Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thời Khắc Chúng Ta Không Thể Quay Trở Lại

Tác phẩm văn học viết về tuổi trẻ chân thực và cảm động nhất đến từ tác giả của series đình đám No.6 Hơn 1 triệu bản đã được bán ra ở Nhật năm 2010 và tạo nên làn sóng thức tỉnh mạnh mẽ đến nhận thức và tư duy của hàng triệu độc giả. Người ta nói, mỗi người nếu được nuôi dưỡng, dạy dỗ trong  môi trường gia đình khác nhau, chúng khác nhau về tính cách và cách sống. Thế nhưng trường học, há chẳng phải cũng là một môi trường, một gia đình, một cái nôi nuôi dưỡng không chỉ một, mà còn nhiều cá thể đấy ư? “Thời khắc chúng ta không thể quay trở lại” là một câu chuyện trong trẻo về những đứa trẻ ở độ tuổi 13 - trong những ngày tháng đầu tiên tại ngôi trường trung học. Đó là cô bạn Mari Fujihira cả tin, tốt bụng, là Ayabe Miyuki cương trực thẳng thắn, là Karino Shingo có đôi phần trẻ con trong tính cách nhưng lại rất mạnh mẽ, là Chihiro Komaki thông minh lanh lợi. Bốn con người, 4 đường thẳng lớn lên trong 4 môi trường hình thành tính cách khác nhau nhưng rồi họ đã tìm được một điểm giao nhau qua một mùa hè gắn liền với môn lịch sử! Năm đầu trung học của họ trôi qua, là những buổi sáng cuống cuồng lên lớp cho kịp giờ, là những bài toán khó nhằn khô khan, là những trò đùa khả ố chưa kịp được nhận thức đúng đắn, là những giận hờn vu vơ, là những điều khó nói với bố mẹ… Tuổi thơ của những đứa trẻ ấy, dù có lúc ngập tràn màu hồng, đôi khi lại xen kẽ những màu xám, nhưng đều là bài học nhân văn giúp chúng tự trưởng thành, lớn lên khi lễ “Thành nhân” ngày càng đến gần. Tình bạn, tình yêu, gia đình, những nhận thức dần được nuôi dưỡng khi những con người ấy ở bên nhau, cùng nhau tìm lời giải cho những khó khăn, cùng cười nói vui đùa tận hưởng những ngày tháng vô ưu vô lo. Mỗi dòng trong cuốn sách này sẽ khiến bạn thấy như chính mình đang soi gương, chính mình là nhân vật trong truyện, giúp bạn biết trân quý những người thương bên cạnh, biết tận hưởng hoặc nuối tiếc tuổi trẻđể sống một cuộc đời bớt vô nghĩa hơn! Không chỉ là một tác phẩm làm nổi bật lên được nét văn hóa đặc sắc, tinh tế của văn hóa Nhật Bản,  tác giả còn gửi gắm trong “Thời khắc chúng ta không thể quay trở lại” những cảm nhận tinh tế về tình bạn, niềm đam mê, nhiệt huyết cũng như sự quyết tâm – những phẩm chất đáng quý của người Nhật Bản. Nếu là một tín đồ yêu mến những cuốn sách có cốt truyện nhẹ nhàng nhưng để lại ấn tượng vô cùng sâu đậm trong tiềm thức thì đừng bỏ lỡ câu chuyện thấm đượm giá trị nhân văn của văn hóa Nhật Bản này nhé! *** Atsuko Asano Sinh năm 1954 tại tỉnh Okayama. Nhận Giải thưởng Văn học thiếu nhi Noma với tác phẩm “Battery”, giải thưởng của Hiệp hội Văn học Thiếu nhi Nhật Bản với tác phẩm “Battery II”, Giải thưởng Xuất bản Văn học thiếu nhi của nhà xuất bản Shogakukan với loạt tác phẩm “Battery”. Năm 2011, bà nhận Giải thưởng Văn học lãng mạn Shimase lần thứ 18 cho tác phẩm “Tamayura”. Phạm vi sáng tác rộng, từ văn học thiếu nhi đến văn học đại chúng, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thể thao, lôi cuốn nhiều độc giả. *** CHIẾC GƯƠNG GẤU TRÚC  MARI Bất ngờ quá. Tim mình vẫn đang đập thình thịch trong lồng ngực. Tính từ lúc nhập học cấp hai đến giờ mới chưa đầy một tháng, vậy mà đã xảy ra chuyện như thế này. Lại còn với một đứa con gái như mình nữa chứ. Mình lấy chiếc gương cầm tay ra khỏi túi ngực của áo đồng phục. Chị hai đã tặng nó cho mình làm quà mừng mình vào cấp hai. Chiếc gương nhỏ hình tròn có hình vẽ chú gấu trúc và có thể gấp làm đôi. “Con gái ấy, Mari à, lúc nào cũng phải mang theo gương bên mình. Không phải chỉ để trông cho điệu đà thôi đâu, mà còn để khi nhìn khuôn mặt mình trong gương, em có thể lên tinh thần kiểu như ‘Được, hôm nay cũng hoàn hảo, trông mình rất xinh’. Nếu tóc tai bù xù, nếp nhăn giữa hai lông mày cứ cau lại rồi trưng ra vẻ mặt u ám thì rất xấu đúng không nào? Những lúc như thế, em phải nhìn vào gương và thử cười lên thật xinh xắn đấy...” Người chị gái năm nay sẽ tròn hai mươi tuổi của mình đã nói thế rồi đưa cho mình chiếc gương gấu trúc này. Giấy gói có họa tiết hình hoa màu đỏ, đến cả ruy băng cũng màu đỏ. Chị hai đã chọn cho mình trong cửa hàng chuyên bán những món đồ mộng mơ ở Shinjuku. Mình đáp “Em cảm ơn”. Mình đã suýt khóc. Không phải mình không vui trước tình cảm của chị. Nhưng mà... Ước gì không phải gương mà là một thứ khác, bút chì kim, sổ tay hay một món trang sức nhỏ thôi cũng được, một thứ gì đó khác... Mình đã trót nghĩ thế. Mình thấy ghét chính bản thân vì suy nghĩ đó. Chắc mặt mình trông khó coi lắm. Chị mình rất đẹp. Mắt chị hai mí to tròn, gương mặt nhỏ, sống mũi cũng thẳng tắp, trông như diễn viên