Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hai Đời Chồng

Quảng Ninh trời trở lạnh, tôi đi con xe máy cà tàng về đến sân nhà mà toàn thân cũng run như cầy sấy. Vừa bước đến cửa đã nghe tiếng mẹ tôi rít lên: - Hôm nào cũng như hôm nào, đi đĩ hay sao mà khuya khoắt giờ này mới về, tiền tháng này có tăng được xu nào không mà bày đặt đi sớm về khuya? Tôi mím chặt môi, những câu chửi từ một người mẹ sao tàn nhẫn như mũi kim đâm vào tim mà dù đã quen thuộc tôi vẫn không khỏi xót xa. Mẹ thấy tôi không nói, đập mạnh chén trà xuống dưới bàn ném cả chùm chìa khoá vào mặt tôi rồi dậm chân thình thịch bước lên cầu thang. Tôi đứng nhìn mẹ đi khuất sau mới dám đóng cửa nhẹ nhàng sau đó bước xuống bếp. Trong bếp lạnh tanh, chỉ có chút cơm nguội và vài ba con cá khô còn không được đạy lại cẩn thận. Nhìn vào thùng rác, lòng tôi khẽ nhói lên, xương gà, vài sợi miến rớt rơi cũng đủ hiểu hôm nay cả nhà có bữa ăn thịnh soạn thế nào. Sống mũi tôi cay cay, cầm bát cơm khô khốc mà nuốt cũng không trôi. Đột nhiên đằng sau có tiếng động nhẹ, vừa quay lại chợt thấy chị Linh cầm chiếc đùi gà luộc ấn vào bát cơm của tôi khẽ nói: - Ăn đi, chị giấu mãi mới không bị phát hiện đấy. Sao hôm nay về muộn thế? Chị Linh là chị gái ruột tôi, chị đang học đại học năm cuối, từ nhỏ đã được ba mẹ xem như bảo bối. Nhiều lúc tôi cũng rất ganh tỵ, cũng thường tự hỏi vì sao cùng là con mà chị được yêu thương, được đi học đại học, được sống như một cô công chúa còn tôi lại bị mẹ ghét đến vậy. Thế nhưng có nói thế nào cũng không thể phủ nhận rằng trong nhà này chỉ có chị là thương tôi. Trước kia bà nội còn ở đây, bà rất hay bênh tôi có điều bà và mẹ tôi khắc khẩu, sau một trận cãi vã lớn bà đã về quê sống. Chị Linh thấy tôi ngây người liền đẩy đẩy nhẹ vai tôi: - Này ăn đi chứ muộn quá rồi đấy hay định đợi đêm mới ăn? Tôi bật cười nhận lấy miếng đùi gà gặm khẽ hỏi lại: - Chị về từ lúc nào đấy? Lần này chị về lâu không? - Chị về từ trưa rồi mà xe hôm nay đi chậm quá hơn năm tiếng mới đến nhà, lần này về thực tập sáu tháng cơ. Mà sao em đi làm muộn thế? Đông khách lắm à? - Dạ vâng, trời trở lạnh mà nhà hàng lại mới có thêm món nướng lẩu nên đông lắm. - Làm gì thì làm nhớ chú ý giữ gìn sức khoẻ đấy. Chị lên phòng trước đây, ăn xong thì lên tắm rồi lên ngủ nhé. Tôi gật đầu, nhìn theo bước chị rồi nhanh chóng ăn vội phần cơm, rửa bát sau đó bước vào phòng tắm. Bình nóng lạnh được mẹ tôi quy định chỉ bật đến tám giờ tối, cũng may nước lúc này vẫn hơi ấm, tôi tắm vội rồi đi lên tầng. Bên trong phòng ngủ của ba mẹ có tiếng mẹ tôi cằn nhằn, chửi rủa. Dù đã quen nhưng sao hôm nay tâm trạng tôi lại có chút xót xa. Có lẽ trời lạnh, chút dư vị đầu đông khiến tôi yếu đuối đến vậy. Lên đến phòng chị Linh đã ngủ, tin nhắn của Thắng gửi cho từ tối tôi chưa kịp đọc lúc này mới mở ra. Thế nhưng khi vừa chạm tay vào mình hình điện thoại Thắng đã gọi, tôi vội mở cửa nhà vệ sinh bước vào, đầu dây bên kia trọng trầm ấm cất lên: - Em về đến nhà chưa? Xin lỗi em hôm nay anh có cuộc họp về muộn quá không đưa đón em được. Nghe giọng áy náy của Thắng tôi bật cười đáp: - Xin lỗi gì chứ, ai cũng có công việc mà, vả lại anh đừng coi em là trẻ con như vậy. Em cũng đi làm hai năm rồi có ít đâu. - Thì trong mắt anh lúc nào em cũng trẻ con mà, Phương! Anh nhớ em quá, cuối tháng này anh sẽ đứa em về ra mắt ba mẹ nhé. Câu nói cuối cùng của Thắng khiến tim tôi như ngừng lại, mặc dù yêu nhau cũng đã hơn một năm nay, vậy mà mỗi lần anh nói lời ngọt ngào tôi lại như đứng cả tim. Chỉ có điều, trong lòng tôi lại dấy lên một nỗi bất an mơ hồ, một sự tự ti mà dù Thắng đã nói rất nhiều lần tôi vẫn không thể xua tan đi được. Thấy tôi im lặng, anh lại cất lời: - Sao vậy? Em không nhớ anh hả? - Em… em có… - Vậy nói với anh rằng em nhớ anh đi. - Em… em nhớ anh. Thắng bật cười, điệu cười nghe thôi cũng thấy ấm áp trong cái tiết trời lạnh lẽo này. - Phương, xong dự án này anh rảnh hơn rất nhiều, anh tính cả rồi. Năm sau em hai mươi mốt tuổi rồi, cưới về rồi anh sẽ mở cho em một nhà hàng nho nhỏ, em nấu ăn ngon như vậy, nhất định nhà hàng sẽ thành công. Sống mũi tôi đột nhiên cay xè, hai mươi mốt tuổi còn quá trẻ để lấy chồng nhưng với một đứa như tôi lại cảm thấy quá đỗi bình thường. Thắng vẽ tương lai đẹp quá, đẹp đến mức tôi cũng muốn gạt bỏ mọi thứ mà sống một lần vì bản thân. Phải rồi, Thắng không chê tôi cớ sao tôi lại cứ tự ti, cớ sao lại cứ phải sợ hãi, bất an? Đây không phải lần đầu Thắng đề nghị đưa tôi về ra mắt người lớn, trước kia mỗi lần anh nói ra tôi đều từ chối vì chưa đủ can đảm, nhưng có lẽ đến giờ tôi đã nhận ra mình nên có một gia đình nhỏ riêng rồi. Đêm hôm ấy tôi và anh nói chuyện rất lâu, đến gần sáng khi chị Linh dậy đi vệ sinh tôi mới vội vàng tắt máy rồi đi ngủ. Vừa bước vào giường chị Linh đã cất tiếng: - Người yêu gọi à? - À… - Sao? Đến chị mà em cũng giấu nữa hả? Khai đi, hắn ta làm gì? Bao nhiêu tuổi? Yêu em gái của chị phải vượt qua được bài kiểm tra của chị đấy. Tôi cười gượng gạo nhìn chị không đáp, chị thấy vậy cũng không hỏi thêm gì mà kéo chăn bấu nhẹ tôi một phát. Suốt đêm ấy tôi không chợp mắt nổi, nghĩ đến việc ra mắt ba mẹ Thắng lại hồi hộp vô cùng. Sáng hôm sau khi tôi vừa tỉnh dậy chị Linh cũng dậy đi nộp hồ sơ. Tôi vội vàng vệ sinh cá nhân rồi khoác chiếc áo mỏng đi xuống dưới. Bên phòng mẹ tôi có tiếng the thé cất lên: - Nấu ăn sáng cho cả