Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Khoảng Cách Từ Nói Đến Làm

Tại sao lại có quá nhiều khoảng cách giữa những điều mà các công ty biết là họ nên làm với những việc họ thực sự làm? Tại sao lại có quá nhiều các công ty không thể áp dụng những kinh nghiệm và kiến thức mà họ đã phải rất nỗ lực mới tích lũy được? Khoảng cách từ nói đến làm (The Knowing-Doing Gap) là cuốn sách đầu tiên đối mặt với thách thức biến kiến thức về cách nâng cao hiệu suất hoạt động thành hành động thực sự tạo ra những kết quả có thể định lượng được. Trong cuốn sách này, Jeffrey Pfeffer và Robert Sutton, những tác giả và giảng viên nổi tiếng, đã xác định nguyên nhân của khoảng cách từ-biết-tới-làm và đưa ra cách lấp đầy khoảng cách đó. Thông điệp trong cuốn sách rất rõ ràng - các công ty muốn biến kiến thức thành hành động phải tránh xa "bẫy nói suông"(smart talk trap). Những kế hoạch, phân tích, cuộc họp, buổi trình bày của nhà điều hành để truyền cảm hứng cho công việc không thể thay thế cho hành động. Những công ty mà hành động dựa trên kiến thức sẽ loại bỏ được nỗi sợ hãi, sự cạnh tranh nội bộ, biết được cái gì quan trọng và củng cố vai trò người lãnh đạo, người vốn hiểu rõ công việc của từng nhân viên trong công ty. Các tác giả lấy ví dụ từ hàng tá công ty để chỉ ra tại sao một số có thể vượt qua khoảng cách từ-biết-đến-làm, một số dù cố nhưng không thể và một số khác tránh được ngay từ đầu. Khoảng cách từ nói đến làm chắc chắn là cuốn sách hữu ích đối với những giám đốc điều hành ở mọi nơi trên thế giới hàng ngày đang phải đấu tranh để giúp công ty của họ vừa biết lại vừa làm được những gì họ biết. Đây là một cẩm nang thực tế, hữu ích trong vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp ngày nay. TÁC GIẢ : Jeffrey Pfeffer là một nhà lý luận kinh doanh người Mỹ. Ông là giáo sư chuyên về Hành vi tổ chức tại Trường Cao học Kinh doanh thuộc Đại học Stanford, và được coi là một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất hiện nay. Robert I. Sutton là giáo sư Khoa học và Kỹ thuật Quản lý tại Đại học Stanford. Sutton đã viết 5 quyển sách trong đó có "The No A** hole Rule: Building a Civilized Workplace and Surviving One That Isn't" nằm trong danh sách bán chạy nhất của New York Times và đã giành giải Quill Award dành cho sách kinh doanh hay nhất năm 2007. *** Biết phải làm gì thôi chưa đủ Tại sao chúng ta đổ bao công sức vào giáo dục và đào tạo, tư vấn quản lý, nghiên cứu kinh doanh, rồi sách vở, bài viết, nhưng lại có quá ít thay đổi trong hành động thực tế của các nhà quản lý và tổ chức? Năm 1996 có hơn 1.700 cuốn sách kinh doanh được xuất bản ở Hoa Kỳ, và con số này ngày càng tăng. Rất nhiều trong số đó chứa đầy những phân tích và công thức giống nhau, chỉ khác về ngôn ngữ và hình ảnh, và đặc biệt, chẳng có gì khác những cuốn sách được xuất bản trước đó. Trên thực tế, vô số ý tưởng tự xưng là mới ra năm nay đều đã xuất hiện trong những cuốn sách được in từ hàng thập kỷ trước. Dù thế, các cuốn sách mới này vẫn được thị trường đón nhận vì những ý tưởng đó vẫn chưa được thực hiện dù được coi là hữu dụng và được nhiều người biết đến. Vì vậy, các tác giả vẫn tiếp tục cố gắng, một phần bằng cách thay đổi mẫu mã kiểu dáng và cập nhật thông tin, để làm thế nào đó khiến các nhà quản lý không chỉ biết, mà còn áp dụng những gì họ nắm được. Và các nhà quản lý tiếp tục mua những cuốn sách đầy rẫy những điều họ đã biết bởi họ hiểu rằng chỉ biết thôi chưa đủ. Họ hy vọng rằng việc mua và đọc thêm một cuốn sách, biết đâu đấy, sẽ chuyển hóa kiến thức đó thành hành động tổ chức. Mỗi năm, các tổ chức đổ hơn 60 tỷ đô-la vào đào tạo, đặc biệt là đào tạo quản lý. Phần nhiều trong các hoạt động đào tạo đó, với những chủ đề như Quản lý Chất lượng Toàn diện (Total Quality Management − TQM), dịch vụ khách hàng, xây dựng lòng trung thành của khách hàng, khả năng lãnh đạo và thay đổi cơ cấu, đều dựa trên những kiến thức và nguyên tắc về cơ bản là vĩnh cửu: không thay đổi và không được thay đổi. Dù vậy, quá trình đào tạo thường lặp đi lặp lại. Nhưng dù chất lượng nội dung, cách truyền đạt, hay tần suất lặp lại đến đâu đi nữa, đào tạo quản lý vẫn không thể thay đổi các thực tiễn tổ chức. Giáo sư Mark Zbaracki của Đại học Chicago đã nghiên cứu quá trình đào tạo Quản lý Chất lượng Toàn diện tại 5 tổ chức có đội ngũ cán bộ cấp cao tin rằng phương pháp TQM có thể nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của họ, cũng như là quá trình đào tạo đó đã thay đổi cách con người làm việc. Thế nhưng Zbaracki thấy rằng các phương pháp định lượng TQM không hề được sử dụng trong 4 tổ chức và chỉ được dùng một cách hạn chế ở tổ chức thứ 5. Kết quả này không phải chỉ xảy ra ở TQM, mà chúng tôi đã thấy chuyện tương tự xảy ra liên tục trong quá trình nghiên cứu. Mỗi năm, các tổ chức đang cần lời khuyên tiêu tốn hàng tỷ đô-la vào các dịch vụ tư vấn quản lý – ước tính là 43 tỷ đô-la vào năm 1996. Nhưng lời khuyên hiếm khi được áp dụng. Một nhà cố vấn, khi thuyết trình thuyết phục một ngân hàng lớn của Mỹ giao việc cho mình, đã bật một slide chứa các khuyến nghị từ 4 nghiên cứu được thực hiện 6 năm trước cho ngân hàng này. Cả 4 bộ nghiên cứu đều đi đến cùng một kết luận, điều này không có gì ngạc nhiên vì đều do những con người rất thông minh tuy từ bốn hãng khác nhau nhưng được cung cấp các thông tin về cơ bản là giống nhau thực hiện. Người thuyết trình, người đang bán việc áp dụng và thay đổi hơn là bán dịch vụ phân tích, đã hỏi những nhà điều hành ngồi đó, “Tại sao các vị lại muốn trả tiền để nhận vẫn câu trả lời đó lần thứ năm?” Hãng của ông đã nhận được hợp đồng. Một ví dụ nữa về việc biết-nhưng-không-làm trong thế giới cố vấn quản lý: hai nhà cố vấn của một hãng hàng đầu làm việc cho một công ty điện lớn ở Mỹ Latinh đang đối mặt với quá trình bãi bỏ các quy định. Họ đều rất chán nản khi biết rằng ban quản lý đã có một tài liệu dày 500 trang, từ 4 năm trước, với các kế hoạch và khuyến nghị chi tiết, do một hãng cố vấn khác làm trong hợp đồng trước. Họ báo cáo lại: Tài liệu đã có rất tốt. Nó cung cấp các nghiên cứu đánh giá chi phí tiêu chuẩn từ các công ty dân dụng hiệu quả nhất trên thế giới, các tóm tắt về các hệ thống đào tạo thành công nhất ở các công ty công nghiệp khác, và các lịch trình thực hiện khá chi tiết... Do phân tích của chúng ta cũng dựa trên chính... các thông tin được đưa cho các nhà cố vấn từ bốn năm trước... các khuyến nghị của chúng ta về cơ bản là y hệt. Vấn đề không phải là phân tích, mà là thực hiện. Mặc dù chúng ta có thể xác định được các vùng mới cần cải thiện, nhưng cốt lõi gần như giống hệt tài liệu cũ... Khách hàng đã có từ trước các thông tin chúng ta đang đưa cho họ. Mỗi năm, hàng trăm trường kinh doanh ở Hoa Kỳ đào tạo ra hơn 80.000 thạc sĩ quản trị kinh doanh và thực hiện rất nhiều nghiên cứu về các chủ đề kinh doanh. Nghiên cứu và giáo dục kinh doanh đang tăng lên cả về phạm vi và tầm quan trọng trên khắp thế giới. Dù thế, việc chuyển hóa quá trình nghiên cứu và đào tạo quản lý này thành thực tiễn hoạt động diễn ra rất chậm chạp và thất thường. Có rất ít bằng chứng cho thấy mối liên kết giữa việc nhân sự được đào tạo chuyên sâu về kinh doanh với việc tổ chức hoạt động hiệu quả. Rất nhiều hãng hoạt động tối ưu – như Southwest Airlines, Wal-Mart, The Men’s Wearhouse, ServiceMaster, PSS/World Medical, SAS Institute, AES, Whole Foods Market, và Starbucks – không tuyển người từ những trường kinh doanh hàng đầu và không đặt nặng về vấn đề bằng cấp trong hoạt động nhân sự của họ. Nhiều nhà nghiên cứu đã thấy rằng “những điều được dạy trong trường đại học hay trường kinh doanh không thực sự chuẩn bị cho các nhà quản lý tương lai những kiến thức thực tế về quản lý.” Một báo cáo cho thấy 73% các thạc sĩ vừa tốt nghiệp chương trình MBA khi được hỏi đã nói là “các kỹ năng MBA của họ được dùng rất ít hoặc không dùng gì trong công việc quản lý đầu tiên của họ.” Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao bao nhiêu nỗ lực đổ vào giáo dục và đào tạo, tư vấn quản lý, các nghiên cứu tổ chức và rất nhiều bài viết, sách báo, nhưng lại có quá ít thay đổi trong thực tiễn quản lý như vậy? Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao chút ít thay đổi trong quản lý thực sự xảy ra đó lại gặp quá nhiều khó khăn thế không? Tại sao mà cuối các khóa đào tạo hoặc các cuốn sách, nhiều nhà lãnh đạo nói là đã “sáng ra” và “khôn lên” nhưng vẫn không thay đổi được gì trong tổ chức của họ? Chúng tôi cũng đã tự hỏi điều đó và đã lên đường thực hiện nhiệm vụ thám hiểm một trong những bí ẩn lớn nhất về quản lý tổ chức: Tại sao kiến thức về những việc cần làm thường xuyên không thể dẫn tới hành động hoặc hành vi nhất quán với kiến thức đó? Chúng tôi gọi đây là vấn đề từ-biết-đến-làm (knowing-doing problem): Thách thức đến từ việc biến kiến thức nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức thành hành động nhất quán với kiến thức đó. Cuốn sách này đại diện cho những gì chúng tôi học được về các nhân tố tạo nên khoảng cách từ-biết-đến-làm, lý do và cách thức một số tổ chức có thể áp dụng kiến thức của họ thành công hơn số còn lại. Chúng tôi đã mất 4 năm để học hỏi về những điều tạo ra khoảng cách từ-biết-đến-làm và cách thu hẹp khoảng cách đó, cũng như một số cách giúp các tổ chức né tránh được khoảng cách đó ngay từ đầu. Bắt đầu bằng việc lùng sục các văn bản học thuật cũng như đại chúng để tìm kiếm các câu chuyện, các tình huống cụ thể, các nghiên cứu diện rộng của nhiều hãng có thể cung cấp cách nhìn thấu đáo về vấn đề từ-biết-đến-làm. Đã có các bằng chứng cho thấy mọi ngành công nghiệp đều có các tổ chức gặp phải “căn bệnh” này. Nhưng hiếm có câu trả lời thỏa đáng nào về nguyên nhân hay cách chữa nó. Vì thế chúng tôi thực hiện hàng tá các nghiên cứu định tính và định lượng về các vấn đề từ-biết-đến-làm trong các tổ chức, từ các hãng dịch vụ tài chính, thiết kế sản phẩm, tới các tập đoàn sản xuất truyền thống chuyên “cắt gọt kim loại”, các công ty khai thác mỏ, công ty sản xuất điện, và các chuỗi nhà hàng và bán lẻ. Chúng tôi cũng đã dạy ở Đại học Stanford, trong cả trường kinh doanh và kĩ thuật, nơi các sinh viên quản trị của chúng tôi thực hiện khoảng 100 bài tập tình huống của riêng họ về các vấn đề từ-biết-đến-làm và các vấn đề này có thể đã và sẽ được giải quyết thế nào. Chúng tôi đã kiểm tra diện rộng một loạt các phương cách tổ chức để tìm hiểu về khoảng cách từ-biết-đến-làm. Tuy nhiên, chúng tôi tập trung hơn vào một bộ những phương thức, dù hiếm được thực hiện, nhưng hầu hết các nhà quản lý đều biết đến, được tuyên truyền rộng rãi trong các tổ chức, và đã cho thấy có khả năng tăng cường hiệu suất tổ chức một cách nhất quán: chúng được gọi là phương thức quản lý hiệu suất cao hay cam kết cao độ. Các phương thức này đã được mô tả và ảnh hưởng tích cực của chúng đến hiệu suất hoạt động đã được phân tích trong rất nhiều bài viết và sách vở. Chúng ta sẽ dùng đến bằng chứng này nếu cần để hỗ trợ luận cứ về khoảng cách từ-biết-đến-làm, nhưng sẽ không đưa ra các mô tả chi tiết về từng phương thức hoặc một đánh giá chuyên sâu về bằng chứng cho thấy hiệu quả tích cực của nó đối với hiệu suất hoạt động. Mối quan tâm của chúng ta nằm ở việc nắm rõ được những rào cản của quá trình chuyển hóa kiến thức thành hành động và cách thức một số hãng đã vượt qua các rào cản đó. Các vấn đề từ-biết-đến-làm mà chúng ta đã quan sát được có tính chất phổ thông và hiện hữu trong nhiều chủ đề, từ ứng dụng các kiến thức tiếp thị và các phương thức tốt nhất trong dịch vụ khách hàng tới việc bảo lưu và thực hiện các phương thức sản xuất ưu việt. Chúng tôi đã không tìm thấy được những câu trả lời đơn giản cho thế lưỡng nan từ-biết-đến-làm này. Dựa trên tầm quan trọng của vấn đề từ-biết-đến-làm, nếu những câu trả lời đơn giản có tồn tại, thì hẳn là chúng đã được thực thi rộng rãi. Và những hãng hiếm hoi có thể chuyển hóa kiến thức thành hành động một cách nhất quán cũng không thể tận dụng được lợi thế cạnh tranh đáng kể đó như hiện nay. Chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những nhận thức và chẩn đoán về một số nguồn sinh ra các vấn đề từ-biết-đến-làm, và những ví dụ về các công ty phải chịu hậu quả nặng nề từ vấn đề này, những công ty chưa từng gặp cũng như một số công ty đã có thể khắc phục lỗ hổng từ-biết-đến-làm. Nhưng một trong những nhận thức quan trọng nhất từ nghiên cứu của chúng tôi đó là kiến thức thực sự được vận dụng nhiều khi được rút ra sau khi thực hành thay vì đọc, lắng nghe hay suy ngẫm. Những điều chúng tôi có thể làm được cho bạn trong cuốn sách này rất giới hạn, dù cho chúng tôi đã thu được nhiều nhận thức sâu sắc. Chúng tôi khuyên các bạn nên thực hiện những hành động có suy xét thận trọng thường xuyên hơn. Hãy hạn chế thời gian dự tính và phàn nàn về các vấn đề của tổ chức. Hành động sẽ giúp bạn rút ra nhiều kinh nghiệm hơn. Khi mô tả lỗ hổng từ-biết-đến-làm cho những người khác, chúng tôi thường nhận được chung một lời đáp. Họ sẽ nói rằng lỗ hổng đó bắt nguồn từ những vấn đề cố hữu của cá nhân, do thiếu kiến thức, kỹ năng hoặc có vấn đề về “tính cách”, và sự tồn tại của nó phản ánh sự không hoàn hảo của một cá nhân. Thật sai lầm! Nếu bạn làm việc ở một nơi mà bạn hoặc các đồng nghiệp của mình không biến kiến thức thành hành động, đó có thể không phải hoàn toàn là lỗi của bạn. Rõ ràng, một số người có thể biến kiến thức thành hành động nhanh hơn, số khác có tư duy nhanh nhạy hơn và có khả năng thích nghi tốt hơn người khác, và rằng tâm lý cá nhân đóng một vai trò nào đó trong vấn đề khoảng cách từ-biết-đến-làm mà chúng tôi đang phân tích. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng chúng không đóng vai trò chính yếu trong câu chuyện. Có những tổ chức có thể chuyển kiến thức thành hành động một cách nhất quán và vẫn làm được vậy dù họ có mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhân sự hay thâu tóm thêm các công ty khác hay không. Các tổ chức khác, dù sở hữu những nhân viên thông minh, chăm chỉ, nhanh nhạy nhưng lại không thể chuyển hóa kiến thức về hoạt động tổ chức thành hành động thực tiễn. Cứ như là đã tồn tại một “máy hút não” trong những tổ chức đó chuyên hút kiệt trí tuệ và tầm nhìn của các thành viên. Sự khác biệt giữa các tổ chức phần nhiều xuất phát từ hệ thống quản lý và các phương châm hoạt động của họ thay vì sự khác biệt về chất lượng con người. Các công ty lớn thu được hiệu quả đáng kinh ngạc nhờ những người bình thường. Những công ty không-quá-lớn thu hút các nhân tài và đánh mất lợi thế đến từ tài năng, nhận thức và động lực của họ. Đó là lý do chúng tôi tập trung vào các phương thức quản lý có thể tạo ra hoặc giảm thiểu khoảng cách từ-biết-đến-làm. Thực hiện hay lờ đi: Khoảng cách từ-biết-đến-làm có thực sự tồn tại? Làm sao chúng ta biết kiến thức không phải lúc nào cũng được áp dụng vào thực tiễn và đây là vấn đề ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của tổ chức? Và quan trọng hơn, làm thế nào các tổ chức nắm được mức độ mà tại đó họ đã không làm những điều nên làm? Đây là những vấn đề quan trọng nhưng không quá phức tạp. Bằng chứng về khoảng cách từ-biết-đến-làm Có rất nhiều các nghiên cứu bên trong những ngành công nghiệp riêng lẻ cho thấy các đường hướng ưu việt giúp quản lý con người và tổ chức công việc của họ. Dù những đường hướng được cho là ưu việt đó được biết đến tương đối rộng rãi, nhưng việc lan tỏa chúng diễn ra chậm chạp và không trơn tru, còn chuyện thụt lùi là phổ biến. Một nghiên cứu về ngành dệt may đã cho thấy rằng quy trình sản xuất mô-đun (modular production) tập trung vào sản xuất theo nhóm đạt được hiệu quả sản xuất kinh tế cao hơn xét theo nhiều tiêu chí so với hình thức sản xuất trọn gói (bundle) truyền thống sử dụng nhân công làm từng sản phẩm và đào tạo giới hạn. Các ấn bản thương mại, hiệp hội ngành và các công đoàn có liên quan đã lên tiếng ủng hộ quy trình sản xuất mô-đun từ đầu thập niên 1980. Ấy vậy mà đến năm 1992, khoảng 80% các sản phẩm dệt may vẫn được làm theo hình thức trọn gói, và các nhà máy đã từng áp dụng quy trình sản xuất mô-đun cũng quay về với hệ thống trọn gói. Mời bạn đón đọc Khoảng Cách Từ Nói Đến Làm của tác giả Jeffrey Pfeffer & Robert I. Sutton.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

SISU - Vượt Qua Tất Cả: Nghệ Thuật Sống Của Người Phần Lan
Sisu là một từ khó diễn giải trong tiếng Phần Lan và không có từ tiếng Anh tương đương. Thuật ngữ này là sự pha trộn của lòng can đảm, sự dẻo dai, tinh thần bền bỉ và tính kiên trì – những phẩm chất giúp định hình nghệ thuật sống "vượt qua tất cả" của con người và đất nước Phần Lan. Tinh thần sisu không chỉ tồn tại trong trái tim mỗi người dân của xứ sở này, mà còn được thể hiện trong cuộc sống thường nhật nơi đây. Là một quốc gia nhỏ bé ở vùng Bắc Âu, nổi tiếng với thời tiết và môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, nhưng Phần Lan chưa bao giờ rời khỏi nhóm những quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới. Đối với người dân Phần Lan, "dành thời gian hòa mình với thiên nhiên" là một trong những yếu tố hàng đầu làm nên hạnh phúc, bên cạnh sự độc lập, bình yên, trật tự, hữu dụng và sự công bằng. Và tất cả những yếu tố này đều có thể được gói gọn trong một bí quyết mang tên sisu – tinh thần vượt qua tất cả. Thật khó định nghĩa chính xác sisu là gì. Không có một từ tiếng Anh nào có ý nghĩa tương đương với sisu, và ngay cả trong tiếng Phần Lan thì sisu cũng đại diện cho một tổ hợp nhiều đặc điểm khác nhau, bao gồm quyết tâm sắt đá, nghị lực, lòng can đảm, sự dũng cảm, ý chí bền bỉ, sự ngoan cường và kiên trì. Tinh thần sisu sẽ thức tỉnh khi những khó khăn và nghịch cảnh khiến bạn muốn bỏ cuộc, khi mà chỉ có dũng khí mới có thể giúp bạn tiếp tục tiến lên. Nhưng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu bạn nói rằng mình có tinh thần sisu nhưng không thể hiện được tinh thần đó. Sisu là lối tư duy hướng đến hành động, chứ không phải chỉ là tỏ ra can đảm. Trong một xã hội mà con người phải đối mặt với vô vàn thử thách để sinh tồn và phát triển thì sisu là thiết yếu. Sisu không phải là nguồn sức mạnh giúp ta chạy một mạch lên đỉnh núi, mà sisu là nguồn lực xuất hiện khi nguồn năng lượng mà ta nhận thức được đang dần cạn kiệt, khi nghịch cảnh kéo đến và ta dường như không còn lối thoát. Chính vào lúc đó, sisu sẽ trỗi dậy để giúp ta không ngừng đặt từng bước chân lên con đường phía trước. Khác với những chiến công hoặc hành động xuất phát từ sự liều lĩnh hay chủ nghĩa anh hùng cực đoan, những chiến tích của tinh thần sisu luôn diễn ra trong thầm lặng. Tinh thần sisu thể hiện ở mọi mặt của cuộc sống Phần Lan, từ việc chuẩn bị thật kỹ lưỡng để đương đầu với những khó khăn thử thách, mạnh mẽ thừa nhận những điểm yếu của bản thân, dành thời gian để im lặng suy nghĩ, nói những lời trung thực và thẳng thắn chứ không hoa mỹ, tôn thờ sự bình đẳng và công bằng, cho đến những chuyến đi bộ đường dài trong rừng, tận hưởng mùa hè trong những ngôi nhà gỗ nhỏ bé ở vùng hẻo lánh thốn thiếu tiện nghi và đi tắm hồ vào giữa mùa đông lạnh giá Tất cả những điều đó đã tạo nên một phong cách sống bình dị mà kiên cường, hòa mình với thiên nhiên nhưng cũng vô cùng hiện đại. Mang tập sách Vượt qua tất cả - Nghệ thuật sống của người Phần Lan đến với bạn đọc Việt Nam, chúng tôi mong rằng tất cả chúng ta sẽ đón nhận Sisu và vững vàng đối mặt với những thử thách trong cuộc sống. Để rồi từ đó bạn sẽ tìm được những bài học và lời khuyên để bắt đầu tận hưởng cuộc sống này, để tìm thấy hạnh phúc và niềm vui trong ngay cả những thời khắc khó khăn nhất. Bởi lẽ sisu là một đặc điểm mang tính phổ quát. Có thể người Phần Lan đã gọi tên nó, định nghĩa nó, nhưng tinh thần sisu – tinh thần vượt qua tất cả – không hề giới hạn ở đất nước hay con người Phần Lan, mà bất kỳ ai trên thế giới này cũng có thể nắm bắt và vận dụng sisu. Sisu luôn hiện diện trong bạn, và có lẽ bạn cũng từng vận dụng sisu rồi đấy. *** SISU LÀ GÌ?   - giới thiệu về sisu   Có thể nói sisu là một từ mà người dân Phần Lan rất yêu thích. Trở nên phổ biến từ những năm 1920 nhưng có nguồn gốc từ quá khứ xa xôi, thuật ngữ khó diễn giải này là sự pha trộn của lòng can đảm, sự dẻo dai, tinh thần bền bỉ và tính kiên trì – một đặc điểm đã định hình không chỉ số phận của một dân tộc mà còn cả cuộc sống thường nhật của mỗi người dân Phần Lan.   Chỉ số hạnh phúc của Phần Lan luôn xếp thứ hạng cao trong các cuộc khảo sát quốc tế. Là một quốc gia nhỏ bé với khoảng 5,5 triệu dân, nép mình ở rìa phía đông bắc châu Âu, thế nhưng Phần Lan đã khẳng định vị trí của mình trên bản đồ thế giới – một cách thầm lặng và khiêm nhường. Bạn sẽ khó tìm được một người Phần Lan nào ra vẻ ba hoa, vì ở đất nước này, chỉ nhấn kèn xe thôi cũng bị xem là một việc cực kỳ thô lỗ. Nếu hỏi một người Phần Lan về bí quyết thành công của chúng tôi, thông thường bạn sẽ nhận được một cái nhún vai và một câu trả lời không mấy rõ ràng rằng chẳng có một bí quyết nào cả. Thế nhưng những người tin rằng bí quyết nằm ở sisu lại nghĩ khác. Chúng tôi luôn thầm tự hào về tinh thần sisu của mình.   Thế thì đối với người Phần Lan, hạnh phúc nghĩa là gì? Theo một cuộc khảo sát mới đây, sự độc lập, bình yên, trật tự, hữu dụng và công bằng đều có vị trí cao trong danh sách những yếu tố góp phần làm nên hạnh phúc, và “dành thời gian hòa mình cùng thiên nhiên” là yếu tố dẫn đầu danh sách này. Quan niệm sống của người Phần Lan vẫn còn nhuốm màu lịch sử của những năm tháng thiếu thốn và buộc phải chinh phục môi trường khắc nghiệt. Điều đó giải thích vì sao trong thời buổi tiện lợi này, nhiều người Phần Lan vẫn thích trải qua kỳ nghỉ hè trong những ngôi nhà gỗ nhỏ thiếu thốn một số tiện nghi cơ bản, cũng như tại sao chúng tôi có tình cảm vừa yêu vừa ghét đối với khí hậu.   Tinh thần sisu đã được chứng thực trong suốt bề dày lịch sử, khi Phần Lan đã xây dựng và tái thiết tương lai của dân tộc mình nhiều lần. Tôi tin rằng sisu mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích nếu ta nhìn nhận sisu như một chuẩn mực sống. Mời các bạn đón đọc SISU - Vượt Qua Tất Cả: Nghệ Thuật Sống Của Người Phần Lan của tác giả Joanna Nylund.
Ngày Tâm Ta An, Sóng Gió Sẽ Tan
PHIỀN NÃO trong đời được gói gọn trong 12 chữ: “BUÔNG KHÔNG NỠ, NGHĨ KHÔNG THÔNG, NHÌN KHÔNG THẤU, QUÊN KHÔNG N­ỔI! “ Bởi vậy mà, biết bao sóng gió ngày ngày vẫn kéo đến bên ta. Chúng ta thường nhìn vào kẻ khác để so sánh, để dao động, để hơn thua, cũng có nghĩa ta đã tự đặt mình vào một cuộc đua khốc liệt. Có mệt mỏi không? Ừ Có! Khi đã mệt mỏi, đi qua những nông sâu chốn hồng trần, ta chỉ mong mỗi sớm thức giấc thấy lòng xanh như lá, bỏ lại những phù phiếm xa hoa, đón lấy niềm an lạc. Liệu ta có làm được không? Khó đấy, vì ta khao khát muốn được bình yên mà không nhận ra rằng: Ngày tâm ta an, sóng gió sẽ tan. Ta không thể đòi hỏi sự tự do từ bên ngoài trong khi thâm tâm chưa tự tại. Chỉ khi BUÔNG ĐƯỢC, NGHĨ THÔNG, NHÌN THẤU, QUÊN NỔI, ta mới thấy tâm mình bình an. Những trang sách bảo ta rằng: Cuộc đời này, như một đám mây, mỗi kẻ nhìn vào mà hình dung một hình dáng cho mình. Cuộc đời này, như một câu hỏi mở, mỗi kẻ đều có đáp án của riêng mình. Cuộc đời này, như một tách trà, mỗi kẻ sẽ có cách thưởng thức riêng. Cuộc sống chính là sự thảnh thơi, vui vẻ. Thay vì gồng mình lên cố gắng, hãy để mọi chuyện trở nên tự nhiên, thong dong. Nếu quá mệt mỏi, hãy ngồi xuống, thưởng một ngụm trà, ngắm một nhành hoa, an yên sống. Nếu lòng người quá rộng như hư không, thì hãy để tâm ta lắng lại. Cuốn sách chữa lành bán chạy nhất Trung Quốc năm 2017 nay đã được ra mắt bạn đọc Việt với tên gọi “Ngày tâm ta an, sóng gió sẽ tan”. Hy vọng cuốn sách là người đồng hành thân thiết với bạn trên hành trình đạt đến sự an vui từ nội tâm. Để ai có duyên đọc nó sẽ nhẹ nhàng đi qua nỗi mênh mông của kiếp người. *** Tác giả   Thẩm Gia Kha (Nhà văn nổi tiếng)   - Tác phẩm của anh được đăng trên các tờ báo và tạp chí quan trọng của Trung Quốc như Nhân Dân nhật báo, Quang Minh nhật báo, Báo Thanh niên Trung Quốc…, lọt vào các Top Sách bán chạy Top Sách hay của Trung Quốc. Anh là đệ tử Thiền tông tại gia, có chuyên mục Hỏi Đáp trên Chính Tín, chuyên mục Văn Hóa trên Sina, chuyên mục Bình luận điện ảnh trên Nam Phương Cuối Tuần. - Tản văn, tùy bút của anh ấm áp, mang tính chữa lành, sắc sảo nhưng không kém phần ôn hòa khoáng hậu, được hàng triệu độc giả trẻ yêu thích, được các hãng truyền thông lớn chuyển đăng rộng rãi, là bạn với nhiều độc giả trẻ.   Lý Lê (Nhà văn, nhiếp ảnh gia)   - Đệ tử Tam bảo nhà Phật, là người theo chủ nghĩa lạc quan, thích áo vải cơm chay, ưa trồng hoa, yêu cuộc sống đơn giản dễ chịu. - Cô đi khắp các nơi trong cả nước, để ý những cảnh đẹp của nhân gian, tin rằng cuộc sống cần một trái tim Thiền để phát hiện những điều tốt đẹp. - Cô nhiều lần giữ chức Chủ biên tạp chí Du Lịch, Chủ Nhiệm Biên tập tạp chí của Hiệp Hội Phật giáo tỉnh, từng sáng lập tạp chí về sống Thiền, chuyên mục Du Lịch, chuyên mục Ăn chay trên nhiều họa báo và tạp chí. *** Tu hành một cách vui vẻ và thông minh Tôi vốn không am hiểu về trà, nhưng tôi có một người bạn đặc biệt thích uống trà, cũng có sở trường phân biệt các loại trà. Cô giống như một bậc thầy, lấy được nước sạch từ miệng suối phun trên núi ở Giang Tây, mua được trà ngon từ làng trà ở Phúc Kiến, khó tránh ngứa nghề, thường mời chúng tôi họp mặt, lấy trà ngon ra khoản đãi, yêu cầu chúng tôi tỉ mỉ thưởng thức, chẳng khác nào hiến dâng báu vật. Nói thật, tôi vốn không hiểu một tí gì, song theo cô uống trà nhiều rồi, nhìn lá trà, ngắm màu nước, nếm vị ngửi hương, dần dần đã có chút hiểu biết. Sau khi uống trà gần hai năm, cô cho tôi biết, ban đầu chỉ dùng loại trà bình thường mời tôi, rồi mới từng bước cho tôi nếm trà ngon. Từ trà đỏ khẩu vị hơi thanh đạm đến trà đen, từ trà hoa đến Phổ Nhĩ lên men sâu, như vậy mới có thể phân rõ mùi vị tuyệt vời. Uống trà phải tiến dần theo trình tự, đạo lý này giống như ăn hoa quả, ăn quả quýt chua chua ngọt ngọt trước, ăn dưa hấu ngọt lịm sau. Cuối cùng tôi đã hiểu được nguyên nhân người xưa thèm một ngụm trà ngon. Trà ngon thượng hạng, phối hợp với nước tinh khiết, do một người sành trà pha, thật sự là hương thơm thanh thuần cứ quẩn quanh bên cánh mũi, vị ngọt êm dịu đọng lại mãi trong miệng y hệt giữa mùa hè đứng trước biển, lắng nghe tiếng gió ngân. Rồi sau đó, tôi thấy những bộ đồ trà mà cô dùng đều xinh xắn mới lạ, mỗi lần đãi khách đều khác nhau, bèn hỏi cô mua ở đâu, bao nhiêu tiền. Cô cười vang, đâu phải mua chứ! Khi đến thôn xóm cổ xưa sưu tầm tài liệu văn học dân gian, hoặc đến chùa trong núi dự thiền thất, trong lúc nhàn rỗi đi dạo một vòng, liền nhặt được rất nhiều mảnh sành sứ vỡ. Cô căn cứ hình dạng, có mảnh dùng làm miếng lót cốc, có mảnh dùng để đựng quà vặt, có mảnh dùng để đặt túi hương, còn có mảnh dùng để đựng hoa lá. Cô dạy tôi, đừng mua những bộ đồ trà trông có vẻ quý giá kia, vì đó đều là thứ hoa hòe mà không thực dụng. Uống trà là chuyện nhàn tản, dùng bộ đồ trà bình thường là đủ rồi, bản lĩnh trà đạo thật sự dựa vào việc bỏ thời gian luyện tập, đọc nhiều sách vở liên quan và thưởng thức thường xuyên. Một số loại trà trên thị trường được thổi phồng lên là có niên đại bao nhiêu, được gọi là quý hơn vàng. Đó đều là đánh lừa người ta thôi, bởi trà không như rượu, dù bảo quản ở nơi thông thoáng râm mát thế nào thì sinh mệnh cũng có hạn, để lâu năm sẽ sinh nấm mốc, không cần uống thoáng ngửi là ngửi ra. Còn có ấm trà bằng sắt đen của Nhật Bản từng thịnh hành một dạo, nhìn từ góc độ khoa học, rất dễ bị hòa vào những chất gỉ sét, không có lợi cho sức khỏe con người. Những lời này của cô khiến tôi nghe mà không nhịn được cười. Người bạn này của tôi chính là Lý Lê. Cô thật lòng yêu thích trà ngon và cảnh đẹp, tập thiền tu tâm một cách thực sự. Cô thích lễ bái tụng kinh, nghiên cứu sự vật thấu đáo. Cô thích làm rõ bản chất, không bị lừa gạt. Chúng ta theo đuổi niềm vui, trước tiên phải học cách trở nên thông minh hơn. Lau đi bụi bặm trong lòng, nhận thức bộ mặt vốn có của cuộc sống. Giống như cô vậy, thiền tâm thiền ý sống một đời. Xưa nay ý nghĩa tinh hoa của Thiền không phải là khuyên người ta không gắng sức làm một việc gì, mà nên cố gắng tự tỉnh ngộ, sống tốt cuộc đời của mình. Nếu chúng ta học được cách làm phép trừ một chút, khiến phiền não và dục vọng giảm bớt, thì kể cả ở chốn sâu thẳm hồng trần, thể xác và tinh thần vẫn thanh tịnh dễ chịu, yên vui với hiện tại. Thiền tâm không phải là ba phải, cũng không phải là nhút nhát yếu kém. Bồ tát cũng có khi hiền hòa, có lúc tức giận. Kỳ thực, bất kể nam nữ, có thể dịu dàng, có thể kiên cường, là sức hấp dẫn lớn, cũng là thiền ý chân chính. Không sợ chuyện, không nhát gan, nghênh đón khó khăn mà tiến lên, là sự lớn mạnh thật sự. Một con người càng để tâm đến cảm nhận của người khác thì càng hèn mọn, càng yếu thể. Thật ra, chỉ cần bạn muốn, bất cứ lúc nào bạn cũng có thể trở về thản nhiên, tìm thấy tia sáng của bình minh trong tăm tối, tự tin là chính mình. Khi bạn thay đổi lối suy nghĩ của mình, không bị trói buộc bởi ám ảnh kỳ thị giới tính, bối cảnh xuất thân, khởi điểm cuộc đời, thoát ra khỏi cái lồng của quan niệm, thế giới cũng thay đổi theo bạn. Một người có thể chung sống ôn hòa với nỗi cô đơn và chính mình, không còn lấy lòng người khác, thì cũng có thể sống đẹp, cũng có thể chung sống hòa hợp với người khác. Chúng ta tìm kiếm người bạn đời, là để được yêu người ấy, đó mới là bản tâm. Chúng ta có thể thật lòng thật dạ, tôn trọng đối phương, dịu dàng tự nhiên, không cần phải kiêu ngạo, cũng không cần phải xu nịnh. Khi bạn dịu dàng, tự nhiên sẽ có sức mạnh, mềm mại bao dung, nuôi dưỡng vạn vật như nước vậy. *** Lùi Bước Hóa Ra Là Tiến Tới Trong lúc không hay không biết, tiết trời đã ấm lên, núi non tràn trề hơi thở mùa xuân. Tôi và đồng nghiệp ngồi trong phòng tranh ở tầng hai gác Từ Vân chùa Hoàng Mai Tứ Tổ*, đợi pháp sư Minh Giám. Căn phòng cực kỳ yên tĩnh, chậu mai trắng lặng lẽ tỏa ra mùi thơm thoang thoảng, đậm nhạt vừa phải, đẹp đẽ đúng mực. Ngay lúc này, có người đẩy cửa bước vào. Thầy mặc chiếc áo sư bằng vải bố màu xám sẫm, vẻ mặt ung dung. Lúc này, thầy là nhà sư trong núi Minh Giám. Trước kia, pháp sư Minh Giám là tiên y nộ mã, thích uống rượu ca hát, tinh thông thư pháp, hội họa và khắc dấu, cũng có nghiên cứu qua về khúc nghệ* và hí kịch. Thầy còn là hiệp khách diễn cuồng không chịu gò bó, ngâm nga chậm bước*, một khi linh cảm sáng tác chợt đến thì cho dù hai giờ sáng cũng ngồi dậy vẽ tranh. Cuối cùng, thầy nhẹ nhàng buông xuống tất cả. Năm 2006, pháp sư Minh Giám xuống tóc xuất gia làm đệ tử của Hòa thượng Tịnh Tuệ, rời đô thị vào rừng núi ở ẩn. Hôm trước khi quyết định xuất gia, thầy cất công đến nhà cũ ở Thiên Tân của pháp sư Hoằng Nhất* để tưởng niệm, thề rằng mình nguyện học tập tinh thần từ bi “Độ chúng sinh nào tiếc xẻ tim gan” của đại sư. Trong tiếng chuông sớm trống chiều ngày lại qua ngày, thầy chống gậy đi giữa núi rừng, nhặt nhạnh lá rụng, chụp ảnh cây cối hoa lệ giữa thế giới băng tuyết, hoặc nằm trên bãi cỏ sau núi chăm chú quan sát cội mai già hoa nở hoa tàn. Trước khi xuất gia, thầy từng thích nét phóng khoáng tự nhiên đẹp đẽ của thư pháp Vương Hi Chi*, cũng rất tôn sùng vẻ cổ kính chất phác cứng cáp của thư pháp Phó Thanh Chủ*. Giờ đây, phong cách thư pháp của thầy đã phát sinh thay đổi vi diệu, dần dần rộng mở trong sáng, mùi trần tục ngày càng ít, mùi rừng núi ngày càng nhiều. Dưới núi Song Phong, bên cầu Linh Nhuận, pháp sư Minh Giám dùng bút mực ghi lại vẻ đẹp của trời đất, dùng thiền tâm cảm nhận mùi vị của trà trong, thăm khắp nghìn núi muôn sông, chẳng qua là: “Mải ngắm Hoàng Sơn cảnh đẹp tươi, Trở về bên giậu cúc dài rồi. Đình bên khe suối trông sơn cốc, Nấu trà, chấm mực, bỗng biếng lười.” Cuộc sống hiện nay đúng như pháp sư Minh Giám yêu thích: Đơn giản tự do, không làm bộ làm tịch. Mỗi người sống ở thành phố đều gánh chịu áp lực sinh tồn khắc nghiệt, lúc cảm thấy mệt mỏi và lo lắng cũng cần đến nơi xa hít thở không khí thông thoáng một chút, thoát khỏi cuộc sống phẳng lặng trật tự. Nhưng chúng ta không cần ngưỡng vọng cuộc sống của người khác. Bởi vì, thâm tâm mỗi người đều có một ngọn Linh Sơn, nơi đó: “Hoa đón xuân về khoe đỏ rực, Tùng cao mưa gội tán xanh om. Hoa thắm quả thơm chịu chít quanh năm, Linh thiêng phượng múa ôi tuyệt đẹp…”* Nơi đó không có lừa dối và tranh đấu mà giấu kín tâm tình chân thực nhất, dịu dàng nhất. Thay vì chỉ đứng bên vực nhìn ngó mà mong có cá, chi bằng về nhà dệt lưới. Cứ cách một quãng thời gian, tôi lại chọn một dịp cuối tuần mang theo bộ đồ trà, ngồi tàu cao tốc đi du lịch. Có lẽ đó là nơi cả nhà cư sĩ Bàng Uẩn* tự cày cấy giữa núi rừng vào sinh ra tử mà vẫn bình thản nói cười; có lẽ đó là chốn ngày xưa đại văn hào Tô Đông Pha ngâm thơ xướng họa với nhà sư; có lẽ đó là chỗ có thể cùng người nhà bạn bè uống chén thiền trà, nếm bát cháo trắng; có lẽ đó là điểm dừng bước ngẩng đầu là nhìn thấy ngay, tiếp đó một ý nghĩ thanh tịnh sẽ khiến ô nhiễm tự động rơi rớt cả; có lẽ đó là rừng sâu nơi cao tăng lớp lớp xuất hiện nên danh tiếng lan xa, khói xanh bảng lảng, tiếng tụng kinh rì rầm; có lẽ đó chỉ là một ngôi miếu cổ thanh nhàn ẩn giữa thôn quê chẳng ai hỏi tới. Khi đi đến nóng người, bèn ngồi dưới gốc thông thắp một cây hương ngải, nhấp vài ngụm trà trắng lâu năm, mọi thứ đều vừa khéo. Thật ra, từ mấy năm trước, Huệ - cô bạn tôi đã trở thành người được lợi của cuộc sống phép trừ*. Đã chăm sóc con gái, cô từ bỏ công việc Giám đốc Đầu tư ở công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, về nhà làm bà nội trợ. Nhằm giảm nhẹ áp lực kinh tế, cô bán đi căn nhà lớn ở khu thương mại trung tâm của thành phố, đổi căn hộ hai phòng ngủ ở khu trường học. Lúc chuyển nhà, cô bỏ một lần hết mười mấy thùng giấy đựng đồ linh tinh, lập tức thấy nhẹ cả người. Mời các bạn đón đọc Ngày Tâm Ta An, Sóng Gió Sẽ Tan của tác giả Thẩm Gia Kha & Lý Lê.
Không Giới Hạn - Khám Phá Ho'oponopono
"KHÔNG GIỚI HẠN là câu chuyện về sự trở về trạng thái zero, nơi không một thứ gì tồn tại nhưng mọi thứ đều khả dĩ. Ở trạng thái zero, không còn tư tưởng, ngôn từ, hành vi, ký ức, chương trình, niềm tin hoặc bất kỳ điều gì khác. Chẳng có gì cả." (Bí mật của vũ trụ) Có phải bạn đang làm việc quá sức và quá căng thẳng? Có phải bạn đang làm hết sức nhưng vẫn chẳng thành công trong sự nghiệp và cuộc sống cá nhân? Nếu bạn đang cố gắng vất vả nhưng chưa đạt được kết quả như ý thì có lẽ vấn để nằm ở bên trong bạn. Có lẽ điều đang cản trở bạn nằm bên trong bạn chứ không phải ở bên ngoài. Không giới hạn đưa đến cho bạn một phương pháp đột phá để vượt qua những giới hạn nội tại và đạt được những mục tiêu mơ ước. Ho'oponopono là một hệ thống bí quyết tâm linh cổ xưa của người Hawaii, một phương pháp trị liệu vô cùng hiệu quả để giải phóng tâm thức, loại bỏ những trở ngại tinh thần, giúp bạn đạt đến mục tiêu không giới hạn trong công việc lẫn cuộc sống. Joe Vitale và Ihaleakala Hew Len, những bậc thầy về Ho'oponopono hiện đại, sẽ từng bước hướng dẫn bạn áp dụng phương pháp này để gặt hái thành công về vật chất, sức khỏe, tinh thần và hạnh phúc. *** Tôi vẫn chưa nắm được trọn vẹn câu chuyện về những gì ông đã làm ở bệnh viện tâm thần. “Ông chưa bao giờ gặp bệnh nhân?” một hôm tôi hỏi lại ông một lần nữa. “Chưa bao giờ?” “Tôi có gặp họ trong hành lang nhưng chưa bao giờ tiếp bệnh nhân trong văn phòng của tôi”, ông nói. “Có lần tôi gặp một bệnh nhân và anh ta lên tiếng, “Tôi có thể giết ông, ông biết rồi đó.” Tôi đáp, “Tôi dám cược rằng anh cũng có thể làm việc giỏi giang.” Tiến sĩ Hew Len kể tiếp, “Khi tôi bắt đầu về bệnh viện tiểu bang để phụ trách các bệnh nhân tâm thần hình sự, mỗi ngày có ba, bốn vụ tấn công nghiêm trọng giữa các bệnh nhân. Lúc ấy có chừng 30 bệnh nhân. Họ bị xiềng, nhốt vào buồng cách ly, hoặc bị hạn chế trong phân khoa. Các bác sĩ và y tá đi lại trong hành lang đều dán lưng vào tường vì sợ bị tấn công. Sau một vài tháng thanh tẩy, chúng tôi thấy một sự thay đổi hoàn toàn theo chiều hướng tốt đẹp hơn: không cần xiếng nữa, không cách ly nữa, và người ta được phép ra ngoài để làm việc hoặc chơi thể thao.” Nhưng chính xác thì ông ấy đã làm gì để kích phát sự chuyển hóa này? “Tôi phải nhận hoàn toàn trách nhiệm bên trong chính mình về việc đã hiện thực hóa các vấn đề bên ngoài bản thân tôi”, ông đáp. “Tôi phải thanh tẩy những ý nghi độc hại của chính mình và thay thế bằng tình yêu thương. Chăng có bất kỳ điều gì bất ổn với các bệnh nhân. Lôi làm nằm ở tôi.” Theo lời Tiến sĩ Hew Len giải thích, các bệnh nhân và thậm chí cả nhân viên cũng không cảm nhận được tình thương. Và ông đã yêu thương tất cả. “Tôi nhìn các bức tường và thấy rằng tường cần được sơn lại”, ông bảo tôi. “Nhưng chẳng có lớp sơn mới nào ăn cả. Sơn cứ tróc ra ngay. Thế là tôi bảo các bức tường rằng tôi yêu thương chúng. Rồi một ngày kia có người quyết định lại tiếp tục sơn tường và lần này thì tường ăn sơn.” Câu chuyện nghe thật lạ tai, nhưng tôi đã quen với những câu chuyện thế này từ ông. Rốt cục tôi buộc phải đặt ra câu hỏi lâu nay làm tôi bận tâm nhiều nhất. “Có phải tất cả bệnh nhân đã được xuất viện?” “Có hai người không được xuất viện”, ông nói. “Cả hai đều được chuyển đi nơi khác. Còn lại thì cả phân khoa đều lành bệnh.” Rồi ông gợi ý một chuyện mà thật sự đã giúp tôi hiểu được sức mạnh của việc ông đã làm. “Nếu anh muốn tìm hiểu diễn tiến của sự việc trong thời gian đó thì hãy viết thư cho Omaka-O-Kala Hamaguchi. Cô ấy làm công tác xã hội trong thời gian tôi làm việc tại đó.” Tôi đã viết thư. Cô ta viết lại cho tôi như sau: Thân gửi Joe, Cám ơn anh về cơ hội này. Xin nói để anh biết rằng tôi viết thư này cùng với Emory Lance Oliveira, một người cũng làm công tác xã hội trong phân khoa của Tiến sĩ Hew Len. Lúc ấy tôi nhận ra mình được điều đến làm công tác xã hội tại phân khoa hình sự mới mở tại bệnh viện tâm thần tiểu bang Hawaii. Phân khoa này mang tên là Phân khoa Cách ly An ninh Đặc biệt (CISU). Nơi đây giữ các bệnh nhân-phạm nhân đã phạm các trọng tôi tàn bạo như giết người, hãm hiếp, hành hung, cướp, xâm hại. có người phạm nhiều tội danh cùng lúc, và được chấn đoán đã mắc phải hoặc có khả năng bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Một số bệnh nhân-phạm nhân này trước đó đã được kết luận vô tội vì lý do tâm thần và được phán quyết đưa về đây; một số người thì loạn tâm thần rõ nét và cần được điều trị, còn một số thì được giữ ở đó để làm xét nghiệm và lượng giá để xác định tình trạng hầu có hướng xử lý (thí dụ, xem họ có khả năng hiểu được các cáo buộc đối với họ và tham gia vào quá trình bào chữa cho bản thân hay không). Một số bị tâm thần phân liệt, một số thì rối loạn lưỡng cực và một số thì thiểu năng trí tuệ, trong khi đó một số khác được chẩn đoán thuộc dạng thái nhân cách hoặc rối loạn nhân cách chống xã hội. Cũng có những người muốn tìm cách thuyết phục tòa án rằng họ thuộc một hoặc tất cả các dạng kể trên. Tất cả đều được nhốt trong phân khoa 24/7 và chí dược phép ra ngoài vì mục đích y tế hoặc theo yêu cầu của tòa án khi có hộ tống và xiêng cổ chân, cố tay. Hầu hết thời gian họ phải ở trong 1 căn phòng cách ly, tức một căn phòng bị khóa, với tường và trần bằng bê tông. một buồng vệ sinh có khóa và không có cửa sổ. Nhiều người phải dùng thuốc liều cao. Các hoạt động của họ đều ít ỏi hoặc thưa thớt. “Sự cố” là tên gọi những vụ việc chúng tôi dự trù xảy ra hằng ngày – bệnh nhân tấn công nhân viên, bệnh nhân tấn công bệnh nhân khác, bệnh nhân tự tấn công chính mình, bệnh nhân âm mưu đào tẩu. Các “sự cổ” về phía nhân viên cũng là một vấn đề – nhân viên thao túng bệnh nhân; các vấn đề về ma túy, cáo ốm và chế độ lương bổng; bất hòa trong nội bộ; liên tục phải tìm người mới cho các vị trí bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần và các vị trí hành chính mà họ xin nghỉ việc; các vấn đề về điện và nước; và đại loại, không thể kể hết. Đó là một nơi căng thẳng, bất ổn, rất dễ nản lòng và đây không khí hung tợn. Thậm chí cỏ cây còn không chịu mọc. Và khi phân khoa được dọn đến một cơ sở mới vừa được trùng tu, an toàn hơn nhiều, với khu giải trí có rào, cũng chẳng ai nghĩ sẽ có một sự thay đổi gì. Cho nên khi xuất hiện “một bác sĩ tâm lý nữa”, mọi người hình dung rằng ông sẽ khuấy động bầu không khí, tìm cách áp dụng các chương trình tân tiến và rồi rốt cục chưa kịp an vị cũng sẽ nhanh chóng ra đi. Tuy nhiên, lần này đó là Tiến sĩ Hew Len, một người mà ngoài vẻ thân thiện, dường như chẳng làm gì cả. Ông chẳng làm lượng giá bệnh án, đánh giá tình hình hay chẩn đoán; ông chẳng đưa ra liệu pháp nào và chẳng hề làm một xét nghiệm tâm lý nào. Ông thường đến trễ và chẳng tham dự các buổi hội chẩn hoặc các phiên thăm khám bắt buộc. Thay vì vậy, ông thực hành một phương pháp Self I-Dentity Hooponopono (SIH) “quái lạ” mà nội dung là nhằm chịu trách nhiệm 100 phần trăm với chính mình: chỉ quán xét chính mình, và cho phép giải tỏa những năng lượng tiêu cực và ngoài ý muốn bên trong mình. Lạ lùng nhất là nhà tâm lý học này dường như luôn luôn thoải mái và thậm chí còn thật sự thích thú! Ông cười rất nhiều, đùa giỡn với bệnh nhân và nhân viên, và dường như thật sự thích công việc. Đáp lại, mọi người dường như cũng yêu mến và thích ông ấy, cho dù ông có vẻ chẳng làm việc gì nhiều. Và mọi chuyện bắt đầu chuyển biến. Các phòng cách ly bắt đầu trống; bệnh nhân bắt đầu chịu trách nhiệm về các nhu cầu và sinh hoạt của họ; họ cũng bắt đầu tham gia vào việc trù tính và triển khai các chương trình và dự án cho chính họ. Mức độ chỉ định thuốc cũng giảm xuống và bệnh nhân được phép ra khỏi phân khoa mà không cần xiềng. Phân khoa trở nên sống động – yên ổn hơn, sáng sủa hơn, an toàn hơn, sạch sẽ hơn, năng động hơn, vui vẻ hơn và chữa trị hiệu quả hơn. Cây cối bắt đầu mọc, các vấn đề về cấp nước gần như không còn nữa, các vụ bạo hành trong khoa trở nên hiếm hoi, và nhân viên dường như hòa đồng hơn, thư thái hơn và nhiệt tình hơn. Thay cho tình trạng cáo ốm nghi phép và thiếu người, giờ đây quan ngại của mọi người là dư thừa nhân sự và mất chỗ làm. Có hai trường hợp cụ thể đã tác động đến tôi cực ky sâu sắc. Có một bệnh nhân hoang tưởng nghiêm trọng dạng ảo giác, với tiền sử bạo hành và đã từng làm bị thương nặng nhiều người trong bệnh viện và ở chốn công cộng, và cũng đã nhiều lần nhập viện. Anh ta được đưa đến CISU lần này do phạm một vụ giết người. Tôi sợ anh ta chết khiếp. Mỗi lần thấy anh ta ở gần là tôi dựng hết cả tóc gáy. Thế rồi, tôi hết sức ngạc nhiên khi chỉ trong khoảng một, hai năm từ lúc Tiến sĩ Hew Len đến làm việc, một hôm tôi nhận ra anh ta đang đi về phía tôi với người hộ tổng nhưng không bị xiêng và tóc gáy của tôi đã không dựng lên. Cảm giác của tôi lúc ấy như thể nhận ra người quen, mà không chút phán xét, khi chúng tôi đi lướt qua nhau gần như vai chạm vào nhau. Tôi không hề có phản ứng quen thuộc chỉ muốn vắt giò lên cổ mà chạy. Thật ra, tôi nhận thấy anh ta trầm tĩnh. Lúc ấy tôi không còn làm việc ở phân khoa nữa nhưng tôi đã quyết tìm hiểu cho ra chuyện gì đã xảy ra. Tôi biết rằng anh ta đã không còn bị cách ly và bị xiêng một thời gian và lời giải thích duy nhất là một số nhân viên lúc ấy đang thực hành phương pháp Hooponopono mà Tiến sĩ Hew Len chia sẻ với họ. Tình huống thứ hai xảy ra trong khi tôi đang xem tin tức trên TV. Tôi được nghỉ việc một ngày theo chế độ tĩnh dưỡng tinh thần để thư giãn. Bản tin đưa tin về vụ ra tòa của một bệnh nhân CISU trước đó từng phạm tội xâm hại và sát hại một bé gái cỡ ba, bốn tuổi. Bệnh nhân này trước đó đã phải nhập viện vì tỏ ra không đủ tinh táo để tòa thụ lý vụ án. Anh ta đã được nhiều bác sĩ tâm thần và tâm lý xét nghiệm: đánh giá, và trải qua một loạt chẩn đoán mà lúc ấy hầu như đã giúp anh ta vô tôi vì lý do sức khỏe tâm thân. Anh ta lẽ ra không phải đi tù và lẽ ra đã được giam giữ thoải mái hơn trong điều kiện của bệnh viện tiểu bang, với cở nay được phóng thích có điầu kiện. Tiến sĩ Hew Len đã tương tác với bệnh nhân này, để rồi rốt cục anh ta xin được học phương pháp SIH và rất kiên trì thực hành, hệt như bản tính trột cựu sĩ quan thủy quân lục chiễn của anh ta. Đến giờ này thì anh ta đã tỏ ra lành mạnh để ra tòa và đã được tòa lên lịch thụ lý. Trong khi hấu hết các bệnh nhân và luật sư đều hầu như luôn luôn chọn phương án viện lý do sức khỏe tâm thần để không bị kết tội, bệnh nhân này lại không làm thế. Hôm trước ngày ra tòa, anh ta đã truất quyên của luật sư. Chiểu ngày hôm sau, anh đứng trước tòa. đối diện với vị chánh án và tuyên bố với giọng hối tiếc và thành khẩn, “Tôi chịu trách nhiệm và tôi rất tiếc.