vậy. Chị còn thông minh nữa. Chị đang là sinh viên năm hai của một trường đại học tư thục nổi tiếng trong thành phố. Chị ấy có thể soi mình trong gương mà nói “Được, hôm nay cũng hoàn hảo, trông mình rất xinh” để lên tinh thần. Nhưng mình thì... Mình không làm được. Cả mặt lẫn mũi mình đều tròn. Da mình trắng, nhưng lại nổi đầy tàn nhang. Và hơn hết, mình ghét đôi mắt của mình. Vừa một mí, vừa nhỏ. Mỗi lần nhìn vào gương, mình lại thở dài. Sao có thể lấy tinh thần với gương mặt thế này được? Hóa ra chị mình không hiểu cảm giác đó. Nghĩ vậy, mình có chút buồn. Chiếc gương gấu trúc vẫn nằm trong túi áo ngực của mình suốt từ hôm khai giảng. Hôm nay là lần đầu tiên mình lấy nó ra. Cuối tháng Tư. Từ hoa sang lá, mùa đang chuyển mình trên từng tán cây. Mình đang trên đường từ trường về, lúc này chắc cũng hơn bốn giờ chiều rồi. Bầu trời vẫn sáng lên màu xanh rất đẹp. Tựa người vào một thân cây ven đường, mình nhìn vào gương. Cái mũi tròn, những đốm tàn nhang, đôi mắt nhỏ. Vẫn là gương mặt mình, chưa có chỗ nào thay đổi. Mà không, hình như má có đỏ hơn mọi khi. Nó hơi ửng lên màu hồng nhạt. Mình thử cười. Hai gò má ửng hồng khẽ chuyển động. “À, ừm,... Xin lỗi cậu vì đường đột quá, nhưng mà, cậu hẹn hò với tớ nhé?” Gương mặt của Karino hiện ra trong đầu mình. Mình như nghe lại được giọng nói của cậu ấy. Lúc nãy, khi chuẩn bị ra về, cậu ấy gọi mình dừng lại, rồi tỏ tình như thế ở khu tủ đựng giày. Mình đã rất bất ngờ, thực sự bất ngờ. Trong đám con trai lớp 7C, Karino hẳn là thuộc dạng được con gái quý mến. Nghe nói từ hồi tiểu học cậu ấy đã khá đào hoa rồi. ‘Cậu ta không hẳn đẹp trai, nhưng nụ cười thân thiện và thần kinh vận động rất được.’ Kurisaka ở cùng tổ với cậu ấy đã nói thế. Một Karino hoàn hảo như vậy lại đề nghị chuyện hẹn hò với mình. Như thế nghĩa là cậu ấy thích mình phải không nhỉ? Lại có chuyện như vậy sao? Khuôn mặt mình ở trong gương đang nhìn lại mình chằm chằm. Cậu thích tớ ở chỗ nào? Cậu thích điều gì ở tớ? Mình đã muốn hỏi cậu ấy. Tại sao Karino lại muốn hẹn hò với một đứa con gái hoàn toàn bình thường và nhàm chán như mình? Mình không hiểu. Mình muốn cậu ấy cho mình biết điều đó. “Fujihira ơi!” Có tiếng gọi từ đằng sau. Mình giật mình tới mức tưởng như đã nhảy dựng cả lên. Chiếc gương trượt khỏi tay mình, rơi xuống. Nó phát ra một tiếng động chói tai rồi vỡ choang trên vỉa hè. “Ối...” Hai tiếng kêu thảng thốt đồng thanh vang lên. Một là của mình, và một giọng nữa là của... “Ayabe à...” Là cô bạn cùng lớp với mình, Ayabe Miyuki. Trong lúc mình còn đang đứng thần người ra, Ayabe đã nhanh nhẹn nhặt lại những mảnh vỡ của chiếc gương cho mình. Một mùi hương dễ chịu chợt thoảng qua. Không phải nước hoa. Đó là hương thơm thoang thoảng rất dịu nhẹ. “Xin lỗi nhé, Fujihira. Tớ không cố ý làm cậu giật mình đâu...” Chiếc gương gấu trúc đã vỡ thành ba mảnh gọn gàng. Mình gói chúng lại bằng khăn giấy và bỏ vào túi áo ngực. Rồi mình bắt gặp ánh mắt Ayabe. Bạn ấy xinh thật đấy. Mái tóc ngắn suôn thẳng. Làn da rám nắng nhưng rất mịn màng. Đôi đồng tử mang màu sắc kỳ lạ, như hòa trộn giữa đen và tím. Trông bạn ấy không giống một đứa học sinh lớp bảy như mình. Bạn ấy rất xinh đẹp, xinh và rất chững chạc. Bị bạn ấy nhìn chăm chú, mình chợt cảm thấy hồi hộp. Mình đành giả bộ cúi xuống tìm kiếm những mảnh vỡ của chiếc gương. Ayabe vươn tay ra, chạm vào tóc mình. “Vừa rồi tại tớ để ý thấy cái này nên mới gọi bạn, xin lỗi nhé.” Ayabe phe phẩy một cái lá nhỏ màu xanh nhạt trước mắt mình. Là lá cây ven đường. Không biết nó vướng vào khi nào nữa. Mình đã không nhận ra. Thì ra mình mải soi gương trong khi vẫn để nguyên cái lá vướng trên tóc. Và Ayabe đã nhìn thấy cảnh đó. Xấu hổ thật. Đầu mình vẫn cúi xuống, không thể ngẩng mặt lên được. “Lá xanh vẫn đẹp hơn chứ nhỉ?” Ayabe chợt nói. Nghe như bạn ấy đang tự nói với mình. “Sao cơ?” “Thì, mọi người hay khen lá đỏ đẹp, phải không? Nhưng mà, cậu không thấy lá đỏ có vẻ gì đó hơi già cỗi sao?” Mình gật đầu. Mình không nghĩ lá đỏ có vẻ gì già cỗi, nhưng sắc đỏ của lá trước khi lìa cành có gì đó thật buồn. Mình mím môi rồi thì thầm. “Không hẳn là mình cảm thấy nó già cỗi, mà là... ừm, mình thích lá xanh hơn nên...” “Vậy thì, cái này tặng cho Fujihira.” Bạn ấy đặt chiếc lá nhỏ xíu, vẫn còn quá non để gọi là lá xanh lên tay mình. Đây là lần đầu tiên mình có một cuộc chuyện trò đúng nghĩa với Ayabe. Ayabe thường hay chống cằm rồi nhìn ra bên ngoài qua cửa sổ lớp học. Cũng có người bảo bạn ấy khó gần, còn mình thì thấy gương mặt nhìn nghiêng của bạn ấy trông như thể lúc nào cũng đang chuyên tâm suy nghĩ về một chuyện gì đó. Mình hơi tò mò, không biết bạn ấy đang nghĩ gì. Chỉ đơn giản là tò mò thôi, chứ mình không