nhà rồi đi đâu thì đi. Cả ngày đi hầu thiên hạ, chẳng được cái tích sự gì. Tôi không đáp xuống nấu một nồi bánh đa cua rồi lại tất tưởi lấy đồ đi làm. Khi vừa ra cổng chợt thấy Thắng bên kia đường chờ, thế nhưng không phải mình tôi nhìn thấy mà cả chị Linh cũng vừa hay bước ra. Thắng không để ý mà gọi tên tôi: - Phương! Chị Linh hơi dừng lại ở anh còn tôi đỏ mặt xấu hổ, dù sao nếu sau này lấy thì cũng phải biết nhưng lúc này tôi thật sự chưa đủ tự tin giới thiệu anh với gia đình. Tôi còn ngỡ chị Linh sẽ trêu tôi, thế nhưng không, chị hơi mỉm cười rồi bước lên con xe taxi đi thẳng. Thắng phóng xe lại gần đội chiếc mũ bảo hiểm lên đầu cho tôi khẽ hỏi: - Chị gái mà em hay nhắc đến đấy à? Mấy lần anh đến mà chưa gặp bao giờ nhỉ? - Chị ấy đi học đại học trên Hà Nội ít về, thôi đi đi không tí lại muộn giờ đấy anh. Thắng gật đầu, phóng chiếc xe thẳng đến nhà hàng của tôi làm rồi mới đến công ty. Tôi thay bộ quần áo rồi nhanh chóng bước vào trong. Công việc của tôi hằng ngày đều là dọn dẹp, đến trưa thì phụ bếp nấu nướng cho khách sau đó nghỉ một lát đến chiều lại tiếp tục như vậy. Nhà hàng này rất đông khách, lương cũng tương đối cao, tuy vất vả nhưng bù lại hàng tháng đều có thưởng cho nhân viên. Tôi vào lau lại cho sạch bàn ghế vừa nhìn ra tiết trời lạnh lẽo bỗng dưng tôi nghĩ đến Thắng, tôi và anh gặp nhau cũng ở nơi này, trong một lần anh cùng đối tác ăn cơm ở đây thế rồi không hiểu sao anh có số điện thoại của tôi mà gọi điện nhắn tin làm quen. Mãi sau này anh mới nói, khi anh đến nhìn thấy tôi đã như bị sét đánh không kìm được liền vội xin số từ cô bé nhân viên khác. Tôi cũng không hiểu sao anh thích tôi, tuy rằng tôi nhận thức được rằng mình cũng khá xinh xắn, thanh tú nhưng với một phó phòng nhân sự như anh... thực lòng mà nói tôi và anh có chút không tương xứng. Thắng tốt nghiệp đại học kinh tế Quốc Dân, nghe đâu bố anh làm bộ đội, mẹ anh làm giáo viên. Anh thực sự rất giỏi, ra trường mới chỉ ba năm đã được đề bạt lên phó phòng nhân sự. Trước kia khi mới yêu anh tôi rất tự ti, nhưng dần dần tôi nhận thấy việc bằng cấp cũng không quan trọng đối với anh, anh chưa bao giờ chê bai, coi thường tôi, thậm chí còn luôn động viên an ủi tôi rằng việc tôi bươn trải, đi làm sớm mà không học đại học không hề là con đường tồi tệ, xã hội hiện đại, nhiều người vẫn khởi nghiệp và giàu có mà không có bằng cấp. Mỗi lần anh nói vậy, tôi lại cảm thấy bản thân may mắn và tự tin hơn rất nhiều. Những ngày tiếp theo tôi vẫn đi sớm về khuya như vậy, mãi đến thứ hai tuần sau đó tôi được về sớm một hôm do có người thay ca của mình nên nhắn tin cho Thắng không cần đón. Thế nhưng khi chạy ra ngoài đã thấy anh chờ sẵn. Anh không đưa tôi thẳng về nhà mà lòng vòng vào một con hẻm nhỏ rồi đột nhiên ôm chặt lấy tôi khẽ thì thầm: - Phương, anh yêu em. Tôi nghe trong gió có mùi rượu hơi thoảng nhẹ, anh càng siết chặt, hơi thở có phần gấp gáp: - Mai anh đi công tác Đà Nẵng một tuần. Thực sự anh sợ nhớ em không chịu nổi mất. - Bình thường anh vẫn đi công tác đấy thôi, sao hôm nay lại yếu đuối thế? - Tôi vừa cười vừa vòng tay qua bờ ngực rắn chắc của anh Thắng cúi xuống, hôn lên môi tôi, gió rít từng cơn nhưng nụ hôn lại nóng bỏng khiến toàn thân tôi cũng không còn cảm nhận được hơi lạnh. Anh như điên như dại, đôi tay bất chợt mân mê luồn vào chiếc áo rồi chạm khẽ lên ngực tôi. Khi còn đang say đắm trong nụ hôn ngọt ngào, tôi chợt bừng tỉnh kéo tay anh ra lắp bắp: - Anh... nhỡ có người - Vậy... mình... mình đi nhà nghỉ nhé. Anh... anh muốn chúng ta là của nhau, đừng từ chối anh nữa được không? Đằng nào chúng mình cũng cưới nhau mà. Tôi nhìn ánh mắt cầu khẩn của Thắng, chợt thấy có lỗi, đấy là lần thứ en nờ anh đề nghị chuyện này. Có điều... lúc này đây bản thân tôi vẫn chưa đủ sẵn sàng cúi đầu áy náy đáp: - Em chưa sẵn sàng. - Sao lúc nào em cũng chưa sẵn sàng thế? Người ta yêu nhau còn chửa trước, đằng này chỉ là cho nhau thứ quý giá nhất, mai anh đi công tác cả tuần, chẳng lẽ em không chiều anh một chút được sao? Hay em không thực sự yêu anh? Không muốn lấy anh - Không phải, em chỉ muốn dành thứ tốt đẹp nhất đến đêm tân hôn. - Nếu thật sự yêu nhau, nếu thật sự xác định đến với nhau đêm nào chẳng là đêm tân hôn? Tôi ngước đôi mắt lên nhìn Thắng, trong một giây lát tưởng chừng mình sẽ mềm lòng cuối cùng tôi vẫn kiên định đáp: - Thắng! Em thực sự chưa đủ sẵn sàng, nếu thật sự yêu nhau thì chờ một chút cũng được mà đúng không anh? Thắng thở dài rồi nói: - Ừm! Lên xe đi anh đưa em về. Tôi biết anh còn chút giận tôi, suốt đoạn đường trên xe anh không nói với tôi thêm câu nào dù tôi hỏi anh rất nhiều, đến khi xuống xe anh cũng vội phóng đi luôn. Thực lòng tôi không trách anh, anh đã từng nói bọn trẻ giờ mười bảy mười tám đã đi nhà nghỉ ầm ầm, không phải tôi không có dục vọng, mà bởi tôi từng hứa với bà nội, hứa với bản thân rằng thứ quý giá nhất của đời con gái sẽ để dành trọn vẹn đêm tân hôn. Cả đêm ấy Thắng cũng không gọi cho tôi thêm cuộc nào, nhắn tin anh đã xem mà không trả lời. Tôi có chút buồn bã, trái tim lại khẽ nhói lên, anh là mối tình đầu của tôi, là người đàn ông duy nhất đối xử tốt với tôi liệu rằng tôi như vậy có cứng nhắc quá, liệu rằng tôi có sai hay không? Sáng hôm sau khi tôi vừa tỉnh dậy chợt thấy chị Linh không còn ở bên cạnh liền vội chạy xuống nhà. Có tiếng mẹ tôi oang oang cất lên: - Đấy ông xem, con Linh vừa đi