Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Danh Nghĩa Nhân Dân

Danh nghĩa nhân dân xuất bản tháng 1/2017, đến tháng 5 đã được tái bản lần thứ mười, tổng lượng bán ra hơn 1 triệu 500 ngàn bản. Tại Liên hoan truyền hình quốc tế Macao lần thứ 8 năm 2017, bộ phim truyền hình chuyển thể cùng tên đã đoạt bốn giải thưởng lớn, trong đó có giải Phim truyền hình xuất sắc nhất và Biên kịch xuất sắc nhất. Nội dung kể về cuộc chiến chống tham nhũng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ đảng. Lấy bối cảnh chính trường tỉnh H, Trung Quốc, tác giả miêu tả cuộc chiến cam go giữa một bên là Hầu Cảnh Bình, cục trưởng cục chống tham nhũng tỉnh H và các kiểm sát viên viện kiểm sát, với một bên các quan chức cao cấp đã tha hóa trong bộ máy tỉnh chuyên lấy danh nghĩa nhân dân ra để biện minh, phục vụ cho lợi ích của mình. Vốn dĩ, viết về quyền lực chính trị của các phe phái trong một bộ máy cán bộ chính quyền không bao giờ là việc dễ dàng. Nhưng Danh nghĩa nhân dân của Chu Mai Sâm đã thực sự làm được điều đó. Không đơn giản hư cấu nên một cuộc đấu đá chốn quan trường, tác phẩm đã trở thành một tấm gương phản chiếu đời sống xã hội Trung Quốc trong thời đại phát triển mới, sâu hơn nữa soi tỏ nội tâm đấu tranh giữa danh lợi và sự công minh, để lộ phần nhân tính bản chất trong mỗi con người. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ: Chu Mai Sâm sinh năm 1956, người Từ Châu, Giang Tô. Là nhà văn chuyên nghiệp, phó chủ tịch Hội Nhà văn tỉnh Giang Tô, ủy viên Hội Nhà văn Trung Quốc các khóa 7, 8, 9. Các tác phẩm của Chu Mai Sâm thường xoay quanh chủ đề chính trị, quan trường, giành được nhiều giải thưởng cao, như Nhân gian chính đạo đoạt giải Sách Quốc gia năm 1996, Made in China đoạt giải Sách Quốc gia và giải Năm Công trình năm 1998, Lợi ích tối cao đoạt giải Sách Quốc gia năm 1999, Quyền lực tuyệt đối đoạt giải Sách Quốc gia năm 2002. Nhiều tác phẩm của Chu Mai Sâm được chuyển thể thành phim truyền hình dài tập do chính ông là biên kịch, và được khán giả vô cùng yêu thích. Danh nghĩa nhân dân xuất bản tháng 1/2017, đến tháng 5 đã được tái bản lần thứ mười, tổng lượng bán ra hơn 1 triệu 500 ngàn bản. Tại Liên hoan truyền hình quốc tế Macao lần thứ 8 năm 2017, bộ phim truyền hình chuyển thể cùng tên đã đoạt bốn giải thưởng lớn, trong đó có giải Phim truyền hình xuất sắc nhất và Biên kịch xuất sắc nhất. *** Danh nghĩa nhân dân: Lời nhắc nhở những người làm phòng tuyến chống tham nhũng Mỗi khi hai chữ nhân dân được viết ra trên trang giấy, người đọc như khựng lại mấy nhịp: có phải một tên quan tham nữa sắp lộ nguyên hình rồi không? Tiểu thuyết Danh nghĩa nhân dân (Lục Hương dịch) của nhà văn Chu Mai Sâm ra đời trong bối cảnh chiến dịch chống tham nhũng "đả hổ diệt ruồi" dâng lên cao trào ở Trung Quốc.  Viết về một đề tài khó cả nghề văn lẫn nghề chính trị, Chu Mai Sâm đã lão luyện vẽ ra màn kịch đấu trí ở chốn quan trường tỉnh H, giữa một bên chống tham nhũng và bên kia là bè lũ đã bị danh lợi làm cho hủ bại. Vào cái đêm lời khai của một viên trưởng phòng thuộc Bộ Xây dựng tuôn ra, chính trường tỉnh H đã không còn được trở về như cũ, từng thớ đất bị trốc lên để tìm kẻ tham nhũng, những vụ án mạng nhằm vào cán bộ điều tra được thi triển lạnh lùng. Trung tâm của cuộc chiến là Hầu Lượng Bình - cục trưởng Cục Chống tham nhũng tỉnh H. Như Tôn Hành Giả trở mình phá ngọn núi tảng bằng ý chí sắt đá, Hầu Lượng Bình đã từng bước đưa bè phái hủ bại ra ánh sáng công lý, chỉ có điều sợi dây tham nhũng càng kéo càng dài, càng giật càng thấy người thân... "Lượng Bình, cậu nhớ kỹ cho tôi, viện kiểm sát của chúng ta là viện kiểm sát nhân dân, tòa án của chúng ta là tòa án nhân dân, công an của chúng ta gọi là công an nhân dân.  