thể vô tư hỏi “Cậu đang nghĩ gì thế?” được. Dù có là bạn học cùng lớp, mình vẫn không thể thoải mái bắt chuyện khi mà mình hầu như chẳng biết gì về người ấy. Hơn nữa Ayabe lại đặc biệt khó gần... Không phải mình có ý xấu, chỉ là trong ấn tượng của mình, bạn ấy luôn đứng một mình. Mình chưa từng tưởng tượng đến chuyện bạn ấy lại đột nhiên bắt chuyện như thế này. “Cái gương vỡ rồi, để tớ đền cho cậu nhé...” Ayabe đột ngột thở ra một hơi rồi nói. Mình lắc đầu nguầy nguậy, đến nỗi chóng cả mặt. “Đền gì chứ... không cần đâu. Tớ đứng thẫn thờ soi gương là... tớ soi gương là vì, hôm nay, ừm, tớ được Karino bày tỏ tình cảm ấy...” Lưỡi mình líu cả lại. Hai má nóng bừng. “Karino sao? Ra vậy, hai cậu sẽ hẹn hò à?” “Hả? Tớ không biết... Nhưng mà, tớ cảm thấy vui vui. À, không phải là tớ thích Karino đâu... Tớ chẳng có gì nổi bật cả, vậy mà lại được tỏ tình... Nói sao đây, vì thế nên tớ thấy vui, một chút thôi...” Mình đang nói cái gì vậy? Mình đang nói gì với Ayabe - cô bạn chẳng mấy khi mình nói chuyện cùng thế này? Mình cuống lên. Ayabe nghiêng đầu. “Thế à? Riêng tớ thấy Fujihira là người khá nổi bật đấy chứ.” “Sao cơ?” “Cậu thường lặng lẽ thay nước cho bình hoa, đúng không nào? Hễ thấy rác rơi lung tung là cậu lại nhặt rồi cẩn thận bỏ vào thùng rác nữa này. Nhìn cậu như vậy, tớ thấy cậu đáng khâm phục lắm.” Mình tròn mắt nhìn Ayabe. Thay nước? Vứt rác? Hóa ra có những người quan sát cả những chuyện như thế. Gương mặt Ayabe chợt giãn ra thành một nụ cười. Bạn ấy giơ tay lên, nói “thế nhé” rồi quay lưng đi. Cứ như thế, bạn ấy lẫn vào con đường đông đúc buổi chiều tối. Nhịp tim của mình trở nên nhanh hơn. Ngày hôm nay, mình đã được hai người bạn cùng lớp là Karino và Ayabe bắt chuyện. Mình đã được tỏ tình, được nhận xét là “đáng khâm phục”. Đúng là một ngày tuyệt vời. Cảm giác hân hoan tràn ngập trong lòng mình. Chiếc gương gấu trúc đã vỡ mất rồi, nhưng tâm trạng của mình thì bừng sáng đầy hân hoan như mùa mới đang bắt đầu vậy. Về đến nhà, mình thấy mẹ đang ngồi một mình trên ghế trong nhà bếp. Mình chào mẹ “Con về rồi ạ”, nhưng mẹ không đáp lại. “Mẹ ơi?” Mình gọi một lần nữa. Mẹ nhìn mình, mắt nheo lại ngờ ngợ. Tâm trạng hân hoan khi nãy của mình chùng xuống. “Mẹ à, con là Mari đây.” “Ơ... à, Mari à. Mẹ không để ý.” “Mẹ lại thấy không khỏe sao?” Mẹ nhăn mặt, cố để cười. Mình thở dài. Mẹ đã đổ bệnh hơn nửa năm nay. Mẹ mắc nhiều chứng bệnh, gồm cả chóng mặt, bốc hỏa, tê cơ... Hình như ở bệnh viện, mẹ được chẩn đoán có triệu chứng của thời kỳ mãn kinh. Có vẻ tình trạng này xảy ra khá phổ biến với những phụ nữ tầm tuổi mẹ. “Thời gian sẽ chữa khỏi hết ấy mà. Trước mắt em cứ nghỉ ngơi đi đã.” Bố đã nói thế rồi bắt đầu đảm đương việc nhà. Chị mình cũng đang rất cố gắng. Mình cũng sẽ giúp một tay. Dù không giỏi mấy chuyện này, nhưng mọi người đều cố gắng thu xếp. Tất cả đang hợp sức với nhau để không khí trong nhà không xấu đi. Nhưng mình đã nhận ra. Gần đây, mẹ không nhận ra mình. Chỉ thỉnh thoảng thôi, nhưng mẹ không nhận ra mình. Kể cả mình có gọi mẹ, mặt mẹ cũng ngơ ngác như muốn hỏi “Ai thế?”. Ngay sau đó, mẹ sẽ mỉm cười và à lên một tiếng, “Mari đây mà”. Nhưng mỗi lần như thế, mình lại có cảm giác một cái hố sâu không đáy vừa mở ra dưới chân. Như thể sự tồn tại của mình trong mắt mẹ đang dần mờ nhạt đi, điều đó khiến mình thấy sợ. “Sang năm, Haruna cũng đón Lễ Thành nhân nhỉ, mẹ đang tính sẽ may furisode cho chị con đây.” Mẹ dò ngón tay trên trang tạp chí về kimono. Haruna, Haruna. Đó là tên của chị. Trong lòng mẹ, chị lúc nào cũng vô cùng sống động. Sẽ chẳng bao giờ có chuyện mẹ không nhìn thấy chị. Mình đưa tay lên túi áo ngực để cảm nhận sự tồn tại của chiếc gương. Mình nhớ lại lời của Karino và Ayabe. “Cậu hẹn hò với tớ nhé?” “Tớ thấy cậu đáng khâm phục lắm.” Chiếc gương đã vỡ làm ba mảnh nằm trong túi áo không hiểu sao lại khiến mình có cảm giác ấm áp như có hơi thở. Trái tim mình trở nên nhẹ nhõm. Ngước nhìn ra ngoài cửa sổ, mình bắt gặp một nhành cây đầy lá non đang đung đưa trong gió dưới bầu trời cao rộng. Mời các bạn đón đọc Thời Khắc Chúng Ta Không Thể Quay Trở Lại của tác giả Atsuko Asano & Thu Vũ (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc
Gabriel Garcia Márquez (sinh năm 1927) tại Aracataca, một thị trấn bên bờ biển Caribê, thuộc miền Bắc Columbia, ông là nhà văn nổi tiếng người Colombia. Ngoài viết văn ông còn là một nhà báo và một nhà hoạt động chính trị. Ông được biết đến với các tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả, Mùa thu của vị trưởng lão, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Trăm năm cô đơn... Gabriel Garcia Márquez sinh ra và lớn lên tại một gia đình trung lưu gồm 11 người con và ông là anh cả. Những năm đầu tiên học tại đại học Quốc gia Colombia Márquez đã bắt đầu tham gia viết báo và bắt đầu những tác phẩm văn học đầu tiên gồm 10 truyện ngắn nổi tiếng. Sau khi học được năm kỳ, ông quyết định bỏ học rồi chuyển về Barranquilla thực sự bước vào nghề báo và viết tiểu quyết đầu tay La hojarasca (Bão lá). Trong năm 1955, ông tới Thụy Sỹ làm đặc phái viên của tờ El Espectador. Sau đó qua Ý học tại Trung tâm thực nghiệm điện ảnh rồi sang Paris sinh sống trong điều kiện vật chất vô cùng khó khăn. Trong thời gian này ông viết cuốn tiểu thuyết La mala hora (giờ xấu), đồng thời tách từ cuốn này viết nên El coronel no tiene quien le escriba (Ngài đại tá chờ thư). Năm 1982 ông nhận giải Nobel văn học cho những cống hiến của mình. Sau đó ông vẫn tiếp tục sáng tác và có nhiều tác phẩm giá trị, ngày càng khẳng định được tên tuổi trên văn đàn thế giới. *** Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: - Ký sự về một cái chết đã được báo trước (tiểu thuyết), Nguyễn Mạnh Tứ dịch, NXB Văn Học, 1983. - Ngài đại tá chờ thư (tập truyện), Nguyễn Trung Đức - Phạm Đình Lợi - Nguyễn Mạnh Tứ dịch, NXB Văn Học, 1983; 2001. - Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Hải Phòng - NXB Đồng Nai, 1987. - Giờ xấu (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Thanh Niên, 1989; NXB Văn Học, 2001. - Tướng quân giữa mê hồn trận (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 1990; NXB Hội Nhà Văn, 1999.  - Mười hai truyện phiêu dạt (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1995; NXB Văn Học, 2004. - Tình yêu thời thổ tả (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 1995; 2000. - Trăm năm cô đơn (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức - Phạm Đình Lợi - Nguyễn Quốc Dũng dịch, NXB Văn Học, 1986; 1992; 1999; 2000. - 36 truyện đặc sắc (tập truyện ngắn), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 2001. - Tin tức về một vụ bắt cóc (tiểu thuyết), Đoàn Đình Ca dịch, NXB Đà Nẵng, 1998; NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001. - Những người hành hương kì lạ (tập truyện ngắn), Phan Quang Định dịch, NXB Thanh Niên, 2002. - Tuyển tập truyện ngắn, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 2004. - Sống để kể lại (hồi kí), Lê Xuân Quỳnh dịch, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2005. - Ông già và đôi cánh khổng lồ, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Tập truyện ngắn nước ngoài chọn lọc, NX B Quân Đội Nhân Dân, 1998; Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ Latinh, NXB Hội Nhà Văn, 1999. - Làng này không có kẻ trộm, Quà Tết, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004. - Dấu máu em trên tuyết (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 1997. - Máy bay của người đẹp ngủ, Gió Bắc, Mùa hè hạnh phúc của bà Phorớt, Thánh bà, Người bạn Mutit của tôi, Thưa Tổng thống - chúc ngài thượng lộ bình an, Dấu máu em trên tuyết, Nguyễn Trung Đức dịch; Giấc ngủ trưa ngày thứ ba, Nguyễn Kim Thạch dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ Latinh, NXB Hội Nhà Văn, 1999. - Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong cuốn Thời cơ của Matraga, NXB Mũi Cà Mau, 1986; Những truyện ngắn nổi tiếng thế giới, NXB Hội Nhà Văn, 1999. - Buổi chiều tuyệt vời của Bantaxa, Dương Tường dịch; Thần chết thường ẩn sau ái tình, Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999. - Biển của thời đã mất, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999; Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004. - Bà Maria Dos Przeres, Đoàn Đình Ca dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000. - Đôi mắt chó xanh, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000; Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004. - Thần chết thường ẩn sau ái tình, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 2004. *** Như đã thoả thuận, vào hồi 9 giờ sáng ngày hôm sau Villamizar tới Medellin một đêm hoàn toàn không ngủ. Đó là một bữa tiệc hồi sinh. Đến 4 giờ sáng khi chỉ còn lại hai người ở trong phòng, Maruja và Villamizar đều hưng phấn trao đổi về những kỉ niệm xưa cho tới khi trời gần sáng. Tại trang trại La Loma khách luôn được đón tiếp bằng bữa tiệc thịnh soạn, nhưng bây giờ trong bữa tiệc có cả rượu sâm banh để chúc mừng Maruja được trả tự do. Tuy nhiên, đó là một cuộc nghỉ ngơi ngắn, vì khi đó Pablo Escobar rất vội, ẩn nấp tại một nơi nào đó trên thế giới, không chiếc lá chắn là những con tin. Sứ giả mới của ông là một người rất cao to, tóc vàng, râu dài màu hung hung, nói nhiều, người ra gọi ông ra với cái tên Mono. Ông nói, ông có toàn quyền để đàm phán về việc ra đầu thú của Escobar.   