thực tập là đã được sếp cho đi công tác, tôi nói rồi hai đứa con ông chỉ có con Linh là có tương lai thôi còn cái thứ báo cô kia thì làm được cái tích sự gì? Tôi không nghe được ba tôi trả lời cũng không muốn chấp mấy lời của mẹ mà kéo vội chiếc áo rồi xuống bếp nấu đồ ăn sáng. Cả ngày hôm ấy tôi như kẻ mất hồn chờ đợi một tin nhắn từ người yêu. Thế nhưng một giờ, hai giờ ba bốn giờ rồi đến một ngày, hai ngày, ba bốn ngày trôi qua Thắng vẫn không hề nhắn tin cho tôi. Dù biết bản thân nên giữ sĩ diện nhưng tôi vẫn không kìm được mà mỗi ngày đều đặn nhắn hỏi thăm anh. Vậy nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng, im lặng đến bản thân tôi cũng cảm thấy bất an mơ hồ. Trước kia khi tôi từ chối chuyện ấy anh cũng chưa từng lạnh nhạt với tôi như bây giờ, tôi đã cố tự nhủ là do anh bận nhưng những suy nghĩ rối ren cứ hiển hiện lên trong đầu. Thế nhưng cũng may cuối tuần Thắng gọi điện cho tôi, anh nói cả tuần nay anh bận dự án với đối tác nên không liên lạc được. Giọng anh hồ hởi như chưa từng có chuyện gì khiến tôi cũng cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Buổi tối hôm ấy Thắng lại đón tôi về nhà, còn mua cho tôi chút đồ ăn sau đó chở tôi về nhà. Có điều không hiểu sao tôi cứ thấy anh có chút khác khác mà không thể hiểu khác ở đâu. Những ngày tiếp theo Thắng bận bịu với công việc, tôi cũng vậy. Cuối tháng tôi nhận lương, định cùng anh đi ăn một bữa nhưng anh họp nên tôi lại trở về nhà. Vừa vào đến nơi mẹ tôi đã ngồi trên ghế bóng gió với ba tôi: - Cũng cuối tháng rồi ông nhỉ, tiền điện tiền nước hết cả triệu bạc, rồi ăn uống chi tiêu... Tôi hiểu ý mẹ, rút tập phong bì đưa cho bà nói nhỏ: - Tiền đóng góp tháng này của con, với lại tháng này con được thưởng cao hơn một chút nên con biếu ba mẹ một triệu, tuy ít... Khi còn chưa nói dứt lời mẹ tôi đã rít lên: - Biếu thì cũng vào phần ăn của chị, nghe biếu mà cứ như tôi bòn rút tiền ý nhỉ. Tôi sợ hãi nhìn mẹ, cứ tưởng tháng này dư thêm chút tiền thưởng biếu bà bà sẽ vui không ngờ lại nổi giận như vậy. Ba tôi thấy thế liền xua xua tay: - Thôi, bà cứ nghiêm trọng hoá vấn đề lên làm gì? Muộn rồi để nó vào ăn cơm. - Tôi nói không thiên hạ lại bảo tôi thế nọ thế kia... - Thiên hạ nào nói bà vậy chứ, bà cứ tự nghĩ tự suy diễn thế. Thôi con vào ăn cơm dọn dẹp đi Mẹ tôi không thèm nhìn, cầm một triệu với chiếc phong bì nhét vào túi rồi bỏ lên gác. Tôi khẽ thở dài, ăn uống tắm táp xong lên tầng nằm vật ra. Chị Linh hôm nay chưa về, tôi nằm chợt thấy tủi thân đến đau lòng. Rốt cuộc là tại sao mẹ luôn như vậy với tôi, cùng là con sao mẹ lại ghét bỏ tôi đến thế? Từ nhỏ mẹ chưa từng ôm tôi, chưa từng một lần nói mẹ yêu tôi, mỗi lần chị Linh sà vào lòng mẹ đều vuốt ve mái tóc chị, còn tôi tại sao mẹ lại đẩy ra xa? Đến lớn lên rồi tôi vẫn không hiểu, tôi đã làm gì sai với mẹ, rốt cuộc tôi có phải máu mủ ruột thịt mà mẹ sinh ra hay không? Sống mũi tôi cay xè nhưng rồi lại chẳng thể rơi nổi một giọt nước mắt nào, có lẽ khi còn nhỏ đã khóc quá nhiều, giờ đây tôi không còn thể rơi nước mắt vì những chuyện này nữa rồi. Càng ở đây càng ngột ngạt, tôi càng muốn được thoát khỏi căn nhà này, muốn được vẫy vùng. Những ngày tiếp theo Thắng vẫn chưa hết bận, cả ngày gần như anh không nhắn cho tôi một cái tin. Nỗi bất an trong lòng càng lúc càng lớn, mong muốn được cùng anh đường đường chính chính nên vợ nên chồng để ra khỏi căn nhà của chính mình cũng càng mãnh liệt. Thế nhưng tôi không thấy anh nhắc thêm gì đến việc ra mắt ba mẹ anh vào cuối tháng nữa, hỏi thì năm lần bảy lượt anh gạt đi nói rằng anh chưa sắp xếp được thời gian. Tôi tuy không học hành cao, nhưng không phải quá ngốc mà không nhận ra dường như sau lần từ chối của mình Thắng lạnh nhạt với tôi rất nhiều. Sau vài lần như vậy, cuối cùng tôi quyết định gặp anh để nói, lần này không còn như mọi khi, tôi vừa đề nghị anh liền nói: - Em muốn được gặp ba mẹ anh lắm à? Trước kia anh tưởng em ngại gặp họ chứ? - Không phải muốn hay không, mà anh nói cưới em thì cũng nên để em ra mắt chứ anh. Trước kia là do em chưa sẵn sàng nhưng giờ em sẵn sàng rồi. Thắng nhìn tôi rất lâu, anh đẹp trai thế này, giỏi giang thế này... tôi thực sự rất sợ mất anh. Tôi sợ rằng nếu cứ kéo dài tình cảm này sẽ bị nguội lạnh mất. Thắng cúi xuống khuấy li cafe rồi đáp: - Được, vậy em chuẩn bị đi, thứ bảy anh sẽ đưa em về nhà. Nói rồi Thắng chở tôi ra ngoài, trời tối, anh lại đưa tôi vào hẻm nhỏ. Lần này anh không đụng chạm mà nói luôn: - Anh muốn chúng ta là của nhau được chứ? Tôi nhìn anh, nếu tôi từ chối anh thêm lần nữa liệu anh có chán tôi không? Tôi thực sự rất sợ, tôi đã muốn gật đầu, đã muốn chiều anh, vậy mà giây phút cuối cùng tôi vẫn khẽ lắc. Thắng không nói gì chỉ cười nhạt kêu tôi lên xe chở tôi về nhà. Gương mặt anh không chút cảm xúc khiến tôi chênh vênh vô cùng. Không! Nhất định anh không phải là kẻ chỉ biết tình dục, nhất định anh yêu tôi là thật nếu không anh đã không chịu đưa tôi về ra mắt. Nghĩ vậy tôi cũng thấy lòng dễ chịu hơn. Sáng thứ bảy, tôi xin nghỉ việc một ngày, vì là nhân viên mẫn cán nên tất nhiên chủ cũng không làm khó dễ. Tôi mặc bộ quần áo sơ mi, trang điểm nhẹ nhàng rồi khoác thêm chiếc áo khoác cho đỡ lạnh. Vừa định bước ra cửa chị Linh liền hỏi: - Hôm nay em không đi làm mà đi đâu hả? Tôi nhìn chị Linh, mấy lần chị bắt gặp tôi với Thắng nên cũng không muốn giấu nữa mà đáp: - Hôm nay em về ra mắt người yêu. Chị Linh hơi khựng lại, đôi lông mày cong vút chau lại nhưng rồi chị bật cười nói: - Nhanh thế cơ à? Vậy mà không nói gì với cả nhà nhỉ? - Từ từ em sẽ nói mà, thôi em đi đây nha. Chị Linh gật đầu, xua tay ra hiệu tôi mau đi. Hôm nay Thắng không đón tôi, tôi tự bắt một chiếc xe ôm đến hàng hoa quả sạch mua một giỏ thật bắt mắt rồi theo địa chỉ đến nhà anh. Nhà Thắng ở trung tâm thành phố, cách nhà tôi không xa nhưng nhộn nhịp và sầm uất hơn rất nhiều. Thắng chờ tôi sẵn bên ngoài đầu ngõ rồi dẫn tôi vào, anh không nói gì nhiều chỉ đi trước, lần đầu tiên ra mắt thật khiến tôi hồi hộp đến nghẹt thở. Thế nhưng mấy lần trước Thắng đều nói ba mẹ anh rất hiền nên tôi cũng đỡ lo. Nhà Thắng không quá to nhưng sạch sẽ, đồ đạc lại bày trí rất đẹp. Tôi cầm giỏ hoa quả tháo giày rồi bước vào trong, ba mẹ anh ngồi trên ghế, vẻ mặt rất nghiêm trang, nghiêm trang đến mức tôi chào lớn họ cũng không đáp. Thắng nhìn ba mẹ rồi nói: - Dạ, đây là Phương, bạn con ạ. Ba anh kéo cặp kính lên, nhìn tôi chằm chằm, còn mẹ anh lạnh nhạt cầm tách trà hừ nhẹ một tiếng. Trong trí tưởng tượng của tôi ba mẹ anh ắt hẳn rất dễ gần, vui vẻ, hay nói thế nhưng bỗng dưng gặp thái độ này... tôi hụt hẫng như rơi từ trên tầng mây thứ mười tám xuống. Tôi khẽ đặt giỏ hoa quả lên bàn nhỏ nhẹ: - Dạ, lần đầu cháu đến cháu có chút hoa quả... Còn chưa kịp đặt lên bàn mẹ anh đã hắng giọng nói: - Ngồi đi Tôi hơi giật mình, buông vội giỏ hoa quả rồi ngồi xuống trước mặt bà. - Nghe nói cháu là người yêu thằng Thắng? - Dạ vâng thưa bác - Năm nay bao nhiêu tuổi? - Dạ cháu gần hai mốt tuổi ạ. - Không đi học đại học? Câu hỏi của mẹ Thắng khiến tôi đột nhiên lạnh toát người, chuyện không bằng cấp vốn dĩ tôi tưởng gia đình anh không coi trọng... nhưng giọng điệu này của bà khiến tôi có chút sượng sùng. Bà lại tiếp lời: - Trả lời đi chứ? - Dạ vâng... cháu học xong cấp ba thì đi làm luôn thưa bác. - Làm gì? - Cháu... cháu làm nhân viên phục vụ nhà hàng. - Cháu biết thằng Thắng là thủ khoa đại học Kinh Tế Quốc Dân chứ? - Dạ... cháu biết ạ. - Phương này! Không phải nhà bác khó tính khắt khe gì, nhưng một đứa con gái học hết cấp ba, lại chỉ làm nhân viên phục vụ nhà hàng, cháu xem... cháu có điểm gì xứng với con bác? Tôi không ngờ mẹ anh có thể nói thẳng như vậy, thẳng đến mức tôi chơi vơi gần như không còn nói thêm gì. Bao nhiêu câu chuẩn bị ở nhà đến giờ bỗng ứ lại ở cổ, quay sang Thắng cầu cứu nhưng anh chỉ dửng dưng nhìn tôi. Mẹ anh thấy vậy khoé môi lại nhếch lên nói tiếp: - Gia đình bác không thể chấp nhận cháu làm dâu. - Nhưng... nhưng cháu với anh Thắng yêu nhau là thật bác ạ. - Cháu còn trẻ, cháu có thể tìm một người xứng với mình và thằng Thắng cũng vậy. - Bác à, thực sự bằng cấp nếu quan trọng lấy nhau rồi cháu có thể đi học một trường nào đó, giờ học đại học không còn khó... Mẹ Thắng đặt tách trà mạnh xuống bàn khiến nước văng tung toé giận dữ rít lên: - Phương! Đây là lần đầu bác gặp cháu, chưa nói đến bằng cấp thì cách nói chuyện của cháu bác cũng không thể chấp nhận được. - Cháu... cháu nói gì sai sao thưa bác? Mẹ Thắng nhìn tôi, gằn giọng: - Kể cả cháu học đại học, kể cả cháu có bằng cấp thì gia đình bác cũng không thể chấp nhận. Gia đình bác không chấp nhận một đứa con dâu đã có một đời chồng, huống hồ... lại còn làm nhân viên nhà hàng, một phó phòng nhân sự, cháu nghĩ sao có thể hợp được? Cháu có thể không nghĩ cho cháu nhưng cháu nên nghĩ đến thằng Thắng. Bác là mẹ nó, bác không muốn ác độc chia cắt tình yêu của con trai bác, nhưng nếu tình yêu đó là địa ngục là nấm mồ chôn tương lai của nó thì bằng giá nào bác cũng sẽ không chấp nhận. "Một đời chồng", tôi ù cả tai, hai tay bấu chặt vào quần lắp bắp nói: - Bác à... bác nghe cháu giải thích được không? Thực ra đúng là năm mười tám tuổi cháu có... Thế nhưng chưa kịp nói hết bà đã quay sang Thắng hất hàm: - Con đưa Phương về đi, mẹ mệt rồi. Tôi quay sang Thắng, bấu bấu tay anh, chuyện bằng cấp anh có thể không nói đỡ được, nhưng chuyện này tôi vẫn hi vọng anh sẽ giải thích giúp tôi. Mẹ Thắng thấy vậy liền ôm đầu, nhăn nhó gắt lên: - Thắng, con không nghe thấy mẹ nói gì hả? Con đưa bạn con về đi, hay con muốn mẹ tăng xông mà chết đây? Thắng kéo tôi dậy khẽ nói: - Phương mẹ anh mắc chứng rối loạn tiền đình, để anh đưa em về đã... Tôi nhìn Thắng, không thể ngờ rằng ngày ra mắt gia đình anh lại chóng vánh đến vậy, nhưng... điều quan trọng hơn... tôi chợt thấy bản thân thất vọng về anh vô cùng. Mẹ anh nói tôi sao cũng được, ba anh hiểu nhầm tôi thế nào cũng không sao, còn anh, từ đầu đến cuối anh chỉ ngồi yên như bù nhìn, những lời ngọt ngào anh từng nói với tôi khác gì gió thoảng mây trôi? Tôi hất tay Thắng, mím chặt môi cố giữ phép lịch sự tối thiểu chào ba mẹ anh rồi xin phép đi về. Bên ngoài trời đổ mưa, Thắng cũng không đuổi theo, tôi bật cười chua chát, trong tim như có hàng ngàn chiếc kim nhọn hót đâm vào. Mời các bạn đón đọc Hai Đời Chồng của tác giả Phạm Vũ Anh Thư.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đẹp Và Buồn
Kawabata viết tiểu thuyết cuối cùng mang tên Đẹp và buồn như để thêm một lần nữa khẳng định quan niệm mỹ học truyền thống lâu đời của Nhật Bản, và cũng là đúc kết lại toàn bộ tư tưởng sáng tác xuyên suốt trong sự nghiệp văn chương của ông. Câu chuyện chính của Đẹp và buồn kể về mối quan hệ tình yêu tay ba đầy bi kịch và tuyệt vọng của Oki với tình nhân Otoko, và người vợ Fumiko. Những nỗi đam mê, nhục cảm trong mỗi cõi đẹp đẽ đến điên rồ. Cái đẹp nằm trong tình yêu, sự ham muốn, và lòng hận thù, để rồi miên viễn trong một cuộc truy lùng, đeo đuổi, đi đến cái đích tận cùng của chiêm nghiệm, ấy là cái chết. "Chết là vĩnh viễn từ chối mọi lý giải của người khác. Không ai biết lý do hành động tự hủy của một người, cũng không ai có quyền phán đoán người đi tìm cái chết". Câu chuyện đầy trầm mặc được đặt trong bối cảnh chính là cố đô Kyoto, với tiếng chuông chùa cuối năm tĩnh lặng, với ngọn đồi êm ả dưới ánh trăng... Kawabata đã thả bút mà vẽ nên những nét đẹp thuần khiết nhất, nhưng cũng ẩn giấu những bất an nhất, thầm kín nhất của cái đẹp. Độc giả say đắm Kawabata, đi xuống từng tầng sâu cùng cõi đẹp Kawabata, đều sẽ luôn nhận ra rằng, Kawabata giữ gìn khoái cảm về cái đẹp ấy, miên viễn ngay trong sự tàn lụi. Đẹp và buồn chính là một lời tuyên ngôn cuối cùng của Kawabata. Đó là cuốn tiểu thuyết mang đầy dự cảm về một chuyến đi cuối cùng của đời người. Mặc dù trong diễn văn đọc tại buổi lễ nhận giải Nobel, Yasunari đã lên án cách kết thúc cuộc đời con người bằng cách tự vẫn, một cách chết "rất Nhật Bản" đã cướp đi nhiều người thân của ông. Năm 1972, Kawabata đã tự tử bằng khí đốt trong một căn phòng tại Hayama. Vì không để lại thư tuyệt mệnh, nên cái chết của ông vẫn đặt ra rất nhiều nghi vấn và tranh cãi cho những nhà nghiên cứu sau này. *** Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ngày 14.6.1899, là tiểu thuyết gia người Nhật Bản đầu tiên và là người châu Á thứ đoạt giải Nobel Văn chương. Những sáng tác văn chương, những tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata Yasunari, qua thời gian vẫn luôn đem lại hấp lực mạnh mẽ đối với nhiều nhà phương Đông học trên khắp các châu lục, có sức lôi cuốn rộng rãi độc giả trên thế giới, phản ảnh nhiều phương diện của văn hóa cũng như những rung cảm đầy đam mê mà tinh tế của tâm hồn Nhật Bản. Mồ côi từ năm mới có hai tuổi, Kawabata và chị gái sống cùng ông bà ngoại. Khi ông lên bảy thì bà ngoại qua đời, lên chín thì mất chị, mười bốn tuổi thì mất cả ông ngoại, ông phải về sống với gia đình người dì. Ở tuổi đôi mươi, Kawabata lại đánh mất một người mà ông hết lòng yêu thương, ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi mọi việc chuẩn bị xong, nàng bất ngờ từ hôn, không một lời giải thích. Kawabata chỉ còn biết tựa mình vào năng lực sáng tạo, phong kín vết thương tâm hồn bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời. Cảm thức cô đơn trong văn phẩm Kawabata thường phản ánh từ chính cuộc sống thời thơ ấu và tuổi trẻ của ông. Cái cô đơn ấy bắt đầu với tập Nhật ký tuổi mười sáu, được xuất bản năm 1925, tác phẩm đầu tay này có lẽ đã được viết lại dù trong đó, ấn tượng của một thiếu niên trước cái chết của người thân (ông ngoại) vẫn còn rõ nét. Những ngày cuối cùng khốn khổ của một người già yếu mù lòa, cuộc sống cô độc của một thiếu niên nhỏ bé đối diện với sinh ly tử biệt được thể hiện chân thực. Bên cạnh viết văn, Kawabata còn làm phóng viên cho một số tờ báo. Mặc dù đã từ chối tham gia vào sự hăng hái quân phiệt trong Thế chiến II, ông cũng thờ ơ với những cải cách chính trị của Nhật Bản sau chiến tranh, nhưng rõ ràng chiến tranh có ảnh hưởng lớn lao đối với ông (cùng với cái chết của cả gia đình khi ông còn trẻ). Sau đó, ông nói rằng kể từ đó ông chỉ còn khả năng viết những tác phẩm bi ca mà thôi. Năm 1972, Kawabata tự tử bằng khí đốt. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra: sức khoẻ kém, cuộc tình bị cấm đoán, sốc do vụ tự tử của người bạn văn năm 1970. Kawabata không để lại thư tuyệt mệnh, các tác phẩm của ông cũng không có manh mối gì, nên đến nay không ai biết được nguyên nhân thật sự của cái chết đó. Trong diễn văn của Viện Hàn lâm Thụy Điển khi trao giải Nobel Văn chương cho ông vào năm 1968, đã tôn vinh Kawabata: “Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người.” *** Keiko tới trà thất Kiyamachi thấy Taichiro đã quần áo chỉnh tề đứng đợi ngoài sân thượng. “Em chào anh ạ. Anh ngủ có ngon không?” Keiko bước lại bên anh. Tựa lan can, cô gái hỏi tiếp: “Anh đợi em?” Taichiro nói: “Tôi dậy từ sớm. Tiếng sông làm tôi thức giấc. Tôi ra đây ngắm mặt trời mọc trên dẫy đồi đông.” “Anh dậy sớm thế à...?” “Đúng vậy. Nhưng dẫy đồi gần quá, nên rạng đông mà không có cảm tường là mặt trời đang mọc. Chỉ khi mặt trời đã lên cao, dẫy đồi mới đột ngột hiện rõ ra màu lục, và nắng mới làm sông sáng lên như bạc...” “Anh ngắm cảnh lâu nhỉ...” “Coi mấy xóm bên kia sông thức giấc và sinh hoạt náo nhiệt trở lại, cũng thú vị lắm.” “Vậy thì anh ngủ đâu có được nhiều. Khách sạn thiếu tiện nghi phải không?” Rồi cô gái thầm thì: “Anh mà bảo tại nhớ em mà mất ngủ thì em sướng lắm...” Taichiro yên lặng. Keiko năn nỉ: “Anh không chịu nói cho em câu đó sao?” “Có chứ. Keiko, tôi ngủ không được là vì nhớ cô.” “Anh nói chỉ vì em van xin anh.” “Nhưng Keiko, đêm qua cô ngủ ngon phải không?” Keiko lắc đầu: “Anh đoán sai rồi.” “Tôi đoán vậy tại mắt cô tươi rói.” “Tại vì tim em tươi rói. Mà tim em tươi rói là tại vì anh. Còn mắt em thì sợ gì một hai đêm không ngủ.” Keiko nhìn Taichiro chằm chặp, đôi mắt ướt long lanh. Anh nắm lấy tay cô gái. Keiko nói: “Sao mà tay anh lạnh thế.” “Còn tay cô thì ấm quá.” ... Mời các bạn đón đọc Đẹp Và Buồn của tác giả Yasunari Kawabata.
Cuộc sống và Thời đại của Michael K - John Maxwell Coetzee
Michael K, đó là tên của nhân vật chính trong tác phẩm đoạt giải Booker năm 1983. Mỗi cái tên thôi cũng đủ nói lên một thân phận mịt mờ. Nhưng sau K của Kafka, lịch sử văn học lại có thêm một nhân vật K kỳ diệu, K của người đoạt giải Nobel văn học 2003 J.M.Coetzee. K, với chiếc môi rách và thân hình mong manh như một đứa trẻ mồ côi, im lặng ngẫm nghĩ và sống trong thế giới của riêng mình - một thế giới may mắn còn màu xanh của bí ngô và mây trời. Nhưng chiến tranh như cái bóng theo đuổi anh đến tận mọi ngõ ngách, ở bất cứ nơi nào anh đến... Với một thân phận chiến tranh, mọi giá trị cuộc sống cũng bị hoán đổi. Thực phẩm, tình dục, sức khỏe, sự liên đới với đồng loại... đều không phải là nhu yếu của K. K hờ hững với tất cả. Trên tất cả là sự thèm muốn “cắn miếng bánh của Tự Do”. Cái tâm nguyên sơ của anh, cách anh tuyệt thực vì không ăn được “thức ăn của con người”, sự hoang mang và ngơ ngác của anh trước sự quan tâm của một người xa lạ... làm người đọc ứa nước mắt. Cuộc sống và thời đại của K đã tước đoạt mất ở anh cả ý niệm về tình thương và lòng trắc ẩn giữa con người với con người! Sự tàn nhẫn của chiến tranh được ẩn giấu khéo léo trong câu chuyện, nhưng tội ác chiến tranh không bao giờ che giấu được. Còn mong đợi nào hơn một thời đại mở ra một niềm tin nhân ái: chiến tranh không tiếp diễn, và không số phận nào có mặt ở cuộc đời này bị lãng quên? *** *** John Maxwell Coetzee (sinh ngày 9/2/1940) sinh trong gia đình gốc Đức tại miền Tây Nam Phi, từ nhỏ đã giỏi cả tiếng Anh và tiếng Đức; học các trường đại học tổng hợp Cape Town và Texas; dậy tiếng Anh và văn học; bắt đầu viết văn từ năm 1969 và ngay lập tức được dư luận chú ý từ cuốc sách đầu tiên, nổi tiếng thế giới với tiểu thuyết Giữa miền đất ấy (In the heart of the country, 1977) viết về tính bạo lực và thói ghẻ lạnh là bản chất của chính sách thuộc địa của người da trắng. “Ruồng bỏ” (Disgrace) của John Maxwell Coetzee – Một nhà văn hai lần đoạt giải Booker: Cuộc sống và thời đạicủa Michael K. (1983) và Ruồng bỏ (1999) – và đoạt giải Nobel Văn học năm 2003. Những tác phẩm của Coetzee được viết bằng giọng văn điềm đạm, ngắn gọn, ít phô diễn kĩ thuật, người mới đọc dễ nắm bắt được mạch tác phẩm của ông và hiểu được cốt truyện. Tất nhiên, để hiểu toàn bộ kĩ thuật hay dụng ý của Coetzee lại không đơn giản lắm. Các tác phẩm của ông thường đi sâu vào cuộc sống và suy nghĩ riêng của một người nào đó đặt trong một bối cảnh có biến động, phức tạp vì chính trị hoặc bị xô đẩy bởi chiến tranh, như trong Cuộc sống và thời đại của Michael K. thì là hành trình của K. Ruồng bỏ là hành trình của David Lurie, hay Tuổi sắt đá là về bà Curren, một giáo sư sống và chết dần vì bệnh ung thư. *** Ăn thêm chút nữa là anh có thể đi dạo được rồi - Tôi dỗ Michaels. Tuy nhiên, thứ anh ta thực sự cần là vật lý trị liệu thì chúng tôi lại không thể có. Anh ta thích một trong những đồ chơi Ịàm bằng cái que và hai sợi cao su. Anh ta cần một chế độ ăn kiêng từ từ, những bài tập nhẹ nhàng và vật lý trị liệu để sớm trở lại với sinh hoạt trại, có dịp diễu hành lên xuống qua trường đua, hô to các khẩu hiệu và chào cờ, rồi đào hố và lấp chúng lại. Tôi tình cờ nghe lỏm ở căngtin “Bọn trẻ thấy khó mà thích nghi với cuộc sống trong nhà. Chúng thực sự buồn nh ớ khu vườn rộng rãi và những con vật cưng của chúng. Chúng tôi phải sơ tán theo cách này: báo trước có ba ngày. Tôi có thể khóc khi nghĩ đến những thứ đã bỏ lại.” Người nói là một phụ nữ có gương mặt hồng hào, mặc bộ váy áo chấm tròn to, tôi cho là v ợ của một trong những NCO [ [4] ] . (Trong các giấc mơ về ngôi nhà bị từ bỏ của bà, một người đàn ông lạ đi cả giày nằm ườn ra trên tấm vải trải giường, hoặc mở tủ lạnh và nhổ bọt vào món kem). ... Mời các bạn đón đọc Cuộc sống và Thời đại của Michael K của tác giả John Maxwell Coetzee.
Những Người Đàn Bà Trong Gia Đình Kennedy - Pearl S. Buck
Những người đàn bà trong gia đình Kennedy (The Kennedy Women) mà các bạn đang cầm trên tay là quyển sách cuối cùng trong đời bà - Pearl S.Buck - hoàn tất vào khoảng tháng Giêng 1972, và ấn hành tháng Bảy cùng năm. Bà không viết gì nữa cho đến khi qua đời. Quyển sách của một trong những nhà văn lớn nhất thế giới, viết về một gia đình nổi tiếng nhất thế giới.Qua những nhận xét sắc bén và thâm trầm rất Đông phương, Pearl S.Buck không chỉ viết về những người đàn bà trong gia đình Kennedy, mà còn là một cái nhìn bao gồm những cá nhân sáng chói: những người đàn ông mang họ Kennedy.“Làm thế nào để trở thành một tổng thống Hoa Kỳ?” Hoặc “Làm cách nào để được như những người đàn ông mang họ Kennedy?” Tất cả sẽ được giải đáp trong quyển sách này. Và nhân đó, chúng ta sẽ hiểu vai trò của người đàn bà quan trọng như thế nào đối với sự thành công của người đàn ông trên cả hai phương diện: chính trị và tiền bạc.Tuy cuốn sách nhỏ này mang tựa đề là “Những người đàn bà trong gia đình Kennedy”, nhưng ở những chương cuối, bà cũng đã dày công nhận xét, phân tích, tình hình xã hội Mỹ, nhất là sau giai đoạn JFK bị ám sát, và đưa ra những lời giải thích cũng như tâm tư, mong muốn của giới trẻ Mỹ , mà đã từng bị coi là giới trẻ nổi loạn thời bấy giờ. *** Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ; Những mảnh hồn sầu xứ. Khi người con gái lên núi *** Gia đình Kennedy đã làm thay đổi quốc gia của chúng ta, và thay đổi chúng ta, hơn bất kỳ gia đình nào khác trong lịch sử Hoa Kỳ. Dĩ nhiên, thay đổi này cũng phải đơn độc mình họ, thay đổi của đời sống một quốc gia là một sự chuyển biến liên tục và gia đình Kennedy đã lộ diện, đã nhô lên đúng lúc trong lịch sử quốc gia chúng ta và trong lịch sử của thế giới. Chúng ta đang tiến tới gần một thời đại.   Hai cuộc thế chiến và cuộc chiến tiêu hao ở Triều Tiên đã cướp mất của chúng ta biết bao nhiêu nhân tài trẻ tuổi, có thể là những nhà lãnh đạo của quốc gia chúng ta và của thế giới. Sự mất mát lớn nhất trong chiến tranh không phải là tiền bạc. Sự mất mất luôn luôn và mãi mãi vẫn là sự mất mát những thanh niên sáng chói và tài ba trên phương diện lãnh đạo. Trong xứ sở và ở hải ngoại, thế hệ thứ hai hiện thời của chúng ta chỉ còn lại những nhà lãnh đạo hãng nhì .   Dưới thời đại Tống thống Truman và Eisenhower có thể nói là thời kỳ phục hồi. Dân chúng còn kiểm điểm bản thân và xem xét những lĩnh vực quanh đời sống của họ, họ chưa dám nhìn về tương lai xa hơn.   Họ mong muốn được dìu dắt bởi những người mà họ có thế đặt được tính nhiệm của họ.   Nhưng giai đoạn cầm quyền của Eisenhower có thể nói là giai đoạn gây ít nhiều thất vọng. Đồng ý là Eisenhower có nhiều kinh nghiệm và tài ba trên lĩnh vực quân sự, nhưng hiển nhiên, ông không có kinh nghiệm và tài ba trong lĩnh vực chính trị. Đức tính thanh khiết và thẳng thắn của ông phải được công nhận, nhưng sự tiên liệu và chuẩn bị, phải có, đối với một nhà lãnh đạo tài giỏi, ông gần như không có. Tuy vậy theo tôi nghĩ, qua những năm chậm chạp ấy, lại tào ra một môi trường tốt cho dân chúng, để họ có đủ thời giờ chuẩn bị, phản ánh và hiểu thêm các nhu cầu của họ, để họ sắp xếp, tìm kiếm một lối đi mới thích hợp trong đời sống. Việc tìm kiếm này đã dần dần kết tinh được một ước muốn sâu xa hơn, vững chãi hơn, trong tư tưởng non yếu lúc bấy giờ. Tóm lại, tất cả rất, cần thiết cho những kẻ can đảm và anh hùng dấn bước trên hướng đi mới mẻ của họ.   Đúng vào thời gian này, những người đàn ông mang họ Kennedy xuất hiện. Nếu Joseph Patrick Kenned Jr. người anh lớn của họ còn sống, thì sự xuất hiện có thể là quá sớm, và hấp lực của gia đình Kennedy cũng kém hẳn đi, nếu không nói là không có.   John Kennedy đã xuất hiện đúng lúc, đúng con đường cần thiết sự có mặt của ông.   Ông đã đến với sức mạnh truyền thống của Hoa Kỳ , của một giòng họ di trú ba đời ở quốc gia này , của sự giầu có, thành công và quyền thế, qua các hoạt động riêng của ông, ông đã lộ diện như là một vị anh hùng được mong mỏi.   "Những gì đã tạo nên người anh hùng ?" Chưa có ai tìm hiểu một cách rõ rệt. Theo tôi, một hành động liều lĩnh ngắn ngủi của một người, không có nghĩa người ấy là một vị anh hùng. Nhiều người có thể được gọi là anh hùng trong chốc lát, qua hành động can đảm nhất thời của họ. Tôi nghĩ: một vị anh hùng thật sự phải được nhìn qua các hành động liên tục của họ và chính bản thân họ gây ra sự tín nhiệm, lòng tin cậy và tối hậu là sự tôn kính.   Giải thích tốt nhất của hai tiếng anh hùng thường được sử dụng trong ngôn ngữ hiện đại là nên lấy nghĩa nguyên thủy của Hy Lạp: “thiên tài của cái đẹp”.   Trong một bữa ăn: tôi đã thảo luận với một người bạn có quan điểm chính trị độc lập, về hiện tượng Kennedy : "Vâng. đúng là nguy hiểm, ông ta tuyên bố. Một Kennedy này kế tiếp một Kennedy khác bước vào tòa Bạch ốc, chúng ta sẽ có một đế chế. Kennedy chỉ ở Bạch ốc hai nhiệm kỳ, không thể thêm hai nhiệm kỳ nữa. Không, không, tám năm là quá đủ. Tôi bỏ phiếu cho đảng Công hòa tám năm và rồi quay lại đảng Dân Chủ. Nhưng chắc bà công nhận, một Kennedy và tòa Bạch ốc với tất cả ma lực của ông, dân chúng đã bị mê hoặc và họ muốn ông ta ở lại mãi mãi."   Gia đình Kennedy có ma lực, mỗi người trong gia đình này đều có, nhưng John Kennedy và vợ ông, Jacqueline, có ma lực  vô song. Robert Kennedy cũng có ma lực và góp thêm vào ma lực của người anh, sau khi người anh này bị ám sát. Ma lực không luôn luôn có tính chất mời gọi sự yêu thương mà nó còn, thỉnh thoảng, mời gọi sự đố kỵ và bạo hành nữa.   Một chiều ở Arizona, khi tôi đến dự tiệc tại nhà một góa phụ giàu có, một người đàn bà sáu mươi tuổi, thành thật và giản dị, nhưng bà ta đã gây cho tôi sự kinh ngạc. Đó là lúc một thanh niên lên tiếng bàn về Robert Kennedy, và cuối cùng với giọng điệu mến mộ, anh ta cho rằng Robert có thể là vị Tống thống sắp đến của Hoa Kỳ. Khuôn mặt đáng mến của nữ chủ nhân biến đổi luôn luôn. Thật ra, phải nói là một khuôn mặt biểu lộ sự oán ghét vô tả. ... Mời các bạn đón đọc Những Người Đàn Bà Trong Gia Đình Kennedy của tác giả Pearl S. Buck.