Vì vậy chúng ta vĩnh viễn phải đặt lợi ích của nhân dân trong lòng mình, vĩnh viễn, vĩnh viễn" - những lời nói khiến người ta run run xúc động này là từ Cao Dục Lương, thầy giáo cũ của Hầu Lượng Bình và nay là bí thư ủy ban chính trị tỉnh H. Khoảnh khắc nghe được lời khuyên nhủ, Hầu Lượng Bình thực sự đã bị kích động mãnh liệt, trong lòng tự nhủ sẽ đeo đuổi vụ án tham nhũng đến cùng. Cả anh cũng không ngờ người nói ra câu chữ hùng hồn kia lại chính là kẻ sừng sỏ nhất đứng đằng sau tấm màn trướng giăng biểu ngữ nhân dân. Các nhân vật trong cuốn sách của Chu Mai Sâm ngoài mặt chữ thì được chia làm hai tuyến chính - tà nhưng tựu trung lại chỉ là một tuyến: chính trị gia. Nói như vậy có nghĩa là những mưu kế chính trị được rải lớp lang khắp các trang sách.  Người ngay thẳng cũng muốn leo lên địa vị cao hơn, kẻ dính chàm lại càng muốn cao hơn nữa, nếu chống tham nhũng mà không có nghề chính trị thì sớm muộn cũng bị người ủng hộ mình quay lưng lại. Sự nghiệp tiểu thuyết của Chu Mai Sâm đều là về chốn quan trường, cách ông viết về thủ thuật Hầu Lượng Bình lách qua những cạm bẫy chính trị cũng khiến người đọc phải rùng mình vì sự liều lĩnh trong ngòi bút, sự sắc bén trong tư duy. Nhân dân là tầng lớp ít xuất hiện nhất trong tập sách. Những quan chức đấu đá nhau, nhân dân chính là người chịu hậu quả sau rốt, nhưng trên mặt trận danh nghĩa, mặt trận phát biểu, mặt trận hội nghị... lúc nào cũng nghe bô bô hai chữ này.  Đương đầu với những kẻ giả nhân giả nghĩa, lại có quyền thế, có chỗ dựa (tài nguyên chính trị nói như lời tác giả Chu Mai Sâm), cục trưởng Hầu Lượng Bình như một người đi giữa bão lửa. Dẫu đến cuối truyện, "củi ướt củi khô" từ địa phương đến trung ương đều bị cháy rụi nhưng mầm mống tham nhũng vẫn tiếp tục sinh sôi. Cuốn sách như một lời nhắc nhở đến những con người làm phòng tuyến chống tham nhũng: khi nào còn có người dựa vào quyền lực để mưu cầu hư vinh cho bản thân, ngày ấy tham nhũng còn cơ hội ngóc dậy từ tro tàn. Cuốn sách đi sâu vào bản chất của con người, nơi lương tri phải đấu tranh với quyền lực để giành giật lại chính mình. Chỉ trong hoàn cảnh cam go, thử thách như vậy, chúng ta mới biết được chỗ đứng của nhân dân là ở đâu. *** Hầu Lượng Bình nhận được tin chuyến bay bị hoãn vô thời hạn, sốt ruột muốn nhảy dựng lên. Anh vốn định đáp chuyến bay cuối cùng đến tỉnh H, phối hợp chỉ huy hành động bắt giữ phó thị trưởng thành phố Kinh Châu Đinh Nghĩa Trân, phen này thì kế hoạch lỡ dở hết cả. Trên loa vang lên tiếng nữ phát thanh viên hết lượt này đến lượt khác thông báo cáo lỗi bằng tiếng Anh và tiếng Trung, bầu trời phía trên sân bay có vùng mây dông, vì sự an toàn của hành khách, máy bay tạm thời không thể cất cánh. Trán Hầu Lượng Bình rịn mồ hôi lấm tấm, anh đã biết nỗi khổ bị giam chân ở sân bay, giờ lại phải nếm mùi đau khổ thêm lần nữa rồi. Màn hình tivi cỡ lớn đang chiếu hình ảnh khí tượng, từng đám từng đám mây trắng dày đặc đang xoay tròn theo hình lốc xoáy, trông có vẻ rất nguy hiểm. Hàng chữ thuyết minh là kiến thức phổ cập ngành hàng không: dông sét gây nguy hiểm cho an toàn bay như thế nào, lọt vào vùng mây dông sẽ dẫn đến tai nạn hàng không ra sao. Nhưng tất cả đều không thể làm tâm trạng lo lắng bồn chồn của mọi người lắng xuống, thời điểm này, cả sảnh chờ máy bay dường như đã biến thành một cái tổ ong khổng lồ, tiếng người nhao nhao ồn ào, cũng không ngoài hỏi thăm thời gian chuyến bay của mình có thể cất cánh, truy hỏi phương án bồi thường, vân vân và vân vân. Hầu Lượng Bình chẳng cần chen lên phía trước cũng hiểu được một điều: chỉ cần vùng mây dông ấy vẫn còn trên đỉnh đầu mình, đừng hòng có chuyến bay nào được cất cánh. Hầu Lượng Bình rảo bước đi ra khỏi sảnh chờ, tìm một chỗ yên tĩnh vắng vẻ, gọi hết số di động này đến số di động khác. Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh H Quý Xương Minh tắt máy. Cục trưởng Cục chống tham nhũng Trần Hải tắt máy. Đương khi bận rộn thì mất tích bà nó hết. Đương nhiên, Hầu Lượng Bình biết bọn họ không mất tích, mà đang tham gia một cuộc họp khẩn cấp, báo cáo về vụ án Đinh Nghĩa Trân với phó bí thư tỉnh ủy phụ trách công tác chính trị pháp luật Cao Dục Lương, thông thường, những người tham gia họp đều phải tắt máy. Nhưng Hầu Lượng Bình thà tin rằng bọn họ cố tình tắt máy, chơi trò mất tích với anh. Với tư cách trưởng phòng điều tra của Tổng cục chống tham nhũng thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hầu Lượng Bình đã nhiều lần nhấn mạnh, thậm chí là thỉnh cầu các đồng nghiệp ở tỉnh H: bắt người trước, rồi họp sau! Gã phó thị trưởng họ Đinh này quá quan trọng, là một mắt xích then chốt trong vụ án Triệu Đức Hán nhận hối lộ vừa phá được. Nếu để lộ phong thanh làm hắn ta chạy mất, rất nhiều bí mật trong quan trường của tỉnh H có thể sẽ như đá chìm đáy biển. Hầu Lượng Bình cực kỳ bất mãn với người bạn học cùng đại học Trần Hải, anh đã đặc biệt dặn đi dặn lại Trần Hải đừng báo cáo, cứ khống chế Đinh Nghĩa Trân trước rồi tính sau, nhưng Trần Hải nhát gan, quanh co mấy câu rồi rốt cuộc vẫn báo lên cấp trên. Hầu Lượng Bình chính là sợ đêm dài lắm mộng, bắt Triệu Đức Hán xong liền lập tức lên chuyến bay đêm đến tỉnh H, không ngờ lại gặp phải vùng mây dông thế này. Hầu Lượng Bình đột nhiên phát hiện, bên ngoài chẳng có gió cũng chẳng có mưa, bình yên tĩnh lặng, đến cả tiếng xe đưa đón khách như thoi dệt cửi ồn ã cũng đã biến mất. Dông sét ở đâu ra? Vùng mây dông ở chỗ quái nào? Anh chạy ra cửa sảnh chờ, ngước nhìn bầu trời đêm. Bầu không tuy mây đen mờ mịt, trăng lu sao mờ, nhưng chẳng thấy ánh chớp mà cũng càng không nghe thấy tiếng sấm đâu, hình như máy bay không thể cất cánh là một sai lầm! Vừa khéo bên cạnh anh có một nhân viên sân bay đi qua bên cạnh, Hầu Lượng Bình chặn ông ta lại chất vấn. Vị cán bộ sân bay đã có tuổi này liếc nhìn anh một cái đầy ngụ ý, rồi ra vẻ triết lý nói, nhìn sự vật không thể chỉ nhìn bề ngoài, anh thấy được phía bên trên tầng mây kia à? Đằng sau sự tĩnh lặng bao giờ cũng ẩn chứa bão giông. Hầu Lượng Bình nhìn theo bóng lưng ông ta mà ngẩn người, tựa như vừa nghe được một ẩn dụ nào đó, những lời nói ấy khiến anh không ngừng liên tưởng... Hầu Lượng Bình tốt nghiệp khoa chính trị pháp luật trường đại học H, thầy giáo và bạn học rải khắp cả quan trường tỉnh H, khiến anh có một tình cảm vướng vít đặc biệt với tỉnh này. Cơn bão chống hủ bại tham nhũng đang càng lúc càng mạnh lên ở khắp nơi, chỉ riêng tỉnh H lại bình lặng khác thường, các lời đồn khi nổi chỗ này khi chìm chỗ khác bao năm nay đa phần đều chỉ dừng lại ở mức độ lời đồn mà thôi. Đương nhiên, Hầu Lượng Bình hiểu đây chỉ là hiện tượng giả tạo, người trần mắt thịt không thể thấy được thế giới bên trên tầng mây dày đặc, cũng không thể nhìn thấy những chỗ tối tăm ẩn giấu bên dưới ánh mặt trời. Vụ Đinh Nghĩa Trân nổi lên mặt nước cơ hồ là một sự ngẫu nhiên, nếu không phải vụ án động trời của Triệu Đức Hán dính dáng đến hắn, nhất thời cũng khó mà nắm được chứng cứ nào chắc chắn. Trưởng phòng điều tra hiểu rõ tầm quan trọng của thời cơ, bước chân đầu tiên ra cửa lúc nào cũng là mấu chốt quyết định thắng hay bại. Hầu Lượng Bình sốt ruột lắm, nhưng sốt ruột cũng chẳng ích gì, trên trời có dông sét ngăn cản anh lại. Anh đi qua cửa kiểm tra an toàn lần nữa, quay lại sảnh chờ. Trong sảnh vẫn hết sức ồn ào. Anh cố ép mình bình tĩnh lại, đứng trước máy nước sạch uống mấy ngụm, tìm một ghế trống ngồi xuống, nhắm mắt nghỉ ngơi. Hình ảnh Triệu Đức Hán sa lưới liền hiện lên trước mắt anh, Hầu Lượng Bình không kìm được, lại chìm vào những hồi ức về Triệu Đức Hán. Tối hôm qua, khi người này đang bê cái bát tô lên ăn mì tương đen, cánh cửa gỗ cũ kỹ "cót két" mở ra, anh chính là người thay mặt cho số mệnh đến gõ cửa nhà tay tham quan này. Ông ta có gương mặt trung hậu thật thà, thoạt nhìn không giống một cán bộ cơ quan nhà nước cho lắm, mà như một lão nông dân vừa ở ruộng về nhà. Tay nông dân này rất bình tĩnh, tố chất tâm lý cực tốt, gặp biến mà không kinh hoảng. Hầu Lượng Bình liếc qua đã nhìn thấu, đây là trạng thái mạnh mẽ do nắm quyền lớn trong tay thời gian dài rèn nên. Đương nhiên, có lẽ ông ta đã đoán trước được cảnh tượng ấy từ lâu, đã có chuẩn bị tâm lý. Chỉ có điều, Hầu Lượng Bình không ngờ, một trưởng phòng dự án của ủy ban cấp bộ bị chỉ đích danh tố cáo nhận hối lộ đến mấy chục triệu nhân dân tệ lại sống ở nơi tồi tàn thế này! Đây là một căn hộ cơ quan cải tạo lại khá phổ biến, khoảng bảy mươi mét vuông, đã cũ kỹ lắm rồi. Đồ đạc trong nhà toàn là mua từ thời Triệu Đức Hán kết hôn, quê kệch hết sức, góc xô pha đã mòn bục cả ra. Ngoài cửa chỏng chơ mấy đôi dép lê rách nát, có vứt ra đường cũng chẳng ai thèm nhặt. Bồn cầu trong nhà vệ sinh đang rò nước, cứ hai ba giây lại nghe "tí tách" một tiếng. Vòi nước trong nhà bếp cũng đang nhỏ nước, nhưng hình như không phải bị rò, mà là cố ý trộm nước. Chứng cứ rất rõ ràng, chậu rửa mặt bên dưới vòi đã hứng được nửa chậu nước sạch không phải trả tiền. Mời các bạn đón đọc Danh Nghĩa Nhân Dân của tác giả Chu Mai Sâm & Lục Hương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cô Gái Chơi Dương Cầm
Cô gái chơi dương cầm (nguyên bản tiếng Đức: Die Klavierspielerin) là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của của nữ văn sĩ người Áo Elfiede Jelinek. Tác phẩm xuất bản năm 1983 và được đông đảo người đọc đón nhận. Trong cuốn tiểu thuyết này, Jelinek bóc trần những gì được coi là cấm kỵ trong cuộc sống gia đình người Áo. Cuốn tiểu thuyết bày ra một liên hệ rất không bình thường giữa cô giáo và bà mẹ già độc đoán. Erika là cô giáo dương cầm tài giỏi bậc nhất tại nhạc viện Vienna. Nhưng sự nghiêm trang và đứng đắn của Erika có thể chỉ là vẻ giả tạo bên ngoài. Một khi đã bước ra khỏi căn phòng dạy nhạc, người phụ nữ này lại lén lút đến xem phim tại một cửa hàng phim khiêu dâm, rình mò những đôi trai gái làm tình và luôn giấu sẵn một lưỡi dao cạo trong người để cắt xẻo da thịt của chính mình. Mối quan hệ của Erika và những người xung quanh lại càng bất thường hơn. Người phụ nữ ngoài 30 này vẫn bị bà mẹ độc đoán kiểm soát mọi lúc mọi nơi. Đối với học trò, Erika lại tỏ ra rất lạnh nhạt và nghiêm khắc. Cô sợ mất đi vị trí độc tôn của mình nên tìm cách trù dập những sinh viên tài năng nhất. Nhưng có một chàng sinh viên đã lọt vào mắt xanh của Erika. Cậu là Walter, một sinh viên chuyên ngành kỹ sư rất điển trai với ngón đàn điêu luyện. Thấy Erika lạnh nhạt, Walter lại càng muốn chiếm lấy tình cảm của cô. Cậu học trò Klemmer cũng là một con người có cuộc sống bị kìm hãm. Họ đến với nhau theo cách tự hành hạ, tự làm đau đớn bản thân và làm cho người khác đau. *** Elfriede Jelinek sinh ngày 20/10/1946 tại Mürzzuschlag thuộc Miền Hạ Áo. Từ 1966 đến nay, địa chỉ chỗ ở của bà tại thủ đô Vienna không thay đổi. Chính vì thế, bà luôn coi mình là dân Vienna "chính hiệu". Cha bà là người Do Thái gốc Czech, mẹ bà lại là một tín đồ rất ngoan đạo của Thiên Chúa giáo. Thuở nhỏ bà học ba-lê. Từ năm 6 tuổi, bà học dương cầm theo yêu cầu của mẹ. Đạo diễn người Áo Michael Haneke đã chuyển thể tiểu thuyết này thành phim cùng tên rất nổi tiếng và đã đoạt 3 giải thưởng trong Liên hoan phim Cannes năm 2001. Năm 2004, Elfriede Jelinek được trao giải Nobel Văn học. *** Tác phẩm: Ngoài ba tiểu thuyết lớn (Die Liebhaberinnen, Die Klavierspielerin, Lust) với những chủ đề: nước Áo với quá khứ phát xít, tuổi thơ bị đè nén, số phận phụ nữ trong chế độ nam quyền, văn hoá porno..., Jelinek còn là tác giả của một tập thơ, nhiều vở kịch, một số kịch bản phim và nhiều tiểu luận phê bình. Ngoài ra, bà còn là dịch giả với những bản dịch tác phẩm của Thomas Pynchon, Georg Feydeau, Eugène Labiche, Christopher Marlowe và Oscar Wilde.   