Theo sự sắp đặt của tổng thống César Gaviria, trong suốt quá trình thảo luận về mặt pháp lý với những luật sự của Escobar đều tiến hành thông qua bác sĩ Carlos Eduardo Meija với sự hiểu biết của Bộ trưởng Tư pháp. Để đầu thú về mặt thể xác, Meija hành động theo thoả thuận với Rafael Pardo, người thay mặt chính phủ, và phía bên kia do Jorge Luis Ochoa đại diện. Mono và chính Escobar từ trong bóng tối. Villamizar tiếp tục đóng vai trò trung gian giữa Escobar và chính phủ, cha Garcia Herreros là người bảo trợ tinh thần cho Escobar, cha luôn sẵn sàng cho những vấp váp khẩn cấp.   Sự hối thúc của Escobar để Villamizar có mặt tại Medellin ngay sau ngày Maruja được trả lại tự do làm cho mọi người nghĩ rằng việc ra đầu thú của Escobar sắp xảy ra đến nơi, nhưng liền sau đó hoá ra không phải, vì còn thiếu một số chi tiết về việc giải trí cho Escobar, trong thời gian bị giam. Sự quan tâm lớn nhất của tất cả, trước hết là Villamizar là không xảy ra chuyện gì trước khi Escobar ra đầu thú. Villamizar biết rằng Escobar hoặc những người sống sót của ông ra có thể phải trả giá bằng chính mạng sống của mình vì thiếu sự hoài nghi tối thiểu vào lời nói.   Sự băng giá để bị phá vỡ bởi chính Escobar khi ông gọi điện thoại tới trang trại La Lome, ông chào một cách thoải mái:   - Xin chào bác sĩ, Villamizar, ông vui lòng chứ? Villamizar chưa khi nào nhìn thấy Escobar mà cũng chưa khi nào nghe ông ta nói.   Ông cảm thấy cảm động và tuyệt đối tin tưởng vào tiếng nói hoàn toàn xa lạ.   “Tôi rất cảm ơn vì ông đã tới” – Escobar nói tiếp không đợi trả lời, với điều kiện sống của đời thường và giọng nói chói tai của những người chăn nuôi gia súc nơi thảo nguyên. “Ông là người giữ đúng lời hứa, chắc ông không làm tôi thất vọng”, ngay lập tức ông vào đề:   - Chúng ta bắt đầu thu xếp việc tôi ra đầu thú như thế nào? ... Mời các bạn đón đọc Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc của tác giả Gabriel García Márquez.
Tiểu Thư Victoria
Trong tác phẩm Tiểu thư Victoria, Hamsun miêu tả câu chuyện tình bi thảm của giới trẻ, ý thức của họ về mất mát và khao khát, với sự đồng cảm và chia sẻ. Đó là câu chuyện tình yêu lãng mạn, say đắm của Johannes - con trai một thợ xay bột mì nghèo và nàng Victoria xinh đẹp, con gái một chủ lâu đài. Nhưng số phận trớ trêu đã khiến họ không thể đến được với nhau. Những định kiến xã hội về tầng lớp, gia đình và những biến cố dữ dội xảy ra trong cuộc đời Victoria đã đem lại một câu chuyện buồn... Chuyện hấp dẫn người đọc với đầy đủ trạng thái của cảm giác, với hình ảnh sinh động và ngôn ngữ đầy sáng tạo. *** Knut Hamsun tên thật là Rnud Pedersen, (04.8.1859 - 19.02.1952) nhà văn Na Uy đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Ông là nhà văn làm đổi mới văn xuôi Na Uy và là người luôn cố gắng thể hiện đời sống tâm hồn vô thức.   Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Một số tác phẩm: - Den Gaadefulde. En kjærlighedshistorie fra Nordland (Con người bí ẩn, dưới tên Knud Pedersen, 1877), tiểu thuyết - Bjørger (dưới tên Knud Pedersen Hamsund, 1878), tiểu thuyết  - Fra det moderne Amerikas Aandsliv (Cuộc sống tinh thần của xã hội Mỹ hiện đại, 1889), tiểu luận  - Sult (Đói, 1890), tiểu thuyết  - Fra det ubevidste sjaceleliv (Từ cuộc sống vô thức của tâm hồn, 1890), tiểu luận  - Mysterier (Những điều bí ẩn, 1892), tiểu thuyết  - Redaktør Linge (Biên tập viên Linge, 1893)  - Ny Jord (Đất mới, hoàn tất năm 1893)  - Pan (Quý ngài, 1894), tiểu thuyết  - Ved Rigets Port (Nơi cổng vương quốc, 1895), kịch  - Livets Spil (Trò đời, 1896)  - Aftenrøde. Slutningspil (Hoàng hôn, 1898), kịch  - Victoria. En kjærlighedshistorie (Victoria, 1898), tiểu thuyết  - Munken Vendt. Brigantines saga I (1902), kịch thơ  - Det vilde Kor (Bản hợp xướng hoang dã, 1904), thơ  - Under Høststjærnen. En Vandrers Fortælling (Dưới ngôi sao mùa thu, 1906), tiểu thuyết  - Benoni (1908), tiểu thuyết  - En Vandrer spiller med Sordin (Kẻ lang thang chơi đàn không dây, 1909), tiểu thuyết  - Den sidste Glæde (Niềm vui cuối cùng, 1912), tiểu thuyết  - Børn av Tiden (Những đứa con của thế kỉ, 1913), tiểu thuyết  - Segelfoss By (Thị trấn Segelfoss, 2 tập, 1915), tiểu thuyết  - Markens Grøde (Nhựa của đất, 2 tập, 1917), tiểu thuyết  - Konerne ved Vandposten (Những người đàn bà bên giếng, 2 tập, 1920), tiểu thuyết  - Siste Kapitel (Chương cuối, 2 tập, 1923), tiểu thuyết  - Landstrykere (Những kẻ lang thang, 2 tập, 1927), tiểu thuyết  - August (Tháng Tám, 2 tập, 1930), tiểu thuyết  - Ringen sluttet (Vòng vây đã khép, 1936), tiểu thuyết  - Paa gjengrodde Stier (Theo lối mòn hoang, 1949) *** Con trai người thợ xay bột mì vừa đi vừa suy nghĩ. Đó là một cậu