Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cảnh Đồi Mờ Xám

Nhận được tin Keiko, con gái lớn của mình tự tử, Etsuko, một phụ nữ Nhật Bản sống một mình ở Anh đã bắt đầu cuộc hành trình chìm đắm vào những kí ức về một mùa hè ở Nagasaki hậu chiến. Trung tâm của những kí ức mơ hồ ấy là một tình bạn lạ lùng với Sachiko, người đã bị cuộc chiến tranh tước đi tất cả trừ đứa con gái nhỏ cùng một khao khát mãnh liệt phải đến nước Mỹ bằng mọi giá. Trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, Kazuo Ishiguro đã khắc họa nên bức tranh những số phận ở nước Nhật Bản bại trận, nơi các nhân vật của ông vật lộn, xoay xở, dằn vặt với những thay đổi đến quá nhanh và quá dữ dội. Nhưng sâu hơn, cuốn sách còn là một cuộc thăm dò đầy tinh tế cái bí ẩn của kí ức. Cuộc sống hiện tại đặt nền móng trên kí ức, nhưng đến lượt mình, chính kí ức lại vô cùng bất trắc, khó lường. *** Chương một Niki, cái tên chúng tôi rốt cuộc đặt cho con gái út của mình, không phải tên tắt mà là một thỏa hiệp giữa tôi với cha con bé. Trái khoáy ở chỗ, anh lại là người muốn chọn một cái tên Nhật Bản cho nó, còn tôi - có lẽ vì một mong muốn ích kỷ không muốn gọi lại quá khứ - nên cứ nhất quyết đòi một cái tên Anh. Cuối cùng thì chồng tôi cũng đồng ý với Niki, vì tin rằng có đôi chút Đông phương phảng phất trong đó. Con bé về thăm tôi hồi đầu năm nay, vào tháng Tư, khi ngày vẫn trôi qua trong lạnh giá và mưa phùn. Có thể nó vốn định ở lại lâu hơn. Tôi không biết nữa. Nhưng ngôi nhà thôn quê và sự tĩnh lặng xung quanh khiến nó bức bối, chẳng bao lâu sau, tôi thấy rõ nó đã rất nóng lòng muốn trở về cuộc sống của mình ở London. Nó nghe các đĩa hát cổ điển của tôi với vẻ bồn chồn, lật vội qua biết bao cuốn tạp chí. Điện thoại thường xuyên đổ chuông, nó vội bước qua tấm thảm, thân hình mảnh dẻ siết trong bộ quần áo bó, cẩn thận đóng cánh cửa sau lưng để tôi không nghe được cuộc nói chuyện. Nó rời đi sau năm ngày. Phải tới ngày thứ hai nó mới nhắc đến Keiko. Hôm ấy là một buổi sáng hút gió ảm đạm, chúng tôi đã kê ghế bành ra gần cửa sổ để ngắm mưa rơi xuống mảnh vườn nhà. “Mẹ có nghĩ con sẽ đến không?” nó hỏi. “Ý con là đến lễ tang ấy.” “Không, mẹ nghĩ là không. Mẹ không thực sự nghĩ con sẽ tới.” “Nghe tin về chị ấy, con cũng buồn. Con đã suýt đến đấy.” “Mẹ chưa bao giờ nghĩ con sẽ tới.” “Mọi người không ai hiểu con bị làm sao,” nó nói. “Con không hề nói với bất kỳ ai. Chắc vì con thấy xấu hổ. Quả thực họ sẽ không hiểu được, họ sẽ không thể hiểu cảm giác của con về chuyện ấy. Chị em gái lẽ ra phải là người ta thấy gần gũi, đúng không. Có thể ta không thích họ lắm, nhưng ta vẫn gần gũi với họ. Nhưng sự thực lại không phải thế. Đến bây giờ, con thậm chí còn không nhớ chị ấy trông thế nào.” “Đúng thế, lần cuối cùng con gặp chị cũng đã khá lâu rồi.” “Con chỉ nhớ chị ấy luôn khiến con khổ sở. Con chỉ nhớ có thế về chị ấy. Nhưng mặc dầu vậy, con vẫn buồn khi nghe tin.” Có lẽ điều thôi thúc con gái tôi quay trở lại London không chỉ là sự tĩnh lặng. Vì dù chúng tôi không bao giờ nói chuyện lâu về cái chết của Keiko, chủ đề ấy không bao giờ khuất dạng, luôn lảng vảng bất cứ khi nào chúng tôi trò chuyện với nhau. Không giống Niki, Keiko là người Nhật thuần và hơn một tờ báo đã mau mắn bám vội lấy chi tiết này. Người Anh thích nghĩ rằng tự vẫn đã ăn sâu vào máu người Nhật chúng tôi, cứ như thể chẳng cần phải giải thích gì thêm; vì đó là tất cả những gì họ đưa lên mặt báo, rằng con bé là người Nhật và nó đã treo cổ trong phòng riêng. ⁎ ⁎ ⁎ Cũng chính buổi tối hôm ấy, khi đang đứng cạnh các ô cửa sổ đưa mắt nhìn ra bóng tối ngoài kia, tôi bỗng nghe tiếng Niki sau lưng mình: “Mẹ đang nghĩ gì thế?” Nó đang ngồi vắt ngang người trên ghế trường kỷ, một cuốn sách bìa mềm đặt trên đầu gối. “Mẹ đang nghĩ về một người mẹ từng quen. Một phụ nữ mẹ từng quen.” “Một người mẹ quen hồi mẹ… Trước khi mẹ đến Anh?” “Mẹ quen cô ấy hồi mẹ sống ở Nagasaki, nếu đó là điều con muốn hỏi.” Thấy nó tiếp tục nhìn mình, tôi nói thêm, “Đã lâu lắm rồi. Rất lâu trước khi mẹ gặp cha con.” Có vẻ hài lòng với câu trả lời nên sau khi buông một lời bình luận bâng quơ, nó quay lại với cuốn sách. Nói chung, Niki là một đứa trẻ biết quan tâm. Nó đến đây không chỉ để xem tôi đón nhận tin về cái chết của Keiko thế nào; nó đến thăm tôi xuất phát từ cảm giác sứ mệnh. Vì trong mấy năm gần đây, do quyết định cảm phục một số khía cạnh nhất định trong quá khứ của tôi, nó đã chuẩn bị tinh thần để nói với tôi rằng mọi chuyện đến giờ không có gì thay đổi, rằng tôi không nên ân hận vì những lựa chọn trước đây của mình. Nói ngắn gọn, để trấn an rằng tôi không phải chịu trách nhiệm trước cái chết của Keiko. Lúc này, tôi hoàn toàn không muốn nói nhiều về Keiko vì điều ấy không an ủi tôi là mấy. Tôi nhắc đến Keiko ở đây chỉ vì chuyện đó liên quan đến chuyến thăm của Niki hồi tháng Tư này, và vì chính trong chuyến thăm ấy, tôi lại nhớ đến Sachiko sau ngần ấy thời gian. Tôi chưa bao giờ thực sự thân với Sachiko. Trên thực tế, tình bạn của chúng tôi chỉ kéo dài có vài tuần lễ, không hơn, trong một mùa hè đã nhiều năm về trước. ⁎ ⁎ ⁎ Lúc ấy, những ngày khủng khiếp nhất đã qua. Lính Mỹ vẫn đông như trước - vì đang có chiến trận ở Triều Tiên - nhưng ở Nagasaki, sau những gì đã xảy ra trước đó thì đó là những tháng ngày yên ả và nhẹ nhõm. Có cảm giác thế giới đang thay đổi. Tôi và chồng sống tại một khu vực ở phía Đông của thành phố, chỉ cách trung tâm một chuyến xe điện ngắn. Gần chỗ chúng tôi ở có một con sông, có lần tôi nghe nói từng có một ngôi làng mọc lên ven bờ sông hồi trước chiến tranh. Nhưng rồi bom giội xuống và tất cả những gì còn sót lại chỉ là những đống đổ nát cháy đen. Việc tái thiết đã được tiến hành và chẳng bao lâu sau, bốn tòa nhà bê tông đã mọc lên, mỗi tòa có khoảng bốn mươi căn hộ riêng biệt. Trong số bốn tòa nhà tập thể ấy, tòa của chúng tôi được xây sau rốt, cũng chính vào thời điểm chương trình tái thiết bị tạm hoãn; vậy là giữa chúng tôi và con sông là một vùng đất trống vài mẫu toàn bùn khô và mương rãnh. Rất nhiều người phàn nàn coi ni đó là một mối đe dọa về mặt sức khỏe, và quả thật việc thoát nước ở đó rất kinh khủng. Quanh năm suốt tháng, lúc nào cũng có những hố đầy nước tù đọng, vào những tháng mùa hè, muỗi nhiều đến mức không ai chịu nổi. Thỉnh thoảng cũng thấy các viên chức tới sải chân đo đạc hoặc nguệch ngoạc ghi chép, nhưng rồi nhiều tháng trôi qua mà đâu vẫn hoàn đấy. Cư dân của khu tập thể cũng là những người như chúng tôi - các cặp vợ chồng trẻ, chồng tìm được công việc khá khẩm tại những công ty đang lên. Các công ty là chủ sở hữu của nhiều căn hộ, họ cho nhân viên của mình thuê lại với giá rất hào phóng. Căn hộ nào cũng giống nhau; sàn tatami, nhà tắm và bếp theo thiết kế phương Tây. Chúng đều nhỏ và rất khó giữ cho mát mẻ trong những tháng nóng nực, nhưng về tổng thể, các cư dân ở đây dường như đều có chung cảm giác hài lòng. Tuy vậy, ở đó, tôi vẫn còn nhớ rõ một bầu không khí tạm bợ không lẫn đi đâu được, như thể tất cả chúng tôi đang chờ đến ngày được chuyển tới sống ở một nơi khác tiện nghi hơn thế. Có một ngôi nhà gỗ nhỏ vẫn tồn tại qua sự tàn phá của cả chiến tranh lẫn những cỗ xe ủi đất của chính quyền. Tôi có thể thấy ngôi nhà từ cửa sổ căn hộ của mình, đứng lẻ loi cuối bãi đất trống rộng lớn, gần như ngay sát bờ sông. Đó là một ngôi nhà nhỏ kiểu thường gặp ở nông thôn, mái ngói dốc xuống gần sát mặt đất. Trong những khoảnh khắc trống rỗng, tôi vẫn thường đứng bên cửa sổ trân trân nhìn ngôi nhà đó. Nếu xét tới những chú ý mọi người dành cho sự xuất hiện của Sachiko, thì tôi không phải người duy nhất để mắt đến ngôi nhà ấy. Người ta bàn tán rất nhiều về hai nam công nhân một ngày nọ làm việc ở đó - những chuyện như không biết họ có phải viên chức nhà nước hay không, về sau người ta đồn rằng có người phụ nữ và đứa con gái nhỏ đến sống tại ngôi nhà, chính tôi cũng đã vài dịp thấy hai mẹ con đi qua bãi đất đầy mương rãnh. Lúc ấy là đầu hè - tôi đang mang bầu được ba hoặc bốn tháng - khi tôi lần đầu tiên để ý thấy chiếc xe Mỹ to đùng màu trắng và móp méo đang xóc nẩy chạy trên khu đất, hướng về phía bờ sông. Lúc đó trời đã sẩm tối, mặt trời đang lặn xuống sau căn nhà, thoáng chốc lóe lên trên lớp vỏ xe bằng sắt. Rồi một buổi chiều nọ, tôi nghe thấy hai phụ nữ ở trạm chờ xe điện nói chuyện về người đàn bà đã chuyển tới căn nhà vô chủ bên sông. Một người kể cho người kia mình đã nói chuyện với người ấy vào sáng hôm đó và được đáp lại bằng một thái độ khinh khỉnh không lẫn đi đâu được. Người đi cùng đồng ý rằng người mới đến có vẻ thiếu thân thiện - thậm chí có khi là kênh kiệu nữa. Cô ta trẻ lắm cũng phải ba mươi tuổi, vì con gái cô ta ít nhất cũng đã lên mười. Người phụ nữ thứ nhất bảo cô ta nói giọng Tokyo và chắc chắn không phải dân Nagasaki. Họ bàn tán một lúc về “người bạn Mỹ” của cô, rồi người phụ nữ nhắc lại thái độ kém thân thiện người lạ mặt dành cho mình sáng hôm đó. Tôi không nghi ngờ gì rằng trong số các phụ nữ cùng sống ở khu tập thể vào thời điểm đó, có những người đã phải chịu đau khổ, mang trong mình những ký ức buồn thương và kinh hoàng. Nhưng khi chứng kiến cảnh họ từng ngày bận bịu với chồng con, tôi thấy thật khó tin họ đã từng có lúc sống cuộc đời chất chứa những thảm kịch và ác mộng thời chiến. Tôi không bao giờ cố ý tỏ ra thiếu thân thiện, nhưng nếu bảo tôi không cố chứng minh điều ngược lại thì chắc cũng chẳng sai. Vì vào thời điểm ấy trong đời mình, tôi vẫn còn muốn mọi người để mình được yên. Vậy là tôi chăm chú lắng nghe hai phụ nữ nói chuyện về Sachiko. Tôi có thể hồi tưởng lại một cách sống động buổi chiều hôm ấy ở trạm chờ xe điện. Đó là một trong những ngày rực rỡ ánh nắng đầu tiên sau mùa mưa tháng Sáu, và quanh chúng tôi, các bức tường gạch và bê tông dầm nước đang dần khô ráo. Chúng tôi đang đứng trên cây cầu xe lửa và ở một bên đường ray ngay dưới chân đồi, ta có thể thấy một đám mái nhà tụm lại một chỗ, như thể các ngôi nhà đã xô nhau cùng trượt xuống dốc. Xa hơn một chút là khu tập thể của chúng tôi, nhìn như bốn cột bê tông. Lúc đó, tôi thấy đồng cảm với Sachiko, thấy phần nào hiểu được thái độ xa lánh tôi đã nhận ra khi quan sát cô từ xa. Chúng tôi rồi sẽ trở thành bạn bè với nhau vào mùa hè ấy và tôi sẽ được cô gửi gắm tâm sự riêng, ít nhất là trong một khoảng thời gian ngắn. Giờ thì tôi không nhớ chúng tôi đã gặp nhau lần đầu tiên như thế nào. Chỉ nhớ một chiều nọ tội nhận ra cô đang đi trước mình trên con đường nhỏ dẫn ra khỏi khu dân cư. Tôi vội vã đuổi theo, còn Sachiko cứ bình thản bước. Chắc hẳn lúc ấy chúng tôi đã biết tên nhau rồi, vì tôi nhớ đã gọi cô khi đến gần. Sachiko quay lại chờ tôi bắt kịp. “Có chuyện gì sao?” cô hỏi. “Thấy chị ở đây em mừng quá,” tôi nói, có chút hụt hơi. “Con gái chị, lúc em ra khỏi nhà, nó đang đánh nhau. Ở đằng kia, gần mấy rãnh nước ấy.” “Nó đánh nhau sao?” “Với hai đứa trẻ khác. Một đứa là con trai. Chúng đánh nhau dữ lắm.” “Vậy hả.” Sachiko bắt đầu đi tiếp. Tôi đi bên cạnh cô. “Em không muốn làm chị hoảng hốt,” tôi nói, “nhưng hình như chúng đánh nhau dữ lắm. Em còn thấy một vết cắt trên má con gái chị nữa thì phải.” “Vậy sao.” “Ở đằng kia, phía cuối bãi đất.” “Chúng nó vẫn đang đánh nhau à?” Cô tiếp tục đi lên đồi. “Không. Em thấy con gái chị bỏ chạy.” Sachiko mỉm cười nhìn tôi. “Em không quen thấy trẻ con đánh nhau phải không?” “Trẻ con đánh nhau thì cũng không tránh được. Nhưng em nghĩ nên nói cho chị biết. Và em nghĩ nó không định đến trường đâu. Mấy đứa kia tiếp tục đi về phía trường học, nhưng con gái chị lại quay về phía bờ sông.” Sachiko không trả lời, chỉ tiếp tục đi lên đồi. “Sự thực là,” tôi tiếp tục, “em đã định nói với chị chuyện này từ trước. Chị thấy đấy, dạo này em đã nhiều lần bắt gặp con gái chị. Hình như con bé trốn học chút ít hay sao ấy.” Con đường chia ngả trên đỉnh đồi. Sachiko dừng lại, chúng tôi nhìn nhau. “Em quan tâm đến con gái chị như vậy thật tử tế quá, Etsuko ạ,” cô nói, “hết sức tử tế. Nhất định em sẽ trở thành một bà mẹ tuyệt vời.” Cũng như hai phụ nữ ở trạm chờ xe điện, trước đây tôi vẫn nghĩ Sachiko khoảng ba mươi tuổi. Nhưng có lẽ dáng người trẻ trung của cô đã đánh lừa chúng tôi, vì nét mặt cô già dặn hơn nhiều. Cô đang nhìn tôi với vẻ thích thú thoáng hiện trên khuôn mặt, cái nhìn của cô có gì đó khiến tôi phải lúng túng cười trừ. “Chị rất cảm ơn khi em tìm chị thế này,” cô nói tiếp. “Nhưng như em thấy đấy, giờ chị đang bận chút việc. Chị phải vào Nagasaki.” “Không sao. Em chỉ nghĩ tốt hơn cả là đến nói cho chị hay, chỉ vậy thôi.” Trong khoảnh khắc, cô lại tiếp tục nhìn tôi vẫn với ánh mắt thích thú ấy. Rồi cô nói, “Em mới tử tế làm sao. Giờ thì chị xin phép. Chị phải vào thành phố.” Cô cúi chào, sau đó quay sang ngả đường dẫn lên trạm chờ xe điện. “Chỉ vì nó có vệt xước trên má thôi,” tôi nói, hơi cao giọng. “Còn con sông nữa, nhiều khúc rất nguy hiểm. Em chỉ nghĩ tốt nhất nên tìm gặp chị rồi nói cho chị hay.” Cô quay lại nhìn tôi một lần nữa. “Etsuko này, nếu em không còn việc gì để làm,” cô nói, “thì chắc hôm nay em sẽ không ngại trông con bé giúp chị đâu nhỉ. Buổi chiều chị sẽ về. Chị tin chắc em với nó sẽ rất hợp nhau.” “Em sẽ không phản đối, nếu chị muốn thế. Em phải nói là em có cảm giác con gái chị vẫn còn quá nhỏ để ở một mình suốt ngày.” “Em mới tử tế làm sao,” Sachiko nhắc lại. Rồi cô mỉm cười một lần nữa. “Đúng thế, chị tin rằng em sẽ trở thành một bà mẹ tuyệt vời.” Sau khi chia tay Sachiko, tôi xuống đồi, đi qua khu dân cư để quay về nhà. Chỉ một lúc sau, tôi thấy mình đã về đến bên ngoài tòa nhà nơi mình ở, nhìn ra dải đất trống. Không thấy bóng dáng con bé đâu, đang định quay vào thì tôi bỗng phát hiện có thứ gì đó di chuyển dọc bờ sông. Chắc con bé chỉ vừa mới đứng lên, vì giờ tôi có thể thấy rõ bóng dáng bé bỏng của nó bên kia khoảng đất đầy bùn. Thoạt đầu, một cảm giác hối thúc dâng lên trong lòng, khiến tôi những muốn quên hết chuyện này đi để quay về làm việc nhà. Nhưng cuối cùng, tôi vẫn tiến về phía con bé, cẩn thận tránh những rãnh nước tù. Theo những gì tôi nhớ thì đó là lần đầu tiên tôi nói chuyện với Mariko. Cách hành xử của nó vào buổi sáng hôm ấy chắc cũng không có gì quá bất thường, vì thực ra tôi cũng chỉ là một người lạ mặt. Nó hoàn toàn có quyền ngờ vực tôi. Và nếu quả là tôi có cảm giác bất an lạ lùng nào đó vào hôm ấy, thì có lẽ cũng chỉ là phản ứng bình thường trước thái độ của Mariko. Sau mùa mưa vài tuần trước, nước sông sáng hôm ấy vẫn khá cao và chảy xiết. Bờ đất dốc thẳng xuống mặt nước, bùn ở chân dốc nơi con bé đang đứng trông sũng nước hơn hẳn. Mariko mặc một chiếc váy bông đơn giản, dài tới gối, mái tóc cắt ngắn khiến nó có vẻ giống con trai. Không cười, nó ngẩng lên nhìn tôi đang đứng trên đỉnh con dốc bùn. “Chào cháu,” tôi nói, “cô vừa nói chuyện với mẹ cháu xong. Cháu là Mariko phải không?” Cô bé tiếp tục nhìn tôi không chớp mắt, chẳng nói một lời. Vệt trên má khi nãy tôi tưởng là máu, giờ hóa ra chỉ là một vết bùn. “Giờ này lẽ ra cháu phải ở trường chứ, đúng không?” tôi hỏi. Nó im lặng một lát. Rồi lên tiếng: “Cháu không đi học.” “Nhưng trẻ em là phải đi học. Cháu không thích đi học à?” “Cháu không đi học.” “Nhưng mẹ cháu không gửi cháu tới trường nào ở đây sao?” Mariko không đáp. Thay vào đó, nó lùi lại một bước. “Cẩn thận đấy,” tôi nói. “Không là cháu sẽ ngã xuống nước mất. Trơn lắm đấy.” Nó tiếp tục đứng dưới chân dốc nhìn lên chỗ tôi đứng. Tôi thấy đôi giày nhỏ xíu của nó nằm ngay cạnh. Cả giày và đôi chân trần của nó đều lấm lem bùn. “Cô vừa nói chuyện với mẹ cháu,” tôi nói, mỉm cười mong nó yên tâm. “Mẹ cháu nói sẽ rất vui nếu cháu lên nhà cô chờ mẹ về. Nhà cô đằng kia kìa, ở khu tập thể ấy. Cháu có thể lên nhà với cồ, ăn thử bánh cô làm hôm qua. Cháu có thích không, Mariko? Rồi cháu có thể kể chuyện của cháu cho cô nghe nữa.” Mariko vẫn nhìn tôi đầy cảnh giác. Rồi không rời mắt khỏi tôi, nó cúi xuống nhặt giày. Lúc đầu, tôi cứ tưởng điều đó có nghĩa nó chuẩn bị đi theo mình. Nhưng khi thấy nó vẫn tiếp tục nhìn mình, tôi mới hiểu ra nó nhặt giày lên là để sẵn sàng bỏ chạy nếu cần. “Cô không làm hại cháu đâu,” tôi nói rồi cười một cách căng thẳng. “Cô là bạn của mẹ cháu mà.” Theo những gì tôi nhớ, hai chúng tôi chỉ nói với nhau có thế vào buổi sáng hôm ấy. Không muốn làm con bé hoảng sợ thêm nên chỉ một lúc sau, tôi đã quay người, vượt qua bãi đất trống về nhà. Quả thực, phản ứng của con bé có phần khiến tôi phật ý; vì trong khoảng thời gian ấy, những điều tuy nhỏ nhặt vậy thôi nhưng lại khơi dậy trong tôi biết bao nỗi e sợ về bổn phận làm mẹ. Tôi tự nhủ chuyện vừa xảy ra chẳng có gì to tát và dù sao chăng nữa, trong những ngày tiếp theo, thế nào cũng có thêm nhiều cơ hội để tôi kết bạn với nó. Nhưng hóa ra, phải đến một buổi chiều khoảng hai tuần sau đó, tôi mới lại nói chuyện với Mariko. ⁎ ⁎ ⁎ Trước chiều hôm ấy, tôi chưa bao giờ đặt chân vào bên trong ngôi nhà nhỏ và đã khá ngạc nhiên khi được Sachiko mòi vào. Trên thực tế, tôi đã lập tức nhận ra cô mời mình là có mục đích gì đó. Quả đúng như vậy, tôi không nhầm. Căn nhà rất gọn gàng, nhưng tôi vẫn nhớ nó tỏa ra một vẻ tồi tàn ảm đạm; xà nhà bằng gỗ trên trần nhìn cũ kỹ và thiếu an toàn, chỗ nào trong nhà cũng phảng phất một mùi ẩm thấp. Cửa trượt ở mặt trước ngôi nhà đã được mở tung cho ánh sáng mặt trời tràn qua hiên vào trong. Mặc dầu thế, phần lớn ngôi nhà vẫn chìm trong bóng tối. Mariko đang nằm ở góc nhà cách xa nguồn sáng mặt trời nhất. Dù rất tối, tôi vẫn thấy có gì đó đang cựa quậy cạnh nó. Lại gần, tôi nhận ra đó là một con mèo lớn đang cuộn tròn trên mặt sàn tatami. “Xin chào, Mariko,” tôi nói. “Cháu có nhớ cô không?” Nó ngừng vuốt ve con mèo và ngước lên. “Cô cháu mình gặp nhau hôm nọ,” tôi nói tiếp. “Cháu không nhớ sao? Ở bờ sông ấy.” Con bé không có vẻ gì đã nhận ra tôi. Nó nhìn tôi một lúc, sau đó lại bắt đầu vuốt ve con mèo. Sau lưng mình, tôi nghe tiếng Sachiko đang pha trà trên bếp đặt ở giữa phòng. Đang định lại chỗ cô thì đột nhiên Mariko lên tiếng, “Nó sắp đẻ rồi.” “Thật sao? thế thì thích thật.” “Cô có muốn một con mèo con không?” “Cháu thật tốt, Mariko. Để cô xem thế nào đã nhé. Nhưng cô tin chắc thế nào lũ mèo con cũng tìm được một mái nhà tử tế.” “Sao cô không lấy một con mèo con?” cô bé hỏi. “Cô kia bảo sẽ lấy một con.” “Để cô nghĩ đã nhé, Mariko. Cô nào cơ?” “Cô bên kia sông. Cô ấy bảo sẽ lấy một con.” “Nhưng cô không nghĩ có ai sống ở bên kia sông, Mariko. Bên ấy chỉ toàn cây cối với rừng thôi mà.” “Cô ấy nói sẽ dẫn cháu đến nhà cô ấy. Cô ấy sống bên kia sông. Cháu không đi theo cô ấy.” Tôi nhìn cô bé trong giây lát. Rồi chợt nghĩ ra, tôi cười phá lên. “Nhưng đó chính là cô mà, Mariko. Cháu không nhớ sao? Cô bảo cháu lên nhà cô chờ mẹ cháu từ thành phố về mà.” Mariko lại ngẩng lên nhìn tôi. “Không phải cô,” nó nói. “Mà là cô kia. Cô ấy sống bên kia sông cơ. Tối hôm qua cô ấy đến đây. Khi mẹ cháu đi vắng.” “Tối hôm qua? Khi mẹ cháu đi vắng?” “Cô ấy nói sẽ dẫn cháu sang nhà cô ấy, nhưng cháu không chịu. Vì lúc ấy trời đã tối. Cô ấy nói thế thì cầm đèn theo” - con bé đưa tay chỉ chiếc đèn xách tay treo trên tường - “nhưng cháu không đi theo cô ấy. Vì lúc ấy trời đã tối.” Phía sau tôi, Sachiko đã đứng dậy và đang nhìn con gái. Mariko trở nên im lặng, sau đó ngoảnh đi và tiếp tục vuốt ve con mèo. “Ra ngoài hiên đi,” Sachiko nói với tôi, tay bê khay trà. “Ngoài ấy mát hơn.” Hai chúng tôi làm theo lời cô, để Mariko lại một mình ở góc nhà của nó. Từ ngoài hiên, tuy không thể nhìn thấy dòng sông, nhưng tôi vẫn thấy rõ nơi triền đất dốc xuống và lớp bùn càng gần mặt nước trông càng ẩm ướt hơn hẳn. Sachiko ngồi lên một tấm đệm và bắt đầu rót trà. “Ở đây nhan nhản mèo hoang,” cô nói. “Chị không thấy lạc quan cho lắm về tương lai của lũ mèo con này đâu.” “Đúng thế, có quá nhiều mèo hoang,” tôi đáp. “Thật đáng thương. Mariko tìm thấy con mèo mẹ ở đây hả chị?” “Không, mẹ con chị mang nó theo. Nếu là chị thì chị đã bỏ nó lại rồi, nhưng Mariko nhất quyết không chịu nghe lời.” “Chị đưa nó về đây từ tận Tokyo sao?” “Không. Chị với con bé đã sống gần một năm trời ở Nagasaki mà. Ở phía bên kia thành phố.” “Ôi vậy sao? Em không biết đấy. Chị sống ở đó cùng… cùng bạn à?” Sachiko ngừng rót trà và nhìn tôi, hai tay ôm ấm trà. Tôi thấy trong ánh nhìn của cô biểu cảm thích thú từng toát ra khi cô quan sát tôi vào lần gặp trước. “Chị e là em nhầm rồi, Etsuko ạ,” cuối cùng cô cũng lên tiếng. Rồi lại tiếp tục rót trà. “Chị sống ở nhà bác trai chị.” “Chị yên tâm, em chỉ…” “Ừ, tất nhiên rồi. Thế nên không việc gì phải ngại ngùng, đúng không?” Cô cười to rồi đưa tôi một chén trà. “Chị xin lỗi, Etsuko ạ, chị không định đùa em. Sự thật là, chị có việc này muốn hỏi em. Muốn nhờ vả em một chút.” Sachiko bắt đầu rót trà cho chính mình, và khi làm việc đó, dường như thái độ cô trở nên nghiêm túc hơn trước. Rồi cô đặt ấm trà xuống, nhìn tôi. “Em thấy đấy, Etsuko, một vài dự tính của chị không tiến triển như đã định. Vì thế nên hiện tại chị cần tiền. Không nhiều lắm, em hiểu không. Chỉ cần một chút.” “Em hiểu,” tôi nói, hạ thấp giọng. “Chắc chị rất vất vả khi phải lo cho Mariko.” “Etsuko này, chị nhờ em việc này được không?” Tôi cúi người. “Em có chút tiền tiết kiệm,” tôi nói, gần như thì thầm. “Em sẽ rất vui nếu giúp được chị phần nào.” Tôi rất ngạc nhiên khi Sachiko cười to. “Em tốt quá,” cô nói. “Nhưng thực ra, chị không muốn mượn tiền của em. Chị đang nghĩ đến việc khác. Hôm nọ em có nhắc tới một việc. Em có một người bạn có quán mì.” “Ý chị là bác Fujiwara?” “Em bảo chị hình như bác ấy đang cần người giúp việc. Một công việc nhỏ như vậy sẽ giúp được chị rất nhiều.” “À,” tôi đáp, hơi do dự. “Nếu chị muốn, em sẽ hỏi giúp.” “Thế thì tuyệt lắm.” Sachiko nhìn tôi trong giây lát. “Nhưng hình như em hơi lưỡng lự về chuyện đó, đúng không Etsuko?” “Hoàn toàn không. Bao giờ gặp bác ấy, em sẽ hỏi giúp chị. Nhưng em chỉ băn khoăn” - tôi lại hạ giọng - “ai sẽ trông con gái chị vào ban ngày?” “Mariko hả? Nó có thể giúp chị ở quán mì. Nó cũng khá được việc đấy.” “Em tin thế. Nhưng như chị thấy đấy, em không biết chắc bác Fujiwara sẽ nghĩ thế nào. Dù sao thì ban ngày Mariko nên tới trường mới phải.” “Chị đảm bảo với em, Etsuko ạ, Mariko sẽ không gây ra một phiền toái nào, dù chỉ là nhỏ nhất. hơn nữa, tuần sau là hết năm học rồi. Chị sẽ đảm bảo nó không làm vướng chân ai. Em có thể yên tâm về điều đó.” Tôi lại cúi người. “Em sẽ hỏi khi gặp bác ấy.” “Chị rất cảm ơn em.” Sachiko nhấp một ngụm trà. “Thực ra, chị muốn nhờ em hỏi bác ấy ngay trong vài hôm tới.” “Em sẽ cố.” “Em thật tốt.” Chúng tôi ngồi im một lát. Nãy giờ, tôi vẫn mải chú ý đến ấm trà của Sachiko; nhìn có vẻ là một sản phẩm cao cấp làm từ sứ trắng. Cả chén trà tôi đang cầm trong tay cũng được làm từ cùng một thứ vật liệu tinh tế ấy. Lúc này khi đang ngồi uống trà cùng nhau, đây không phải lần đầu tiên tôi sửng sốt về sự tương phản kỳ cục giữa bộ ấm chén với vẻ tồi tàn của ngôi nhà cùng mặt đất lầy lội đầy bùn dưới hiên. Khi ngẩng lên, tôi nhận ra Sachiko đang quan sát mình. “Chị quen dùng đồ sứ chất lượng cao rồi, Etsuko ạ,” cô nói. “Em biết đấy, cuộc sống của chị không phải lúc nào cũng giống…” - cô khoát tay về phía ngôi nhà - “thế này. Tất nhiên là chị không ngại một chút bất tiện. Nhưng có một số thứ chị vẫn không thể xuê xoa cho được.” Tôi cúi đầu, không nói gì. Cả Sachiko cũng bắt đầu ngắm nghía chén trà của mình. Cô tiếp tục xem xét, cẩn thận xoay nó trong tay. Rồi cô đột nhiên nói, “Chị nghĩ nói mình lấy trộm bộ ấm chén này cũng chẳng sai. Cơ mà, chắc bác chị cũng không quá nhớ nhưng bộ ấm chén này đâu.” Tôi nhìn cô, hơi ngạc nhiên. Sachiko đặt chén trà xuống trước mặt, phẩy tay xua ruồi. “Có phải chị nói chị sống ở nhà bác chị?” tôi hỏi. Cô chậm rãi gật đầu. “Một ngôi nhà xinh đẹp vô cùng. Với ao cá trong vườn. Khác xa với quang cảnh xung quanh đây.” Trong giây lát, cả hai chúng tôi cùng đưa mắt nhìn vào trong. Mariko vẫn nằm nguyên ở góc nhà từ khi chứng tôi ra ngoài, xoay lưng về phía chúng tôi. Dường như nó đang thì thào nói chuyện với con mèo. Chúng tôi lại ngồi im lặng một lúc lâu, rồi tôi lên tiếng. “Em không biết có người sống bên kia sông.” Sachiko quay ra nhìn những rặng cây ở bờ bên kia. “Không, chị cũng chưa bao giờ thấy ai bên ấy.” “Nhưng cô trông trẻ của chị. Mariko lúc nãy bảo cô ấy đến từ bên kia sông.” “Chị làm gì có người trông trẻ, Etsuko. Ở đây chị không quen ai.” “Mariko có nói về một người phụ nữ nào đó…” “Em đừng để ý đến nó.” “Ý chị là nó bịa ra sao?” Hình như Sachiko thoáng cân nhắc gì đó. Rồi cô nói, “Đúng, nó chỉ bịa chuyện ra thôi mà.” “Vâng, em đoán trẻ con thường hay làm thế.” Sachiko gật đầu, “Khi nào làm mẹ, Etsuko ạ,” cô mỉm cười nói, “em sẽ phải quen dần với những chuyện như thế.” Sau đó, chúng tôi chuyển sang các chủ đề khác. Dạo ấy là thời kỳ đầu trong tình bạn của chúng tôi và chúng tôi chủ yếu chỉ nói về những chuyện vặt vãnh. Phải đến một buổi sáng vài tuần sau đó, tôi mới nghe Mariko nhắc lại về người phụ nữ đã tìm đến nó. Mời bạn đón đọc Cảnh Đồi Mờ Xám của tác giả Kazuo Ishiguro & Lan Young (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bến Không Chồng
Cuốn tiểu thuyết trong bộ ba giải thưởng Hội Nhà văn 1991, Bến không chồng đã đứng được với thời gian nhờ một vẻ đẹp trong khuôn hình cổ điển: mộc mạc và chân phương trong cốt truyện, trong cách dẫn dắt và ngôn từ; như nhận xét của giáo sư Phong Lê - “một ngôn từ không lấp lánh tài hoa, mà giản dị, tự nhiên, và với ưu thế đó, Bến không chồng là tác phẩm khẳng định được ngay vị trí của nó trong lòng độc giả mà không hề gây tranh cãi”. Cốt truyện xung quanh cuộc trở về của Vạn - người lính Điện Biên - ở làng Đông quê hương anh. Người lính dũng cảm trong chiến đấu trở về trong thời bình nhưng không hòa nhập được vào nhịp sống bình thường, vẫn giữ nguyên tác phong trận mạc để chỉ huy cộng đồng làng xã. Anh không dám vượt qua rào cản tâm lý để đến với chị Nhân, nhưng rồi cuộc sống xô đẩy anh cùng hai người phụ nữ trong đời anh đến những lựa chọn quyết liệt. Những người phụ nữ ở làng Đông mỗi người đi tìm hạnh phúc theo cách của mình, nhưng thời cuộc và chiến tranh cùng biết bao sai lầm trong tư duy một thời đã ám ảnh họ mãi ở một “bến Không Chồng” vừa hữu hình vừa dai dẳng trong tiềm thức. Bến không chồng, ở thời điểm mở đầu 90, quả đã góp được một cái nhìn mới về bức tranh đất nước trong thời chiến và hậu chiến; với gánh nặng không phải chỉ là chiến tranh, về phía khách quan; mà còn là những lầm lạc của con người, trong một bối cảnh có quá nhiều biến động và thử thách, mà tất cả những ai “do lịch sử để lại” đã không đủ tầm và sức để vượt qua. Những nhận xét này đã khẳng định được vị trí của cuốn tiểu thuyết, và còn lan tỏa hơn khi đã được dịch ra tiếng Pháp, Ý cũng như được chuyển thể thành phim truyện cùng tên. *** Khi lựa chọn đề tài về chiến tranh, về thân phận người lính hoặc về cuộc sống làng xã Việt Nam sau chiến tranh để viết, nhiều nhà văn kì cựu phải thực sự am hiểu về vấn đề này hoặc có thể họ chính là những người đã trải qua một thời bom đạn cùng với đất nước. Có một nhà văn đã vẽ lên được bức tranh toàn cảnh làng quê Việt Nam trong những năm sau chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ về chuyện đời, chuyện người thông qua cuốn tiểu thuyết dầy 400 trang.  Tiểu thuyết "Bến không chồng" của nhà văn Dương Hướng gồm 25 chương – một tác phẩm xuất sắc viết về đề tài chiến tranh không hề có tiếng súng đã gây tiếng vang trên văn đàn, được dịch ra nhiều ngôn ngữ quốc tế, nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, giải thưởng Nhà nước năm 2016. Và được chuyển thể thành phim điện ảnh cùng tên, gần đây nhất là bộ phim truyền hình “Thương nhớ ở ai”. Một tác phẩm rất nổi tiếng, có ý nghĩa vô cùng đặc biệt bởi tác giả chính là người con của quê hương Thụy Liên, tác phẩm ấy cũng được lấy chất liệu từ chính mảnh đất Thụy Liên - vùng lập điền lấn biển, ruộng đồng chua mặn, dân thưa. Thập kỷ 60, xã chỉ có khoảng trên dưới một nghìn nóc nhà, mà chi viện cho tiền tuyến một lực lượng khổng lồ sức người, sức của với trên 1.500 thanh niên trai tráng. Ở quê nhà, gái thay chồng “Tay cày, tay cuốc đảm đang”, tạo ra cánh đồng 5 tấn thóc/ha đầu tiên ở miền Bắc. Nhưng chiến tranh đã để lại cho vùng đất này nhiều đau thương mất mát, 230 trai làng ra đi mãi mãi không về, để lại bao góa phụ, 31 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tiểu thuyết “Bến không chồng” của nhà văn Dương Hướng như một thiên dã sử, được quê hương Thụy Liên tôn vinh dựng bia đá lưu danh chuyện và đời.         Bến không chồng- nhà văn Dương Hướng đã đi sâu khai thác bi kịch của người lính hậu chiến tranh mà nhân vật trung tâm là Nguyễn Vạn, là Nghĩa, là Thành. Những người lính trở về từ chiến trường Điện Biên với chiến tích lẫy lừng. Nơi chiến trường họ oai hùng, khí khái bao nhiêu thì trở về cuộc sống đời thường họ lạc lõng, cô độc bấy nhiêu. Họ dù cố gắng nhưng không thể hòa nhập được với cuộc sống mới. Họ lạc lõng ngay trong chính gia đình, giữa những người thân yêu nhất của mình. Những người lính còn chịu nhiều di chứng khi bước ra từ chiến trường. Chiến tranh đã để lại di chứng trên cơ thể  mà họ nào có biết. Chiến tranh đồng nghĩa với những đau thương mất mát, những cuộc chia li kẻ ở người đi. Trong Bến không chồng của Dương Hướng, những hy sinh mất mát là vô cùng to lớn. Từ bi kịch của những người trực tiếp chiến đấu nơi hòn tên mũi đạn cho đến nỗi khắc khoải chờ mong của những người mẹ, người vợ nơi quê nhà. Trong Bến không chồng còn nhiều cảnh ngộ bất hạnh. Những nỗi niềm, tâm trạng ảo não của  Thủy, Dâu, Thắm, Cúc, cô Thao, mụ Hơn,…hay chính xác hơn đó là những người phụ nữ làng Đông. Chung quy lại, có thể thấy rằng bi kịch của những người phụ nữ trong Bến không chồng là sau chiến tranh không một người phụ nữ nào có chồng! “Bến không chồng” là địa danh có thật nó gắn với nhiều câu chuyện buồn vui của xã Thụy Liên...Bến sông ấy vốn chẳng có tên, cái bến sông có hai cây quéo cổ thụ gắn với bao vui buồn của người dân. Hai cây quéo xòe bóng mát khúc sông. Đến nay, bến sông ấy không còn hai cây quéo cổ thụ nữa. Trong một trận bão, hai cây cổ thụ cùng bị đánh tả tơi, bật gốc. Bến sông không tên nay đã được gọi là “Bến không chồng”, bởi nó được đặt tên trong tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Dương Hướng. Và lâu rồi, những câu chuyện huyền thoại cũng chỉ còn lại trong ký ức của những người dân quê. Nhưng một ký ức mới lại bồi đắp cho người dân quê nơi đây. Bởi nếu ai đó đọc “Bến không chồng” có dịp ngang qua làng quê này mà hỏi cầu Đá Bạc, hỏi về “Bến không chồng” thì ai cũng nhắc đến Dương Hướng. Hỏi đến ông, người làng lại nhắc đến "Bến không chồng". Ông viết truyện mà thật đến nỗi đọc tiểu thuyết, người làng nhận ra từng nhân vật ngoài đời được ông chọn làm nguyên mẫu. Sách là kho tàng tri thức của nhân loại. Cuốn sách "Bến không chồng" giúp người đọc hiểu biết đầy đủ, sâu sắc hơn về chuyện đời, chuyện người làng quê Việt Nam trong những năm sau chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ. Hiện nay, sách đã có tại thư viện Trường THCS Thụy Liên. Các thầy cô giáo, các bạn học sinh chúng ta hãy tới thư viện tìm đọc, để hiểu thêm mảnh đất, con người quê mình. *** Nhà văn Dương Hướng tên khai sinh là Dương Văn Hướng, quê ở thôn An Lệnh, xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.  Ông là Đảng viên Đảng CSVN; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991. Nhà văn Dương Hướng bắt đầu viết văn từ năm 1985, ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Hiện ông đang làm biên tập báo Hạ Long tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. * Giải thưởng và tặng thưởng:           Tặng thưởng truyện ngắn hay tạp chí Đất Quảng với truyện ngắn “Quãng đời còn lại”, năm 1987.           –Giải thưởng Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội với truyện ngắn “Đêm trăng”.           –Giải thưởng văn học Hạ Long với tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời”, năm 2012.           –Tặng thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội với tác phẩm “Người mắc bệnh tâm thần”, năm 1989.           –Giải A văn nghệ Hạ Long với tập truyện “Người đàn bà trên bãi tắm”.       –Tặng thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội với tác phẩm “Bến khách”, năm 2007.           –Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 với tiểu thuyết “Bến không chồng”. * Các tác phẩm tiêu biểu:           –Bến không chồng (tiểu thuyết – năm 1990)           –Người đàn bà trên bãi tắm (tập truyện ngắn)           –Dưới chín tầng trời (tiểu thuyết -năm 2007)           –Gót son (tập truyện ngắn – năm 1989)           –Trần gian đời người (tiểu thuyết -năm 1991)           –Tuyển chọn Dương Hướng (năm 1997)   Mời các bạn đón đọc Bến Không Chồng của tác giả Dương Hướng.
Ba Ngày Hạnh Phúc
Thật vô vọng khi thích một người không còn trên thế gian này. Xem ra từ nay về sau chẳng có một điều tốt lành nào đến với cuộc đời tôi. Chính vì thế mà mỗi năm sinh mệnh của tôi chỉ đáng giá 10.000 yên. Quá bi quan về tương lai, tôi đã bán đi gần hết sinh mệnh của mình. Dù có cố làm gì để được hạnh phúc trong quãng đời ngắn ngủi còn lại, thì tôi cũng chỉ nhận được kết quả trái ngược. Trong khi tôi đang tiếp tục sống vô định thì “người giám sát” Miyagi vẫn đăm đăm nhìn tôi với ánh mắt điềm tĩnh. Tôi đã mất thêm hai tháng cuộc đời để nhận ra rằng tôi hạnh phúc nhất khi sống vì cô ấy. Tập truyện nổi tiếng trên web này, cuối cùng cũng được xuất bản! (Tên ban đầu của nó là Tôi đã bán sinh mệnh của mình. Mỗi năm 10.000 yên.) *** Hành trình kiếm tìm hạnh phúc của những kẻ chạy trốn thực tại. Hello đồng bào, vậy là cũng được 3 tuần kể từ bài gần nhất của tôi rồi nhỉ. Hãy dẹp bỏ cái suy nghĩ thằng homu bị deadline dí đến chết và phải out page đi. Hôm nay, tôi sẽ gửi đến độc giả một tác phẩm “lạ mà quen”. Cái “lạ” ở đây là khi tôi hỏi hầu hết các ad trong page có biết đến bộ manga này không thì chỉ có đúng lão #rika biết. Điều này khiến tôi khá ngạc nhiên vì đây là 1 con hàng được vinh dự chế hẳn mấy cái meme và được spam khắp các page anime hay manga lớn trên facebook do đó chắc cũng khá nhiều người biết đến nó bằng cách này (trong đó có tôi). Link đọc cho ai cần: 16 chap: http://www.nettruyen.com/.../three-days-of-happiness-17641 2 extra: http://vgperson.com/other/mangaviewer.php?m=3 (cái extra thì chưa ai dịch) Nguyên tác của bộ này đã được IPM mua bản quyền và xuất bản vào năm ngoái nhưng giờ muốn kiếm 1 quyển hoàn toàn không dễ đâu, tôi có tham khảo một số trang lớn như là TIKI, FAHASA, SHOPEE nhưng đều hết hàng, thế nên ông nào đang có quyển này thì nhớ giữ gìn thật cẩn thận vào, về sau mua lại khó lắm đấy. Ok, giờ chuyển cách xưng hô thôi. CẢNH BÁO SPOIL-ĐỪNG CHẾT VÌ THIẾU HIỂU BIẾT. Thật vô vọng khi thích một người không còn trên thế gian này. Xem ra từ nay về sau chẳng có một điều tốt lành nào đến với cuộc đời tôi. Chính vì thế mà mỗi năm sinh mệnh của tôi chỉ đáng giá 10.000 yên. Quá bi quan về tương lai, tôi đã bán đi gần hết sinh mệnh của mình. Dù có cố làm gì để được hạnh phúc trong quãng đời ngắn ngủi còn lại, thì tôi cũng chỉ nhận được kết quả trái ngược. Trong khi tôi đang tiếp tục sống vô định thì “người giám sát” Miyagi vẫn đăm đăm nhìn tôi với ánh mắt điềm tĩnh. Tôi đã mất thêm hai tháng cuộc đời để nhận ra rằng tôi hạnh phúc nhất khi sống vì cô ấy. Đó là tất cả thông tin cơ bản nhất về truyện, ngoài ra, nếu bạn nào có hứng thú và muốn tìm đọc thêm các tác phẩm của tác giả và họa sĩ này thì có thể tìm ở web này. Điểm cộng rất lớn của web là giao diện rất dễ làm quen, cùng với lượng thông tin kèm theo đầy đủ từ A đến B nên đề cử web này thay Myanimelist nếu không tìm được truyện trên đấy nhé. Tác giả nguyên tác: https://www.mangaupdates.com/authors.html?id=32112 Họa sĩ: https://www.mangaupdates.com/authors.html?id=13698 Giờ đến chuyên mục nhạc nghe khi đọc truyện, theo mình thì vì đây là một bộ truyện ngắn có nội dung nhẹ nhàng và ấm áp nên nó sẽ rất hợp để thưởng thúc cùng với những ca khúc da diết và hơi buồn như là Kimi Wo Matsu của Aimer, Zurui yo và 4℃ của Chihiro, hay là bản nightcore Kanawanai Koi Demo của KG và Yumi Shizukusa. Còn các lựa chọn khác biệt một chút thì sao nhỉ ? Hmm, hãy nghe thử bài STYX HELIX của MYTH và ROID và Ano Yume Wo Nazotte của YOASOBI nhé, chúc các bạn có 1 trải nhiệm đọc truyện và nghe nhạc khó quên. Link nhạc cho bạn nào cần: Kimi Wo Matsu: https://www.youtube.com/watch?v=w6hFEFzemKE Zurui yo: https://www.youtube.com/watch?v=z5o1YsxaNbs 4℃: https://www.youtube.com/watch?v=PRKOQo0FRV0 Kanawanai Koi Demo: https://www.youtube.com/watch?v=3ZNEeLxhqHs STYX HELIX: https://www.youtube.com/watch?v=HdQCWXh3XXU Ano Yume Wo Nazotte: https://www.youtube.com/watch?v=sAuEeM_6zpk “Ta cũng chả hơi đâu quan tâm đến việc chú mày nghèo ra sao. Hay là nguyên do đâu dẫn đến kết cục như vậy. Ta không cần biết mấy việc đó. Ta chỉ muốn hỏi chú mày một chuyện khác… Chú mày có muốn bán bớt đi tuổi thọ của mình không ?” Để mở đầu thì cho phép mình hỏi mọi người một câu nhé: Theo các bạn, thứ gì là quý giá nhất đối với mỗi con người ? Sức khỏe ? Tiền bạc ? Danh vọng ? Tình cảm ? Hay tất cả các điều trên ? Câu trả lời là tất cả những yếu tố mình vừa nêu đều cần thiết nhưng không phải là quan trọng nhất. Chỉ có đúng một thứ mà hầu hết những người trả lời câu hỏi này đã vô tình bỏ qua, tuy nhiên, không có nó thì tất cả yếu tố trên đều là vô nghĩa, đó chính là “tuổi thọ”. Bạn khỏe. Bạn có nhiều tiền. Bạn đứng trên đỉnh cao danh vọng và có rất nhiều mối quan hệ mọi người xung quanh. Hẳn là bạn đã mãn nguyện với cuộc sống hiện tại và cho rằng mình chả thiếu cái gì. Đột nhiên, vào một ngày đẹp trời, bạn bị ám sát hay mắc phải một căn bệnh nan y và thời gian còn lại chỉ tính bằng vài tháng ngắn ngủi. Lúc đó, liệu những yếu tố trên có giúp bạn được không hay chỉ có “tuổi thọ” mới có thể ? Tuy nhiên, trong 3 days of happiness (mình gọi tắt là 3ds), yếu tố tưởng chừng như quan trọng nhất lại có thể được định giá bằng tiền ? Tin mình đi, bạn không nghe nhầm đâu. Sở hữu một cốt truyện độc đáo cùng với rất nhiều bình luận tích cực xoay quanh truyện, mình đã kì vọng rất nhiều vào 3ds và truyện thực sự không làm mình thất vọng. Lấy bối cảnh là một thế giới nơi tuổi thọ, sức khỏe và thời gian của con người có thể được định giá bằng nhiều công cụ, hay thậm chí là có thể đem ra mua bán bằng tiền mặt. Điểm cộng rất lớn của truyện nằm ở tâm lý của những kẻ trực tiếp thực hiện công việc mua bán này được khắc họa một cách rất tự nhiên, mình hoàn toàn chưa thấy một chi tiết nào bị gượng ép hay phi logic trong cốt truyện. Nhịp truyện diễn ra không quá nhanh nhưng cũng không quá chậm, tuy vậy vẫn có những tình tiết khiến người đọc rùng mình ớn lạnh bởi sự đen tối của nó, điển hình là tương lai 30 năm của Kusunoki hay quãng đời 10 năm của Himeno qua lời kể của Miyagi. VÌ vậy, đây không phải là câu truyện mà bạn có thể tự tin đoán trước diễn biến của nó. Nếu để dùng một cụm từ để miêu tả cái kết của truyện thì đó chính là “cực kì thỏa mãn”. Nó mang lại cho mình rất nhiều cung bậc cảm xúc, từ ngạc nhiên cho tới cay đắng xen lẫn sự tiếc nuối, nhưng hơn hết vẫn là mãn nguyện. Chắc hẳn là rất nhiều bạn sẽ thắc mắc rằng tại sao tác giả đặt tên truyện là 3 days of happiness nhưng lại chả thấy ba ngày ở đâu. Mình xin trả lời là đây không phải một tác phẩm viết về ba ngày hạnh phúc của hai nhân vật chính mà là hành trình ngắn ngủi kiếm tìm ba ngày đó. Họ chắc chắn sẽ chết, chết cùng với nhau sau ba ngày hạnh phúc, đó chính là kết thúc hoàn hảo nhất, chắc chắn nó sẽ để lại ấn tượng và dư vị khó quên trong lòng mỗi độc giả để rồi sau này, chúng ta sẽ nhớ mãi về câu truyện tình yêu của họ, một truyện tình có thể sưởi ấm bất kì trái tim lạnh lẽo, họ đã sống hết mình, còn chúng ta, liệu chúng ta có thể như hai người họ, đó phụ thuộc hoàn toàn vào hành động và cách suy nghĩ của các bạn sau khi đọc truyện. Những ý nghĩa nhân văn trong cốt truyện như là hạnh phúc, giá trị của con người hay là cách họ đối xử với nhau đều được truyền tải theo hướng hiện đại và dễ tiếp thu với tất cả mọi người, đặc biệt là những bạn nào không có nhiều thời gian đọc nhưng vẫn muốn tìm kiếm một tác phẩm giàu ý nghĩa. Một điểm nữa mà mình muốn chia sẻ thêm về cốt truyện của 3ds đó chính là sự hài hòa giữa yếu tố romance và drama, bên cạnh nhiều chi tiết đen tối và tâm lý, những khoảnh khắc lãng mạn của 2 nhân vật chính chắc chắn sẽ làm hài lòng những tín đồ của tiểu thuyết lãng mạn bởi sự hồn nhiên và trong sáng của nó. Hai con người cùng chạy trốn số phận nghiệt ngã tìm được sự đồng cảm lẫn nhau, để rồi họ bù đắp cho những khoảng trống nơi trái tim của người còn lại. VIệc chuyển đổi sắc thái từ buồn bã sang ấm áp cũng rất đỗi tự nhiên, hoàn toàn không có bất kìa chi tiết gượng ép. Tóm lại, 3ds có rất nhiều điểm cộng, vượt xa kìa vọng của mình về cốt truyện của một bộ manga ngắn và đến giờ mình vẫn chưa tìm được điểm nào đủ lớn để phàn nàn về cốt truyện của nó. Nếu bạn đang muốn tìm kiếm một bộ truyện có art đẹp, gái nuột, và background được chăm chút kĩ lưỡng, tỉ mỉ thì chắc chắn đây không phải lựa chọn mà các bạn nên thử. Theo mình đánh giá tổng thể thì 3ds có nét vẽ rất phù hợp với truyện. Nét vẽ thực tế, không quá đẹp nhưng cũng không quá cẩu thả. Những chi tiết nhỏ cũng như background tuy không được đầu tư một cách kĩ lưỡng nhưng nó sẽ tạo cho bạn những khoảng lặng để suy ngẫm về cuộc đời thông qua những chi tiết truyện. Thậm chí, những khung tranh chỉ có chữ trên nền đen cũng xuất hiện kha khá trong truyện. Nếu các bạn muốn một chút gì đó bình lặng để thư giãn và quên đi những ồn ào ở ngoài xã hội thì xin chúc mừng, đây chính là tác phẩm dành cho bạn. 3ds xoay quanh cuộc sống của nhân vật Kusunoki, một con người đáng thương nhưng cũng vô cùng đáng trách. Anh ta là đại diện cho một tầng lớp giới trẻ Nhật Bản sống buông thả, không mục đích. Ngày ngày lang thang trong vô định, cố níu giữ lấy chút gì đó từ quá khứ. Những con người đó tưởng chừng như vẫn sống, vẫn hít thở nhưng bên trong đã hoàn toàn mục nát và trống rỗng. Tâm hồn của họ đã chết từ lâu bởi chính những hành động của họ. Không bạn bè, không tiền bạc, không mục đích. Quá khứ có thể là động lực nhưng cũng có thể là thứ kìm chân chúng ta bước tiếp. Điều này có thể được lí giải cụ thể hơn qua một ví dụ đơn giản: Bạn đi xe không cẩn thận và bị ngã xe, sau đó bị thương. Những vết thương có thể cho những ai đủ mạnh mẽ để vượt qua đau đớn nhiều kinh nghiệm quý báu khi đi xe, cũng có thể tạo động lực giúp chúng ta nghiên cứu ra cách làm thế nào để giảm thiểu tối đa thiệt hại lên cơ thể. Nếu không thể vượt qua nỗi đau đó, bạn sẽ mãi mãi ám ảnh về vụ tai nạn dẫn tới không thể đi xe được nữa, qua đó đánh mất rất nhiều điều thú vị mà chỉ có thể có được khi đi xe. Không may, Kusunoki rơi vào trường hợp xấu hơn, chính vì sự níu kéo quá khứ đến mù quáng đã khiến cho anh ta quên đi mất một điều rằng mình đang ở hiện tại và quá khứ chỉ là quá khứ. Bất ngờ thay, một cơ hội đến với Kusunoki khi anh ta phải bán đi tuổi thọ của mình và trải qua ba tháng bên người giám sát là Miyagi, qua đó Kusunoki nhận ra rằng mình đã đánh mất những thứ gì, từ đó, cuộc sống của anh ta trở nên thú vị hơn, ý nghĩa hơn. Một điểm mình rất hài lòng ở cách xây dựng nhân vật này của tác giả đó chính là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật thông qua rất nhiều đoạn độc thoại nội tâm. Nó khiến cho bất kì ai khi đọc đều có thể dễ dàng đồng cảm và nhìn thấy một phần nào đó của chính mình trong nhân vật này. Người góp phần không nhỏ vào việc thay đổi suy nghĩ của Kusunoki về cuộc sống chính là Miyagi. Ấn tượng của mình về nhân vật này khá tốt bởi những chi tiết đỏ mặt hay cười của Miyagi đều được tác giả vẽ rất tự nhiên, nó mang cảm giác giống với người thật hơn là một nhân vật trong truyện. Là giám sát viên của Kusunogi trong ba tháng cuối, cũng chính là người thẩm định giá trị tuổi thọ của Kusunogi, Miyagi đã chuyển đến sống cùng với Kusunogi ngay sau khi anh chàng bán đi tuổi thọ của mình. Nhiệm vụ hằng ngày của Miyagi chỉ là đi theo và quan sát hành động của Kusunogi. Với vai trò giám sát viên, chỉ Kusunogi mới có thể nhìn thấy sự tồn tại của cô. Để trả khoản nợ khổng lồ của người mẹ mình, Miyagi đã chấp nhận bán đi thời gian 30 năm của mình, đó cũng có nghĩa là cô đã phải đánh đổi toàn bộ tuổi thanh xuân của mình. Khác với Kusunogi, Miyagi có suy nghĩ lạc quan hơn về cuộc sống, cô coi công việc giám sát viên như một cơ hội để hiểu hơn về tính cách mọi người cũng như giá trị của cuộc sống, hy vọng vào một điều tốt đẹp sẽ đến với mình để rồi sống một cách vô nghĩa đến khi gặp được Kusunogi. Gặp được anh, biết được cảm giác được yêu thương, được lắng nghe, giãi bày tâm sự, đó cũng là lần đầu tiên trong cuộc đời cô cảm thấy đau đớn khi mình vẫn tiếp tục phải sống. Quyết định bán đi chính tuổi thọ của mình để đưa 300 nghìn yên cho Kusunogi, nói dối anh về giá trị thực sự của tuổi thọ, về những luật lệ của giám sát viên nhưng để rồi bán toàn bộ tuổi thọ còn lại của mình để được ở bên anh mãi mãi. Tất cả điều đó làm nên một Miyagi rất cá tính, rất nhân hậu và cũng vô cùng có hồn. Nội tâm của cô được khắc họa rất rõ nét trong ngoại truyện. Qua đó, sự cô đơn, cảm giác trống rỗng, buồn bã khi trên thế giới này chỉ có duy nhất người được giám sát có thể nhìn thấy, sự nuối tiếc khi thanh xuân của mình sẽ trôi qua trong cô đơn để rồi đến khi trả hết nợ, cô nhận ra mình đã đánh mất quá nhiều thứ được bộc lộ một cách trần trụi nhất, cảm xúc nhất, không chút màu mè hay phô trương. Chắc chắn sẽ phải rất lâu nữa thì mình mới có thể tìm được một nhân vật nữ gây ấn tượng mạnh như Miyagi. Một câu truyện nếu thiếu đi ý nghĩa nhân văn sẽ không thể chạm đến trái tim của người đọc và việc tìm ra sự nhân văn trong nó là công việc mà mình hứng thú nhất. Với một tác phẩm mang nhiều ý nghĩa nhân văn như 3ds thì để truyền tải được hết cần rất nhiều kiến thức khác nhau, đặc biệt là triết học, việc đó đã vượt quá mục đích của một bài review nên mình hứa sẽ có một bài viết khác phân tích những ý nghĩa nhân văn của tác phẩm trong một ngày rảnh rỗi và không bị deadline dí. Quay trở lại với, nhân vật chính, có hai thứ mà mình nghĩ rằng hầu hết các bạn khi đọc sẽ đều nghĩ đến, đó chính là “hạnh phúc” và “giá trị con người”, hai yếu tố trên tưởng chừng không liên quan gì đến nhau, tuy nhiên sau một hồi suy nghĩ thì mình nhận ra có khá nhiều điểm tương đồng giữa chúng và sau đây sẽ là quan điểm về cách tác giả gửi gắm hai ý nghĩa trên trong tác phẩm và bài học rút ra sau khi đọc của mình. Theo các bạn, thứ gì làm nên giá trị của con người ? Tiền bạc ? Danh vọng ? Cống hiến cho xã hội ? Các mối quan hệ ? Câu trả lời của mình là “hạnh phúc”, tại sao ư ? Bởi vì nó là tổng hợp của tất cả các yếu tố trên. Bạn có nhiều tiền nhưng chưa chắc đã hạnh phúc. Bạn được nhiều người quý mến nhưng không thể tìm được một người thực sự thấu hiểu để trò chuyện và tâm sự, bạn không hạnh phúc. Bạn có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội nhưng vẫn luôn cô đơn vì không ai thực sự gắn bó với bạn, bạn không hạnh phúc. Bạn cống hiến hết mình cho xã hội nhưng không được công nhận, bạn không hạnh phúc. Vậy thế nào mới là “hạnh phúc”, câu trả lời rất đơn giản, hạnh phúc chính là sự lan tỏa cảm xúc tích cực của mình đến với mọi người xung quanh. Hãy thử tưởng tượng bạn được điểm cao, lúc đó thầy cô, bố mẹ, họ hàng đều sẽ tự hào về bạn, lúc đó bạn cảm thấy hạnh phúc. Bạn tìm được một nửa của mình và tình cảm của bạn chạm đến trái tim của những ai biết đến nó, bạn sẽ hạnh phúc. Đừng suy nghĩ quá phức tạp về vấn đề này, hãy cứ suy nghĩ theo hướng tích cực, hạnh phúc không phải là thứ cao xa, đôi khi, nó đơn giản chỉ đến từ những hành động nhỏ nhất như là được tặng một món quà nhỏ hay tự mình làm được một điều gì đó. Không quan trọng điều bạn làm lớn lao hay cao cả thế nào, quan trọng là cách bạn lan tỏa niềm hạnh phúc đến với mọi người xung quanh. Ok, vậy thì nó có liên quan gì đến “giá trị con người”, bạn có công nhận với mình tất cả yếu tố trên đều sẽ không tồn tại vĩnh cửu không. Tiền rồi sẽ có lúc mất giá, bạn bè rồi sẽ có lúc chia xa, đỉnh cao danh vọng không bao giờ chỉ dành cho một người, sẽ có lúc một người khác xứng đáng hơn bước lên đó, những cống hiến rồi sẽ bị lãng quên theo thời gian. Chỉ có đúng “hạnh phúc” và “hy vọng” sẽ mãi mãi tồn tại trong trái tim của mỗi người, đó mới chính là giá trị thực sự của một con người. Nếu vậy thì chẳng phải giá trị của con người là vô hạn hay sao, đúng vậy. Tương lai là thứ không bao giờ có thể được dự đoán trước và sẽ chẳng có thứ gì có thể đoán chính xác xem trong tương lai bạn sẽ làm những gì. Qua đây thì mình muốn nhắn nhủ đến tất cả các bạn và cả chính bản thân nữa rằng đừng bao giờ từ bỏ, hãy nỗ lực, cố gắng lan tỏa sự tích cực đến với tất cả mọi người xung quanh vì tiềm năng của con người là vô hạn. Đừng bó buộc mình theo một lối mòn suy nghĩ mà hãy liên tục cải tiến để hoàn thành bản thân, đến cả Kusunoki cũng không thể ngờ rằng một kẻ thất bại như anh ta có thể tạo nên một tác phẩm vĩ đại chỉ trong thời gian ngắn ngủi đó, vậy thì tại sao chúng ta- thế hệ tương lai của đất nước không cố gắng từng ngày để khẳng định giá trị của mình nhỉ ? TỔNG KẾT: 3 days of happiness là một bộ manga rất hay, mình nghĩ tất cả mọi người đều nên đọc qua nó ít nhất 1 lần để cảm nhận được cái hay, cái độc đáo của nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật và những ý nghĩa sâu săc được gửi gắm trong cốt truyện một cách nhẹ nhàng và sâu lắng. Cuối cùng, mình xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn đã bỏ thời gian quý báu ra để đọc hết mấy dòng xàm xí này. Tạm biệt và hẹn gặp lại các bạn trong những bài viết tiếp theo. #homuhomu PS: vì một số lỗi ngáo ngơ nên ad Homu lỡ xoá hết ảnh bài này, tạm thời t để ảnh này đây thế vào để chống trôi, chờ Homu sửa lại cho đàng hoàng nhé #Lamp PS: Tôi, homu ăn hại xin chân thành cảm ơn và xin lỗi anh #Lamp vì đã gây ra cái sự ngu c*k không kiểm soát được này. Tôi rất ăn năn và hối lỗi vì đã làm mất thời gian và công sức của anh ấy, xin cam kết từ nay nếu còn tái phạm nữa thì tôi sẽ chịu mọi hình thức kỉ luật dù có nặng đến đâu đi chăng nữa Mời các bạn đón đọc Ba Ngày Hạnh Phúc của tác giả Sugaru Miaki.
Từ Điển Khazar
Nếu có những cuốn sách đáng gọi “kỳ thư”, Từ điển Khazar là một trong số đó. Kể từ khi ra đời nó đã gây cảm hứng lớn lao cho nhiều thế hệ người đọc, và từ khi bản tiếng Việt được in lần đầu, nó đã là cánh cửa mở ra một thế giới mới mẻ và hấp dẫn khôn cùng của tiểu thuyết hiện đại. Với người đọc bình thường, cuốn sách cho ta một trải nghiệm khác lạ, “đọc theo cách nào cũng được” song đồng thời đầy thử thách, đòi hỏi ta tích cực tham gia vào việc tái dựng chỉnh thể, một cách tưởng tượng và sáng tạo. Với người viết văn, nó là minh chứng cho thấy những khả năng của tiểu thuyết là vô hạn và những chân trời chưa ai chạm tới của văn chương là kỳ vĩ, thu hút khôn cưỡng như thế nào. Không chỉ là “tiểu thuyết đầu tiên của thế kỷ 21” như một số người tán tụng, Từ điển Khazar còn giống như một cuốn sách xưa, lạ lùng, mà tác giả khai quật được từ bụi bặm lãng quên và đưa ra ánh sáng cho chúng ta, cuốn sách mà, dẫu nằm kia dưới ánh ban ngày, vẫn nguyên vẹn bóng tối âm hiểm, u trầm của nó. *** Cùng với "Từ điển Khazar", Milorad Pavic đi vào văn chương thế giới như một trong những nhà văn tìm lối đi riêng để làm mới thể loại tiểu thuyết Nhiều nhà phê bình gọi tiểu thuyết "Từ điển Khazar" (Trần Tiễn Cao Đăng dịch) của nhà văn Milorad Pavic là "tiểu thuyết đầu tiên của thế kỷ XXI" dẫu tác phẩm này được xuất bản từ năm 1984. "Kỳ thư" của thế kỷ XXI "Từ điển Khazar" như tên gọi của nó, là cuốn từ điển viết về dân tộc Khazar, được cấu trúc như một từ điển theo thứ tự của bảng chữ cái, là "tiểu thuyết - từ điển gồm 100.000 từ". Chính vì thế, trong mỗi ngôn ngữ khác nhau, người đọc của mỗi bản dịch sẽ có trình tự đọc "Từ điển Khazar" khác nhau như Milorad Pavic từng chia sẻ: "Bản gốc "Từ điển Khazar" in bằng chữ Cyrillic kết thúc bằng đoạn trích tiếng Latin: "sed venit ut illa impleam et confirmem, Mettheus". Bản dịch tiếng Hy Lạp kết thúc bằng câu: "Tôi đã nhận ra ngay rằng có đến ba nỗi sợ trong tôi chứ không chỉ một". Bản tiếng Anh, Do Thái, Tây Ban Nha và Đan Mạch "Từ điển Khazar" kết thúc bằng câu: "Khi người đọc quay trở lại, mọi thứ diễn ra theo thứ tự ngược lại và Tibon tiến hành sửa chữa bản dịch dựa trên ấn tượng khi nghe kẻ khác vừa đi vừa đọc to bản dịch ấy…". Không những thế, vì là "tiểu thuyết - từ điển" nên người đọc có thể chọn mục từ mình muốn đọc, đọc nhảy cóc, đọc xuôi hay đọc ngược, thậm chí "đọc chéo" theo lời khuyên của tác giả mà vẫn không thay đổi nội dung của tác phẩm. Bìa cuốn tiểu thuyết “Từ điển Khazar” xuất bản tại Việt Nam Làm được như thế là bởi "Từ điển Khazar" được xây dựng dựa trên cấu trúc mở, với những văn bản phân mảnh và kết hợp lại dựa trên sự chủ quan của độc giả, cũng như những dị biệt của từng ngôn ngữ. Khái niệm về đoạn đầu và đoạn cuối tác phẩm không còn cố định theo nghĩa thông thường nữa mà thay đổi, khiến cho tiểu thuyết này trở thành vòng tròn bất tận, không có đầu và không có kết trong chừng ấy trang sách. Nghĩa là trong cái hạn hữu của vật chất là trang giấy chứa đựng cái vô hạn của câu chuyện. Cách đọc này cho phép người đọc dự phần nhiều hơn vào một tác phẩm văn học. Thay vì chỉ duy nhất một cách đọc văn bản, tiểu thuyết hậu hiện đại cho phép người đọc được chọn lựa cách thức đọc một tác phẩm hay nói như nhà văn Raymond Queneau là "một truyện kể theo cách riêng của bạn". Bằng cách đó, con đường của tiểu thuyết không còn bó hẹp trong một lối đi mà có hàng ngàn dự phóng khác nhau, gây hứng thú cho cả người đọc lẫn người viết. Được sinh ra như đứa trẻ Sức hấp dẫn của "Từ điển Khazar" không chỉ đến từ cấu trúc đặc biệt của nó mà còn bởi câu chuyện hoang đường mà Milorad Pavic kể lại về cách cuốn "Từ điển Khazar" được hình thành qua hàng ngàn năm. Biến tiểu thuyết này thoát khỏi cái kỹ thuật nặng nề, khô cứng mà trở nên bay bổng, đầy thơ mộng bởi sức hấp dẫn của những truyện kể, gợi nhắc đến bộ kỳ thư của nhân loại "Ngàn lẻ một đêm" và Milorad Pavic không khác chi nàng Seherazat, mê hoặc người đi qua từ câu chuyện này đến câu chuyện khác hay ở đây là từ mục từ này qua mục từ khác. Được cấu tạo từ 3 quyển sách: "sách đỏ", "sách xanh" và "sách vàng" viết bởi 3 tôn giáo khác nhau (Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo) xung quanh sự kiện được gọi là "luận chiến Khazar". Tại sự kiện lịch sử đó, từng cuốn sách kể lại câu chuyện của mỗi tôn giáo về cách họ thuyết phục quốc vương cho phép dân Khazar cải đạo theo tôn giáo của mình. Chính ở đây, Milorad Pavic đẩy người đọc tiến xa hơn, không còn tiếp thu văn bản một cách thụ động mà buộc họ phải dự phần vào việc suy luận, tùy theo mỗi độc giả sẽ có một đáp án riêng của mình. Thậm chí, nếu hỏi Milorad Pavic, rốt cuộc người Khazar đã cải đạo nào thì chắc ông cũng lắc đầu nói không biết. Điều này khiến ta nhớ đến tác phẩm "Trong rừng trúc" của Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) hay "Cô dâu hay con hổ" của Frank R. Stockton (1834-1902) ở chỗ truyện không chỉ có một kết thúc mà quan trọng người đọc quyết định tin vào lời chứng nào và chọn kết thúc mà mình thấy hài lòng nhất. Milorad Pavic biến tiểu thuyết trở thành một sinh thể sống động chứ không còn là một văn bản chết của giấy và mực. Như chính ông từng trả lời trong một cuộc phỏng vấn: "Tiểu thuyết được sinh ra hệt như một đứa trẻ". Câu nói này, không chỉ ví von cách nhà văn "thai nghén" ra tác phẩm mà còn ở chỗ "đứa trẻ" đó có một sinh mệnh riêng, những dự phóng riêng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của "cha mẹ", những tác giả không có nhiệm vụ quyết định thay độc giả tương lai của tác phẩm. Tiêu biểu cho văn chương hậu hiện đại Milorad Pavic sinh năm 1929, nhà văn người Serbia. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông từng được nhiều lần dự đoán là ứng cử viên sáng giá của Serbia cho giải Nobel Văn chương. Các tiểu thuyết của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và được các nhà phê bình trên thế giới đánh giá cao bởi những sáng tạo độc đáo, kích thích độc giả. Ngoài "Tiểu thuyết - từ điển gồm 100.000 từ", "Từ điển Khazar", Milorad Pavic còn có các tiểu thuyết độc đáo khác: "Tiểu thuyết ô chữ", "Phong cảnh vẽ bằng trà" (1988); "Tiểu thuyết - đồng hồ cát", "Mặt trong của gió"(1991) và "Tiểu thuyết - bài tarot", "Mối tình cuối ở Constantinople" (1994). Cũng giống như nhà văn Italo Calvino của Ý hay Jorge Luis Borges của Argentina, ông được xem là nhà văn tiêu biểu cho văn chương hậu hiện đại. Huỳnh Trọng Khang Mời các bạn đón đọc Từ Điển Khazar của tác giả Milorad Pavic.