Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Câu Chuyện Nghĩa Địa - Neil Gaiman

Bod Owens là một cậu bé bình thường! Bod Owens lẽ ra là một cậu bé tuyệt đối bình thường nếu cậu không sống trong một nghĩa địa cổ, không được nuôi dạy bởi những hồn ma và không có một người bảo trợ chẳng thuộc thế giới của người sống hay người chết. Trong nghĩa địa, có vô vàn hiểm nguy và những cuộc phiêu lưu dành cho Bod – một Người Da Chàm và các Sát thủ bảo vệ báu vật dưới lòng đồi, một cánh cổng dẫn ra sa mạc nơi có Thành Quỷ, bầy dạ điểu và những con quỷ nhập tràng… Nhưng nếu rời khỏi nghĩa địa, Bod sẽ phải đương đầu với một mối đe dọa khác – Hội Jack Đủ Nghề, những kẻ đã từng giết cả gia đình cậu…   Vừa kinh hoàng bí hiểm lại vừa trong sáng nên thơ, vừa đầy rẫy những cuộc phiêu lưu nghẹt thở lại vừa thấm đẫm những câu chuyện xúc động về tình yêu thương, Câu chuyện nghĩa địa chắc chắn sẽ mê hoặc độc giả đủ mọi lứa tuổi.  *** Nhận định   Sự sáng tạo vô tận, nghệ thuật kể chuyện bậc thầy và – như chính bản thân Bod – quá xuất sắc để có thể chỉ phù hợp với một nơi duy  nhất. Câu chuyện nghĩa địa là cuốn sách dành cho mọi người. Bạn sẽ yêu nó đến chết. - Holly Black, đồng tác giả Biên niên sử gia đình  Spiderwick   Khi đọc xong Câu chuyện nghĩa địa, trong đầu tôi chỉ có một suy nghĩ – hy vọng nó kéo dài hơn nữa. -Laurell K. Hamilton, tác giả của Anita Blake: Kẻ săn ma cà rồng   Bâng  khuâng, hài hước, khôn ngoan và sởn cả tóc gáy… Cuốn sách dành cho tất cả những ai đang là trẻ con hay đã từng có thời là trẻ con. - Kirkus Reviews   Giống như một miếng sô cô la đắng trong ngày Halloween, cuốn tiểu thuyết này mang đến một hương vị đậm đà, đắng nhưng vẫn ngọt ngào, và không thể nào chê được. - Washington Post *** TRONG BÓNG TỐI HIỆN RA một bàn tay, và bàn tay đó cầm một con dao. Con dao ấy có cán bằng xương đen bóng, với lưỡi dao sắc hơn bất kỳ lưỡi dao cạo nào. Nếu nó cắt vào da thịt, ta có thể thậm chí không biết là mình bị cắt, không biết ngay. Con dao đã thực hiện gần xong tất cả những việc nó được đem đến căn nhà này để thực hiện, và cả cán lẫn lưỡi dao dều ướt đẫm. Cánh cửa dẫn ra phố vẫn để ngỏ, hơi hé mở, qua lối này con dao cùng gã đàn ông đang cầm nó đã lách qua, và những dải sương đêm cũng theo đó luồn lách len lỏi vào trong nhà. Gã đàn ông tên Jack dừng lại trên chiếu nghỉ ở cầu thang. Bằng tay trái, hắn rút một chiếc khăn tay to trắng tinh từ trong túi áo choàng màu đen của mình, lau sạch sẽ cả lưỡi dao lẫn bàn tay phải xỏ găng đang nắm chặt con dao, rồi lại cất chiếc khăn tay đi. Cuộc săn lùng đã gần kết thúc. Hắn đã để người đàn bà nằm trên giường, người đàn ông trên sàn phòng ngủ, đứa bé lớn trong căn buồng màu sắc rực rỡ của nó, xung quanh đầy đồ chơi và những mô hình đang xây dở. Hắn chỉ còn phải lo liệu nốt đứa bé con, một đứa nhỏ mới lẫm chẫm biết đi. Chỉ một mạng nữa thôi, và nhiệm vụ của hắn sẽ được hoàn thành. Hắn co duỗi mấy ngón tay. Gã đàn ông tên Jack, trên hết, là tay chuyên nghiệp, hay ít ra thì hắn cũng tự nhủ như vậy, và hắn không cho phép mình được mỉm cười cho đến khi công việc đã xong xuôi. Hắn có mái tóc đen, cặp mắt đen, và hắn mang găng tay den làm bằng thứ da cừu mỏng nhất. Phòng của đứa bé nằm ở tầng trên cùng. Gã đàn ông tên Jack đi lên cầu thang, chân bước không một tiếng động trên sàn trải thảm. Rồi hắn đẩy cửa bước vào căn phòng áp mái. Hắn đi giày da đen, và chúng bóng lộn đến nỗi nom như hai chiếc gương tối sẫm: ta có thể thấy mặt trăng phản chiếu trên đó, một vầng trăng lưỡi liềm nhỏ xíu. Mặt trăng thật thì đang chiếu qua ô cửa sổ có hai cánh. Ánh trăng không sáng, lại bị màn sương che mờ, nhưng gã đàn ông tên Jack không cần nhiều ánh sáng. Ánh trăng là đủ rồi. Hắn chỉ cần có thế. Hắn có thể trông thấy hình dáng của đứa bé nằm trong nôi, đầu, chân tay, thân mình. Cái nôi có hai bên thành cao làm bằng các thanh gỗ mỏng, để ngăn đứa bé trèo ra ngoài. Jack cúi xuống, giơ cao bàn tay phải, bàn tay đang cầm con dao, và hắn nhằm vào vùng ngực... ... rồi hắn buông tay xuống. Hình thù trong cái nôi chỉ là một con gấu nhồi bông. Không thấy đứa bé đâu. Mắt gã đàn ông đã quen với ánh trăng mờ ảo nên hắn không muốn bật đèn. Và dù sao thì ánh sáng cũng chẳng quan trọng. Hắn có những kỹ năng khác. Gã đàn ông tên Jack hít ngửi không khí. Hắn phớt lờ những mùi đã theo hắn bay vào phòng, loại bỏ những mùi hắn có thể bỏ qua, chỉ tập trung vào mùi của thứ hắn đang tìm kiếm. Hắn có thể ngửi thấy mùi đứa trẻ: một thứ mùi như mùi sữa, giống như mùi bánh quy rắc sô cô la, cùng với mùi chua chua của cái tã ban đêm đã bị ướt. Hắn có thể ngửi thấy mùi đầu gội đầu trẻ em trên tóc đứa bé, và một thứ gì đó nho nhỏ, làm bằng cao su - một món đồ chơi, hắn tự nhủ, rồi sau đó nghĩ lại, không, một cái gì đó để ngậm - mà đứa bé đang cầm. Đứa bé đã ở đây. Nó không còn ở đây nữa. Gã đàn ông đánh hơi lần theo dấu vết xuống tầng dưới của căn nhà cao, hẹp. Hắn kiểm tra phòng tắm, bếp, tủ đựng khăn, và cuối cùng là gian sảnh ở tầng trệt, ở đó chẳng có gì ngoài mấy chiếc xe đạp của gia đình, một đống túi đi chợ trống không, một cái tã rơi, và những dải sương lạc đã lặng lẽ cuộn xoáy chui vào nhà qua cánh cửa mở ra phố. Gã đàn ông tên Jack liền thốt lên một âm thanh khe khẽ, một tiếng gầm gừ vừa bực tức vừa đắc thắng. Hắn tra dao vào cái vỏ ở túi trong chiếc áo choàng dài, rồi bước ra phố. Trời sáng trăng lại thêm cả ánh đèn đường, nhưng màn sương đã bao trùm tất cả, làm mờ ánh sáng, che lấp mọi âm thanh khiến cho màn đêm trở nên mờ ảo đầy nguy hiểm. Hắn nhìn xuôi xuống đồi về phía ánh đèn của những cửa hàng đã đóng cửa, rồi nhìn ngược lên phố nơi những ngôi nhà cao tầng cuối cùng chạy vòng quanh đồi và chìm dần vào bóng tối của khu nghĩa địa cũ. Gã đàn ông tên Jack hít hít không khí. Rồi, không chút vội vã, hắn bước lên đồi. º º º Ngay từ lúc mới biết đi, thằng bé đã trở thành niềm vui và nỗi tuyệt vọng của bố mẹ, vì chưa từng có thằng bé nào lại hay đi vơ vẩn, hay trèo lên các thứ, hay chui ra chui vào mọi chỗ như thế. Đêm đó, nó bị đánh thức bởi tiếng một vật gì đó ở tầng dưới đổ xuống đánh rầm. Khi đã thức giấc, chẳng mấy chốc nó đâm chán, và bắt đầu tìm cách chui ra khỏi nôi. Cái nôi có thành cao, giống như thành cái cũi của nó ở dưới nhà, nhưng nó dám chắc mình có thể trèo qua được. Nó chỉ cần một cái bậc... Nó liền lôi con gấu bông lớn màu vàng ra đặt ở góc nôi, rồi, nắm lấy thành nôi bằng hai bàn tay bé xíu, giẫm một chân lên bụng, một chân lên đầu con gấu, thằng bé đu mình đứng dậy, rồi nửa trèo, nửa rơi qua thành nôi ra ngoài. Nó ngã xuống đánh thịch một cái trên đống thú nhồi bông, có con là quà tặng sinh nhật của họ hàng nhân dịp nó đầy năm, cách đây chưa đầy sáu tháng, có con được thừa hưởng từ chị nó. Nó hơi ngạc nhiên khi bị ngã xuống sàn, nhưng nó không khóc: ta mà khóc thì sẽ có người đến đặt lại vào trong nôi liền. Nó bò ra khỏi phòng. Các bậc thang đi lên khá rắc rối, và thằng bé chưa nắm vững được cách trèo lên. Nhưng nó đã phát hiện ra rằng các bậc thang đi xuống lại rất đơn giản. Nó chỉ việc ngồi xuống và trượt từ bậc này xuống bậc kia trên cái mông đã được đệm bằng chiếc tã. Nó mút mút cái ti, chiếc núm vú giả bằng cao su mà dạo gần đây mẹ bảo nó đã lớn rồi, không cần đến nữa. Chiếc tã tuột ra trong quãng đường xuống cầu thang, và khi thằng bé đến được bậc cuôì cùng, trượt vào gian sảnh ở tầng dưới rồi đứng dậy, thì cái tã rơi mất. Nó bước ra khỏi cái tã. Nó chỉ mặc một chiếc áo ngủ trẻ em. Những bậc thang dẫn về phòng nó, phòng bố mẹ và chị nó dốc quá, nhưng cánh cửa dẫn ra phố lại đang mở và nom thật hấp dẫn... Thằng bé bước ra khỏi nhà, hơi ngập ngừng một chút. Màn sương cuộn quanh nó như một người bạn lâu ngày gặp lại. Và rồi, mới đầu còn loạng choạng, sau rồi với bước chân mỗi lúc một nhanh và vững vàng hơn, thằng bé chập chững đi lên đồi. º º º Càng gần đến đỉnh đồi, màn sương càng mỏng, vầng trăng lưỡi liềm tỏa sáng, tuy không thể so với ánh sáng ban ngày, nhưng ít ra cũng đủ để thấy được khu nghĩa địa, ít ra thì cũng đủ cho việc đó. Nhìn mà xem. Bạn có thể nhìn thấy ngôi nhà nguyện tang lễ bỏ hoang, hai cánh cổng sắt khóa chặt, dây trường xuân bám quanh cái mái hình chóp nhọn, một cây con mọc trên máng xối ngang mái nhà. Bạn có thể nhìn thấy những bia mộ, những cái huyệt, nhà mồ và những tấm biển tưởng niệm. Bạn có thể thỉnh thoảng trông thấy một con thỏ, chuột đồng hay chồn lủi đi rất nhanh khi nó chui ra khỏi bụi rậm và chạy ngang lối đi. Dưới ánh trăng, bạn sẽ nhìn thấy tất cả những thứ đó, nếu bạn có mặt ở nơi này vào cái đêm ấy. Nhưng có lẽ bạn sẽ không trông thấy người phụ nữ phốp pháp, nhợt nhạt, đang bước trên lối mòn gần cổng chính, và nếu bạn có nhìn thấy bà thì khi nhìn lại một lần nữa, kỹ càng hơn, bạn sẽ thấy rằng bà chỉ là ánh trăng, là màn sương, là một cái bóng. Nhưng người phụ nữ phốp pháp, nhợt nhạt ấy đang có mặt ở đó. Bà bước trên con đường dẫn đến cổng chính, đi qua một đống bia mộ đổ nát. Cổng đã khóa. Chúng luôn được khóa lúc bốn giờ chiều vào mùa đông, và tám giờ tối vào mùa hè. Những thanh rào sắt nhọn đầu bao quanh một phần nghĩa địa, và một bức tường gạch cao chắn phần còn lại. Chấn song ở cánh cổng được gắn sát nhau: người lớn không thể chui qua đó được, thậm chí một đứa trẻ mười tuổi cũng không... "Ông Owens!" người đàn bà da nhợt nhạt cất tiếng gọi, bằng một giọng có thể chỉ là tiếng gió xào xạc qua đám cỏ cao. "Ông Owens! Lại xem này!" Bà cúi xuống, chăm chú nhìn vật gì đó trên mặt đất, trong khi một mảng bóng tối hiện ra dưới ánh trăng và hiện rõ hình một người đàn ông tóc hoa râm, độ bốn mươi lăm tuổi. Ông nhìn bà vợ, nhìn vật mà bà đang ngắm nghía, và đưa tay lên gãi đầu. "Bà Owens này?" ông hỏi, bởi vì ông đến từ một thời kỳ trọng nghi thức hơn thời của chúng ta. "Đó có phải là cái mà tôi nghĩ không đấy?" Đúng lúc đó, cái vật mà ông đang nhìn hình như đã trông thấy bà Owens, vì nó mở miệng ra, để rơi cái núm vú giả đang ngậm xuống đất, và nó vươn nắm tay nhỏ xíu, mũm mĩm của mình ra, như thể đang cố hết sức nắm lấy ngón tay nhợt nhạt của bà Owens. "Nếu đó không phải một đứa bé," ông Owens nói, “thì tôi đúng là thằng ngốc rồi!” "Tất nhiên nó là một đứa bé," vợ ông đáp. "Và vấn đề là, chúng ta phải làm gì với nó đây?" "Đó đúng là vấn đề đấy, bà Owens à," ông chồng trả lời. "Thế nhưng nó không phải vấn đề của chúng ta. Vì đứa bé này rõ ràng là đang còn sống, và vì vậy nó chẳng liên quan gì đến chúng ta, nó không thuộc về thế giới của chúng ta." "Ông nhìn nó cười kìa!" bà Owens nói. "Nó có nụ cười mới đáng yêu làm sao," và bà đưa bàn tay trong suốt ra vuốt mái tóc vàng lơ thơ của đứa bé. Thằng bé cười khúc khích vẻ thích thú. Một cơn gió lạnh buốt thổi qua nghĩa địa, làm tan tác màn sương ở dưới những sườn đồi thấp hơn (vì nghĩa địa chiếm hết toàn bộ đỉnh đồi, và đường đi trong nghĩa địa uốn lượn lên xuống đỉnh đồi thành một vòng tròn). Có tiếng lách cách: ai đó ở cổng chính nghĩa địa đang nắm lấy cánh cổng, kéo, giật và lắc mạnh hai cánh cổng cũ cùng cái khóa và sợi xích nặng khóa hai cánh cổng lại với nhau. "Đấy," ông Owens nói, "gia đình thằng bé đến để đón nó vào vòng tay yêu thương của họ đây. Bà để cho nó yên đi," ông nói thêm, vì bà Owens đang vòng hai cánh tay trong suốt quanh đứa bé, âu yếm vỗ về nó. Bà Owens bảo, "Trông hắn chẳng có vẻ là gia đình của ai hết." Gã đàn ông mặc chiếc áo choàng đen đã thôi lắc cánh cổng chính, chuyển sang săm soi cánh cổng phụ nhỏ hơn. Cánh cổng này cũng khóa chặt. Năm ngoái ở nghĩa địa xảy ra mấy vụ phá hoại, và hội đồng thành phố đã có Biện pháp Giải quyết. "Thôi nào, bà Owens thân yêu. Để cho nó yên”, ông Owen nói khi trông thấy một con ma, và ông há hốc miệng, không nghĩ được câu gì để nói nữa. Bạn có thể cho rằng - và nếu bạn nghĩ như thế này thì bạn đã đúng - ông Owens lẽ ra chẳng nên kinh ngạc đến thế khi trông thấy một con ma, vì chính ông và bà Owens cũng là người chết, đã chết từ hàng trăm năm nay rồi; hơn nữa, toàn bộ, hoặc gần như toàn bộ sinh hoạt xã hội của họ đều là với những người cũng đã chết. Nhưng có sự khác biệt rõ ràng giữa đám dân cư của nghĩa địa với cái này: một hình thù kỳ lạ, chập chờn, thô sơ, có màu xam xám như màn hình ti vi lúc không có sóng, chỉ tuyền một nỗi kinh hoàng và những tình cảm trần trụi xuyên thẳng qua hai vợ chồng nhà Owens như thể đó là cảm xúc của chính họ vậy. Có ba hình thù tất cả, hai lớn, một nhỏ, nhưng chỉ có một hình là rõ nét, trông rõ hơn một đường viền mờ nhạt. Và hình thù đó đang kêu lên, Con tôi! Hắn đang muốn hại con tôi! Có tiếng rầm rầm. Gã đàn ông ở ngoài kia đang vần một cái thùng rác nặng bằng sắt ngang qua con hẻm đến bên bức tường gạch cao bao quanh một phần nghĩa địa. "Xin hãy bảo vệ con tôi!" con ma nói, và bà Owens đoán đó là một phụ nữ. Tất nhiên rồi, mẹ của đứa bé. "Hắn đã làm gì các vị thế?" bà Owens hỏi, nhưng bà không dám chắc con ma nghe được giọng bà. Mới chết, tội nghiệp, bà thầm nhủ. Bao giờ cũng dễ dàng hơn rất nhiều nếu được chết một cách nhẹ nhàng, để rồi đến đúng lúc thì sẽ thức dậy ở nơi mình được chôn, chấp nhận cái chết của mình và làm quen với những cư dân khác trong nghĩa địa. Nhưng con ma này chỉ toàn nỗi hoảng hốt và sợ hãi lo cho đứa con của mình, và nỗi hốt hoảng ấy, mà hai vợ chồng nhà Owens cảm thấy như một tiếng kêu lầm rầm, đã bắt đầu gây sự chú ý, vì những hình dáng nhợt nhạt khác đang từ khắp mọi nơi trong nghĩa địa kéo đến. "Ngươi là ai?" Caius Pompeius hỏi hình thù nọ. Tấm bia mộ của cụ giờ chỉ còn là một tảng đá dầm mưa đãi nắng, nhưng hai nghìn năm trước, cụ đã yêu cầu được chôn cất trên đỉnh đồi bên cạnh ngôi đền bằng cẩm thạch chứ không muốn thi thể mình được đưa về La Mã, và cụ là một trong những công dân lâu năm nhất của nghĩa địa. Cụ rất coi trọng các trách nhiệm của mình. "Ngươi có được chôn ở đây không?" "Tất nhiên là không rồi! Nhìn cũng biết chị ấy mới chết thôi." Bà Owens vòng tay ôm lấy hình người phụ nữ kia và khẽ nói với người ấy mấy lời, bằng giọng trầm trầm, bình tĩnh, an ủi. Có một tiếng thịch, rồi tiếng rầm rầm ở bức tường cao cạnh con hẻm. Cái thùng rác đã đổ xuống. Một gã đàn ông trèo lên nóc tường, hình dáng tối sẫm của hắn nổi bật hẳn lên dưới ánh đèn đường mờ sương. Hắn đứng yên một lát, rồi trèo xuống phía bên kia, tay bám nóc tường, chân đong đưa, rồi hắn buông tay để mình rơi tự do nốt vài mét xuống khu nghĩa địa. "Nhưng chị thân mến," bà Owens nói với hình người kia, trong số ba hình người đã hiện ra trong nghĩa địa, giờ chỉ còn một hình duy nhất ấy. "Hắn là người sống. Chúng tôi thì không. Làm sao chị lại cho rằng..." Đứa bé đang ngước nhìn họ vẻ tò mò. Nó với tay về phía một người, rồi người kia, nhưng chẳng quờ được gì ngoài không khí. Hình người phụ nữ đang mờ đi rất nhanh. "Được thôi," bà Owens nói, đáp lại một câu hỏi mà không ai khác nghe thấy. "Nếu làm được thì chúng tôi sẽ làm”. Rồi bà quay sang ông chồng đang đứng cạnh. "Thế còn ông thì sao, ông Owens? Ông có chịu làm bố thằng bé này không?" "Tôi có chịu làm cái gì cơ?" ông Owens hỏi, trán nhăn lại. "Chúng ta chưa bao giờ có con," vợ ông nói. "Và mẹ nó nhờ chúng ta bảo vệ nó. Ông có đồng ý không?" Gã đàn ông mặc áo choàng đen đã bị vấp ngã giữa đám dây trường xuân cùng đống bia mộ đổ vỡ. Giờ thì hắn đứng dậy, rồi đi về phía trước một cách thận trọng hơn, làm một con cú giật mình lặng lẽ bay lên. Hắn đã nhìn thấy đứa bé, và mắt hắn lóe lên vẻ đắc thắng. Ông Owens biết rõ vợ mình đang nghĩ gì khi bà nói bằng cái giọng như thế. Họ đã ở với nhau kể cả lúc sống lẫn lúc chết là hai trăm năm mươi năm rồi chứ có ít đâu. "Bà có chắc không?" ông hỏi. "Bà chắc chắn đấy chứ?" "Tôi chưa bao giờ cảm thấy chắc chắn hơn," bà Owens trả lời. "Thế thì được. Nếu bà làm mẹ nó thì tôi sẽ làm bố nó. "Chị đã nghe thấy chưa?" bà Owens hỏi hình người trong nghĩa địa, giờ chỉ rõ hơn chút xíu so với một đường viền mờ nhạt, giống như một tia chớp mùa hạ xa xăm, có hình dáng một phụ nữ. Hình người ấy nói gì đó với bà Owens mà không ai khác nghe được, rồi biến mất. "Chị ấy sẽ không quay lại đây đâu”, bà Owens nói. "Khi thức dậy thì chị ấy sẽ ở nghĩa địa của chính mình, hoặc là ở bất cứ nơi đâu mà chị ấy đang đến." Bà Owens cúi xuống bên đứa bé và chìa tay ra. "Lại đây nào”, bà âu yếm nói. "Lại đây với mẹ nào”. Khi gã đàn ông tên Jack bước trên lối đi cắt ngang nghĩa địa đến chỗ họ, dao lăm lăm trong tay, hắn thấy dường như dưới ánh trăng, một dải sương đã cuộn quanh đứa bé, rồi đứa bé biến mất: chỉ còn lại màn sương ẩm ướt, ánh trăng và lớp cỏ đang ngả nghiêng trong gió. Hắn chớp chớp mắt đánh hơi không khí. Có điều gì đó vừa xảy ra, nhưng hắn không biết là điều gì. Hắn gầm ghè trong họng như một con thú săn mồi, bực dọc và giận dữ. "Có ai ở đây không?" gã đàn ông tên Jack cất tiếng gọi, băn khoăn không biết có phải đứa bé đã trốn đằng sau một cái gì đó không. Giọng hắn khàn khàn, trầm dục, với một thoáng the thé kỳ lạ, như thể ngạc nhiên hay bối rối khi nghe thấy chính mình lên tiếng. Khu nghĩa địa vẫn giữ kín bí mật của mình. "Có ai ở đây không?" hắn lại gọi. Hắn hy vọng sẽ nghe thấy đứa bé khóc hoặc bi bô, hoặc nghe thấy tiếng nó cử động. Hắn không ngờ lại nghe thấy một giọng nói êm như nhung, hỏi lại. "Tôi giúp gì được ông không?" Gã đàn ông tên Jack vốn là người cao. Người đàn ông này còn cao hơn. Gã đàn ông tên Jack mặc quần áo sẫm màu. Quần áo của người đàn ông này còn sẫm màu hơn. Người nào để ý đến gã đàn ông tên Jack lúc hắn đang thực hiện công việc của mình - mà hắn không thích bị để ý - đều thường cảm thấy lo ngại, không yên, hoặc bỗng thấy sợ hãi không sao hiểu nổi. Gã đàn ông tên Jack ngước nhìn người lạ mặt nọ, và chính gã lại là kẻ cảm thấy lo ngại. "Tôi đang tìm một người," gã đàn ông tên Jack đáp, luồn tay phải vào túi áo khoác để giấu kín con dao, nhưng vẫn nắm nó trong tay phòng khi cần đến. "Trong một khu nghĩa địa bị khóa kín, giữa lúc đêm hôm ư?" người lạ mặt hỏi. "Chỉ là một đứa bé thôi," Jack nói. "Tôi đang đi qua đây thì nghe thấy tiếng trẻ con khóc, và khi nhìn qua cổng tôi đã trông thấy nó. Nếu là người khác thì họ cũng làm thế thôi, phải không?" "Tôi xin hoan nghênh tinh thần cộng đồng của ông”, người lạ mặt nói. "Nhưng nếu tìm được đứa bé này thì ông định đưa nó ra khỏi đây bằng cách nào? Ông không thể bế đứa bé trèo qua tường được”. "Tôi sẽ gọi cho đến khi có người đến giúp tôi ra," gã đàn ông tên Jack trả lời. Có tiếng chùm chìa khóa lách cách. "Vậy đấy, thế thì đó sẽ là tôi rồi," người lạ mặt nói. "Tôi sẽ phải mở cổng cho ông ra thôi." Người đó chọn một chiếc chìa lớn từ trong chùm rồi nói, "Đi theo tôi." Gã đàn ông tên Jack theo sau người lạ mặt. Hắn lôi con dao từ trong túi ra. "Hẳn ông là bảo vệ ở đây?" "Tôi ấy à? Nói theo một cách nào đó thì đúng thế”, người lạ mặt đáp. Họ đang đi về phía cánh cổng, và gã Jack dám chắc họ đang đi khỏi chỗ có đứa bé. Nhưng lão bảo vệ có chìa khóa. Hắn chỉ việc tặng cho lão một nhát dao trong bóng tối, rồi sẽ được tự do tìm kiếm đứa bé suốt đêm, nếu cần. Hắn giơ dao lên. "Nếu có một đứa bé thật," người lạ mặt nói, không hề ngoảnh lại, "thì nó sẽ không có trong nghĩa địa này. Chắn hẳn ông đã nhầm. Dù sao thì chuyện một đứa bé mò đến đây cũng khó có thể xảy ra. Có lẽ ông đã nghe thấy tiếng một con chim đêm, và nhìn thấy một con mèo hoặc con cáo. Ông biết đấy, ba mươi năm trước, khi lễ tang cuối cùng được tổ chức ở đây, họ đã chính thức tuyên bố nơi này là khu bảo tồn tự nhiên. Giờ thì hãy nghĩ cho kỹ, và cho tôi biết ông có chắc chắn là ông đã nhìn thấy một đứa bé không?” Gã đàn ông tên Jack ngẫm nghĩ. Người lạ mặt mở cánh cổng phụ. "Có lẽ là một con cáo," người ấy nói. "Chúng thường phát ra những tiếng kêu rất lạ, không phải là không có phần giống tiếng người khóc. Ông đã nhầm khi đến khu nghĩa địa này, thưa ông. Đứa bé ông tìm kiếm đang đợi ông ở đâu đó, nhưng nó không có ở đây”. Và người ấy để cho ý nghĩ đó bắt rễ trong đầu gã đàn ông tên Jack một hồi lâu, trước khi đẩy cánh cổng phụ mở ra bằng một điệu bộ hoa mỹ. "Rất vui đã được làm quen với ông” người đó nói. "Và tôi tin rằng ông sẽ tìm được tất cả những gì ông cần ở ngoài kia” Gã đàn ông tên Jack đứng ngoài cánh cổng nghĩa địa. Người lạ mặt đứng bên trong cổng, rồi người ấy khóa cổng lại và cất chiếc chìa đi. "Ông đi đâu vậy?" gã đàn ông tên Jack hỏi. "Còn có những cánh cổng khác” người lạ mặt đáp. "Ô tô của tôi đậu ở phía bên kia đồi. Đừng bận tâm đến tôi. Thậm chí ông còn không cần phải nhớ cuộc trò chuyện này nữa kia." "Không," gã đàn ông tên Jack thân thiện đáp lại. "Tôi không nhớ." Hắn chỉ nhớ rằng mình đã lang thang lên đồi, rằng cái mà hắn ngỡ là đứa bé hóa ra chỉ là một con cáo, rằng một người bảo vệ đầy thiện chí đã đưa hắn ra ngoài phố. Hắn đút con dao vào cái vỏ trong túi áo. "Thôi” hắn nói. "Xin chào ông." "Chúc ông buổi tối tốt lành," người lạ mặt mà Jack ngỡ là người bảo vệ đáp lại. Gã đàn ông tên Jack đi xuống đồi để đuổi theo đứa bé. º º º Từ trong bóng tối, người lạ mặt nhìn theo Jack cho đến khi hắn đã ra khỏi tầm mắt. Rồi người ấy đi xuyên qua bóng đêm, trèo lên cao hơn, đến tận khoảng đất bằng bên dưới đỉnh đồi, nơi có một đài tưởng niệm cùng một tảng đá phẳng đặt nằm trên mặt đất để tưởng nhớ hương hồn ngài Josiah Worthington, người nấu rượu của thành phố, chính trị gia, và sau này là nam tước, người mà ba trăm năm trước đã mua khu nghĩa địa cũ cùng khoảng đất xung quanh rồi đem tặng vĩnh viễn cho thành phố. Ngài Josiah đã tự dành cho mình vị trí tốt nhất trên đồi - một giảng đường thiên tạo, nơi người ta có thể nhìn thấy được toàn bộ thành phố và xa hơn thế - và đảm bảo chắc chắn rằng khu nghĩa địa luôn được duy trì làm nghĩa địa, mà chính vì điều đó các cư dân của nghĩa dịa hết sức biết ơn ngài, nhưng Nam tước Josiah Worthington luôn cảm thấy họ chưa bao giờ tỏ ra biết ơn cho đầy đủ. Tính cả thảy thì trong nghĩa địa có chừng mười ngàn linh hồn, nhưng phần lớn đều đang say giấc ngàn thu, không quan tâm gì đến những việc xảy ra hàng đêm ở đây, và trên giảng đường lúc này, dưới ánh trăng, chỉ có chưa đầy ba trăm người. Người lạ mặt đi đến chỗ họ một cách lặng lẽ chẳng khác nào màn sương, đứng quan sát cuộc họp từ trong bóng tối và không nói gì. Josiah Worthington đang phát biểu. Ngài nói, "Thưa bà thân mến. Sự ngoan cố của bà thật là... ờ, bà không thấy chuyện này nực cười đến thế nào ư?" "Không," bà Owens đáp. 'Tôi không thấy thế." Bà đang ngồi xếp bằng trên nền đất, đứa bé còn sống nằm ngủ trong lòng. Bà nâng niu đầu nó bằng hai bàn tay trong veo. "Thưa ngài, xin phép ngài, ý bà nhà tôi định nói là bà ấy không nhìn nhận chuyện này theo cách đó," ông Owens đang đứng cạnh bà nói. "Bà ấy chỉ coi đó là bổn phận của mình." Ông Owens đã từng gặp Josiah Worthington bằng xương bằng thịt khi họ đều còn sống, chính ông đã đóng mấy món đồ gỗ tinh xảo trong dinh thự của dòng họ Worthington ở gần Inglesham, và giờ ông vẫn còn thấy sợ ngài Nam tước. “Bổn phận của bà ấy?" Nam tước Josiah Worthington lắc đầu như muốn rũ một dải mạng nhện bám trên tóc. "Bổn phận của bà, thưa bà, là đối với nghĩa địa này, đối với cộng đồng này, cộng đồng những linh hồn, ma quỷ và các thứ khác đại loại thế, và bổn phận của bà là đem đứa bé này trả về nhà của nó càng sớm càng tốt - và nhà của nó không phải là ở đây." "Mẹ thằng bé đã trao nó cho tôi," bà Owens nói như thể đó là tất cả những gì cần được thốt ra. "Thưa bà thân mến..." "Tôi không phải là bà thân mến của ông," bà Owens nói và dứng dậy. "Thật tình tôi thậm chí còn không hiểu sao tôi lại phải ở đây, nói chuyện với mấy ông già xuẩn ngốc như các ông, trong khi thằng bé này sắp sửa tỉnh dậy, rồi nó sẽ thấy đói bụng và tôi biết tìm đâu ra thức ăn cho nó trong cái nghĩa địa này bây giờ?" "Đó chính là điều chúng tôi định nói đấy," Caius Pompeius nghiêm nghị nói. "Bà sẽ cho nó ăn gì đây? Bà sẽ làm cách nào chăm lo cho nó đây?" Mắt bà Owens lóe sáng. "Tôi có thể chăm sóc cho nó tốt không kém gì mẹ đẻ của nó," bà nói. "Mẹ nó đã trao nó cho tôi. Nhìn này: tôi đang ôm nó trong tay, phải không nào? Tôi đang chạm vào nó đấy thôi” "Nào, hãy tỏ ra biết điều một chút, Betsy," Má Slaughter, một bà già nhỏ bé với cái mũ to tướng và chiếc áo choàng mà má thường mặc khi còn sống và đã mặc khi được an táng. "Nó sẽ ở đâu bây giờ?" "Ở ngay đây” bà Owens đáp. "Chúng ta sẽ cho nó Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa” Miệng Má Slaughter biến thành một chữ o nhỏ xíu. "Nhưng mà," má lên tiếng. Rồi má nói, "Thật là chuyện chưa từng thấy bao giờ”. "Thế thì sao nào? Đây đâu phải lần đầu chúng ta cho một người ngoài Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa." "Đúng thế," Caius Pompeius nói. "Nhưng anh ta có phải người sống đâu." Khi nghe thấy vậy, người lạ mặt nhận ra dù muốn hay không mình đã bị kéo vào cuộc trò chuyện. Người ấy miễn cưỡng bước ra khỏi màn đêm, đứng tách xa khỏi những người khác như một mảng bóng tôi. "Không," người đó đồng tình. "Tôi không phải người sống. Nhưng tôi đồng ý với bà Owens." Josiah Worthington hỏi, "Thật thế sao, Silas?" "Đúng vậy. Dù vì điều tốt hay xấu - mà tôi tin chắc là vì lòng tốt - thì ông bà Owens cũng đã nhận bảo trợ đứa bé. Nhưng để nuôi dưỡng đứa bé này thì sẽ phải cần nhiều hơn hai linh hồn nhân hậu. Sẽ phải cần đến toàn thể nghĩa địa” Silas nói. "Thế còn thức ăn và những thứ khác thì sao?" "Tôi có thể ra khỏi nghĩa địa và quay lại. Tôi sẽ đem thức ăn về cho nó," Silas đáp. "Anh nói nghe hay lắm” Má Slaughter nói. "Nhưng anh đi đi về về, có ai biết được anh đi những đâu. Nếu anh bỏ đi cả tuần trời thì thằng bé chết đói mất." "Má quả là người khôn ngoan” Silas nói. "Tôi đã hiểu tại sao mọi người tôn trọng má đến thế." Anh ta không thể điều khiển trí não của người chết như từng làm với người sống, nhưng có thể dùng tất cả những lời tâng bốc và thuyết phục mà mình có được, bởi vì con người dù đã chết thì vẫn không miễn dịch được với hai thứ đó. Rồi anh đi đến một quyết định. "Được thôi. Nếu ông bà Owens nhận làm bố mẹ đứa bé thì tôi sẽ là người bảo trợ cho nó. Tôi sẽ ở lại đây, và nếu phải đi xa thì tôi sẽ đảm bảo có người thế chỗ tôi, đem thức ăn về và chăm sóc nó. Chúng ta có thể cho nó ở trong hầm mộ nhà thờ” "Nhưng mà," Josiah Worthington lớn tiếng. "Nhưng mà. Một đứa trẻ. Một đứa trẻ còn sống. Ý tôi là, ý tôi là, ý tôi là. Chết tiệt, đây là nghĩa địa chứ có phải nhà trẻ đâu." "Chính thế," Silas gật đầu. "Ngài nói rất đúng, thưa Nam tước Josiah. Chính tôi cũng không thể nói đúng hơn. Và nếu không vì lý do nào khác, thì chính vì lý do đó, điều tối quan trọng là đứa bé phải được nuôi nấng với sự hạn chế tối đa ảnh hưởng của nó đối với, xin nói mạn phép các vị, đối với cuộc sống của nghĩa địa." Nói đoạn Silas bước đến bên cạnh bà Owens, cúi nhìn đứa bé đang nằm ngủ trong vòng tay bà và nhướn mày. "Nó có tên chứ, bà Owens?" "Mẹ nó không cho tôi biết," bà đáp lại. "Cũng chẳng sao," Silas nói. "Dù gì thì bây giờ cái tên cũ của nó cũng chẳng có ích gì lắm. Có những kẻ ngoài kia đang muốn hại nó. Có lẽ chúng ta nên đặt cho nó một cái tên mới chăng?" Caius Pompeius bước đến ngắm nghía đứa bé. "Trông nó hơi giống ngài thống đốc Marctis của tôi. Hãy gọi nó là Marcus." Josiah Worthington nói, "Trông nó giống lão làm vườn Stebbins của tôi hơn. Nhưng tôi không gợi ý đặt tên nó là Stebbins đâu. Lão ta uống rượu như hũ chìm ấy." "Trông nó giống cậu cháu Harry của tôi” Má Slaughter nói, và đến lúc có vẻ như toàn thể nghĩa địa sắp sửa chêm vào, mỗi người góp một ý so sánh đứa bé với một người quen nào đó từ xa xưa lắm rồi, thì bà Owens lên tiếng. 'Trông nó chẳng giống ai cả, ngoại trừ chính nó” bà Owens nói. "Nó không giống ai cả." "Thế thì hãy gọi nó là Không Ai Cả, Nobody," Silas nói. "Nobody Owens." Đúng lúc ấy, như thể đáp lại cái tên mới, thằng bé mở to mắt thức giấc. Nó nhìn xung quanh, ngắm khuôn mặt những người chết, ngắm màn sương và vầng trăng. Rồi nó đưa mắt nhìn Silas. Cái nhìn của nó không hề dao động. Nó có vẻ hết sức nghiêm trang. "Nhưng ai lại đặt tên là Không Ai Cả!" Má Slaughter phẫn nộ kêu lên. "Đó là tên nó. Một cái tên hay” Silas nói với má. "Cái tên ấy sẽ giúp bảo vệ thằng bé." "Tôi không muốn gặp chuyện rắc rối đâu," Josiah Worthington nói. Đứa bé ngước lên nhìn ngài Nam tước, và rồi, vì đói, vì mệt, hay chỉ vì nhớ nhà, nhớ gia đình, nhớ thế giới cũ của mình, bộ mặt nhỏ xíu của nó co rúm lại và nó òa khóc. "Bà hãy để chúng tôi nói chuyện riêng," Caius Pompeius bảo bà Owens. "Chúng tôi sẽ bàn bạc việc này." Bà Owens đứng đợi ngoài nhà thờ. Bốn mươi năm trước, tòa nhà vốn là một nhà thờ nhỏ có mái nhọn này đã được tuyên bố là một công trình lịch sử được xếp hạng. Hội đồng thành phố quyết định rằng để tu sửa lại nhà thờ là quá tốn kém, vì nó chỉ là một nhà thờ nhỏ xíu trong một khu nghĩa địa đầy cỏ dại đã không còn hợp thời nữa, vậy là họ khóa cửa lại đợi cho nó sụp xuống. Dây trường xuân leo khắp tòa nhà, nhưng nó được xây dựng rất chắc chắn, và trong thế kỷ này thì vẫn chưa chịu đổ xuống. Thằng bé đã thiếp ngủ trong vòng tay bà Owens. Bà nhẹ nhàng đu đưa, hát cho nó nghe bài ru cổ mà mẹ bà đã hát ru bà khi bà còn bé, vào cái thời đàn ông mới bắt đầu đội tóc giả rắc phấn. Bài hát ấy như thế này: Hãy ngủ đi bé yêu của mẹ Ngủ cho đến khi con thức dậy Lớn lên con sẽ đuợc thấy thế gian Nếu mẹ không nhầm Hôn một người thương Nhảy một điệu vui Tìm thấy tên mình Cùng một kho báu đã bị chôn vùi... Bà Owens hát đến đó thì chợt nhận ra bà không còn nhớ bài hát kết thúc như thế nào nữa. Bà mang máng nhớ là câu cuối cùng có gì đó liên quan đến "mấy miếng thịt xông khói đầy lông” nhưng có lẽ đó lại là một bài hát khác hẳn, vì thế bà thôi không hát bài ấy nữa mà chuyển sang một bài về Chú Cuội ngồi trên Cung Trăng, rồi sau đó bà hát, bằng cái giọng nông thôn ấm áp của mình, một bài mới được sáng tác gần đây, về một chú bé mút ngón tay cái rồi rút ra một quả mận, và bà vừa bắt đầu bài balad dài dằng dặc về một chàng trai nông thôn không hiểu vì sao lại bị người yêu đầu độc bằng món lươn đốm, thì Silas đi từ cửa bên nhà thờ ra, mang theo một cál hộp các tông. "Đây, bà Owens," anh nói. “Cả đống thứ cần cho một chú bé đang lớn nhé. Chúng ta có thể để nó dưới hầm mộ, được đấy chứ?" Cái khóa móc bật mở trong tay Silas và anh đẩy cánh cửa sắt ra. Bà Owens bước vào trong, nghi ngại liếc nhìn những cái giá và những chiếc ghế gỗ dài cũ kỹ xếp đống dựa vào một bức tường. Ở góc nhà thờ có một đám hộp mốc meo chất đầy sổ sách cũ của giáo xứ, và ở góc khác, một cánh cửa mở ra cho thấy một bồn cầu giật nước thời Victoria, một cái chậu rửa chỉ có độc vòi nước lạnh. Đứa bé mở mắt nhìn quanh. "Chúng ta có thể cất thức ăn ở đây” Silas nói. "Dưới này mát, thức ăn sẽ để được lâu hơn” Anh thò tay vào trong hộp lôi ra một quả chuối. "Cái gì vậy?" bà Owens hỏi, liếc nhìn cái vật màu vàng đốm nâu vẻ nghi ngờ. "Đây là quả chuối. Một thứ quả miền nhiệt đới. Tôi nghĩ để ăn thì phải bóc vỏ ra," Silas nói, "như thế này này." Thằng bé - Không Ai Cả - cựa quậy trong tay bà Owens, vậy là bà đặt nó xuống sàn nhà lát đá. Nó lẫm chẫm bước nhanh đến bên Silas, túm ống quần anh và giữ chặt lấy. Silas đưa cho nó quả chuối. Bà Owens ngắm thằng bé ăn chuối. "Ch-u-ối," bà nói vẻ hồ nghi. "Chưa nghe bao giờ. Chưa bao giờ. Mùi vị của nó ra sao?" "Tôi có biết gì đâu” Silas đáp, anh chỉ dùng một thứ thức ăn duy nhất, và thứ ấy không phải là chuối. "Bà biết không, bà có thể dọn cho thằng bé một cái giường ở đây được đấy” "Tôi sẽ không làm thế trong khi ông Owens và tôi có một ngôi mộ nhỏ xinh ở ngay bên luống thủy tiên vàng. Ở đấy có khối chỗ cho thằng bé. Hơn nữa” bà nói thêm, sợ Silas sẽ nghĩ là bà đang từ chối lòng hiếu khách của anh, "tôi không muốn thằng bé làm phiền anh” "Có phiền gì đâu” Đứa bé đã ăn xong quả chuối. Những gì nó không ăn thì giờ nhoe nhoét khắp cả người. Nó toét miệng cười, má dính đầy chuối, ửng hồng như hai quả táo. "Chúi” nó vui sướng kêu lên. "Thằng bé mới tinh khôn làm sao” bà Owens nói. "Và bôi bẩn ra khắp nơi rồi! Nào, yên nào, thằng nhóc hay cựa quậy này..." và bà nhặt hết những mẩu chuối dính trên quần áo, tóc tai nó. Bà hỏi, "Anh nghĩ họ quyết định thế nào?" "Tôi không biết." "Tôi không thể bỏ nó được. Nhất là sau khi tôi đã hứa với mẹ nó." "Tuy đã từng làm rất nhiều việc trong đời," Silas nói, "nhưng tôi chưa bao giờ làm mẹ cả. Và tôi cũng không định bắt đầu làm mẹ vào lúc này đâu. Nhưng tôi có thể rời khỏi nơi này..” Bà Owens nói đơn giản, "Tôi thì không. Thân xác của tôi nằm ở đây. Cả ông nhà tôi cũng vậy. Tôi chẳng bao giờ rời đi đâu cả." "Có một nơi nào đó mà ta thuộc về kể cũng tốt" Silas nói. "Một nơi ta có thể gọi là nhà." Trong lời nói của anh không có vẻ khao khát. Giọng anh còn khô hơn cả sa mạc, và anh thốt ra những lời ấy như thể chỉ là đang nói lên một điều không thể tranh cãi. Và bà Owens cũng không tranh cãi. "Anh nghĩ chúng ta còn phải đợi lâu nữa không?" "Không lâu nữa đâu," Silas nói, nhưng anh đã nhầm. Ở giảng đường bên sườn đồi, cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục. Việc hai vợ chồng nhà Owens, chứ không phải một con ma mới càn quấy nông nổi nào đó, lại vướng vào chuyện vớ vẩn này khiến mọi người rất chú ý, vì nhà Owens là những người đáng kính và được tôn trọng. Việc Silas tình nguyện làm người bảo trợ cho thằng bé cũng có một ảnh hưởng lớn - người dân trong nghĩa địa luôn có một nỗi kính sợ thận trọng đối với Silas, người có thể tồn tại ở vùng ranh giới giữa thế giới của họ và cái thế giới họ đã để lại phía sau. Thế nhưng, thế nhưng... Một khu nghĩa địa thường không theo chế độ dân chủ, nhưng cái chết lại là một nền dân chủ vĩ đại, và mỗi người chết đều có tiếng nói cùng ý kiến của riêng mình về việc đứa bé còn sống kia có được phép ở lại đây không, và đêm đó thì ai ai cũng muốn được phát biểu. Vào tiết thu muộn, trời thường lâu sáng. Dù trời vẫn còn tối, nhưng giờ đã có tiếng xe cộ đi từ dưới đồi lên, và khi người sống bắt đầu lái xe đi làm trong buổi bình minh tối đen mờ sương, thì những người chết lại bàn bạc về đứa bé đã lạc đến chỗ họ và họ nên làm gì với nó. Ba trăm giọng nói. Ba trăm ý kiến. Nehemiah Trot, thi sĩ, đến từ phía Tây Bắc đổ nát của nghĩa địa, bắt đầu hùng hồn trình bày suy nghĩ của mình, nhưng không ai có thể nói được những suy nghĩ ấy là gì vì một việc đã xảy ra; một việc khiến cho mọi cái miệng đang hùng hồn lên tiếng phải câm lặng, một việc chưa từng xảy ra trong lịch sử khu nghĩa địa này. Một con ngựa trắng khổng lồ, loại mà những người sành ngựa thường gọi là "ngựa xám” đi nước kiệu lên sườn đồi. Trước khi nhìn thấy, người ta đã nghe thấy tiếng vó nện cùng những tiếng rầm rầm khi con ngựa xông qua các bụi rậm nhỏ, xuyên qua đám mâm xôi, trường xuân và kim tước mọc trên sườn đồi. Nó to bằng một con ngựa thồ, ít nhất phải cao mười chín gang tay. Đó là con ngựa có thể chở trên lưng một hiệp sĩ giáp trụ đầy đủ xông vào giữa trận chiến, nhưng trên cái lưng không đóng yên của nó chỉ là một người phụ nữ mặc đồ xám từ đầu đến chân. Chiếc váy dài và khăn choàng của bà nom như được dệt bằng tơ cổ. Bà có gương mặt hế

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tình Yêu Không Mật Mã - Kinh Hồng
Trong sự pha trộn phức tạp giữa trắng và đen, trong sự giày vò của tình yêu. Tô Cẩm phải làm như thế nào? Cô đã gặp rất nhiều bế tắc trong công việc, tình cảm với nhiều đau khổ và tuyệt vọng, có lúc tưởng như không còn con đường sống cho mình nữa, nhưng trải qua tất cả những điều đó, cô đã hiểu ra được ý nghĩa của cuộc sống và giá trị đích thực của tình yêu. Từ một cô gái yếu đuối, có đôi mắt trong sáng ngây thơ như trẻ con, cô đã trưởng thành hơn và tìm được hạnh phúc thật sự cho mình. Có lẽ mỗi người đều trải qua những phút giây như thế, mặc dù đau khổ nhưng không thể không đối mặt. Chỉ có như vậy, mới không bị mây mù làm mờ mắt, mới có thể nhìn rõ được phương hướng mà mình muốn tiến tới. *** Từng tờ tiền mới tinh được đếm ào ào qua ngón tay, ngay cả không khí cũng có mùi vị đặc biệt. Đôi tay đếm tiền là của một người đàn ông, ngón tay rất trắng, móng tay có màu hồng khỏe mạnh, được cắt sửa gọn gàng. Đây là đôi tay của một cậu ấm. Lần đầu tiên Tô Cẩm nghe bạn bè gọi như thế, trong lòng cảm thấy không thoải mái. Cô luôn cảm thấy mặc dù gia thế của Ngạc Lâm rất khá, bản thân anh cũng thích mặc quần áo hàng hiệu, thích đi ăn ở những nơi cao cấp nhưng đánh giá phẩm chất con người qua thói quen sinh hoạt thì thật là không công bằng. Ai đã nhìn thấy cậu ấm có xe ô tô mà không đi, tự đạp xe đạp đến chỗ làm? Liệu có cậu ấm nào chịu làm ở một nơi vừa nguy hiểm vừa khổ cực như cục cảnh sát sáu, bảy năm trời? Vì thế, mỗi khi nghe bạn bè gọi đùa anh ấy là “cậu ấm”, Tô Cẩm luôn nắm chặt tay lại, thay Ngạc Lâm bảo vệ hình ảnh của anh. Tuy nhiên, lúc này, cách một bàn bày đầy ắp thức ăn, Tô Cẩm chậm rãi ngắm nhìn anh, từ kiểu tóc thời trang, đến mấy chiếc hoa tai lấp lánh, sợi dây chuyền cũng sáng bóng trên cổ, chiếc áo sơ mi không đoán được giá, chỉ biết đó không thể là một chiếc áo rẻ tiền, cuối cùng ánh mắt dừng lại ở chiếc đồng hồ Rolex kiểu mới trên cổ tay. Tô Cẩm không thể không thừa nhận, Ngạc Lâm khi không mặc cảnh phục thì đích thị là một cậu ấm thực thụ. Chỉ tiếc là bản thân từ trước đến giờ không phát hiện ra, hay thành thật mà nói, cô luôn không chịu thừa nhận điều này. Có lẽ khi bắt đầu quen biết, Ngạc Lâm đã để lại trong cô ấn tượng vô cùng sâu đậm, đến mức, cho dù sau này anh có thay đổi như thế nào đi chăng nữa thì hình ảnh của anh trong cô vẫn giống hệt như ấn tượng lúc ban đầu. Tô Cẩm vẫn nhớ đó là một ngày mùa hè, khoảng thời gian nóng nhất trong năm, sau khi hoàn thành bản báo cáo thực tập tại một đơn vị, cô và các bạn đang ngồi ăn kem ở bên đường, đột nhiên có tiếng ồn ào từ ngõ nhỏ phía sau vang lên. Miệng vẫn ngậm thìa kem, Tô Cẩm vô tình quay đầu lại và nhìn thấy anh ấy. Anh mặc bộ quân phục cảnh sát đẫm mồ hôi, đang đứng bên đường quát đám trẻ mới lớn vừa đánh nhau một trận. Mũ anh đội hơi lệch, cổ áo phanh ra không đúng với quy định, nhìn giống như một cảnh sát có dáng vẻ hơi ngông nghênh… Khi Tô Cẩm vẫn đang ngẩn ngơ hồi tưởng, thì Ngạc Lâm đã đếm xong tiền, cất vào phong bì rồi tiện tay ném lên mặt bàn. Tô Cẩm bị tiếng động nhẹ phát ra từ chiếc phong bì khiến cho bừng tỉnh, hỏi: “Đếm xong chưa?”