Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Học Cơ Tiến-Hóa Theo Khoa Minh-Triết Thiêng-Liêng (Bạch Liên)

MỤC LỤC

QUYỂN NHỨT

Vài lời nói đầu

Con người là ai

Con người từ đâu đến? Tìm mua: Học Cơ Tiến-Hóa Theo Khoa Minh-Triết Thiêng-Liêng TiKi Lazada Shopee

Con người sanh ra cõi Trần làm chi

Sự tiến hóa chấm dứt ở đây sao

Muốn học cơ Tiến-hóa thì phải làm sao

Thái-Dương-Hệ là gì?

Ai sanh ra một Thái-Dương-Hệ?

Có bao nhiêu Thái-Dương-Hệ trên không gian?

Thái-Dương Thượng-Đế khác với Đấng Chí-Tôn gọi là Ông Trời

Đức Thái-Dương Thượng-Đế của chúng ta từ đâu đến?

7 Cõi của Thái-Dương-Hệ chúng ta

7 Cảnh của cõi Trần

Tên của mỗi thứ khí

Đặc sắc của mỗi thứ khí

Mười Hệ-Thống Hành-Tinh

7 Hệ-Thống hữu-hình

Những bầu Hành-Tinh thấy được

Không phải 7 dãy Hành-Tinh của một Hệ-Thống sanh ra một lượt với nhau

Sự tan rã của Thái-Dương-Hệ chúng ta

QUYỄN NHÌ

Sự Liên-quan giữa Con Người và Vũ-Trụ

3 Ngôi của Đức Thái-Dương Thượng-Đế

Trạng Thái của ba Ngôi

Công việc của ba Ngôi

Mục-đích sanh-hóa Thái-Dương-Hệ nầy

Bảy loài trên dãy Địa-Cầu chúng ta

3 Ngôi của Con Người

7 Thể của Con Người để dùng tại 5 Cõi mà thôi

Xác Thân

Phương-Pháp luyện tập Xác Thân

Cái Phách (Double Éthérique)

Cái chi có Ảnh hưởng tới cái Phách

Sanh-Lực là gì?

Sự tinh-khiết của Cái Phách

Cái Vía

Màu sắc cái Vía

Làm sao thấy được mấy màu nầy

Phận sự của Cái Vía

Làm một thể độc lập

Học phép xuất vía

Tánh nết Cái Vía

Phương-pháp sửa trị Cái Vía

Hạ Trí

Những khoảnh của Cái Trí

Phận sự của Cái Trí

Hiệu quả của tư-tưởng

Những làn sóng tư-tưởng

Tánh-cách-biệt của làn sóng tư-tưởng

Hình tư-tưởng

Màu sắc của những hình tư-tưởng

Sự chọn lựa tư-tưởng

Ảnh-hưởng của tư-tưởng xấu

A. Ta hại ta trước hết

B. Ta hại những người ở chung quanh ta

C. Ta thêm những sự khổ cho đời

Ảnh-hưởng của tư-tưởng tốt đẹp

Ta làm cho cái Trí ta trở nên tốt đẹp

Ta giúp ích cho những người ở chung quanh ta

Ta giúp ích cho đời

Tư-tưởng biến thành sự hành-động

Tánh nết Hạ-Trí

Sửa-trị Cái Trí

QUYỂN BA

Sự đào-tạo những quan-năng

Sự hoạt-động của CáiTrí

Những điều nên biết về sự mở mang CáiTrí

Tinh-luyện CáiTrí

Kiểm-soát tư tưởng

A. Định-Trí

B. Hườn hư

Đừng phung-phí sức mạnh của tư-tưởng

ThamThiền

Tham-Thiền có tánh cách mở mang trí thức

Ngày sau trọn đời chúng ta chỉ là một chuổi Tham-Thiền mà thôi

Sự phát-minh của ông Archimède (287-212)

Sự phát-minh của ông Thomas Edison (1847-1931

Bí quyết thành công: Làm việc cho nhiều và suy-nghĩ luôn luôn (Travailleur toujours et réfléchir sancesse)

Tham-Thiền có tánh cách sùng bái

Tham-Thiền một đức tánh

Phương-pháp tập luyện

Tham-Thiền về Ba Thể: Thân, Vía, Trí

Xem xét Xác Thân

Xem xét Cái Vía

Xem xét Cái Trí

Lời dặn tổng quát

Nhưng xin nhớ kỹ vài điều sau đây:

Hai câu chuyện lý thú về sự Tham-Thiền

Giải-quyết một vấn-đề trong lúc ngủ

Một phương-pháp chắc-chắn để thí-nghiệm sự tiến-hóa của mình

Tại sao phải Tham-Thiền đúng giờ khắc và liên-tục

Giúp đở người trong lúc ngủ

Cách ngồi thiền

Giờ Tham-Thiền

Khắc kỷ

Toát-yếu về phương-pháp mở mang trí-thức

Tại sao kinh sách Đạo-Đức gọi Con Người là Tiểu Thiên-Địa

Một phương-pháp giúp quí bạn tiến tới mặc dầu chưa Tham-Thiền được

Phương-pháp thực-hành

Mà Tu là gì?

Một sự thí-nghiệm để chứng chắc ý-muốn và tư-tưởng không phải thật là con người

QUYỂN TƯ

Ba Thể Trường-Tồn

1. Thượng-Trí hay là Nhân-Thể

Cách cấu-tạo Thượng-Trí

Màu sắc của Thượng-Trí

Sự dùng Thượng-Trí làm một thể độc-lập

2. Kim-Thân

3. Tiên-Thể

Sự liên-lạc giữ những thể của Con Người

LẬP-HẠNH: Nó biến đổi con người trước nhứt ra một vị Thiện-Nhân rồi lần lần tới bực Siêu-Phàm

Những Đức-tánh cần-thiết để tạo lập một tánh tình Siêu-Phàm

Ba yếu-tố quan-trọng của sự lập hạnh

I…Tư-tưởng chơn-chánh

Cách xua đuổi một tư-tưởng xấu

Đề phòng những sự cám-dổ và những sự tấn công của kẻ nghịch

II…Lời nói chơn-chánh

A…Có cần-thiết chăng

B…Có đúng sự thật không?

C…Có từ-thiện không?

Chớ nên hiểu lầm sự nói thật đúng

Việc làm chơn-chánh

Những Đức-tánh phải tập

Lãnh-đạm

Oai-lực của lòng Từ-Bi

Chuyện thứ nhứt: Vuốt-ve rắn hổ-mang

Chuyện thứ nhì: một chuyện phi-thường

QUYỂN NĂM

Sự chiến đấu cuối cùng

Linh-hồn kim-cương

Tinh-Thần hóa hay là Khoa Luyện Kim Tinh-Thần

Mục Đích thứ nhì của sự Luyện Kim Tinh-Thần

Lòng ham muốn và chính là lòng ham muốn ràng buộc và cột trói con người

Phải làm thế nào để cho sự hành động cứ thực hiện mà con người vẫn được tự-do

Sự hy-sanh

Cái cách thức hợp nhứt sự hy-sanh với sự hành-động

Quan-điểm cao-siêu của định-luật hy-sanh

Sự hy-sanh của Tiên Thánh và các vị Đệ-Tử

Tại sao người Đệ-Tử phải có một Hạnh-kiểm vượt bực người thường

Đoạn kết

QUYỂN SÁU

Sự trong sạch của Xác Thân

Mục-đích của Pháp-Môn Raja Yoga

Xác Thân

Sự tinh-luyện Thể Xác

Sự chọn lựa thức ăn

Có điều độ trong mọi sự việc a)…Về bửa ăn b)…Về giấc ngủ c)…Về mấy việc khác d)…Phải tiết dục

Có Trời mà cũng có ta. Tu là cội phúc

XÁC THÂN trực tiếp liên hệ tới TIÊN THỂ (Corps Atmique)

Sạch sẽ từ y-phục cho tới thân mình

Những lời khuyên nhủ của Đức bà A. Besant

Lòng Sùng Đạo hay là Sùng-Tín

Làm thế nào để phát triển lòng Sùng-Tín?

Phương-pháp luyện tập

Một phương-pháp chắc chắn hơn hết

Hai mẫu người Sùng-Tín

Mẫu người Sùng-Tín thụ-động

Mẫu người Sùng-Tín hoạt-động

Lúc đầu tiên họ là những người thế nào?

Cách hành động của họ

Con đường Sùng-Tín dắt đi đến đâu?

QUYỂN BẢY

Tinh-Thần An-Phận

Sự An-Phận cắt nghĩa theo Huyền-Bí-Học

Phải cải tạo hoàn cảnh

Sự An-Phận của các Sanh-Viên Huyền-Bí-Học

Bền chí

Tánh kín đáo

Tánh đúng đắn

Phụng sự

Lời cầu chúc của Bà A. Besant

QUYỂN TÁM

Dãy Địa Cầu chúng ta

Bảy Bầu nầy ở Cõi nào?

Dãy Trái Đất của chúng ta hiện giờ là Dãy thứ mấy?

Đồ-hình 7 Cõi, 7 Dãy Hành Tinh

Bảy Giống Dân trên Dãy Địa Cầu

Xin nhớ những nguyên-tắc tổng quát

Nhơn vật trên Dãy Địa Cầu chúng ta

Nhơn vật tại Bầu trái đất của chúng ta hiện giờ

Các Giống Dân tại Địa Cầu chúng ta

Các giống dân: Giống thứ nhứt

Giống thứ nhì

Giống thứ ba

Giống thứ tư

Bảy Nhánh của Giống Dân thứ tư

Giống Thứ năm

Bảy Nhánh của Giống Thứ năm

Giống Thứ sáu

Giống Thứ bảy

Đặc tánh của mỗi giống Dân

Bề cao của Năm Giống Dân Chánh

Tạo vật ôn lại

Vài mẩu chuyện thay hình đổi dạng

Một Nữ Gíáo-Sư dần dần biến thành đàn ông, rồi rù quến một Cô Giáo có chồng 5 con

Một hồi ký độc đáo của một người

19 tuổi: Lấy chồng

29 tuổi: Lấy vợ

Đàn ông hóa gái

Những Châu Thế Giới

1. Châu thứ nhứt

2. Châu thứ nhì

Một bằng chứng cụ thể chứng minh rằng khi xưa ở Bắc Cực khí hậu miền nhiệt đới

Hãy phá vỡ những thành kiến sai lầm

3. Châu thứ ba

4. Châu thứ tư

5. Châu thứ năm

6. Châu thứ sáu

7. Châu thứ bảy

QUYỂN CHÍN

Sự tiến hóa đi theo vòng tròn

Bảy cuộc Tuần Huờn (Les 7 Rondes)

Cuộc Tuần Huờn Thứ Nhứt

Cuộc Tuần Huờn Thứ Nhì

Cuộc Tuần Huờn Thứ Ba

Số phần của Con Người và các Loài vật

Dãy Địa Cầu tan rã

Nhơn vật của Dãy Hành Tinh Thứ Năm

Sự Phán Xét cuối cùng

Sự Phán Xét Cuối Cùng của một Bầu Hành Tinh

Nội Cảnh Tuần Huờn

Họ ở lại Bầu Hành Tinh củ bao lâu

Sự hữu ích của Nội Cảnh Tuần Huờn

Sự Phán Xét Cuối Cùng của Một Dãy Hành Tinh

Sự Phán Xét Cuối Cùng của Dãy Địa Cầu chúng ta

Sự Phán Xét Cuối Cùng của Ba Dãy Hành Tinh Trước

Dân số trên dãy Địa Cầu

Số người được giải thoát sẽ là bao nhiêu

I. Những điều nên biết

Tại sao thân hình Giống Dân Thứ Nhứt lại in như nguyên sanh chất

II. Chừng nào cửa Đạo mới mở cho Con Người

III. Danh hiệu của các Vị Đắc Đạo thành chánh quả trong 4 Dãy Hành Tinh

Xin đừng lầm lộn hai danh từ: ASURA - A TU LA

IV. Ở Ba Dãy Hành Tinh trước được mấy lần điểm đạo mới thành Chánh Quả thoát Đọa

Luân-Hồi

Kết Luận

“HỮU PHƯỚC THAY NHỮNG NGƯỜI TẤM LÒNG TRONG SẠCH!”