bé có đôi vai rộng, khoảng mười bốn tuổi, da rám cháy vì gió và mặt trời, là một người có tài phịa ra đủ các chuyện. Lớn lên, cậu sẽ theo nghề làm diêm. Nghề này rất nguy hiểm, không thể đùa với nó được, vì hễ để lưu huỳnh dính vào các ngón tay, sau đó sẽ không một người nào đủ dũng cảm chìa tay cho anh bắt. Thế nhưng anh lại được bạn bè kính trọng vì thông thạo một nghề đáng sợ như vậy. Cậu vào rừng thăm các con chim của mình. Chim chóc ở đây đều là bạn cũ của cậu, cậu biết chỗ chúng làm tổ, hiểu ngôn ngữ chúng và biết bắt chước tiếng chúng để trả lời. Cậu thường cho chúng ăn các viên bột mì được xay ở chiếc cối xay nhà cậu. Những hàng cây mọc theo lối đi cũng là bạn cũ của cậu. Mùa xuân cậu lấy nhựa cây, còn mùa đông thì cậu chăm sóc chúng một cách tận tâm, rung tuyết khỏi cành để chúng khỏi gãy vì nặng. Thậm chí ở tít trên đỉnh núi, trong cái hang trước kia là nơi khai thác đá, không có hòn đá nào cậu không biết rõ. Cậu khắc chữ lên mặt các phiến đá rồi xếp lại theo thứ tự: tảng lớn chính giữa là ông linh mục, còn các tảng bé xung quanh là các con chiên ngoan đạo. Nói chung, cái hang đá bị bỏ quên này đã được chứng kiến đủ các trò chơi lạ lùng của cậu. Lúc này cậu đang rẽ sang bên và đi xuống bờ đập. Bánh xe của chiếc cối xay chạy bằng nước đang quay, tạo nên những tiếng ồn kinh khủng. Cậu thường đi dạo ở đây, vừa đi vừa nói chuyện thành tiếng với chính mình. Cậu có cảm giác như mỗi chiếc bong bóng nhỏ đều có cuộc sống riêng của mình, và có thể nói về một điều gì đấy, còn dòng nước tràn qua đập đổ xuống thì mỏng và thẳng đứng như những bó sợi trắng lấp lánh treo trên dây. Ở quãng sông phía dưới bờ đập có cá, và cậu đã nhiều lần tới câu ở đó. Lớn lên, cậu sẽ làm nghề thợ lặn. Chỉ làm nghề thợ lặn thôi, chứ không làm gì khác. Từ boong tàu, cậu sẽ nhảy ùm xuống biển để lạc vào một thế giới kì diệu, nơi các con sóng làm đung đưa các khu rừng hoang dã, còn tận dưới đáy là một lâu đài nguy nga bằng san hô, sẽ có một công chúa đứng bên cửa sổ lâu đài vẫy tay bảo cậu: "Mời chàng vào!"... Nhưng đúng lúc ấy cậu bỗng nghe có tiếng người. Đó là tiếng bố cậu đang gọi to: "Juhannes!". - Có người từ lâu đài tới tìm con. Họ cần người chở các cô cậu sang đảo. Juhannes vội rảo bước về phía lâu đài. Thế là cậu con trai của người thợ xay bỗng nhiên nhận được một ân huệ lớn. Trong thực tế, khu nhà của ông chủ trông chẳng khác gì một lâu đài nhỏ, một lâu đài đơn độc, huyền ảo giữa rừng xanh. Một dãy các cửa sổ hình bán nguyệt chạy dài theo tường và mái nhà dốc đứng của ngôi nhà gỗ được quét sơn trắng. Mỗi lần có khách, một ngọn cờ được cắm trên đỉnh chiếc tháp hình tròn. Khu nhà này được nhân dân trong vùng gọi là lâu đài, với một bên là bờ vịnh, bên kia là rừng rậm, còn thấp thoáng phía xa là những túp lều nông dân nhỏ bé. Juhannes gặp đám trẻ con nhà quyền quý ở bến và giúp chúng lên thuyền. Cậu biết chúng từ lâu - đó là con của ông chủ lâu đài và các bạn bè của họ từ thành phố tới. Mọi người đều đi giày cao cổ, và khi thuyền tới đảo, chỉ một mình Victôria - lúc ấy mới mười tuổi - đi đôi giày bé tí, nên chắc ai đó phải bế cô lên bờ. ... Mời các bạn đón đọc Tiểu Thư Victoria của tác giả Knut Hamsun.
Tiếng Nói Trong Nhà
Tiếng nói trong nhà được giải Nobel vǎn chương nǎm 1938. Jessica là con gái của bà bếp và người lái xe cho luật sư William Asher, ở Manchester, Vermont, Mỹ.  Khác với bố mẹ là những người quê mùa cục mịch, Jessica rất thanh mảnh, xinh đẹp. Lớn lên trong khu nhà của chủ nhân, Jessica được ông bà William thương mến, được gởi vào trọ học tại một Dòng Tu Nữ ở Canada. Cô hằng nuôi mộng được là con gái của chủ nhân.  Đến tuổi cập kê, Jessica bị mẹ ép gả cho Herbert, anh tài xế mới (thay thế cho bố cô đã từ trần). Bất mãn vì phải lấy một anh chàng thô lỗ, vô học, người ngợm như một con gấu, chỉ biết tình dục là trên hết, Jessica đã hoá điên.  Trong những lúc điên loạn, cô phát ngôn bừa bãi, và gieo vào lòng mọi người trong nhà mối nghi ngờ về mối quan hệ bất chính giữa cô và Edwin, cậu con trai thứ của ông William, cũng như giữa cô và ông chủ.  Phải chǎng đó là phản ứng qua mạnh của Jessica về một mộng mơ không được thoả mãn.  *** Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ già; Những mảnh hồn sầu xứ.” *** N gôi nhà đồ sộ đứng sừng sững trên một đỉnh đồi ven biên thành phố Manchester, trong vùng Vermont. Đó là một trang viên cũ kỹ xây cất từ một thế kỷ nay, trước khi người đàn bà cuối cùng của dòng họ Winsten qua đời, và trước ngay người con gái của bà, cô Elinor kết hôn với ông William Asher. Dù ngôi nhà từ đó đã qua tay chủ khác, vẫn được người trong vùng gọi bằng tên cũ ngày xưa. Ông William đâu bận tâm về điều đó. Đánh mất danh hiệu của mình trong một ngôi nhà đã mang tên người khác, đó là điều ông không nghĩ đến. Ông thích ngôi nhà vì nó là như vậy. Nhờ có tâm hồn quảng đại mà ông giữ được bản lĩnh thoát mọi ảnh hưởng khách quan, và vui vẻ hòa mình vào sự nghiệp của bà Elinor. Tại Long Island còn có một ngôi nhà của dòng họ Asher, ông William có thể giữ nó lại với tư cách là con trai duy nhất trong gia đình, song ông đã bán đi sau ngày cha mẹ ông qua đời mà không hối tiếc. Ông đã trải qua những mùa hè dịu dàng và xanh mượt thời thơ ấu tại xứ Vermont, nên ông đã làm quen và ưa thích thành phố Manchester với những ngọn đồi yên tĩnh bao quanh.   Ngôi nhà của dòng họ Winter rất kiên cố và rộng mênh mông, các thế hệ đã nối tiếp nhau sinh sống ở đó, không phải sửa sang gì thêm. Người sáng lập, ông Adam Winsten, từ đầu thế kỷ 19, trước khi qua đời đã tự cho mình có trách nhiệm phải có đủ chỗ cho con cái ông: tất cả 12 đứa, trong đó có 9 đứa đã đến tuổi trưởng thành. Mặc dù ông có ý mở rộng thêm ra mãi, các cháu ông vẫn cảm thấy thiếu chỗ ở, và thiên cư gần hết về hướng tây. Nhờ mỏ vàng và thiết lộ, các cháu ông đã làm giàu nhanh chóng, đến độ về sau họa hoằn mới nhớ đến nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Trong thế kỷ trước, dòng họ Winsten, người này kế tiếp người kia, cho đến đời ông Adam Winsten, là người cuối cùng có vóc dáng của cây du khô héo trong mùa đông, và là thân sinh của cô Elinor. Không đứa nào trong các con ông muốn giữ một gia cư quá rộng như thế, đến nỗi kẻ đến xin giúp việc trong nhà, chỉ nhìn thấy những mái nhà vô tận, cũng tự động rút lui. Các con trai và con dâu của ông từ chối giữ lại bà già nấu ăn, tên là Bertha, vì bà đã ở quá lâu năm trong nhà.   Dần dần tất cả đều bỏ đi, trừ cô Elinor, người con út, mẹ cô và bà Emma, người chị em bạn dì già yếu, là ba người sống luôn luôn ở đó. Trong thơi gian ấy, hết mùa hè nọ đến mùa hè kia. Ông William ngày một say mê cô Elinor tha thiết. Họ đã kết hôn cách rất đơn giản ít lâu sau khi bà Winsten qua đời: Bà này đã bị sốc mạnh trong một buổi chiều xuân, khi bà cố sửa những bụi hoa hồng rậm rạp của bà. Sau đám cưới của họ, ba Emma tuyên bố ý định về sống ở New York. Bà luôn ước mơ điều ấy, và với số tiền bà Winsten quá cố đã để lại cho bà, đủ để bà thực hiện ước vọng đó.   Cô Elinor và cậu William thừa hưởng ngôi nhà. William rất ưa thích ngôi nhà này, vì ông yêu mến xứ sở này. Trước kia ông thương tiếc rẻ vì trong mùa he chỉ đến đó chốc lát với gia đình thôi. Ông mở một văn phòng nhỏ ở Manchester, cạnh cổng trường luật Harvard, và ông tiếp tục giữ nó vì lý do tình cảm, mặc dù hiện tại và nhiều năm về sau, là một luật sư nổi tiếng, văn phòng chính của ông đặt tại New York. Ông đã do dự khi chọn giữa Boston và New York, nhưng dòng họ Asher đến từ New York và tiếp tục đời sống luật sư ở đó, tạo nên một liên hệ mật thiết giữa xưa và nay. ... Mời các bạn đón đọc Tiếng Nói Trong Nhà của tác giả Pearl S. Buck.
Tầng Đầu Địa Ngục
Bản dịch khác: Vòng Đầu Tác giả: Aleksandr Solzhenitsyn NXB Ngàn Khơi, 1971 Dịch giả: Vũ Minh Thiều Nguyên tác: В круге первом (1968) Tác phẩm Tầng đầu địa ngục do Nhà xuất bản Đất Mới chúng tôi gửi tới tay bạn đọc được dịch theo bản Anh văn The First Circle do Nhà Bantam Books ấn hành. Quyển này dày 674 trang và gồm 87 chương. Như các bạn đã thấy, tiểu thuyết Tầng đầu địa ngục của Aleksandr I. Solzhenitsyn diễn tả cuộc sống mất tự do trong tù ngục của những chính trị phạm Nga trên Liên bang Xô Viết. Chính tác giả từng sống trong những ngục tù này nên những gì ông viết lại đều rất trung thực, rất sống, làm rung động tâm hồn người đọc. Trong truyện, ông viết lại cuộc đời của rất nhiều tù nhân, mỗi tù nhân là một trường hợp đặc biệt, một cảnh ngộ riêng. Vì muốn diễn tả thật nhiều trường hợp bị tù đày nên trong The First Circle có quá nhiều nhân vật không liên lạc gì đến cốt truyện. Với mục đích làm cho cốt truyện được đúc kết hơn, có liên lạc hơn, chúng tôi đã lược bỏ một số trang khi dịch The First Circle sang Tầng đầu địa ngục. Việc lược bỏ của chúng tôi chỉ làm cho tác phẩm thêm trong sáng, chặt chẽ, cốt truyện vẫn còn nguyên, những nhân vật chính vẫn có đủ mặt. Giá trị văn chương của The First Circle, qua bản dịch của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, chỉ có tăng chứ không giảm. Chúng tôi mong bạn đọc nhận xét, so sánh, nhận biết sự cố gắng của chúng tôi và đồng ý với chúng tôi rằng khi chuyển ngữ một tác phẩm tiểu thuyết ngoại ngữ sang tiếng Việt, đôi khi việc lược bỏ vài đoạn không liên hệ đến cốt truyện là việc làm cần thiết và hợp lý. Trân trọng cám ơn bạn đọc. Nhà xuất bản Đất Mới. *** Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn là nhà văn, nhà viết kịch của Liên Bang Xô Viết và Liên Bang Nga đoạt giải Nobel Văn học năm 1970. Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn sinh ở Kislovodsk, vùng bắc Kavkaz. Bố mất khi Solzhenitsyn chưa sinh, mẹ đi làm nghề đánh máy để nuôi con. Năm 1925 hai mẹ con chuyển về thành phố Rostov-trên-sông-Đông (Rostov-na-Donu). Từ năm 1926 đến 1936 học ở trường phổ thông thường bị bạn bè chế diễu vì đeo thập tự và không muốn vào Đội thiếu niên Lenin. Sau đó, nghe theo lời khuyên của các thầy cô giáo, Solzhenitsyn đã tiếp nhận lý tưởng cách mạng, năm 1936 vào Đoàn thanh niên cộng sản Komsomol. Từ nhỏ Solzhenitsyn đã muốn trở thành nhà văn nhưng có năng khiếu toán học nên năm 1936 ông theo học khoa Toán trường Đại học Rostov để sau này dễ kiếm việc làm. Những năm học ở Đại học Rostov, Solzhenitsyn luôn là sinh viên xuất sắc, được nhận học bổng Stalin.   Năm 1970, Alekxandr Solzhenisyn được tặng giải Nobel nhưng ông không đến Thụy Điển nhận lễ trao giải vì sợ sau đó không trở về nước được; hai năm sau ông mới đến nhận giải và đọc Diễn từ. Năm 1974, sau khi công bố bản tuyên ngôn Không sống bằng dối trá (Жить не по лжи) và cho in tác phẩm Quần đảo GULag (Архипелаг ГУЛаг) ở Paris, Solzenitsyn bị bắt, bị nhà nước Liên Xô tước quyền công dân và bị trục xuất sang Cộng hòa Liên bang Đức, sau đó ông định cư ở Hoa Kỳ. Bản tuyên ngôn Không sống bằng dối trá được viết ngay trước khi ông bị trục xuất khỏi nước Liên Xô đã thể hiện tâm tư của ông, có đoạn viết Chúng ta đã bị phi nhân tính một cách tuyệt vọng tới mức chỉ vì một khẩu phần ăn khiêm tốn hàng ngày cũng sẵn lòng đánh đổi mọi nguyên tắc của mình, tâm hồn của mình, những nỗ lực của tiền nhân và cơ hội dành cho hậu thế - cốt sao sự tồn tại mong manh của mình không bị phá vỡ. Chúng ta chẳng còn lấy một chút vững vàng, một chút tự hào và một bầu nhiệt huyết. Chúng ta thậm chí còn chẳng sợ cái chết vì vũ khí hạt nhân, không sợ thế chiến thứ ba (còn có thể trú ẩn trong những kẽ hầm mà!), thế nhưng lại sợ những hành động can đảm của công dân! Bài viết này được các báo chí trên thế giới đăng lại hoặc nhắc đến, gồm The Washington Post [2], Time [3]. NewYork Times [4] *** Đôi kim đồng hồ chỉ bốn giờ năm phút. Trong ánh sáng hấp hối của một ngày tháng Chạp, mặt đồng của chiếc đồng hồ đặt trên giá trông như có màu đen. Hai cánh cửa kiếng của khung cửa sổ cao nhìn xuống dãy phố đông đảo, nhộn nhịp bên dưới, nơi những người gác cửa đang dồn những mảnh tuyết nâu lại thành từng đống, tuyết tuy mới rơi nhưng đã ướt và dơ bẩn, những cây cào gỗ đẩy tuyết ngay dưới chân những người qua đường. Innokenty Volodin, cố vấn Quốc gia đệ nhị, nhìn ngây xuống cảnh đó nhưng không ghi nhận gì hết, chàng đứng dựa vài vào thành cửa sổ, miệng khẽ huýt gió một điệu nhạc mệt mỏi. Những ngón tay chàng lật mở từng từ giấy trắng bóng, in sặc sỡ nhiều màu của một tập san ngoại quốc. Nhưng mắt chàng cũng không nhìn thấy những hình ảnh in trên những trang báo đó. Cố vấn Quốc gia đệ nhị hạng Innokenty Volodin, chức vụ này của chàng trong ngành ngoại giao tương đương với cấp Trung tá trong quân đội, là một thanh niên cao và mảnh mai. Không bận đồng phục và bận bộ y phục may bằng một thứ hàng len dệt, trông chàng có vẻ là một công tử hào hoa hơn là một viên chức trung cấp trong Bộ Ngoại giao. Bây giờ đã đến lúc chàng phải bật đèn trong văn phòng nếu chàng muốn ở lại làm việc ngoài giờ, nhưng chàng không bật đèn, hoặc rời văn phòng để về nhà. Chàng cũng không để lộ vẻ gì là sửa soạn ra về. Bốn giờ chiều không có nghĩa là giờ làm việc trong ngày đã hết, bốn giờ chiều chỉ có nghĩa là ánh sáng của một ngày đã tắt, hoặc mờ đi, vào giờ nay tất cả mọi người đều về nhà ăn bữa tối để rồi bắt đầu từ mười giờ đêm, cả ngàn khung cửa sổ của sáu mươi nhăm cơ quan chính phủ ở Mạc Tư Khoa lại sáng đèn. Chỉ có một người, một người mà thôi, sống ở giữa khoảng một tá tường thành ở Mạc Tư Khoa, không ngủ được ban đêm, và người này đã làm cho tất cả những viên chức chính phủ lớn nhỏ ở Mạc Tư Khoa cũng phải thức với y cho tới ba, bốn giờ sáng. Vì đã biết rõ thói quen thức đêm của Vị Chúa Tể, đêm nào cũng vậy, khoảng ba mươi ông Tổng trưởng ngồi như những chú học trò được gọi đến tên. Để cho khỏi buồn ngủ, những ông Tổng trưởng này hành hạ những ông phụ tá, những ông phụ tá hành hạ những ông trưởng phòng và những nhân viên phụ trách lưu trữ hồ sơ vất vả leo lên những bậc thang mở những ô kéo tìm những tấm phiếu lý lịch hồ sơ, trong hành lang có những viên thư ký hấp tấp đi lại và trong văn phòng có những viên thư ký hồi hộp làm gãy những ngọn viết chì. ... Mời các bạn đón đọc Tầng Đầu Địa Ngục của tác giả Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn.