alsaca. Khi còn ở ghế nhà trường ông là một cao đệ của giáo sư kiêm triết gia Alaine (1868 - 1951), tốt nghiệp Đại học, ông làm giáo sư triết học. Một thời gian sau ông từ chức về quản lí nhà máy dệt của gia đình và bắt đầu viết từ đó. Trong thế chiến thứ nhất (1914 - 1918) , ông làm thông dịch viên trong quân đội Hoàng gia Anh, chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), ông sống ở Anh quốc và Hoa Kỳ. André Maurois chuyên về tiểu thuyết, luận văn, sử, phê bình, khảo luận, tùy bút... Với hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại mà có người cho "toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt" đã được các thế hệ trẻ ngưỡng mộ, tin cậy và xem ông như bậc thầy. Hồi André Maurois mất, cuối năm 1967, thọ 82 tuổi, một bạn đồng viện của ông khen ông đại ý như sau : "André Maurois phân biệt ba hạng tác phẩm : trác tuyệt, lớn và hữu ích. Không một tác phẩm nào của ông vào hàng trác tuyệt nhưng toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt". Ông nổi tiếng là nhà luân lí có khuynh hướng tình cảm, lãnh nhiệm vụ hướng dẫn thanh niên trong thời đại nhiều biến chuyển nhất của Pháp (từ Thế chiến thứ nhất tới nay), và ông đã được ba thế hệ trẻ tin cậy, coi như bậc thầy. Sự nghiệp trác tuyệt của ông ở đó. "Người đàn bà không quen biết" mà ông tưởng tượng là một thiếu phụ khoảng ba mươi, đẹp, thông minh, có óc phán đoán, suy xét, thực ra tượng trưng tất cả những phụ nữ thắc mắc về đời sống. Liên tiếp trong sáu chục tuần, ông viết cho họ mỗi tuần một bức thư từ hai tới bốn trang. Trong sáu chục bức thư đó, ông giải đáp tất cả những câu họ có thể hỏi ông về những nỗi vui, buồn và ưu tư của họ, về ái tình, hôn nhân, hạnh phúc, nghề nghiệp, về tâm lí đàn ông, tâm lí đàn bà, về y phục, nhan sắc, cách lấy lòng người, cách xử trí khi chồng có ngoại tình, về quyền lợi và bổn phận của đàn bà, như dạy con, chiều chuộng v.v... Ông lại chỉ cho họ cách bồi dưỡng tinh thần và trí tuệ : đọc sách ra sao, tiêu khiển ra sao. Đôi khi ông cao hứng, nhân một lúc vui hay một lúc bực mình, giới thiệu một tác phẩm, một khúc nhạc, một cảnh đẹp hoặc mạt sát bọn giết thì giờ của ông, mỉa mai bọn làm áp phe, suốt đời chỉ lo kiếm tiền... Tóm lại, ông gặp chuyện gì nói chuyện đó, không sắp đặt trước, lan man y như trong một cuộc đàm thoại. Triết lý của ông là một triết lý lạc quan, khoan hoà, thực tế mà chân chính. Giọng của ông nghiêm trang, thanh nhã mà thân mật, dí dỏm không ra vẻ dạy đời. Ông già tâm lí, giàu kinh nghiệm ; đọc ông ta thấy thích hơn là đọc tác phẩm khô khan của các triết gia, thích hơn cả là những trang tuy sâu sắc, nhưng cô đọng gần như châm ngôn của Alain, sư phụ của ông nữa. Vì ông gần chúng ta hơn.   Mời các bạn đón đọc Tổ Ấm Gia Đình của tác giả André Maurois & Vương Hữu Khôi (dịch).
Bụi Sao
Đến tuổi cập kê, Tristran Thorn đem lòng si mê một thiếu nữ xinh đẹp trong ngôi làng Bức Tường nơi anh lớn lên. Vì lời hứa sẽ cùng cô sánh vai trong thánh đường, chàng trai trẻ khăn gói lên đường tiến vào Xứ Tiên để tìm một ngôi sao băng từ trên trời rơi xuống. Chuyến phiêu lưu ở xứ sở kỳ lạ, rùng rợn mà đầy nhiệm màu đã xoay chuyển con người và thế giới quan của Tristran theo những cách anh chưa từng ngờ đến, biến anh thành một người hùng chân chính trong câu chuyện của mình. Cổ quái và nhân văn, đen tối và giàu cảm xúc, Bụi sao đem đến vô khối những câu chuyện chưa kể đằng sau cuộc hành trình tầm mộng của một vị anh hùng trẻ tuổi, cốt để chứng tỏ rằng chuyện thần tiên thực chất cũng dành cho người lớn. *** Richard Neil Gaiman (sinh ngày 10 tháng Mười Một, năm 1960) là một tác giả gốc Anh chuyên viết thể loại khoa học giả tưởng, huyền ảo, truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện tranh, và kịch bản điện ảnh. Tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm loạt truyện tranh Sandman, Stardust (Bụi Sao), và American Gods (Các Thần Hoa Kỳ). Gaiman đoạt giải 2009 Newbery cho Graveyard Book. Một số người nhiệt tình đã gọi ông là một "ngôi sao nhạc rock" của văn học thế giới. Ông hiện đang ngụ cư gần thành phố Minneapolis, bang Minnesota, Hoa Kỳ, trong một ngôi nhà kiểu "gia đình Addams". Ông có một gia đình hạnh phúc với cô Mary T. McGrath và có ba người con: Michael, Holly và Madeleine. Tác phẩm: Coraline - Neil Gaiman Câu Chuyện Nghĩa Địa - Neil Gaiman Truy Mộng - Neil Gaiman & Yoshitaka Amano Đại Dương cuối Đường Làng Thần Thoại Bắc Âu Còn Sữa Là Còn Hy Vọng Bụi Sao Người Đẹp Ngủ Và Con Thoi Ma Thuật ... *** Có vô số những đứa trẻ mà trong tuổi thơ của chúng luôn đầy ắp hình ảnh những chú lính chì, nàng bạch tuyết, cô bé bán diêm và nàng tiên cá… Từ lâu rồi, tập truyện của Andersen và truyện cổ Grim được công chúng, kể cả trẻ con và người lớn, đón nhận nồng nhiệt. Dần dần, khi người ta đã khai thác hết màu nhiệm của cổ tích, họ chuyển sang một phiên bản khác lạ lẫm hơn, mới hơn và kén độc giả hơn. Đó là những câu chuyện cổ tích được viết dưới quan điểm cá nhân. Trong số đó, nổi bật nhất chính là những bộ truyện thần kỳ, những bộ phim giả tưởng được tái hiện với quan điểm của người trưởng thành chứ không còn đứng từ góc quay của một đứa trẻ. Trong Bụi sao, Gaiman đã vận dụng tối ưu trí tưởng tượng của mình để tạo ra một câu chuyện cũng từ góc nhìn của người lớn nhưng giàu cảm xúc và đặc biệt hơn. VỀ TÁC GIẢ Những câu chuyện cổ tích có khi còn hơn cả sự thật. Không chỉ vì nó nói cho chúng ta biết loài rồng có tồn tại mà còn bởi chính những con rồng đó cũng có thể bại trận. (Fairy tales are more than true: not because they tell us that dragons exist, but because they tell us that dragons can be beaten.) Neil Gaiman, tên thật là Neil Richard Gaiman, sinh ra tại Porchester, Anh vào năm 1960 nhưng hiện đang sống ở Mỹ. Ông là một tác giả đa tài, được mệnh danh là “ngôi sao nhạc rock” của văn học thiếu nhi thế giới và là tác giả ăn khách của các tác phẩm truyện ngắn, truyện tranh và tiểu thuyết giả tưởng. Sách của Gaiman đã được dịch ra hai mươi tám thứ tiếng và mang về cho ông nhiều giải thưởng văn học danh giá. Ông là nhà văn đầu tiên giành được đồng thời cả huân chương Newbery và Carneige cho cùng một tác phẩm. Người đọc thường thấy Neil Gaiman mang một phong cách rất đặc trưng. Đó là những màu nhiệm, kỳ diệu, niềm vui và cả sự nghiêm túc trong Bụi sao, cuốn sách sắp được nói tới đây, nói riêng và các tác phẩm văn học khác nói chung. Ông chia sẻ:  Những ý tưởng đến từ sự tuyệt vọng, ngay khi ông bị hạn chót thúc giục. Những ý tưởng cứ đến bất ngờ khi ông đang làm điều gì đó khác.  Có lẽ Bụi sao cũng được viết ra như vậy.   BỤI SAO Bụi sao được xuất bản lần đầu vào năm 1999. So với những tác phẩm trước đó và cho đến nay, Bụi sao luôn được coi là cuốn tiểu thuyết giả tưởng mang màu sắc khác biệt nhất trong suốt sự nghiệp văn học của Gaiman. Có lẽ bạn đọc từng nghe một Coraline thơ mộng, bí ẩn và ám ảnh; một Đại dương cuối đường làng thuần túy là những suy diễn và dự đoán; một thế giới nguyên sơ và nguyên bản hơn với các vị thần Bắc Âu, cùng Odin, Thor và Loki, cây tần bì Yggdrasil nối liền cửu giới, những người khổng lồ, những người lùn trong Thần thoại Bắc Âu. Cả ba đều khác nhau, nhưng cả ba đều là Neil Gaiman. Tất nhiên, đến cả Bụi sao, cùng là thể loại giả tưởng nhưng vẫn mang một phong cách khác không nhàm chán và cũng không thể bị nhầm lẫn với những nhà văn khác. Chưa bao giờ ranh giới cổ tích và thực tại mong manh đến vậy. Sự kỳ quặc và đen tối của Xứ Tiên chỉ cách con người một bức tường thành. Cổ quái và nhân văn, đen tối và giàu cảm xúc, Bụi sao ẩn chứa những câu chuyện lạ lùng đằng sau hành trình của người hùng trẻ tuổi để rồi chứng minh điều đã nói trên, rằng cổ tích còn thật hơn cả những gì chúng ta cảm nhận.    VŨ KHÍ CỦA NHÀ VĂN Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có “chất liệu” làm từ “ngôn từ”. Với khả năng gợi những hình tượng nghệ thuật, đưa ta thâm nhập vào thế giới của cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng mà ngôn ngữ thông thường ít khi đạt được. Ngôn từ trong văn chương giúp cho tác phẩm bộc lộ những bản chất sâu kín của đời sống. Cứ đi đi, và bắt lấy một vì sao băng, Làm cho một rễ cây khoai ma có bầu, Nói tôi nghe đâu là nơi cư ngụ của hết thảy những năm quá khứ, Hay ai là người đã chẻ bàn chân quỷ, Hãy dạy tôi biết nghe tiếng hát nàng tiên cá, Hoặc dạy tôi biết tránh xa cú chích của lòng ghen tị, Và tìm ra Cơn gió nào Lay chuyển được một tâm hồn trung thực. Trong Bụi sao, ta có thể tìm được hàng tá những câu văn tưởng chừng chẳng hề mang bất kỳ ý nghĩa đặc biệt nào, hoặc hơn nữa, chúng dường như vô nghĩa.  Nữ hoàng Victoria đang ngự trên ngai vàng nước Anh, nhưng Người vẫn chưa trở thành góa phụ áo đen của Windsor. Ngài Charles Dickens đang trích đăng từng kỳ tiểu thuyết của Oliver Twist. Bông hoa tuyết điểm ngân rung trong lòng bàn tay anh. Nhưng cách mà Neil Gaiman viết một cuốn sách thật sự khiến bạn đọc bất ngờ. Ở chương trước đây thôi, lời ra tiếng vào của cư dân Bức Tường có vẻ thừa thãi, cái vỗ vai của người cha dành cho đứa con trai muốn lên đường ra khỏi những hạn định mà cậu phải tuân theo từ khi còn nhỏ chỉ đơn giản là một lời khích lệ động viên. Về sau, những chi tiết vụn vặt ấy hiện lại trong suy nghĩ của người đọc một cách bất ngờ, thình lình vụt qua trí óc rồi biến mất. Bằng một cách thần kỳ, người ta tìm ra được chân tướng của sự thật mà tác giả chẳng cần nói trực tiếp. Như đã hiểu nhau từ lâu, độc giả và nhà văn đi qua tất cả chi tiết trong truyện một cách dễ dàng. Phong cách viết của Neil Gaiman kỳ thực rất đơn giản. Càng đi sâu càng thấm thía. Nó khiến cho người ta cảm giác như được biến thành đứa trẻ trốn trong tủ quần áo và đột nhiên lạc đến một thế giới thần tiên xa lạ.    SỰ GIAO THOA CỦA THẾ GIỚI CỔ TÍCH Thế giới thần tiên mà Neil Gaiman hiện ra thật quá đỗi mơ mộng và đẹp đẽ. Cuộc hành trình của Tristran đầy rẫy bao nhiêu khó khăn nguy hiểm nhưng cũng không kém phần lãng mạn.  Anh bước thêm bước nữa, nhưng anh vẫn đang ở giữa thung lũng hẹp. Dương xỉ cao, cây du và mao địa hoàng mọc khắp thung lũng, và vầng trăng đang treo giữa trời. Anh giơ cây nến lên cao, tìm kiếm một ngôi sao băng, có lẽ là một tảng đá hay một viên ngọc quý, nhưng anh chẳng thấy gì hết. Cốt truyện bắt đầu từ ngôi làng Bức Tường, nơi giáp ranh với thế giới phép thuật, nơi chàng trai trẻ Tristran bắt đầu hành trình đi tìm ngôi sao thất lạc để đổi lấy một nụ hôn của Victoria. Vì lời hứa ngây thơ, anh bí mật thâm nhập vào thế giới của nàng tiên và các pháp sư. Ai biết rằng ngôi sao không phải là đá cuội mà là một thiếu nữ và liều thuốc của sự xinh đẹp, bất tử.  Mạch truyện bất ngờ xoắn nút khiến cho độc giả bị cuốn vào bên trong thế giới cổ tích thần kỳ. Ngoài những hoàng tử tranh giành ngôi vương, người đọc còn thấy những nàng tiên, kỳ lân, sư tử; có những hồn ma, người khổng lồ, phù thủy và cả cướp biển. Từng lớp nhân vật được chồng lên nhau. Nhưng đằng sau sự giao thoa màu nhiệm ấy cũng ẩn chứa đầy những câu chuyện châm biếm con người trong thực tại. Ngôi vương để trống vì ông vua đã chết trong sự vô tâm và âm mưu của bảy người con trai. Những nàng tiên đã không còn thơ mộng mà ném những tiếng cười cợt vào đam mê của người khác. Sư Tử đập Kỳ Lân vòng quanh thị trấn. Y đập một lần Y đập hai lần Dốc hết sức lực Y đập ba lần cho chắc Sư Tử giữ vững quyền năng của mình   NHỮNG VỊ KHÁCH ĐẶC BIỆT CỦA NEIL GAIMAN Chúng ta có Tristran, chàng thiếu niên lang thang với đôi mắt mơ hồ. Anh đắm chìm trong cơn say mê tuổi trẻ và giữ cho mình một lời hứa ngây thơ với cô gái được nhiều chàng trai để ý nhất trong làng.  Victoria, tình yêu của Tristran Thorn. Người đã trao cho anh một lời hứa về tình yêu tuổi trẻ và là nguyên nhân cho cuộc hành trình ra phía ngoài của Bức Tường. Cuối cùng là một ngôi sao. Ngôi sao ấy là một hòn đá? Hay một dải Ngân Hà? Không một ai biết. Chỉ mãi cho đến khi cuộc hành trình của Tristran bắt đầu. Nhưng thật không may, không chỉ mình anh tìm kiếm ngôi sao rơi về phía Tây ngôi làng Bức Tường - nơi dẫn đến cổng ra, cánh cổng luôn có người canh gác và chỉ được mở bảy năm một lần - mà còn có cả ba mụ phù thủy và những chàng hoàng tử của Stormhold. Tạm gọi họ là những vị khách đặc biệt của Gaiman. Trải qua những gian nan và thử thách, tâm lý của nhân vật đã thay đổi và phát triển rất rõ ràng. Khác với Tristran của lúc đầu: Anh rụt rè đến mức khổ sở, và như thường thấy trong thái độ của những người rụt rè đến mức khổ sở, anh cố gắng sửa chữa điểm này một cách quá lố khi cứ nhằm vào những thời điểm không phù hợp mà tỏ ra sôi nổi quá mức Mọi kẻ đang yêu đều có trái tim của một người điên và đầu óc của một nghệ sĩ hát rong Sau khi gặp những vị khách đặc biệt của Neil Gaiman, tâm lý anh đã phát triển thành một con người hoàn toàn khác: trưởng thành hơn và không còn hy vọng nhiều vào những phép màu.  Đó là anh, người chạy theo ước mơ viển vông vì tình yêu. Nhưng đó cũng là anh, người trở về và lựa chọn từ bỏ tình yêu của mình. Dẫu vậy, cái kết tốt đẹp vẫn mở ra cho anh chàng Tristran Thorn dũng cảm, nghĩa hiệp. Tristran Thorn cuối cùng đã thực hiện việc anh hằng khao khát đó là đặt chân tới những vùng đất mới và khám phá bao điều khác lạ. Quan trọng hơn cả, một lần nữa anh lại tìm thấy tình yêu.   CỔ TÍCH VÀ NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH Không ai có thể sống mãi trừ phi họ có được trái tim của một ngôi sao Khi nào ta sẽ thắp lên ngọn nến Babylon?   Càng đọc văn của Gaiman, người ta càng dễ bị cuốn vào những ma thuật mà ông đã sử dụng. Bởi nói một cách đơn giản, Gaiman ở đây không còn là một nhà văn. Ông hóa thân thành ảo thuật gia đại tài, vẽ nên những bức tranh phép thuật về cuộc sống kỳ diệu, phong phú và náo nhiệt. Những câu văn có vẻ khó hiểu lại trở nên sáng tỏ sau mỗi lần độc giả phát hiện ra một câu chuyện mới.   Bụi sao còn được biết tới là một tác phẩm có nhiều cảnh bạo lực và không hoàn toàn phù hợp với mọi lứa tuổi. Nữ hoàng Phù Thủy máu lạnh với những trò giết người kinh dị, các chàng Hoàng Tử xứ Stormhold độc ác, vì tham lam vương quyền mà ra tay với anh em ruột, những cảnh tượng ghê rợn, hãi hùng của khu rừng ăn thịt. Tất cả đan xen lại với nhau và ẩn sâu đằng sau những huyền ảo.    Cuối cùng, cổ tích vẫn chiến thắng. Tình yêu được nuôi dưỡng trong con người Tristran Thorn trở thành điểm sáng của câu chuyện. Dù cho chàng trai trẻ này có thay đổi, không còn mang dáng vẻ đơn giản và ngốc nghếch nhưng khao khát đặt chân tới những vùng đất mới và hy vọng được khám phá vẫn còn đó, mãnh liệt giống như tuổi trẻ của chúng ta. LỜI KẾT Bụi sao mang màu sắc kỳ diệu nhưng cũng ảm đạm. Một cuốn truyện cổ tích nhân văn và đen tối. Giọng văn trầm trước hết là rong ruổi theo sau những câu văn xuôi đậm chất thơ, sau mang theo ước mơ không hạn định của những thiếu niên hoặc cũng có thể là người lớn mang trái tim của thiếu niên. Tác phẩm vốn không phải sinh ra để lên tiếng cho những suy nghĩ cao cả hay chạy trốn khỏi sự sụp đổ của thế giới. Có lẽ, đây chỉ cách thể hiện quan điểm cá nhân của Neil Gaiman về thế giới thực tại thông qua những câu chuyện cổ tích. Bởi dù sao, chính ông là người tin rằng: Loài rồng có tồn tại và cũng có thể gục ngã. Bụi sao hết sức sáng tạo và thực tế.   Review chi tiết bởi: Ánh Dương - Bookademy *** BOOK REVIEW “BỤI SAO” Thời gian quả là một guồng quay nghiệt ngã. Thấm thoắt một năm trôi qua thật nhanh, Tết Nguyên đán Kỷ Hợi lại đang gần kề. Trong những ngày cuối năm này, ai ai cũng cảm thấy cuộc sống sao mà tất bật, hối hả; dường như có chút gì đó nóng hổi trong tim, hối thúc con người chuẩn bị đón một năm mới sang. Dẫu vậy, thật quý giá biết bao nếu các bạn dành cho mình một khoảng lặng, nhâm nhi một tách trà bên một cuốn sách; tạm gác lại lo toan bộn bề để thả hồn phiêu lãng với câu chuyện cổ tích dành cho người lớn - Stardust của Neil Gaiman. Nếu là một mọt của những tác phẩm kì ảo- giả tưởng (fantasy), bạn chắc hẳn không thể nào không nghe tới những tác gia lừng danh như J.R.R Tolkien với những sáng tác về thế giới Trung Đại rộng lớn, hay là J.K Rowling với series Harry Potter đã góp 1 phần không hề nhỏ vào thế giới tâm hồn của bao thế hệ trẻ trên khắp thế giới. Vậy, liệu các bạn đã từng nghe tới cái tên Neil Gaiman – người đã gây dựng nên một thế giới đan xen giữa hiện thực và huyền ảo, mang đậm dấu ấn sáng tạo của mình? Neil dẫn dắt người đọc hết từ bất ngờ này đến bất ngờ khác và cuối cùng là một cái kết khiến ta phải băn khoăn suy nghĩ vương vấn kể cả khi đã đóng lại cuốn sách. Câu chuyện mở đầu với chàng thanh niên Tristran Thorn- một chàng trai trẻ tới từ ngôi làng cổ tích Bức Tường tọa lạc giữa thế giới thực. Anh đem lòng si mê 1 thiếu nữ trong làng. Vì lời hứa sẽ cho cô tất cả, anh bắt đầu lên đường tiến vào Xứ Tiên đi tìm 1 ngôi sao băng rơi xuống từ trên trời. Anh nào ngờ rằng ngôi sao băng ấy đâu phải là một ngôi sao bình thường. Cuộc kiếm tìm đưa anh giáp mặt với 3 vị hoàng tử khao khát quyền lực của vương quốc Stormhold cùng giành giật ngai vàng còn trống, với nữ hoàng phù thủy ngàn tuổi đầy thâm hiểm và quyền năng và tất cả đều có chung mục tiêu với chàng Tristran. Và cuộc hành trình kì lạ của Tristran sẽ không chỉ vén màn bí mật về quá khứ của anh mà còn là cuộc hành trình sẽ thay đổi cuộc đời anh mãi mãi… Lần theo từng bước chân của Tristran, nhà văn Neil Gaiman đã vẽ nên cả một thế giới cổ tích nhiệm màu với những lâu đài tráng lệ, cánh rừng thần tiên với những vị hoàng tử và những mụ phù thủy nhưng đây không phải là câu chuyện cổ tích mà bạn hay nghe từ thời thơ ấu. Đây là câu chuyện của hiện thực, của những gian khổ khắc nghiệt, của ánh sáng và bóng đêm mà Tristran đã phải vượt qua trên hành trình của mình , để bản thân có thể trở thành một anh hùng đúng nghĩa, một người anh hùng của những khát vọng say mê và tình yêu vượt qua mọi trở ngại để rồi nhận ra nó chưa bao giờ là thứ gì đó xa xôi như những ngôi sao băng kia… “Bụi sao” chắc chắn sẽ khiến cho bạn suy nghĩ và băn khoăn về tình yêu, niềm hạnh phúc cũng như cuộc đời con người. Liệu bạn có thể đặt cuốn sách xuống sau khi đã mở ra và bắt đầu câu chuyện của Tristran ? Mời các bạn đón đọc Bụi Sao của tác giả Neil Gaiman & Huyền Vũ (dịch).
Kim Các Tự
“Tôi hầu như ngây say với ý nghĩ ngọn lửa thiêu hủy tôi cũng là ngọn lửa sẽ hủy thiêu Kim Các. Cùng chịu một kiếp nạn, một vận mệnh của ngọn lửa tai họa, Kim Các và cõi thế nơi tôi sống sẽ cùng thuộc một chiều không gian. Cũng giống như thân xác mỏng giòn, xấu xí của tôi, tòa kiến trúc, dẫu là cứng cạnh, cũng ôm một thân thể làm bằng các bon dễ cháy. Khi nghĩ như thế, đôi khi tôi cảm thấy là tôi có thể trốn chạy đồng thời giấu Kim Các trong máu thịt tôi, trong cấu trúc thân thể tôi, giống như tên ăn trộm nuốt đá quý vào bụng rồi chạy trốn.” TÁC GIẢ: MISHIMA YUKIO (1925-1970) Ông sinh tại Tokyo, tốt nghiệp khoa Luật Đại học Tokyo năm 1947, sau đó làm việc cho Bộ tài chính. Sau 9 tháng, ông từ chức và bắt đầu viết văn. Các tác phẩm tiêu biểu: Khát vọng yêu đương (năm 1950), Tiếng triều dâng (năm 1954, giải thưởng Văn học Shinchosha), Kim Các Tự (năm 1956, giải thưởng Văn học Yomiuri), Sau bữa tiệc (năm 1960)… Ngày 25 tháng 11 năm 1970, ông tự sát tại doanh trại Ichigaya của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, sau khi hoàn thành những trang cuối bản thảo “Năm tướng suy của người trời” – tập thứ 4 trong tác phẩm trường thiên Biển phì nhiêu. Các tác phẩm của Mishima Yukio đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được yêu thích trên toàn thế giới. Tác phẩm khác của Mishima Yukio do Nhã Nam xuất bản: Tiếng triều dâng. *** Là một trong những nhà văn quan trọng hàng đầu của Nhật Bản thế kỷ XX, Mishima Yukio được biết đến qua các tác phẩm giàu mỹ cảm, tinh tế và đầy ám ảnh. Cái Đẹp trong văn chương ông thường được gắn với sự hủy diệt, gây ra vô số tranh cãi và những ý kiến trái chiều... Ngày 2.7.1950, toà Kim Các Tự chìm trong biển lửa. Di sản trân quý của Kyoto đã hoá tro tàn dưới tay phóng hỏa của một tiểu tăng của chùa. Cả nước Nhật sững sờ và thương xót trước tin ngôi chùa hơn một trăm năm tuổi đã bị thiêu rụi. Dựa trên sự kiện phóng hỏa ở Kim Các, Mishima Yukio đã cất công thu thập tư liệu từ khắp nơi, thậm chí vào thăm hung thủ phóng hỏa trong tù để gom nhặt chất liệu cho cuốn tiểu thuyết tiếp theo của mình. Năm năm sau biến cố, tiểu thuyết gắn liền với tên tuổi của Mishima ra đời. Kim Các Tự xoay quanh Mizoguchi - một tiểu tăng đang theo học tại chùa, có tật nói lắp và luôn tự ti về khuyết tật cũng như diện mạo của mình. Từ thuở thiếu thời, Mizoguchi đã được nghe cha mình kể về Kim Các, rằng “toà Kim Các là một báu vật tuyệt thế”. Hình ảnh ngôi chùa vàng hiện lên trong tâm trí thơ trẻ của Mizoguchi rực rỡ đến mức mọi điều đẹp đẽ lọt vào mắt cậu đều được so sánh với Kim Các Tự: cánh đồng dưới ánh mặt trời vàng ruộm, một cô gái có dung nhan đẹp, hay một cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ. Kim Các Tự đã trở thành biểu tượng vô song của Cái Đẹp hiện hữu. Nếu như quan điểm về Cái Đẹp theo lẽ thường là những gì tươi sáng, hướng thiện nhất thì quan điểm của những nhân vật khiếm khuyết trong Kim Các Tự về Cái Đẹp lại chìm trong bóng tối, tương phản một màu cực đoan. Lấy bối cảnh Thế chiến II ở Nhật Bản, thông qua quan điểm duy mĩ cực đoan của Mizoguchi, Mishima Yukio đã vẽ nên một bức tranh về Cái Đẹp đứng trước nguy cơ bị huỷ hoại bởi bàn tay bom đạn và chiến tranh. Là Cái Đẹp chân chính không thể tồn tại với thời gian hay bởi chiến trận khiến những di sản đẹp đẽ đứng trước bờ vực diệt vong? Cuộn xoáy trong những ám ảnh của Mizoguchi về Kim Các Tự và khao khát ngày một lớn dần muốn huỷ hoại vẻ đẹp của ngôi chùa, Mishima Yukio đã đi sâu vào ngóc ngách tâm tưởng của một con người mặc cảm, từ đó lột tả tâm lý của kẻ yếu thế trước Cái Đẹp. Sinh ra là một kẻ thiệt thòi về thể xác, thân thể yếu ớt lại nói lắp, Mizoguchi thu mình lại, đeo trên mình mặc cảm bị “ngăn cách với ngoại giới”. Cậu luôn sống trong một thế giới nội tại, tự vơ vào mình những mộng tưởng hoặc viển vông, hoặc tàn ác. Đối nghịch với sự thiệt thòi vĩnh viễn của cậu là vẻ đẹp sừng sững và vĩnh hằng của Kim Các Tự. Theo lời cha cậu, một vị trụ trì: “Trên thế gian này chẳng có gì đẹp như Kim Các”. Mizoguchi giữ trong mình những ám ảnh nặng nề rằng sự tồn tại của Kim Các đối nghịch với sự tồn tại của cậu. Cậu bất mãn và bực bội vì nếu Cái Đẹp tồn tại thực sự ở Kim Các, thì tồn tại của cậu đã bị tách rời khỏi Cái Đẹp. Nỗi bất mãn ấy lập tức chuyển thành ngây say kể từ giây phút cậu hay tin ngôi chùa có thể bị huỷ hoại trong làn bom đạn. Cái vĩnh cửu vốn chia cắt cậu khỏi vẻ đẹp của Kim Các chẳng bao lâu nữa sẽ bị huỷ diệt. Cậu khấp khởi và say mê vẻ đẹp sắp bị tuyệt diệt của ngôi chùa vàng. Đó cũng là thái độ của Mizoguchi dành cho tất cả những Cái Đẹp xuất hiện trong cuộc đời cậu: kéo mọi vẻ đẹp về gần với sự huỷ diệt để giải thoát những ẩn ức mặc cảm của cậu. Bằng bút pháp sắc sảo và sự am hiểm đến tường tận từng góc khuất u tối trong tâm lý của con người, Mishima Yukio đã gửi đến độc giả một kiến giải duy mỹ về Cái Đẹp cùng những ẩn ức của con người khi Cái Đẹp chìm trong bóng tối... *** Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy. Trong khắp miền lân cận ngôi chùa, trên mỏm đất Nariu, không hề có một trường trung học nào thích hợp cho tôi. Kết cục, tôi phải rời cha mẹ đến ngụ ở nhà chú tôi tại sinh quán của Ba ngày trước; trong thời gian sống ở nơi này, tôi theo trường trung học Đông Maizuru, cuốc bộ đi học cũng như lúc về nhà. Bầu trời nơi quê cũ của Ba rất trong sáng. Nhưng mỗi năm vào tháng mười một và mười hai ngay trong những ngày trên trời dường như không có lấy một cụm mây, mỗi ngày chúng tôi vẫn bị bốn năm trận mưa rào đột ngột đổ ụp xuống đầu. Tôi nghĩ là chính vì miền đất này mà tôi đã có cái tâm tính thực là hay thay đổi. Vào những chiều tháng Năm, sau khi đi học về, tôi thường ngồi trong phòng học trên tầng gác thứ nhì trong căn nhà chú tôi và mơ màng ngắm nhìn những vì ngọn đồi trước mặt. Ánh chiều tà lấp lánh trên các cành lá non bao phủ sườn đồi trông như giữa những cánh đồng người ta đã dựng lên một bức bình phong bằng hoàng kim óng ánh. Mỗi khi trông thấy cái này, tôi lại tưởng tượng đến hình ảnh Kim Các Tự. Mặc dù thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn thấy Kim Các Tự thật sự trong các tấm ảnh và các sách giáo khoa, song hình ảnh chế ngự tâm hồn tôi vẫn là hình ảnh Kim Các Tự theo lời Ba miêu tả. Ba chưa bao giờ kể cho tôi nghe là Kim Các Tự thật sự óng ánh hoàng kim hoặc có một vẻ gì na ná như thế; tuy vậy, theo Ba, trên khắp trái đất này chẳng có gì đẹp đẽ cho bằng Kim Các Tự hết. Vả lại, chính mặt chữ và chính âm ận của từ ngữ đã gán cho Kim Các Tự một vài tính chất hoang đường nào đó in sâu trong tâm khảm tôi. Khi nhìn ánh mặt trời, tôi cảm thấy chắc chắn đó là một ánh hoàng kim do ngôi chùa vô hình rọi đến. Hiệp lộ Yoshizaka, ranh giới giữa huyện Fukui và phủ Kyoto thực sự nằm ở hướng đối nghịch, tôi vẫn quen nhìn thấy Kim Các Tự hiện hình vụt lên bầu trời buổi sớm giữa những ánh triêu dương trong khi mặt trời lên sau những rặng đồi chập chùng ở phía đông. Như thế là Kim Các Tự hiển hiện ở khắp mọi nơi. Chừng nào mà tôi chưa được thực sự để mắt ngắm nhìn, Kim Các Tự vẫn còn giống như bể cả. Vì mặc dù vịnh Maizuru chỉ cách làng Shiraku nơi tôi cư ngụ có ba dặm rưỡi về phía Tây, những ngọn đồi vẫn chặn lấp không cho người ta nhìn thấy nước bể; tuy vậy trong không khí luôn luôn phảng phất một thứ dự cảm về bể cả; một đôi khi gặp thời tiết xấu, từng đàn chim hải âu bay xà xuống những cánh đồng kế cận để tìm chỗ ẩn náu. Tôi vốn yếu đuối và tôi vẫn luôn luôn bị những thằng bạn khác đánh bại trong những cuộc chạy đua hay là đánh thiết bổng. Ngoài ra, ngay từ khi lọt lòng tôi đã mắc tật nói lắp và cái tật này lại càng làm cho tôi có khuynh hướng khép kín không ưa giao tế hơn. Và ai nấy đều biết tôi là con một thầy tu ở chùa. Một vài thằng bé tai ác vẫn thường chế nhạo tôi bằng cách bắt chước một tu sĩ nói lắp trong khi ông ta đang khó nhọc mà lắp bắp từng câu kinh. Trong một quyển sách của chúng tôi có một câu truyện trong đó xuất hiện một nhà trinh thám nói lắp và mấy thằng kia thường đặc biệt cao giọng đọc những đoạn đó cho tôi nghe. Chẳng cần phải nói là tật nói lắp của tôi đã dựng một chướng ngại vật giữa tôi và ngoại giới. Tôi vẫn thường vấp váp khi phát ra âm thanh đầu tiên. Cái âm thanh đầu tiên này giống như một cái chìa khóa của cánh cửa ngăn cách thế giới nội tâm của tôi và thế giới và thế giới ngoại tại, và tôi chưa bao giờ được thấy cái chìa khóa này xoay vặn trơn tru trong ổ khóa. Phần lớn người đời nhờ tài nói năng trôi chẩy có thể giữ cho cánh cửa giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoài luôn mở rộng để cho không khí tự do qua lại giữa hai thế giới này, nhưng với tôi thì điều đó hoàn toàn không thể có được. Trên chìa khóa đã có một lớp rỉ sắt dầy đặc mất rồi. Khi một kẻ nói lắp vật lộn một cách tuyệt vọng để thốt ra được âm thanh đầu tiên, hắn ta thực giống như một con chim bé nhỏ đang cố gắng gỡ mình ra khỏi một vũng bùn dầy đặc. Cuối cùng khi nó xoay xỏa để tự giải thoát thì đã quá muộn mất rồi. Tất nhiên là có những lúc mà thực tế của thế giới bên ngoài dường như đã chờ đợi tôi, khoanh tay nơi nó đứng trong khi tôi đang cố gắng vật lộn để tự giải thoát. Nhưng cái thực tại đang đợi chờ tôi không phải là một thực tại tốt tươi. Khi mà cuối cùng sau biết bao cố gắng mới tới được thế giới bên ngoài tôi chỉ còn thấy một thực tại vừa mới tức thời thay đổi màu sắc và vượt ra ngoài tiêu điểm - một thực tại đã mất hết các màu sắc mới mẻ mà tôi coi là thích hợp với chính mình, và đến lúc đó đã bốc ra một mùi hôi hôi ung ủng. Mời các bạn đón đọc Kim Các Tự của tác giả Yukio Mishima & Đỗ Khánh Hoan (dịch) & Nguyễn Tường Minh dịch.
Bố Già
TÁC GIẢ & TÁC PHẨM   Mario Puzo (Mario Gianluigi Puzo, 1920-1999) sinh ra trong một gia đình người Italia nhập cư sang Mỹ. Cha mẹ Mario hoàn toàn mù chữ và tuổi thơ của cậu bé này đã trôi qua “dưới đáy” xã hội ở New York. Trong Chiến Tranh Thế Giới II, Mario Puzo phục vụ trong quân đội Mỹ. Ông từng có mặt trên chiến trường nước Đức và vùng Đông Á. Sau đó Puzo học Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội New York và Đại Học Tổng Hợp Colombia rồi công tác gần 20 năm tại các cơ quan của Chính Phủ ở New York và nước ngoài. Năm 1955, Puzo cho ra đời tác phẩm đầu tay mang tên “Đấu Trường Đen”. Đây không phải là một cuốn sách về Mafia mà về cuộc đời một chàng cựu binh Mỹ trong bối cảnh thành phố Berlin hoang tàn sau chiến tranh với những vụ áp phe, buôn lậu, lừa đảo và cả những mối quan hệ nồng ấm tình người. Tuy nhiên, “Đấu Trường Đen” không thuộc số những cuốn sách ấn tượng nhất của Puzo. Từ năm 1963, Mario Puzo bắt đầu tác nghiệp như một phóng viên tự do, đồng thời coi viết văn là công việc nghiêm túc của mình. Năm 1969, với sự xuất hiện lừng lẫy của “Bố Già”, Puzo đã trở thành nhà văn được cả thế giới ngưỡng mộ. Suốt một thời gian dài, “Bố Già” luôn chiếm vị trí đầu trong bảng xếp hạng sách bán chạy nhất hành tinh. Nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và có con số xuất bản đáng kinh ngạc: 11 triệu bản trong năm 1969 và 21 triệu bản tính đến tháng 7/1999. Bố Già Don Vito Corleone trong tiểu thuyết của ông và những sự kiện bạo liệt quanh ông ta dường như được bao phủ bởi một màu sắc lãng mạn khiến cuốn sách có sức hấp dẫn kỳ lạ. Tuy nhiên Puzo không chỉ dừng lại ở việc lãng mạn hóa “Bố Già”. Tác giả đã xây dựng câu chuyện dựa trên những chất liệu có thật, đã tiểu thuyết hóa các nhân vật bằng những nét miêu tả chân chất. Nhiều tư liệu gần đây về Mafia cho biết Bố Già ngoài đời chính là Don Vito Cascio Ferro, một trong những thủ lĩnh đầu tiên của giới Mafia Italia di cư sang Mỹ. Ông này cầm đầu giới giang hồ ở Sicily (Italia) và sau đó là thống soái của nhóm “Bàn Tay Đen”, tiền thân của Mafia Mỹ. Tuy nhiên, bản thân Puzo thì nói rằng ông chưa bao giờ tiếp cận với một tay gangster bằng xương bằng thịt, rằng nguyên mẫu cho nhân vật bố già chẳng phải ai xa lạ mà chính là mẹ ông, một phụ nữ Italia nhập cư đã phải làm mọi thứ để có thể nuôi sống con cái và giữ cho gia đình hòa thuận. Trong cuốn “Bố Già” Puzo cũng cẩn thận ghi chú rằng: Tất cả nhân vật trong truyện đều là hư cấu và bất kỳ sự trùng hợp nào nếu có đều là ngẫu nhiên… Độc giả cũng như giới phê bình đều công nhận rằng, Puzo đã miêu tả thế giới của “Bố Già" tuyệt vời đến nỗi có người còn ngờ ông là “tay trong” của Mafia. Năm 1972 Francis Coppola đã chuyển thể “Bố Già” thành phim. Sau đó vị đạo diễn tên tuổi này lại đề nghị Puzo hợp tác để viết tiếp kịch bản “Bố Già II”. Bộ phim bất hủ này đã đi vào lịch sử Hollywood và điện ảnh thế giới với các giải Oscar cho phim hay nhất và cho kịch bản hay nhất. Vai diễn Bố Già cũng đem đến cho hai diễn viên gạo cội Marlon Brando và Robert De Niro 2 giải Oscar. Kịch bản cho phim “Bố Già III” (xuất hiện trên màn bạc vào năm 1990) cũng được viết chung bởi Puzo và Coppola. Puzo tâm sự về việc viết “Bố Già” như sau: Một lần tình cờ có một đồng nghiệp ghé đến chỗ tôi. Tôi đã đưa bản thảo “Fortunate Pilgrim” (bản tiếng Việt là Đất Khách Quê Người) cho anh ta đọc. Một tuần sau anh ta quay lại và tuyên bố: Mario là một nhà văn vĩ đại! Tôi rất phấn chấn và đã thết anh bạn một bữa thịnh soạn tại nhà hàng. Trong khi ăn, tôi kể cho anh nghe những câu chuyện về Mafia và đọc một vài đoạn trong bản thảo “Bố Già”. Bạn tôi đã bị sốc. Một tuần sau anh ấy lại đến và nói rằng đã lên lịch hẹn cho tôi gặp một chủ xuất bản. Tại cuộc gặp đó, tôi cũng kể rất nhiều về Mafia. Ông chủ xuất bản rõ ràng là rất thích. Vì vậy ông ta đặt tôi viết một cuốn tiểu thuyết về những chuyện đó và ứng trước cho tôi 5 nghìn đôla. Chuyện xảy ra như thế đấy. Thật kỳ lạ và không thể hiểu nổi. Tôi đã bắt tay vào viết “Bố Già” nhưng thực lòng không hề thấy hứng thú… Tôi viết cuốn sách trong vòng 3 năm. Thời gian ấy tôi đồng thời còn viết cho Martin Gudman một số truyện phiêu lưu mà không đòi hỏi nhuận bút… Độc giả Việt Nam hẳn không xa lạ gì với “Bố Già” - cuốn tiểu thuyết được đánh giá là hay nhất về giới giang hồ Mafia ở Mỹ. Nhà văn Mario Puzo, cha đẻ của “Bố Già” lại thú nhận rằng ông không hề hào hứng khi viết cuốn sách bán chạy nhất này, ông chỉ viết nó vì đang... túng tiền! *** Amerigo Bonasera ngồi ở phòng ba tòa đại hình New York chờ xem công lý được thực thi và lưỡi gươm trừng phạt sẽ bổ xuống đầu mấy thằng mất dạy đã hành hung thành thương tật và toan làm nhục con gái lão. Ngài chánh án uy nghi trang trọng vén tay áo thụng như sắp sửa tự tay mình trị tội hai thằng côn đồ đang đứng trước tòa. Bộ mặt sắt của ngài đầy khinh bỉ, cao ngạo, song ở đây có một cái gì đó giả trá mà Amerigo Bonasera đã nhận thấy bằng trực giác mặc dù còn chưa hiểu ra sự thể. — Hành động của các người là hành động của bọn cặn bã mạt hạng, - ngài chánh án lớn tiếng. “Đúng", Bonasera nghĩ bụng, “đúng thế! Lũ súc sinh. Loài dã thú". Hai thằng thanh niên tóc bóng mượt cắt đúng mốt, mặt mày sáng sủa lộ rõ vẻ ăn năn, hai đứa cúi đầu cam chịu. Quan chánh án phán tiếp: — Các người hành động như lũ dã thú trong rừng, may mà cô gái đáng thương chưa bị các người xâm phạm tiết hạnh, bằng không ta phải nhốt các người đủ hai chục năm mới nghe. - Ngài dừng lại một lúc, cặp mắt cáo bên dưới đôi lông mày rậm rì nhíu lại dữ tợn đảo nhanh qua bộ mặt tái ngắt của Bonasera. Rồi càng sa sầm mặt với vẻ dữ tợn hơn, so vai như để kìm cơn giận tự nhiên, ngài kết thúc. - Nhưng xét các người còn trẻ, trước đây chưa có tiền án, vả lại đều là con nhà tử tế, mặt khác luật pháp là cực kì sáng suốt, đặt ra không phải để trả thù, nên ta tuyên phạt mỗi tên ba năm tù. Cho phép các người được hưởng án treo. Chỉ nhờ thói quen bốn chục năm nghề nghiệp mới giúp ông chủ xe đòn Bonasera đủ sức ghìm cơn giận không để lộ ra ngoài mặt. Đứa con gái trẻ trung tươi tắn của lão giờ này vẫn phải nằm bệnh viện với cái xương hàm gẫy, thế mà bọn súc sinh kia lại được thả rông ngoài đường. Ra người ta diễn trò hề với lão đây. Đám cha mẹ, họ hàng của chúng đang hớn hớ xúm quanh hai cậu quí tử. Bọn họ làm sao mà không hớn hở cơ chứ. Cổ họng Bonasera đắng ngắt, nước dãi chua loét tứa ra đầy mồm đằng sau hai hàm răng nghiến chặt. Lão rút chiếc khăn tay phin nõn ở túi ngực ra bịt mồm, đứng đực giữa lối đi, còn hai thằng khốn nạn thì trâng tráo đi ngang qua mặt lão, mồm nhếch lên cười nhạt, thậm chí còn không thèm nhìn đến lão. Lão để chúng đi qua mà không nói một lời, chỉ áp chặt hơn chiếc khăn vào mồm. Cha mẹ chúng đi sau, hai bà và hai ông cùng trạc tuổi lão có điều ăn mặc ra dáng Mĩ nòi. Mấy người này nhìn lão có vẻ lúng túng nhưng đầy thách thức và đắc thắng ngấm ngầm. Không nhịn nổi, Bonasera nhoài người ra hét lớn: — Các người cứ chờ đấy, rồi các người sẽ được khóc như ta đã từng khóc. Thấy vậy mấy ông luật sư đi đằng sau vội đẩy các thân chủ tới chỗ mấy thằng con đang dừng lại hầm hừ như chực nhảy vào bênh bố mẹ. Một tay mõ toà to như hộ pháp vội chạy ra đứng chặn lối, sợ Bonasera làm liều. Nhưng rốt cuộc chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Bao nhiêu năm làm ăn sinh sống ở xứ này Bonasera luôn tin ở pháp luật và trật tự kỉ cương. Dựa vào đâu thì ăn nhờ đấy. Ngay cả lúc này, tuy đầu óc lão cứ ong ong vì uất hận ngất trời, căm gan tức ruột chỉ muốn thửa ngay một khẩu súng bắn chết toi hai thằng chó cho hả, nhưng Bonasera vẫn phải cắn răng quay sang bà vợ đang ngớ ra chẳng hiểu ngô khoai gì hết. — Người ta lỡm vợ chồng mình đấy, - lão nói. Lão im bặt, máu liều bốc lên. Lão quyết định dứt khoát, muốn đến đâu thì đến: “Muốn có công lý thì phải đến kêu cửa Ông Trùm Corleone". *** Tại Los Angeles, một mình giữa căn phòng Deluxe sang trọng choáng người trong khách sạn, Johnny Fontane cũng mượn rượu giải sầu như bất kỳ một anh chàng mọc sừng nào. Hắn nằm duỗi dài trên chiếc đivăng đỏ, cầm nguyên cả chai mà tu rồi úp mặt vào cái thố pha lê đựng đá liếm nước lạnh cho thông họng. Lúc đó là bốn giờ sáng, trí tưởng tượng mờ mịt hơi men của hắn đang hình dung cảnh hắn tẩn con vợ đĩ thõa lúc con kia về, nếu như nó còn về. Muộn rồi chứ không thì phôn một cú đến cô vợ cũ hỏi thăm mấy đứa con cho đỡ sầu. Không hiểu sao hắn không muốn gọi tới mấy đứa bạn, nhất là từ dạo công việc của hắn bắt đầu xuống dốc. Có thời được hắn gọi điện vào