“HỌ SẼ THẤY ĐƯỢC THƯỢNG ĐẾ

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Học Cơ Tiến-Hóa Theo Khoa Minh-Triết Thiêng-Liêng PDF của tác giả Bạch Liên nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Cuộc đời Mẹ Maria - LM Mark Đoàn Quang
[PDF] Cuộc đời Mẹ Maria - LM Mark Đoàn QuangĐức Mẹ Maria là Đấng quan trọng sau Chúa Giêsu Kitô trong mầu nhiệm Cứu Chuộc. Mẹ là Đấng đã thực sự rõ ràng cộng tác vào việc Cứu Chuộc của Chúa Giêsu Con Mẹ. Ơn gọi và sứ mạng của Mẹ chính là ơn gọi Đồng Công Cứu Chuộc. Từ trước vô cùng, Thiên Chúa đã định đặt cho Đức Mẹ được ơn Đồng Công Cứu Chuộc. Nhưng cuộc đời của Mẹ lại bị che khuất quá nhiều trong bóng im lặng. Phúc Âm nói rất ít về Mẹ. Ngoài một vài chi tiết quá gọn ghẽ, ít oi, liên quan đến cuộc đời Chúa Giêsu. Thánh Luy Mônpho nhận xét: "Qua Phúc âm, ta chẳng biết cả đến Mẹ sinh ra bao giờ và ly trần khi nào nữa". Các vị tiến sĩ, các nhà thần học, các sử gia đã cố gắng nghiên cứu để tạo nên nhiều cuốn hạnh tích Mẹ Maria thật giá trị, nhưng những tác phẩm ấy cũng chỉ là sản phẩm của con người, không đáp ứng đủ được lòng hiếu kính của con cái Giáo Hội, luôn khao khát được hiểu biết về cuộc đời Mẹ hơn, để yêu mến Mẹ hơn.Mẹ Maria và chính Thiên Chúa xem ra cũng chiều lòng khao khát ấy, nên vào thế kỷ 17, Mẹ đã được Thiên Chúa cho phép tỏ ra tất cả cuộc đời của Mẹ trong một cuộc Mặc khải tư, cho bà mẹ một đan viện Dòng thánh nữ Clara, để bà viết lại cho mọi người được biết.Bà Mẹ ấy là Bà Đáng Kính Maria Agrêđa. Bà sinh ngày mồng 02 tháng 04 năm 1602 tại Agrêđa, một thị trấn nhỏ trong nước Tây Ban Nha. Cha là ông Phanxicô Coronel, mẹ là bà Catarina Arana, cả hai cùng thuộc quí tộc và mồ côi từ nhỏ. Gia tài sa sút, nhưng lòng đạo đức của cả hai lại rất đáng chú ý. Tuy không quen biết nhau, nhưng cả hai xin Chúa ban cho mình sinh một người con để hiến dâng cho Chúa. Chấp nhận ý nguyện tốt lành ấy, Chúa cho hai người gặp nhau và cùng nhau xây tổ ấm.Ông bà sinh được 11 người con, nhưng bảy người đã mất sớm. Về sau, ơn Chúa đã soi lòng cho cả gia đình dâng đời mình cho Chúa: Cha và hai con trai vào tu Dòng Anh em Hèn mọn, còn mẹ và hai con gái mà bà Đáng Kính nói đây là chị đã biến nhà mình thành một đan viện theo luật Dòng thánh nữ Clara.
Trần Nhân Tông - Đức vua sáng tỏ một dòng Thiền
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm. Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm. Trong lịch sử Việt Nam, thời Trần được xem là thời kỳ hưng thịnh nhất cả về mặt quân sự và văn hoá với nhiều thành tựu. Là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Trần, Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua nổi tiếng anh minh, có vai trò lãnh đạo quan trọng hai lần chống quân Nguyên Mông bảo vệ bờ cõi Đại Việt trước vó ngựa nổi tiếng vô địch của người Mông Cổ. Sau 15 năm trị vì, ông nhường ngôi lui vào ở ẩn và chuyên tâm  nghiên cứu Phật giáo. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nổi tiếng. Ông để lại một di sản Thiền tông mà dến bây giờ vẫn còn phát triển, trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Trong lịch sử Việt Nam, thời Trần được xem là thời kỳ hưng thịnh nhất cả về mặt quân sự và văn hoá với nhiều thành tựu. Là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Trần, Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua nổi tiếng anh minh, có vai trò lãnh đạo quan trọng hai lần chống quân Nguyên Mông bảo vệ bờ cõi Đại Việt trước vó ngựa nổi tiếng vô địch của người Mông Cổ. Sau 15 năm trị vì, ông nhường ngôi lui vào ở ẩn và chuyên tâm  nghiên cứu Phật giáo. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nổi tiếng. Ông để lại một di sản Thiền tông mà dến bây giờ vẫn còn phát triển, trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam.Ấn phẩm Trần Nhân Tông - Đức Vua Sáng Tổ Một Dòng Thiền do cư sĩ Nguyên Giác biên soạn, là một tuyển tập về cuộc đời của Ngài gồm các bài phú, thơ, tham vấn. Ấn phẩm Trần Nhân Tông - Đức Vua Sáng Tổ Một Dòng Thiền do cư sĩ Nguyên Giác biên soạn, là một tuyển tập về cuộc đời của Ngài gồm các bài phú, thơ, tham vấn.Xin trích dẫn lời của cư sĩ Nguyên Giác cho cuốn sách này: "Nguyện xin những lời này khích lệ cho những vị muốn học Thiền tông, giúp những vị đang tu tập, và trở thành một trận mưa hoa để ca ngợi những vị đã vào được pháp môn không cửa vào này. Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát.” Xin trích dẫn lời của cư sĩ Nguyên Giác cho cuốn sách này: "Nguyện xin những lời này khích lệ cho những vị muốn học Thiền tông, giúp những vị đang tu tập, và trở thành một trận mưa hoa để ca ngợi những vị đã vào được pháp môn không cửa vào này. Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát.”MUA SÁCH (TIKI) MUA SÁCH (TIKI) MUA SÁCH (TIKI)
Sấm Truyền Ca (1670) - Lữ Y Đoan (Diễn kinh Cựu Ước bằng thơ Lục Bát)
Hằng sinh Thượng đế đại quyền, Tự không sáng tạo phán truyền hoằng khai Càn khôn bỗng chúc phôi thai Hư hư hàn vũ, dày dày u minh.Đó là những câu mở đầu trong tác phẩm Sấm Truyền Ca, diễn ca lục bát 5 quyển đầu của Cựu ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của Giáo phận Đàng Trong biên soạn. Cha Lữ Y  (Louis)  Đoan sinh năm 1613 tại Kẻ Chàm, Quảng Nam, soạn xong quyển Sấm Truyền Ca bằng chữ Nôm khi còn là Thầy Giảng năm 1670. thụ phong LM tại Quảng Ngãi năm 1676 và hai năm sau đó qua đời (1678). Đó là những câu mở đầu trong tác phẩm Sấm Truyền Ca, diễn ca lục bát 5 quyển đầu của Cựu ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của Giáo phận Đàng Trong biên soạn.Cha Lữ Y  (Louis)  Đoan sinh năm 1613 tại Kẻ Chàm, Quảng Nam, soạn xong quyển Sấm Truyền Ca bằng chữ Nôm khi còn là Thầy Giảng năm 1670. thụ phong LM tại Quảng Ngãi năm 1676 và hai năm sau đó qua đời (1678). Tác phẩm Sấm Truyền Ca đã Việt hóa các nhân danh và