Giải thưởng: Jelinek đã nhận được rất nhiều giải thưởng văn học uy tín của các nước nói tiếng Đức cho các tiểu thuyết và các vở kịch của bà (Trong đó có Georg-Büchner-Preis năm 1988, giải thưởng văn học lớn nhất của Đức). Năm 2004, bà được trao giải Nobel văn chương.   - 1969: Giải nhất cuộc thi Thơ sinh viên Áo   - 1969: Giải của Tuần văn hóa thanh niên ở Innsbruck cho Aus einem Iiustriertenriman (Trích từ một tiểu thuyết tranh) và bản thảo chưa xuất bản của wirsind lockvÖgel baby! (chúng ta là chim mồi, các em ạ!)   - 1972/1973: Học bổng quốc gia dành cho văn học.   - 1978: Giải Roswitha của thành phố Bad Gandersheim.   - 1979: Giải khuyến khích dự án Kịch bản phim Die Ausgensperrten (Những kẻ bên lề).   - 1983: Giải văn chương của Bộ giáo dục và nghệ thuật Áo.   - 1986: Giải Heinrich BÖll của thành phố Köin.   - 1987: Giải văn chương của bang Steiermark.   - 1989: Giải văn chương của thành phố Wien.   - 1994: Giải Walter Hansenclever của thành phố Aachen.   - 1994: Giải Peter Weiss của thành phố Bochum.   - 1996: Giải văn chương của thành phố Bremen cho tiểu thuyết Die Kinder Toten (Con cái người chết).   - 1998: Giải Georg Büchner.   - 2000: Giải manuskripte của bang Steiermark.   - 2002: Giải sân khấu Berlin của Quỹ Preuβische Seehandlung.   - 2002: Giải của thành phố Mülheim cho kịch bản Macht Nichts (không sao cả).   - 2002: Giải Heinrich Heine của thành phố Düsseldorf.   - 2003: Giải Else Lasker-Schüler của Nhà hát Pfalztheater ở Kaiserslautern cho sự nghiệp nhà viết kịch.   - 2004: Giải Lessing cho công tác phê bình.   - 2004: Giải của thành phố Mülheim cho kịch bản Das Werk (Nhà máy).   - 2004: Giải Stig Dagerman của Hội Stig Dagerman (Thụy Điển).   - 2004: Giải kịch truyền thanh viết cho người mù trong chiến tranh.   - 2004: Giải văn chương Franz Kafka (Séc).   - 2004: Giải Nobel (Thụy Điển).   Mời các bạn đón đọc Cô Gái Chơi Dương Cầm của tác giả Elfriede Jelinek.
Vương Nguyên
Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 15 tuổi, bà được gửi trọ học tại một trường dạy Anh văn ở Thượng Hải. Năm 17 tuổi, cha mẹ cho Pearl Buck về Mỹ, học tại Trường Đại học Randolph Macon (tiểu bang Virginia). Năm 1917 bà kết hôn với một mục sư và theo chồng đi truyền giáo tại miền Bắc Trung Hoa. Từ năm 1922, bà dạy ở Đại học Nam Kinh và Kim Lăng. Năm 1925, Pearl Buck bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Gió Đông, Gió Tây (do chạy loạn Quốc dân đảng, năm 1930 mới xuất bản được). Sau đó hàng loạt tiểu thuyết nổi tiếng khác về đề tài Trung Quốc ra đời, như Đất Lành, Những Người Con Trai, Một Nhà Chia Rẽ, Người Mẹ, Những Đứa Trẻ Chậm Lớn… trong đó tiểu thuyết Đất Lành được nhận giải Pulitzer năm 1931. Năm 1933, bà được Đại học Yale tặng bằng Cử nhân Văn chương Danh dự. Năm 1938, bà được Đại học West Virginia và Đại học St. Lawrence trao tặng bằng Tiến sĩ Văn chương Danh dự. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Trong Thế chiến II, Pearl Buck viết nhiều sách báo chính luận chống chủ nghĩa phát xít. Những năm 50, bà xuất bản một số tác phẩm về đề tài gia đình và xã hội Mỹ, kí bút danh I. Sedge. Năm 1951, Pearl Buck được bầu làm thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ. Năm 1955, bà li dị chồng và tục huyền với giám đốc một hãng quảng cáo. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ già; Những mảnh hồn sầu xứ.” *** Đây, những lý do nào đã khiến Vương Nguyên, con trai Vương Hổ Tướng, tìm đến căn nhà đất của ông nội hắn, Vương Long…   Khi ở Nam về, cãi cọ, chống đối với cha, Vương Nguyên năm đó 19 tuổi. Một đêm đông gió rét, những hạt tuyết sa lốp bốp đập vào cánh cửa sổ, Vương Hổ Tướng ngồi một mình trong căn phòng rộng lớn, trầm ngâm suy nghĩ, trước ánh than hồng của chiếc lò sưởi; chàng mơ vọng một ngày kia con trở về, một trang thanh niên anh tuấn, cầm quân xuất trận như chàng, lập chiến công hiển hách, nối chí cha tạo những võ công chàng đã hoạch định mà nay vì tuổi già chưa thực hiện được. Chính cái đêm hôm đó, không ai ngờ tới, Vương Nguyên đã đột ngột trở về.   Người thanh niên sừng sững đứng trước mặt chHổ Tướng nhận đúng con chàng, nhưng thấy con ăn vận một lối quân trang chưa từng thấy bao giờ. Đó là sắc phục của dân quân cách mạng, đối thủ với những lãnh chúa như chàng. Khi đã hiểu ý nghĩa cơ sự, Hổ Tướng như bừng tỉnh giấc mơ, đứng phắt dậy, hai mắt dán chặt vào con, tay sờ soạng tìm thanh đoản kiếm lúc nào cũng để bên cạnh người, chàng sẵn sàng giết đứa nghịch tử, như đã hạ thủ bất cứ một đối thủ nào khác. Nhưng lần này cũng là lần đầu tiên, đứa con dám cả gan bộc lộ lòng uất hận đối với cha, từ trước đến nay hắn chưa có dám thế bao giờ. Người thanh niên cởi phanh chiếc áo màu lam, để hở chiếc ngực sạm nắng, nhẵn thín, hét lên, tiếng tuy còn non nhưng rắn rỏi mạnh bạo: - Con biết ý cha muốn giết con lắm! Đó là một phương tiện độc nhất của cha! Giết con đi!   Nhưng ngay lúc đó, người thanh niên cũng biết cha chàng không đủ can đảm giết được con. Hai mắt trừng trừng nhìn cha, cánh tay Vương Hổ Tướng từ từ hạ dần, thanh đoản kiếm rơi xuống nền gạch, Vương Hổ Tướng lấy tay bưng miệng cố giữ cho đôi môi đỡ run như sắp muốn khóc. ... Mời các bạn đón đọc Vương Nguyên của tác giả Pearl S. Buck.
Linh Sơn
Linh Sơn là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Trung Quốc đoạt Giải Nobel Văn học năm 2000: Cao Hành Kiện - con người đa tài trên nhiều lĩnh vực như viết kịch, làm thơ, vẽ, viết lý luận và viết tiểu thuyết.  Linh Sơn không có truyện đủ đầu đuôi phát triển cùng xung đột, mâu thuẫn tới cao trào theo như chuẩn định. Linh Sơn cũng không có nhân vật (theo chuẩn mực thông thường) với đầy đủ diện mạo, hình hài, cốt cách, cảnh ngộ. Linh Sơn tựa như một gallery những gương mặt thấp thoáng, le lói, vừa thực vừa ảo. Nó như một bức tranh thuỷ mặc đẹp thăm thẳm nhờ những nét chấm phá điêu luyện của người hoạ sĩ.  Linh Sơn rất hiện đại ở bút pháp, bố cục nhưng cũng đầy khí cốt, hồn phách Trung Hoa. Vừa dân tộc tính, vừa hiện đại, cả hai đều ở mức cao, đó có lẽ là lý do mà tác phẩm này đã được Uỷ ban Giải thưởng Nobel lựa chọn để trao giải. *** Cao Hành Kiện (4/1/1940) là một nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình người Trung Quốc đầu tiên và là công dân Pháp thứ 13 được trao Giải Nobel Văn học trong suốt 100 năm qua. Ông cũng còn được biết đến với tư cách là một dịch giả, đạo diễn sân khấu và họa sĩ. Ông sinh ra và lớn lên ở Cống/Cám Châu, Giang Tây, Trung Quốc. Ông tốt nghiệp trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh năm 1962 ngành tiếng Pháp. Sau khi tốt nghiệp ông được phân công đến Cục xuất bản ngoại văn làm phiên dịch. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa (1966-1976) ông đã bị đưa vào trại học tập cải tạo và phải âm thầm thiêu hủy cả một va-li đầy bản thảo tác phẩm của mình, trong đó có một vài cuốn tiểu thuyết chỉ chờ ngày xuất bản và 15 vở kịch. Sau đó, ông bị gửi vào trại cải tạo giáo dục mất 7 năm. Năm 1975 ông trở về Bắc Kinh, làm việc tại Cục xuất bản Ngoại văn. Đến năm 1978 ông nhận chức phiên dịch cho Hiệp hội tác gia Trung Quốc. Năm 1980 ông về làm công tác biên kịch tại Kịch viện Nghệ thuật Nhân dân Bắc Kinh. Cao Hành Kiện là một trong những văn nghệ sĩ tiền phong của Trung Quốc đã cổ vũ, đấu tranh cho quyền sáng tác văn nghệ tự do và đích thực. Chính phủ Trung Quốc đã từng coi ông là một phần tử chống đối và các tác phẩm của ông đã bị cấm lưu hành từ năm 1986. Ông đã bỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1989 sau vụ thảm sát Thiên An Môn. Năm 1988, ông sang Pháp sinh sống và nhập quốc tịch Pháp từ 1998, hiện cư ngụ tại ngoại ô Paris, khu Bagnolet. Mười chín năm sống ở Pháp, ông đã tập trung vào viết sách, soạn kịch và triển lãm nghệ thuật. Vào năm 1992 ông đã giành được giải Chevalier de l'Ordre des Arts et des Lettres (Huân chương về Văn học và Nghệ thuật) của Chính phủ Pháp. Sau khi ông đoạt giải Nobel năm 2000, báo chí Trung Quốc không rầm rộ về việc này, nhưng tờ báo ra hằng ngày Tin tức buổi chiều Dương Thành, vào năm 2001, trong một cuộc chỉ trích về Linh Sơn đã gọi ông là một "nhà văn dở tệ" và nói rằng việc ông đoạt giải Nobel thật là lố bịch. Linh Sơn là một tác phẩm nổi tiếng của ông, tổng hợp nhiều hình thái và thể loại văn chương gồm hồi ký, chuyện tình, phóng sự xã hội, thực tế, hư cấu, triết lý, đối thoại, độc thoại... hoà quyện vào nhau. Giáo sư Lee Mabel, người dịch tác phẩm Linh Sơn sang tiếng Anh (Soul Mountain) đã nhận định: "Linh Sơn là câu chuyện của người đi tìm sự an bình và tự do bên trong". Cao Hành Kiện còn là một họa sĩ vẽ tranh thủy mặc độc đáo. Ông đã cho tổ chức khoảng 30 cuộc triển lãm tranh khắp nơi trên thế giới và nhận được nhiều lời khen ngợi. *** Mi muốn kể cho nàng một chuyện có từ đời nhà Tấn. Chuyện ni cô đến xin bố thí ở cửa một đại tướng quân nổi tiếng vì ngạo mạn. Theo lệ, người ta báo với quản gia và quản gia cho ni cô một xâu nghìn đồng chinh. Ni cô từ chối, muốn gặp thí chủ, người ban tiền cho mình. Quản gia đành chuyển đạt lời thỉnh cầu này lên tổng quản gia, tổng quản gia muốn rũ gạt nhà sư nên đã ra lệnh cho gia nhân mang đưa cho ni cô một lượng bạc. Ai dám nói ni cô lại một lần nữa từ chối, lại yêu cầu gặp đích thân đại tướng quân, khẳng định chắc chắn rằng ông ta đang lâm nạn và ni cô đến đây để đặc biệt cầu kinh hóa giải cho ông ta. Tổng quản gia chỉ còn có thể trình lên và viên tướng ra lệnh đưa ni cô vào.     Khi nhìn thấy khuôn mặt của nhà sư mặc dù đầy bụi nhưng rất thanh tú và thoát tục, vị tướng nghĩ ngay ni cô không có chút nào là kẻ lừa bịp hay một mụ đàn bà chuyên trò dâm tà, ông bèn hỏi nhà sư muốn gì. Ni cô tiến lên, chắp tay chào rồi lùi lại nói đinh ninh rằng từ lâu đã nghe thấy đại tướng quân hào hiệp và khoan dung. Ni cô từ xa đặc biệt đến đây để thực hành bảy bảy bốn chín ngày chay giới vì vong linh của mẹ tướng quân đã chết. Đồng thời ni cô cầu xin Phật A Di Đà giáng phúc cho viên tướng, phù hộ độ trì cho ông tai qua nạn khỏi. Cuối cùng, viên tướng ra lệnh cho quản gia xếp đặt một gian phòng ở sân trong và cho gia nhân sửa soạn bàn hương ở đại sảnh.     Từ hôm ấy, tiếng tụng kinh gõ mõ cứ vang lên từ sáng đến chiều trong tướng phủ. Thời gian trôi đi, viên tướng cảm thấy ngày một nguôi dịu trong lòng và sự kính trọng của ông đối với vị sư nữ không ngừng tăng lên. Nhưng mỗi chiều vị sư nữ trẻ lại bỏ ra một giờ tắm táp. Viên tướng ngạc nhiên: nhà sư không tóc thì việc gì phải bận đến đầu tóc cùng trang điểm như một người đàn bà bình thường. Vậy tại sao tắm, nghi lễ đơn giản để thanh tẩy tâm can trước khi thay hương, lại kéo dài đến như thế? Hơn nữa, vào lúc ấy, người ta nghe thấy nước chảy không ngừng. Ni cô dội nước lên mình liên tục hay sao? Tướng quân bắt đầu bị sự tò mò ám ảnh. ... Mời các bạn đón đọc Linh Sơn của tác giả Cao Hành Kiện.
Đồng Hồ Xương - David Mitchell
Mỗi người trong chúng ta là một chiếc “đồng hồ xương”, thời gian hữu hạn trôi qua, và những gì còn lại là xương cốt. Trái với con người hữu thời là những kẻ vô thời, bất tử nhờ tự nhiên hoặc bằng cách tước đoạt mạng sống của người khác, nhưng những kẻ ấy liệu có hạnh phúc hơn khi không thấy thời gian hữu hạn? Năng lực đặc biệt, khả năng thấy trước tương lai, tuổi thọ… không bù đắp được sự cần thiết về gia đình, tình bằng hữu đối với con người. Cuốn tiểu thuyết mới nhất đầy ấn tượng của Mitchell mở đầu với câu chuyện của Holly Sykes, một thiếu niên người Anh với khả năng có thể nghe được những giọng nói độc ác. Với Holly là người dẫn đường, Mitchell đã đưa người đọc của mình qua những câu chuyện thần thoại của hàng loạt người kể thuộc các thể loại khác nhau, đã thực sự đạt tới đỉnh điểm của trận chiến mà ở đó thiện và ác xoay vần mà không hề phóng đại. Cái nhìn của ông về tương lai có thể u ám, nhưng khả năng kể chuyện của ông khiến cho The Bone Clocks trở nên thú vị, đặc biệt đối với những người hâm mộ trung thành, những người sẽ được gặp lại nét quen thuộc trong các tác phẩm trước đây của Mitchell. Trận chiến gần như vĩnh viễn không kết thúc ở rìa của thế giới hàng ngày; “những chiếc đồng hồ xương” là những bầy người, cam chịu chạy xuống và chết. Đó là một chuyến đi không tưởng khi chúng ta theo chân Holly Sykes, từ người thiếu niên đào tẩu đến một bà già chứng kiến sự thất bại của văn minh. *** Mình kéo toang rèm cửa. Bầu trời khát khô, dưới sông đầy tàu thuyền lớn nhỏ lô nhô nhưng trong đầu mình chỉ có đôi mắt màu sô cô la của Vinny, dầu gội đầu chảy xuống lưng chàng, mồ hôi lấm tấm trên vai chàng, rồi nụ cười tinh quái của Vinny. Tim mình như muốn vỡ tung. Chúa ơi, ước gì mình thức dậy ở nhà Vinny trên phố Peacock, chứ không phải trong căn phòng chết giẫm này. Đêm qua những lời ấy như tự thốt ra, “Lạy Chúa, em yêu anh quá chừng, Vin à,” rồi Vinny phả khói thuốc thành đám mây nhỏ, rồi Vinny giả giọng như Thái tử Charles, “Phải nói rằng, ta cũng ưa ở cùng cô lắm, Holly Sykes à,” mình cười muốn són cả ra, mặc dù vẫn hơi bực vì chàng chẳng đáp “Anh cũng yêu em”. Thiệt tình. Nhưng mà, đàn ông con trai hay ra vẻ vớ vẩn bông lơn để mà che giấu cảm xúc, chẳng phải báo vẫn viết vậy sao. Ước gì mình gọi được cho Vinny ngay bây giờ. Ước gì người ta chế ra điện thoại có thể gọi mọi nơi mọi lúc. Giờ này hẳn chàng đang cưỡi chiếc Norton đi làm trên Rochester, chàng mặc áo da có chữ LED ZEP đính đinh bạc. Tháng Chín này mình tròn mười sáu tuổi, chàng sẽ chở mình trên chiếc Norton. Dưới nhà có tiếng đóng cửa tủ đánh rầm. Má. Còn ai đóng cửa kiểu đó nữa. Hay má biết rồi? Mình nghĩ mà quặn cả ruột. Không có đâu. Hai đứa vô cùng cẩn thận. Má đang tuổi mãn kinh nên nóng nảy. Chỉ có vậy thôi. Đĩa Fear of Music của Talking Heads đang nằm trong máy, mình hạ cây kim máy xuống. Vinny mua tặng mình đĩa này, hôm đó là ngày thứ Bảy thứ nhì tụi mình gặp nhau ở tiệm đĩa Magic Bus Records. Đĩa hay tuyệt. Mình thích bài “Heaven” và “Memories Can’t Wait” nhưng nói chung cả album không có lấy một bài dở. Vinny đã từng đến New York, từng xem Talking Heads biểu diễn. Dan bạn của Vinny làm bảo vệ ở đó nên cho Vinny vào sau cánh gà, Vinny đã gặp David Byrne và ban nhạc. Năm sau mà đi tiếp thì chàng sẽ dẫn mình theo. Mình thay đồ, ngắm mấy vết cắn yêu trên người rồi ước gì tối nay lại được đến thăm Vinny, nhưng chàng bận đi gặp bạn ở Dover. Đàn ông rất ghét đàn bà hay ghen, nên mình giả bộ không ghen gì hết. Stella - bạn thân nhất của mình, đã đi London để đi săn đồ cũ ở chợ Camden. Má nói mình còn quá nhỏ, không thể đi London mà không có người lớn, vậy là Stella rủ Ali Jessop. Ngày hôm nay mình chỉ còn trông mỗi việc hút bụi ở quầy bar để kiếm ba bảng tiền tiêu vặt. Chán mớ đời. Rồi phải ôn tập để chuẩn bị thi tuần tới. Thực lòng chỉ muốn nộp giấy trắng, dẹp hết tam giác tam giếc Py-ta-go và tiểu thuyết Chúa ruồi với vòng đời sâu bọ nhảm nhí. Có khi làm vậy luôn. Ừ, biết đâu đó. ... Mời các bạn đón đọc Đồng Hồ Xương của tác giả David Mitchell.