` Không ai ngờ được điểu này. Phải mất một lúc thì vị chánh án mới hiểu được chuyện gì đang diễn ra. Tôi đã chơi quần vợt với Tiến sĩ Hew Len và anh chàng này khoảng hai, ba lần và, mặc du bệnh nhàn này hết sức lịch sự và chu đáo, tôi vẫn có định kiến của dội Tuy nhiên, vào khoảnh khắc Ấy, trong phòng xử án, t0 chỉ cảm nhận được một sự ân cần và tình thưởng dành cho anh ta và cảm nhận được cả một sự chuyển biển lớn lao trong phòng xử. Giọng của chánh án và các luật sư Trở nên nhẹ nhàng, và tất cả những người xung quanh đều nhìn anh với nụ cười trìu mến. Quá là một khoảnh khác kỳ lạ. Cho nên, một buổi chiều kia, sau một trân quần vợt, khi Tiến sĩ Hew Len hỏi có ai muốn học phương pháp Hooponopono này không, tôi đã nhanh nhảu đồng ý và háo hức mong cho ván đấu kết thúc để được học. Giờ đây đã 20 năm trôi qua và tôi vân còn cảm thấy choáng với những gì được học lúc ấy, nghĩ đến chuyện Siêu nhiên đã tác động thông qua Tiến sĩ Hew Len ở Bệnh viện Tiểu bang Hawaii. Tôi mãi mãi biết ơn Tiến sĩ Hew Len và phương pháp “kỳ quái” mà ông đã mang đến. Còn nếu anh thắc mắc thì tôi xin kể rằng bệnh nhân này đã bị tòa kết án nhưng lại được chánh án chiếu cố phần nào bảng cách đáp ứng nguyện vọng của anh ta được thụ án tại một trại cải tạo liên bang ngay tiểu bang quê nhà, để anh ta được ở gần vợ con. Mặc dù đã gần 20 năm trôi qua, sáng nay tôi nhận được một cú điện thoại của một cựu thư ký phân khoa muốn hỏi thăm xem Tiến sĩ Hew Len có chút thời gian rỗi vào lúc nào đó để họp mặt với các cựu nhân viên hay không, những người mà giờ đây hầu hết đã nghỉ hưu. Chúng tôi sẽ gặp nhau trong một vài tuần nữa. Ai biết được sẽ có gì mới? Tôi sẽ chăm chú đón nghe các câu chuyện. Bình an, O.H. *** Thông tin tác giả Joe Vitale, Ihaleakala Hew Len Tiến sĩ Joe Vitale: chủ tịch Công ty Tiếp thị Hypnotic Inc. kiêm đồng sáng lập viên của Frontier Nutritional Research, một công ty chuyên về các công thức chống lão hóa đã được kiểm nghiệm. Ông là một trong những ngôi sao của bộ phim nổi tiếng Điều bí mật (The Secret). Ông là tác giả của rất nhiều tựa sách bán chạy, tiêu biểu nhất có thể kể đến Hệ số hấp dẫn: Năm bước dễ dàng để tạo ra sự thịnh vượng (hay bất cứ điều gì khác) từ bên trong Cẩm nang cuộc sống bị thất truyền: Kim chỉ nam lẽ ra bạn phải được trao khi chào đời; Sức mạnh của Tiếp thị bức xúc... Tiến sĩ Thaleakala Hew Len: Đã giảng dạy hệ thống Hooponopono cải biên trên khắp thế giới từ năm 1983. Ông đã tham gia các chương trình về giải quyết vấn đề và giải tỏa stress trong bốn thập niên và có ba năm là bác sĩ tâm lý học lâm sàng tại bệnh viện Tiểu bang Hawaii. Hew Len đã làm việc với hàng ngàn người trong nhiều năm, gồm các nhóm công tác tại Liên hợp quốc; UNESCO; Hội nghị Thống nhất Quốc tế về Hòa bình Thế giới, Hội nghị Hòa bình Thế giới, Hội nghị Y học Truyền thống Người da đỏ; Những người chữa lành Hòa bình ở châu  u và Hiệp hội Giáo chức Tiểu bang Hawaii. Mời các bạn đón đọc Không Giới Hạn- Khám Phá Ho'oponopono của tác giả Joe Vitale & Ihaleakala Hew Len.
Người Nhạy Cảm - Món Quà Hay Lời Nguyền
“NHẠY CẢM” KHÔNG PHẢI LÀ CÁI TỘI! Bạn là người có đời sống nội tâm phức tạp? Đôi khi bạn cảm thấy dường như không ai hiểu được mình? Bạn cũng là kiểu người thường để ý đến cái nhìn của người khác? Luôn cố gắng làm mọi thứ thật tốt, nhưng cũng vì vậy mà khiến bản thân không vui? Vậy rất có thể bạn là kiểu người CỰC KỲ NHẠY CẢM (Highly Sensitive Person), và có đến 15-20% dân số thế giới là người giống bạn cơ, nên đừng lo, cũng đừng sợ, bạn không phải KẺ KỲ LẠ DUY NHẤT. Người nhạy cảm được sinh ra với những xúc cảm tinh tế và mãnh liệt hơn người khác: dễ khóc, dễ cười, dễ đồng cảm với người khác, đôi khi thích thu mình, đôi khi lại muốn hòa nhập cùng mọi người, suy nghĩ về nhiều thứ, dễ cảm thấy lạc lõng, chỉ một kích thích nhỏ cũng khiến tinh thần bất ổn… Bạn sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội nhưng cũng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống thường ngày, nhất là việc kiểm soát cảm xúc. Cũng bởi vậy mà đôi khi người cực kì nhạy cảm (HSP) trở thành những kẻ lập dị trong mắt mọi người, dễ bị người khác hiểu nhầm là kiểu người thái quá, giả tạo, và bị số đông xa lánh. “Người nhạy cảm – món quà hay lời nguyền” là CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN CÔNG NHẬN GIÁ TRỊ CỦA SỰ NHẠY CẢM và xem đó như một điều thiết yếu cho xã hội. Cuốn sách sẽ cho bạn thấy: Bạn không phải kẻ lập dị, càng không phải giả tạo. Bạn đơn chỉ là một người nhạy cảm Thấu hiểu để đồng cảm với bản thân nhiều hơn Bạn khác biệt nhưng bạn có giá trị của riêng mình “Người nhạy cảm – món quà hay lời nguyền” với tên gốc Highly Sensitive Person đã: Tiêu thụ hàng triệu bản trên khắp thế giới, có mặt tại hàng chục quốc gia, trở thành INTERNATONAL BESTSELLER. Mang lại thành công vang dội cho tác giả - tiến sĩ Elaine N Aron với những giải thưởng, sự ghi nhận danh giá Một trong số ít những cuốn sách được nhiều người nổi tiếng trên thế giới đặc biệt đánh giá cao như tác giả John Gray, Riane Eisler, ca sĩ kiêm nhạc sĩ đình đám Alanis Morissette… Ai cũng mang trong mình những giá trị khác biệt từ khi sinh ra và điều đó tạo nên màu sắc cho thế giới này.  Vậy nhạy cảm là món quà hay lời nguyền? Chắc bạn cũng đã có câu trả lời cho riêng mình rồi *** Người nhạy cảm: Món quà hay lời nguyền? – Sách tâm lý nên đọc Dưới đây là ghi chép nhanh của Kin sau khi đã đọc xong lần đầu cuốn sách Người nhạy cảm: Món quà hay lời nguyền?. Bạn xem qua nhé! Cuốn sách với phân mục rõ ràng theo mạch đọc Trích dẫn Người nhạy cảm món quà hay lời nguyền Một vài ý chính mà Kin đã rất say sưa theo dõi cuốn sách này và Kin tin bạn cũng vậy. Dẫn dắt bằng chia sẻ của cá nhân tác giả Những nhận định về sự nhạy cảm Nguồn gốc về những biểu hiện nhạy cảm Các giai đoạn về việc hình thành sự nhạy cảm Các cách để đối diện với sự nhạy cảm Sau mỗi phần mục đều có tóm tắt, nhắc lại khái quát về nội dung chính, cách để luyện tập, áp dụng kiến thức Có những câu hỏi để dẫn dắt người đọc để hiểu hơn về chính mình, chỉ ra cách thức đối diện với sự nhạy cảm của bản thân Tác giả cũng có chia sẻ về những hoàn cảnh mà mình đã gặp phải với vai trò là một người nhạy cảm như những độc giả của mình Học cách chấp nhận bản thân & yêu thương bản thân hơn Người nhạy cảm - Món quà hay lời nguyền Trong cuốn sách thú vị này, tiến sỹ Elaine Aron, một nhà tâm lý học lâm sàng, đồng thời bản thân bà cũng là một người nhạy cảm cao, sẽ chỉ cho bạn cách xác định đặc điểm này ở bản thân và tận dụng tối đa nó trong các tình huống hàng ngày. Dựa trên nhiều năm nghiên cứu và hàng trăm