địa danh trong Kinh thánh, trình bày nội dung các sách Ngũ Thư với phong cách hết sức Việt Nam. Giáo dân rất thích nhưng có lẽ các cha Tây ngại rằng nó không sát bản văn Kinh thánh nên không ủng hộ, tác phẩm chỉ được chép tay chứ không được in ra. Qua thời kỳ bắt đạo, quyển sách đã trôi dạt về phía nam. Năm 1820 bộ sách được chuyển sang chữ quốc ngữ do Phan Văn Cận (tại Cái Mơn, Bến Tre). Năm 1870, có người đào được tại Cái nhum (Chợ lách, Vĩnh long) một hầm vô chủ, có nhiều sách vở về đạo thánh,'trong đó có bộ Sấm Truyền Ca, giấy đã mục nhiều. Lúc đó có ông Nguyễn Vãn Thế chịu khó chép lại và truyền ra cho nhiều người biết. Năm 1885 cha Phaolồ Qui muốn giúp độc giả tiện đối chiếu với bản văn Kinh thánh nên đã ghi số thự tự vào các câu trong mỗi chương. Ngài cũng chuyển các tên người và tên đất cho sát bản Latinh nhưng chỉ làm được một phần. Có hai bản sao đã tồn tại tới giữa thế kỷ XX: Một bản do nhà báo Paulus Tạo (báo Nam Kỳ Địa Phận) chép theo Sưu tầm của Phêrô Trần Hớn Xuyên, trực tiếp chép theo bản của Simong Phan Văn Cận, hoàn tất ngày l7 tháng 5 năm 1910 và một số tài liệu về Sấm Truyền Ca, do linh mục Phao-lồ Qui Sưu tầm và sửa chữa, từ năm 1885. Paulus Tạo ghi năm tháng ông thực hiện việc biên khảo trên một trang nay đã rách, nên nay không rõ là năm nào. Khi nhà in Tân Định được thành lập, đã có đề nghị in bộ sách nhưng các cố Tây không chịu. Bản thứ hai ở báo Tông Đồ. Năm 1947 nhà báo Nguyễn Cang Thường mang về tòa soạn báo Tông Đồ một số văn liệu, trong đó có Sấm Truyền Ca. Năm 1952, nhà báo Tông-Đồ bị bão làm sập đổ, văn liệu hư hại hơn phân nửa. Bổn Sấm Truyền Ca hư hỏng hoàn toàn ba quyển sau, vì bị nước ngập và mối xông phá, chỉ còn hai quyển đầu là Genesia (Tạo Đoan Kinh) và Exodus (Lập Quốc Kinh). Quyển Lập Quốc Kinh bị mối tàn phá phân nửa, chỉ còn 21 chương. Năm 1956 nhà báo Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn chép những phần còn lại của tập Sấm Truyền Ca và chép xong ngày 20 tháng 12 năm 1956. Trong bản chép tay của ông Nhạn, tên đất và tên người chép theo bản của linh mục Lữ-y Đoan và ghi chú theo bản sửa chữa của linh mục Phao-lồ Qui. 1993 Giáo sư Nguyễn Văn Trung và một số trí thức Công giáo đã thực hiện quyển sách “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng. Giáo sư Trung và các cộng sự viên đã có công nghiên cứu đối chiếu, thực hiện bản văn hiệu đính mang tính khoa học và năm 2000 Tập san Y Sỹ ở Montreal đã xuất bản tập 1: Tạo Đoan Kinh. Dù quyển sách được in ở Canada mới cách đây 20 năm, hiện nay ở Việt Nam tìm không đâu có. May thay cuối cùng, chúng ta may mắn tìm được một bản photocopy ở Thư viện Học viện Đa Minh, Gò Vấp và một ấn bản ở Thư viện Mân Côi Bùi Chu. Được Đức Giám mục Giáo phận khuyến khích, chúng con đang chuẩn bị để in lại quyển sách kịp phát hành vào Mùa Vọng năm nay, nhằm mừng kỷ niệm 350 năm việc biên soạn tác phẩm, để tạ ơn Chúa và để đẩy mạnh công việc truyền giáo cho giới trí thức. Tác phẩm Sấm Truyền Ca đã Việt hóa các nhân danh và địa danh trong Kinh thánh, trình bày nội dung các sách Ngũ Thư với phong cách hết sức Việt Nam. Giáo dân rất thích nhưng có lẽ các cha Tây ngại rằng nó không sát bản văn Kinh thánh nên không ủng hộ, tác phẩm chỉ được chép tay chứ không được in ra. Qua thời kỳ bắt đạo, quyển sách đã trôi dạt về phía nam.Năm 1820 bộ sách được chuyển sang chữ quốc ngữ do Phan Văn Cận (tại Cái Mơn, Bến Tre).Năm 1870, có người đào được tại Cái nhum (Chợ lách, Vĩnh long) một hầm vô chủ, có nhiều sách vở về đạo thánh,'trong đó có bộ Sấm Truyền Ca, giấy đã mục nhiều. Lúc đó có ông Nguyễn Vãn Thế chịu khó chép lại và truyền ra cho nhiều người biết.Năm 1885 cha Phaolồ Qui muốn giúp độc giả tiện đối chiếu với bản văn Kinh thánh nên đã ghi số thự tự vào các câu trong mỗi chương. Ngài cũng chuyển các tên người và tên đất cho sát bản Latinh nhưng chỉ làm được một phần.Có hai bản sao đã tồn tại tới giữa thế kỷ XX:Một bản do nhà báo Paulus Tạo (báo Nam Kỳ Địa Phận) chép theo Sưu tầm của Phêrô Trần Hớn Xuyên, trực tiếp chép theo bản của Simong Phan Văn Cận, hoàn tất ngày l7 tháng 5 năm 1910 và một số tài liệu về Sấm Truyền Ca, do linh mục Phao-lồ Qui Sưu tầm và sửa chữa, từ năm 1885. Paulus Tạo ghi năm tháng ông thực hiện việc biên khảo trên một trang nay đã rách, nên nay không rõ là năm nào.Khi nhà in Tân Định được thành lập, đã có đề nghị in bộ sách nhưng các cố Tây không chịu.Bản thứ hai ở báo Tông Đồ. Năm 1947 nhà báo Nguyễn Cang Thường mang về tòa soạn báo Tông Đồ một số văn liệu, trong đó có Sấm Truyền Ca. Năm 1952, nhà báo Tông-Đồ bị bão làm sập đổ, văn liệu hư hại hơn phân nửa. Bổn Sấm Truyền Ca hư hỏng hoàn toàn ba quyển sau, vì bị nước ngập và mối xông phá, chỉ còn hai quyển đầu là Genesia (Tạo Đoan Kinh) và Exodus (Lập Quốc Kinh). Quyển Lập Quốc Kinh bị mối tàn phá phân nửa, chỉ còn 21 chương. Năm 1956 nhà báo Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn chép những phần còn lại của tập Sấm Truyền Ca và chép xong ngày 20 tháng 12 năm 1956. Trong bản chép tay của ông Nhạn, tên đất và tên người chép theo bản của linh mục Lữ-y Đoan và ghi chú theo bản sửa chữa của linh mục Phao-lồ Qui.1993 Giáo sư Nguyễn Văn Trung và một số trí thức Công giáo đã thực hiện quyển sách “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.Giáo sư Trung và các cộng sự viên đã có công nghiên cứu đối chiếu, thực hiện bản văn hiệu đính mang tính khoa học và năm 2000 Tập san Y Sỹ ở Montreal đã xuất bản tập 1: Tạo Đoan Kinh.Dù quyển sách được in ở Canada mới cách đây 20 năm, hiện nay ở Việt Nam tìm không đâu có. May thay cuối cùng, chúng ta may mắn tìm được một bản photocopy ở Thư viện Học viện Đa Minh, Gò Vấp và một ấn bản ở Thư viện Mân Côi Bùi Chu.Được Đức Giám mục Giáo phận khuyến khích, chúng con đang chuẩn bị để in lại quyển sách kịp phát hành vào Mùa Vọng năm nay, nhằm mừng kỷ niệm 350 năm việc biên soạn tác phẩm, để tạ ơn Chúa và để đẩy mạnh công việc truyền giáo cho giới trí thức.
Giáo lý Đạo Cao Đài cơ bản (Triết lý Đại Đồng)
1. VÌ SAO CON NGƯỜI CẦN PHẢI CÓ ĐẠO?Con người cần phải có đạo vì đạo là con đường dẫn dắt mọi người đến với chân thiện mỹ. Bằng giáo lý của mình đạo hướng dẫn, điều chỉnh mọi người sống tốt đẹp với bản thân và với nhau, đem lại hạnh phúc chân thật cho cuộc sống. Với đời hiện tại, con người ngày càng chạy theo tham dục gây ra cho nhau không biết bao nhiêu đau khổ. Đời từ xưa tới nay được xem như là trường tranh đấu, là bể khổ mênh mông, nên con người càng lao vào đời giựt giành quyền lợi, giành hạnh phúc cho mình thì lại càng chuốc lấy khổ đau. Vì vậy, người đời càng cần có đạo để biết sống hạnh phúc, an lạc.2. MỘT TÔN GIÁO NHƯ THẾ NÀO LÀ PHÙ HỢP CHO THỜI ĐẠI NGÀY NAY?Thời đại ngày nay khoa học phát triển, con người trên thế giới lưu thông gặp gỡ nhau dễ dàng, các nền văn hóa giao thoa với nhau trên khắp bề mặt địa cầu, người ta còn gọi hiện nay là thời đại toàn cầu hóa. Khi xưa từng tôn giáo mở mang mỗi một dịa phương riêng biệt, không ai biết ai, nhưng nay thì đã có sự tương tác với nhau. Chính vì sự tương tác đó có khi đã gây ra xung đột, mâu thuẫn dữ dội về tôn giáo trên thế giới, làm mất đi bản chất yêu thương hòa bình của tôn giáo.Vì vậy, trong thời đại ngày nay cần có một tôn giáo mang đặc tính dung hòa tổng hợp, dung thông các luồng tư tưởng, mang tinh thần chung nhất cho tất cả các tôn giáo. Đức Cao Đài dạy:“Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ chi Ðại Ðạo là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Tuỳ theo phong hoá cuả nhân loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi. Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng. Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau: nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt” (24. 4. 1926-13.3.Bính Dần-TNHT)3. VÌ SAO CÓ ĐẠO CAO ĐÀI?Từ trước, Thượng Đế đã giáng trần, dưới hình thể con người, mở đạo cứu đời, nhưng đến thời hiện tại, con người vì các tôn giáo ấy mà xung đột lẫn nhau, giết hại nhau, cũng vì con người mà bản chất tốt đẹp của các tôn giáo bị đánh mất. Đức Cao Đài dạy:“Lại nữa, trước Thầy lại giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh giáo mà làm ra Phàm giáo”. (24. 4. 1926-13.3.Bính Dần-TNHT)Thế nên, kỳ cứu rỗi cuối cùng này, Thượng Đế trực tiếp đến bằng điển quang mở đạo Cao Đài, xưng bằng Thầy dạy đạo trực tiếp chúng sanh, xác lập tinh thần dung thông hòa hợp, gọi là: “quy nguyên phục nhứt”.“Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa”. (24. 4. 1926-13.3.Bính Dần-TNHT)Hơn nữa, Thượng Đế cũng cho biết đây là thời kỳ Hạ nguơn mạt kiếp, là thời kỳ tận diệt để chuẩn bị cho thời kỳ mới Thượng nguơn thánh đức, nên mở đạo Cao Đài tận độ tàn linh.