Người Xa Lạ - Albert Camus
Người xa lạ (còn được dịch Kẻ xa lạ hay Người dưng; tiếng Pháp: L'Étranger) là một tiểu thuyết của Albert Camus được viết vào năm 1942. Đây là một tác phẩm lạ thường nói về một người đàn ông Pháp bị bệnh tâm thần, người mà cuối cùng đã bị tống giam vì tội giết người, và ngồi chờ bị hành hình. Trong thời gian đó, ông đã suy nghĩ rất nhiều về cuộc đời của ông cũng như nhìn ra được và ao ước có được một cuộc sống an lành trở lại. Đây là một trong những tác phẩm đầu tay của Albert Camus, cũng như những học thuyết cơ bản của ông về những điều phi lý và vô lý (tiếng Anh: absurdism) *** Albert Camus sinh ngày 7 tháng 11 năm 1913 tại Mondovi, một làng ở Constantinois, gần Bône, Algérie. Cha ông, Lucien Camus, một công nhân sản xuất rượu nho vùng Mondovi cho một thương gia thành phố Alger. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, Lucien Camus bị động viên vào tháng 9 năm 1914, bị thương trong trận chiến Marne và chết tại bệnh viện quân y Saint-Brieuc ngày 17 tháng 10 năm 1914. Về cha mình, Abert chỉ biết qua một bức ảnh duy nhất còn để lại. Albert đến Paris làm biên tập cho tờ Paris-Soir. Năm 1942, ông phát hành cuốn tiểu thuyết L'Étranger (Người xa lạ) và tiểu luận Le Mythe de Sisyphe (Huyền thoại Sisyphe), trong đó ông đã trình bày những tư tưởng triết học của mình. Sisyphe là một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp bị trừng phạt phải lăn một hòn đá lớn lên núi dốc, khi đến đỉnh hòn đá lại rơi trở xuống chân dốc, cứ thế Sisyphe tiếp tục lăn lên rồi rơi xuống theo một chu kỳ vĩnh cửu. Theo hệ sự phân loại của riêng Albert, các tác phẩm đó thuộc "thời kỳ phi lý" (cycle de l'absurde), cùng với các vở kịch Le Malentendu (Ngộ nhận, 1944) và Caligula (1945). Năm 1943, ông làm việc cho nhà xuất bản Gallimard rồi làm chủ biên tập báo Combat, cũng trong năm này ông gặp và làm quen với Jean-Paul Sartre. Những tác phẩm tiếp theo của Camus thuộc "thời kỳ nổi loạn" (cycle de la révolte), trong đó nổi tiếng hơn cả phải kể đến La Peste (Dịch hạch, 1947), kế đến L'État de siège (1948), Les Justes (1949) và L'Homme révolté (Người nổi loạn, 1951). Trong quyển tiểu luận triết học Người nổi loạn, ông đã trình bày tất cả các hình thức nổi loạn (siêu hình, chính trị và nghệ thuật...) qua mọi thời đại. Ông miêu tả con người cảm nhận sâu sắc sự phi lý của cuộc sống, luôn muốn nổi dậy, chống lại nỗi khốn khổ của kiếp người, nhưng cuối cùng vẫn không có lối thoát, mọi cố gắng đều hoàn toàn vô ích. Tình bạn giữa Albert Camus và Jean-Paul Sartre rạn nứt vào năm 1952, sau khi trên tạp chí Les Temps modernes của Sartre, Henri Jeanson đã chê trách sự nổi loạn của Camus là "có suy tính". Năm 1956, tại Alger, Albert công bố "Appel pour la trêve civile". Cũng trong năm đó, cuốn La Chute, tác phẩm quan trọng cuối cùng của Albert Camus được xuất bản. Ngày 4 tháng 1 năm 1960, tại Petit-Villeblevin vùng Yonne, Albert Camus mất trong một tai nạn giao thông. Trên chiếc xe Facel Véga khi đó còn có một người bạn của ông Michel Gallimard và người cháu Gaston. Albert Camus được chôn cất ở Lourmarin, vùng Vaucluse, nơi ông đã mua một căn nhà trước đó. *** Lần thứ ba tôi từ chối linh mục. Tôi không có gì để nói với ông ta, cũng không muốn nói, mà đằng nào thì cũng sắp gặp ông ta. Điều tôi quan tâm khi đó là làm sao thoát khỏi máy chém, liệu có thể có lối thoát nào hay không. Người ta đã chuyển tôi sang phòng giam khác. Tại đây, khi nằm duỗi dài, tôi nhìn thấy bầu trời và không gì khác. Ngày nào tôi cũng chỉ nhìn thấy trên đó những màu sắc tối dần khi ngày tàn và đêm đến. Khi chuẩn bị ngủ, tôi đưa hai tay xuống dưới gáy và nằm chờ. Tôi không nhớ đã bao lần tự hỏi liệu đã có trường hợp nào bị khép tội chết lại thoát được khỏi cỗ máy lạnh lùng sau khi giật đứt tung dây trói của cảnh sát và bỏ chạy hay chưa. Tôi tự trách mình đã không chú ý đến những câu chuyện về hành hình. Đáng lẽ phải quan tâm đến những vấn đề như vậy. Người ta đâu biết được điều gì sẽ đến. Cũng như mọi người, tôi đã đọc những chuyện viết trên báo chí. Nhưng chắc chắn có những tác phẩm đặc biệt mà tôi đã không tò mò xem đến. Ở đó có lẽ tôi đã tìm được những câu chuyện về những vụ tẩu thoát. Biết đâu tôi lại chả đọc được rằng ít nhất có một trường hợp bánh xe của cỗ máy đã dừng lại, và trong tiến trình bất khả kháng này đã xảy ra một sự tình cờ, chỉ một lần duy nhất, khi một cơ cấu gì đó bị trục trặc. Chỉ một lần! Không hiểu sao tôi nghĩ rằng thế là đủ. Trí tưởng tượng của tôi sẽ làm những việc còn lại. Báo chí hay nói về món nợ trước xã hội. Theo họ thì cần phải trả nợ. Nhưng cái đó chẳng liên quan gì đến trí tưởng tượng. Điều tôi quan tâm là khả năng thoát thân, một cú nhảy ra khỏi cái nghi lễ quái ác, một cuộc tháo chạy tạo ra mọi cơ hội để hy vọng. Tất nhiên, như thế cũng có nghĩa là hy vọng sẽ bị bắn chết ở một góc phố, khi đang cắm cổ chạy, và một viên đạn bay tới. Nhưng, nghĩ tới nghĩ lui, chẳng có gì có thể đem lại sự xa hoa đó, tất cả đều bế tắc, và cỗ máy chém sẽ tóm lấy tôi. Mặc dù rất có thiện chí, tôi vẫn không thể nào chấp nhận được phán quyết độc đoán này. Vì rõ ràng có một sự bất tương xứng nực cười giữa bản án và hệ quả không tránh khỏi của nó bắt đầu từ thời điểm tuyên án. Việc bản án được tuyên đọc vào lúc 20 giờ thay vì 17 giờ, việc nó có thể hoàn toàn khác đi, việc nó được quyết định bởi những người ba phải, và nó được đưa ra trên cơ sở một khái niệm mập mờ là “nhân dân Pháp” (là “Đức” hay “Trung Hoa” thì có khác chi?), tất cả làm tôi cảm thấy người ta đã nghiêm trọng hóa quá đáng khi đưa ra một quyết định như vậy. Tuy nhiên, tôi buộc phải thừa nhận rằng một giây sau khi nó được tuyên, các hiệu ứng của nó đã trở nên xác định, nghiêm trọng, và làm tôi cảm nhận được rõ ràng sự tồn tại của bức tường mà tôi đang nằm dài bên cạnh. ... Mời các bạn đón đọc Người Xa Lạ của tác giả Albert Camus.