cuộc phỏng vấn, bà sẽ giúp bạn hiểu rõ bản thân và đặc điểm của mình để tạo ra một cuộc sống đầy đủ hơn, phong phú hơn. Và cũng từ những thông tin trong Người nhạy cảm: Món quà hay lời nguyền, bạn sẽ nhìn nhận bản thân một cách tích cực hơn với nhiều đặc điểm tỉnh cách đã được ban tặng từ trong quá trình di truyền. Bạn được sinh ra với những xúc cảm tinh tế và mãnh liệt hơn người khác: dễ khóc, dễ cười, dễ đồng cảm với người khác, đôi khi thích thu mình, đôi khi lại muốn hòa nhập cùng mọi người, suy nghĩ về nhiều thứ, dễ cảm thấy lạc lõng, chỉ một kích thích nhỏ cũng khiến tinh thần bất ổn… Cũng với các ưu điểm đó, bạn cũng dễ ở trong nhiều khó khăn thường ngày, nhất là việc kiểm soát cảm xúc. Bạn dễ lập dị trong mắt mọi người, dễ bị người khác hiểu nhầm là kiểu người thái quá, giả tạo, và bị số đông xa lánh. Và dĩ nhiên, sau tất cả, bạn sẽ là người đầu tiên cảm thông cho những định kiến vây quanh mình để luôn biết cách yêu thương bản thân hơn mỗi ngày. Cuốn sách dành cho chính mình và người thân của mình? Nếu bạn vẫn còn có những thắc mắc về cảm xúc của bản thân thì Kin nghĩ rằng cuốn sách này sẽ giúp bạn có cái nhìn khoa học về sự nhảy cảm cũng như người nhạy cảm. Nếu bạn đang ở trong những mối quan hệ với người nhạy cảm thì đây cũng là lựa chọn sách tâm lý cực kỳ phù hợp. Nội dung của cuốn sách còn hướng đến việc xây dựng mối quan hệ gắn kết của người nhạy cảm với người không nhạy cảm. Từ đó mang đến sự hoà hợp trong tình cảm, công việc của những người nhạy cảm. Dù bạn tiếp cận cuốn sách với vai trò là nhân vật chính, người thân, đồng nghiệp, người bạn thì bạn cũng sẽ có được những trang sách hết sức nhân văn và mang tính ứng dụng cao. Mong bạn cũng yêu thích Người nhạy cảm Món quà hay lời nguyền! Thân ái, Kin *** Bạn đã bao giờ nghĩ rằng mình thật kỳ quặc vì cảm thấy hoàn toàn choáng ngợp khi xung quanh có nhiều tiếng ồn, mùi hương nồng nặc hay ánh sáng chói lóa, đặc biệt là đèn huỳnh quang? Bạn đã bao giờ bị gọi là "quá nhạy cảm" hoặc "quá nhút nhát? Bạn có đặc biệt kích thích với những thay đổi về nhiệt độ, ngôn ngữ cơ thể và môi trường xung quanh? Tâm trạng của người khác có ảnh hưởng đến bạn không? Nếu vậy, bạn có thể rất nhạy cảm, và cuốn sách sau đây sinh ra để dành cho bạn. Tác giả của ấn phẩm Người Nhạy Cảm là Elaine N. Aron - một giáo sư, nhà trị liệu tâm lý và tiểu thuyết gia. Là một người nhạy cảm mạnh, Aron cảm thông cho những con người phải đấu tranh với sự mâu thuẫn trong tâm lý hơn ai khác; cô đã khóc rất nhiều tuyệt vọng tách biệt mình khỏi thế giới hỗn loạn. Tác giả chia sẻ đã phải trải qua một hành trình dài từ trải nghiệm cá nhân đến nghiên cứu thực tiễn để thuyết phục bản thân rằng nhạy cảm không phải một khiếm khuyết, mà đó là một món quà vô cùng độc đáo, và giờ đây cô cảm thấy biết ơn khi trở thành một phần của nhóm người có tính cách thiểu số này. Với niềm tin mang tiếng nói của cộng đồng người nhạy cảm rộng rãi đến với thế giới, Aron ấp ủ đứa con tinh thần của mình từ năm 1992 và sau bốn năm, cuốn sách khoác lên mình tựa đề Người Nhạy Cảm chính thức ra mắt công chúng, không ngừng gây bão trong bảng xếp hạng sách bạn chạy của rất nhiều quốc gia. Cuốn sách được chia làm mười chương: ở hai chương đầu, tác giả chủ yếu phổ cập người đọc những kiến thức lý thuyết căn bản và chuyên sâu của tính cách nhạy cảm; hai chương tiếp theo đề cập tầm ảnh hưởng của đặc điểm tâm lý này tới sức khỏe đời sống của mỗi cá nhân và sự liên hệ với tuổi thơ của từng người; ba chương tiếp theo được sử dụng để thảo luận những tình thế mà người nhạy cảm thường xuyên đối mặt trong các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ thân thiết, trong công việc; và những chương cuối cùng là những liều thuốc hàn gắn tâm hồn người nhạy cảm. Ở cuốn sách độc đáo này, nhà tâm lý học nghiên cứu Elaine Aron đã nghiên cứu thành công nền tảng tâm lý học mới bằng cách xác định một đặc điểm tính cách chưa được chú ý nhiều trong quá khứ, một đặc thù mà ước khoảng 15-20% dân số mang trong mình. Vậy nhạy cảm qua quan điểm của tác giả là như thế nào? Nhạy cảm là như thế nào? Tính cách này biểu hiện một hệ thống thần kinh rất nhạy cảm đã hình thành từ khi sinh ra và có thể được di truyền, cũng giống như mọi đặc điểm tâm lý hoặc đặc điểm thể chất khác. Những người nhạy cảm cao phản ứng mạnh mẽ hơn nhiều với hầu hết mọi thứ - từ các đặc điểm giác quan của các đối tượng và sự kiện, đến sự tinh vi của cảm xúc nội tâm và các mối quan hệ giữa con người với nhau. Người nhạy cảm tiếp nhận rất nhiều thông tin, có nghĩa là họ có thể bị choáng ngợp bởi ánh sáng, tiếng ồn lớn, mùi hương và sự lộn xộn, họ cũng gặp phải các triệu chứng căng thẳng về thể chất hơn - cơ thể của họ phản ứng dữ dội hơn với mọi vật; đây có thể là một điều phiền toái bởi vì nó khiến người nhạy cảm phải trăn trở quá nhiều. Nhưng xét về mặt tích cực, họ lại sở hữu trực giác tinh tế mà những người khác không có, điển hình là việc thấu hiểu tâm trạng của người khác, điều này mang lại cho người nhạy cảm một tài năng hứa hẹn về sự sáng tạo, cái nhìn sâu sắc và sự quan tâm — tất cả những đặc điểm mà xã hội của chúng ta cần. Do nhận thức ngày càng cao về mọi sự vật trong môi trường của họ, những người nhạy cảm cao trong nền văn hóa của chúng ta thường bị nghi ngờ về tính kiên định, và được khuyến khích phát triển cứng cáp hơn. Cô Aron chỉ ra rằng những người có đặc điểm này thường bị gán ghép nhầm lẫn với thuật ngữ khác trong quá khứ, các tên gọi khác được các chuyên gia mặc định điển hình là "nhút nhát", "hướng nội" hoặc "loạn thần kinh".  Không bằng lòng với nghiên cứu của các chuyên gia đi trước, tác giả quyết định dành rất nhiều thời gian để xác định và mô tả chuẩn xác đặc điểm của nhạy cảm bằng cách cung cấp tất cả bằng chứng nghiên cứu và giai thoại của những người tham gia phỏng vấn vì vấn đề này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân; và bằng chứng cho thấy việc trở thành một người có độ nhạy cảm cao vừa là một may mắn vừa là một gánh nặng, tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau tác động cuộc đời của nhân vật đó. Mặc dù sở hữu đặc điểm này có thể khiến cuộc sống gặp nhiều thử thách nhưng tác giả, bản thân là một người nhạy cảm, nhấn mạnh rằng bản tính này không phải là một chứng rối loạn tâm lý hay một khiếm khuyết nhân cách cần phải loại bỏ. “Chính sự nhầm lẫn giữa nhạy cảm và tâm lý bất ổn cùng tác động của chấn thương thời thơ ấu là một trong những lý do dẫn tới định kiến tiêu cực về người nhạy cảm.” Đặc điểm nhạy cảm chỉ đơn thuần là một phần tính cách của mỗi cá nhân; một người sinh ra có tính nhạy cảm cao không nhất thiết bị giới hạn khả năng hưởng thụ cuộc sống, nhưng đặc tính ấy sẽ tác động đến mọi thứ, từ các mối quan hệ xã hội đến công việc, sinh hoạt của người đó. Tác giả chỉ ra rằng, xã hội thường không đánh giá cao những người sở hữu dạng tính cách này, đặc biệt là ở trẻ em và nam giới; vì vậy nếu bạn là hoặc biết một người nhạy cảm cao, cuốn sách sẽ này cung cấp những hiểu biết sâu sắc mang tính xây dựng, đem đến cái nhìn mới mẻ hơn, khoan dung hơn về trạng thái tâm lý độc nhất này ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Mời các bạn đón đọc Người Nhạy Cảm - Món Quà Hay Lời Nguyền của tác giả Elaine N. Aron.