lúc bốn giờ sáng là bọn kia sướng lắm. Giờ thì chẳng ma nào thèm biết hắn. Mà kể cũng lạ, lúc hắn đang lên, hễ mới hơi khó ở một chút là các minh tinh sáng giá nhất nước Mĩ đã tới tấp hỏi thăm ngay. Hay thật! Hắn lại đưa chai rượu lên mồm, và rốt cuộc cũng nghe thấy tiếng chìa khoá xoay ngoài cửa. Johnny cứ ngậm nguyên chai rượu cho tới khi vợ hắn vào phòng và dừng lại trước mặt hắn: Xinh đẹp, con mắt tim tím mơ mộng lả lơi, gương mặt thần tiên, thân hình thon thả, óng chuốt. Cả triệu đàn ông khắp thế giới mê mệt Margot Ashton, chịu xì tiền ra để được ngắm ả trên màn bạc. — Phất phơ đâu về? - Johnny lè nhè hỏi. — À, đi ngủ với trai, - Ả đáp. Ả tính hơi nhầm, hắn chưa phải đã say khướt. Hắn nhảy chồm qua cái bàn con để báo, túm ngay lấy cổ áo dài của ả. Nhưng vừa kéo khuôn mặt thần tiên kia đến gần thì bao nhiêu tức giận của hắn trôi tuột đi đâu mất, người hắn nhũn ra. Cô ả tớn môi chế nhạo và lại một lần nữa tính nhầm, Johnny vung nắm đấm lên. — Cấm đánh vào mặt đấy nhé! - Ả hét thất thanh, - Người ta đang đóng phim đấy, Johnny! Cú đấm trúng ngay ức làm ả ngã chỏng gọng. Hắn đè lên, đấm như bổ củi xuống vai, xuống hông, xuống cặp đùi mịn màng rám nắng. Hắn quần ả như ngày nhỏ vẫn nện bọn nhãi ranh thò lò mũi ở “Rốn Hỏa Ngục", tức là Khu Ổ Chuột của New York. Đòn của hắn ngấm đáo để tuy không gây thương tích như gẫy răng, vỡ mũi. Mà nói vậy chứ hắn còn nương tay. Hắn không thể làm khác được. Thế là ả lại cười vào mũi hắn. Ả xoạc cẳng nằm tô hô, lớp váy lụa thêu bên trong lộ ra, tru tréo: — Đây này, đánh nữa đi, đánh đi... ăn thua mẹ gì! Johnny chán ngán bò dậy. Tức anh ách mà không đánh được con đĩ, nó đẹp quá. Margot lật sấp người, nhẹ nhàng nhún mình bật dậy rồi vừa õng ẹo vừa nhè mồm ra trêu như một con bé con: — Ê, ê... đếch đau. Ê, ê... đếch đau. Rồi nghiêm mặt, ánh mắt lộ rõ vẻ ngán ngẩm, ả nói thêm: — Chán mớ đời, mày đè đau cả bụng chị đây này, bé con ạ. Chà! Johnny, mày suốt đời vẫn chỉ là con nghé con, đến cả làm tình cũng chẳng bằng đứa trẻ ranh. Mày tưởng như trong các bài mày vẫn rống ông ổng dạo trước đấy hả? - Ả lắc đầu. - Gà tồ? Thôi, khỏe nhé, Johnny. Ả vào phòng ngủ và khóa trái cửa lại. Johnny ngồi bệt xuống sàn, tay bụm mặt. Uất ức, nhục nhã, thất vọng ê chề. Nhưng vốn là đứa trẻ lang thang trong Khu Ổ Chuột New York, cuộc đời chìm nổi ngày xưa đã giúp hắn sống sót trong miền rừng hoang Hollywood, bây giờ lại thức tỉnh hắn cầm máy gọi taxi ra sân bay. Còn một người có thể cứu hắn. Miễn là về được New York gặp người ấy, kẻ duy nhất giúp hắn tìm được sức mạnh và sự khôn ngoan mà lúc này hắn đang thiếu, một người thực sự yêu thương hắn. Đó là Bố Già của hắn, Ông Trùm Corleone. *** Bác thợ bánh Nazorine hồng hào tròn xoay như những chiếc bánh kiểu Italia nở phồng của bác. Người vẫn dính đầy bột mì, bác lừ mắt nhìn bà vợ và cô con gái đến tuổi cập kê rồi quay sang gã giúp việc Enzo, đã kịp đóng bộ quần áo đính băng vải có hai chữ “Tù Binh" viết tắt màu xanh, đang lo ngay ngáy sợ muộn giờ điểm danh tối ở trại trên Đảo Thống Đốc. Giống như hàng ngàn tù binh Italia hàng ngày đến làm cho các chủ Mĩ sau khi đã cam đoan, Enzo sống nơm nớp, chỉ sợ mất cái đặc ân ấy thì meo. Vì thế nên cái màn hài kịch đang diễn ra ở đây đối với anh quá ư là nghiêm trọng. — Chú định để tai tiếng cho gia đình tôi đấy phỏng? - Nazorine gầm gừ. - Chiến tranh sắp hết, chú định tương cho con bé nhà tôi một món quà kỉ niệm chứ gì? Rồi sau thế nào thì ai còn lạ gì nữa: Nước Mĩ thúc cho chú một gối vào đít là chú mình phới luôn về Sicily đếm rệp ở quê nhà hả? Enzo, người lùn tịt, chân cẳng ngắn ngủn, vội ấp tay lên ngực như muốn khóc, tuy vậy vẫn tỉnh lắm: — Padrone, thề có Đức Mẹ Đồng Trinh, nào cháu có dám lấy oán trả ân bác đâu. Cháu yêu thương con gái bác thực bụng, đời nào lại dám sàm sỡ. Tiện đây, xin bác cho cháu lấy cô ấy. Cháu thực không nên không phải, song nếu người ta trả cháu về Italia thì bao giờ cháu mới sang Mĩ được? Nếu vậy ngày nào cháu với Katherine mới nên vợ nên chồng? Bà Filomena vợ bác không thích dông dài, nói toang toác luôn: — Đừng có mà ngốc thế, bố nó - Bác ta bảo ông chồng - Làm thế nào thì bố mày biết rồi đấy. Thằng Enzo cứ để nó ở đây, có gì bố mày đưa nó sang chỗ bà con mình bên Long Island gửi gắm ít lâu xem sao đã. Katherine khóc lên khóc xuống. Người đã béo trục béo tròn, mép lại lấm tấm tí ria, nó có đẹp đẽ gì cho cam. Biết tìm đâu một tấm chồng điển trai bằng Enzo bây giờ. Lấy ai mà xoa bộ ngực tú ụ của nó cho nồng nàn và mơn trớn như chàng? — Tôi về Italia tôi ở cho bố trắng mắt ra! - Nó giãy nẩy lên với ông bố.- Bố mà không giữ anh ấy lại thì tôi bỏ bố tôi đi? Hư... hư... Nazorine tinh quái nhìn nó. Con bé nhà mình gớm thật! Bác đã trông thấy: Hễ mỗi lần thằng bé phải lách qua sau lưng nó để xếp bánh vào giỏ là y như rằng con ranh lại miết bàn tọa vào người thằng kia sát sạt. “Cứ cái đà này không khéo thằng lỏi còn lách vào tận đâu ấy chứ - Nazorine thầm cho phép mình nghĩ bậy. - Phải giữ thằng Enzo lại Mĩ, phải xoay cho nó cái quốc tịch. Và chỉ có một người làm nổi việc ấy: Bố Già. Ông Trùm Corleone". Mời các bạn đón đọc Bố Già của tác giả Mario Puzo & Đoàn Tử Huyến (dịch) & Trịnh Huy Ninh (dịch).