. Ngạc Lâm khuấy khuấy ống hút trong cốc nước lạnh, lông mày anh nhíu lại có vẻ hơi mất kiên nhẫn, “Em lại làm sao thế? Động một tý lại lấy năm mươi ngàn tệ này ra để dọa anh. Anh đã nói rồi, sau này lương của anh được bao nhiêu anh cũng đưa hết cho em…”. Tô Cẩm cúi đầu, sống mũi hơi cay. Cô có nên nhẫn nhịn hay không? Đây luôn luôn là vấn đề tồn tại giữa hai người. Ngạc Lâm vươn tay qua bàn xoa đầu cô, giọng nói trở nên dịu dàng hơn, “Được rồi, được rồi! Khi mình bắt đầu tiết kiệm tiền, mặc dù đã thỏa thuận là ai đề nghị chia tay trước thì số tiền này sẽ thuộc về người kia, nhưng em đừng tức giận một chút là lại đưa số tiền này ra để dọa anh, động một tý lại nói chia tay, em không thấy chán sao?”. Tô Cẩm nghiêng người ra sau để tránh bàn tay của anh, “Trước ngày hôm nay, em từng nói với anh là chia tay rồi sao? Ngạc Lâm, anh nhớ nhầm em với ai rồi?”. Ngạc Lâm bất giác lặng người, ánh mắt lộ rõ sự ngạc nhiên, giống như anh đang đứng trước một đứa trẻ làm ầm ĩ một cách vô cớ, “Rốt cuộc là thế nào? Có phải là việc tìm nhà khiến em không vừa ý? Anh đã nói trước rồi, tìm nhà là một việc vất vả, em không nên quá vội vàng…”. “Không thế nào cả”, Tô Cẩm tránh ánh mắt của anh, buồn bã cúi đầu, “Em muốn mua nhà là muốn yên ổn để sống. Không phải… không phải đợi đến lúc làm vợ lẽ của ai đó”. Tay Ngạc Lâm cứng lại, “Em nói lung tung gì thế?”. “Ngạc Lâm!” Tô Cẩm nghẹn ngào một lúc, cúi đầu hỏi anh: “Anh luôn nghĩ em là đứa rất ngốc phải không? Thế nên mới lấy em ra để trêu đùa. Anh được nhiền fan hâm mộ quá nên lấy em ra làm lá chắn. Đợi đến bao giờ anh gặp được người anh thích sẽ đem em cất vào kho để dự trữ phải không?”. Ngạc Lâm không thể giữ được bình tĩnh, đặt cốc nước sang một bên. Nước mơ hồng là loại đồ uống ưa thích của phụ nữ, thứ đồ uống ngọt ngào như vậy không hợp với người đàn ông to lớn này nhưng anh lại rất thích, đến mức mà mỗi lần đi ăn với anh, người phục vụ đem đồ uống đến đều đặt thứ nước đó trước mặt Tô Cẩm. Tô Cẩm lặng nhìn thứ nước màu hồng trong cốc, lần đầu tiên nhận thấy rằng, người đàn ông thích loại đồ uống này vẫn giống một đứa trẻ chưa lớn. “Dạo này anh hơi bận, bên đơn vị vẫn phải làm thêm giờ.” Giọng của Ngạc Lâm bắt đầu mất bình tĩnh, “Ngày lễ của phương Tây đâu phải là vấn đề, nếu em chán thì chúng ta đi về thôi. Không phải là em cũng muốn ra ngoài sao? Thu đồ xong chưa?”. Hai tay của Tô Cầm để dưới khăn trải bàn nắm chặt lại. Anh ấy nói không sai, ngày lễ Tình nhân vốn dĩ là của phương Tây. Nhưng trong một ngày như thế này - Tô Cẩm chỉ ngẩng đầu là có thể nhìn thấy phía ngoài cửa, rất nhiều người đang đi trên đường, phần nhiều là các cô gái tay khoác người yêu, tay ôm hoa hồng. Một ngày như thế này - ngay cả không khí cũng mang hương vị của hoa hồng, làm sao cô có thể tiếp tục giữ những điều vốn dĩ đã không tồn tại để tiếp tục dối lừa chính mình? Cuối cùng, sau rất nhiều giằng co, cuộc đấu tranh giữa nhẫn nhịn và không nhẫn nhịn đã nghiêng về một phía. Tô Cẩm hít một hơi thật sâu rồi chầm chậm ngẩng đầu, “Vâng, chúng ta đều rất bận, vì thế hôm nay em gọi anh đến đây, ngoài việc trả tiền, chỉ muốn hỏi anh một câu: Ngày mùng 6 tháng sau, lúc 10 giờ sáng, tại khách sạn Hyatt, người đặt hai mươi mâm cỗ đính hôn có phải là anh không?”. Khi hỏi xong câu đó, Tô Cẩm cảm thấy tim mình như thắt lại. Cô biết cô nên ngẩng đầu và nhìn thẳng vào mặt anh. Nhưng khi nói được một nửa, cô lại hụt hơi, thế là câu hỏi thốt ra từ miệng thay vì một lời chất vấn hùng hồn lại không bằng một lời yêu cầu chứng thực yếu ớt - ngay cả bản thân cô cũng thấy rõ sự bất lực trong tiếng nói của mình, thật đáng thương. Tô Cẩm rất muốn tát mình một cái, nhưng sự ảo não nhanh chóng biến thành sợ hãi trước vẻ trầm mặc của Ngạc Lâm. Con người này vốn hơi có chút ngông nghênh, ham chơi, vừa hút thuốc vừa uống rượu… Nhưng từ lúc cô thực tập tốt nghiệp đến lúc chạy khắp nơi nộp đơn xin việc, từ khi tìm thuê phòng khắp nơi đến khi chuyển đến làm việc ở đây, anh đã chứng kiến những trải nghiệm quan trọng nhất trong cuộc đời cô, anh cũng là người bạn trai chính thức đầu tiên của cô. Mắt của Tô Cẩm đỏ lúc nào không hay, “Thế là đúng rồi?”. Ngạc Lâm bực bội vò đầu, “Em à, em cũng biết quê của mẹ anh ở Tứ Xuyên mà, vì thế bà rất thích có cô dâu ở quê. Sức khỏe của bà lại không tốt, anh không thể…”. Nghe thấy anh lại đem mẹ ra làm lá chắn, không biết vì sao, sự buồn bã trong lòng Tô Cẩm trở nên quyết liệt, “Thật vậy sao? Nhưng con gái của phó thị trưởng Trần sinh ra ở thành phố T, lớn lên tại thành phố T, bố là người Bắc Kinh, mẹ là người Thượng Hải. Gia đình họ và gia đình anh là… đồng hương từ đời trước sao?”. Anh bỗng nhiên lừa cô? Hay vẫn lừa cô từ trước mà cô không hề biết? “Ngạc Lâm, anh là đồ khốn nạn.” Nước mắt của Tô Cẩm chảy ra, “Thiếp mời của nhà anh đã phát đi rồi, anh còn dùng những lời này lấp liếm tôi? Anh thật sự chỉ muốn che giấu tôi để tôi làm vợ bé của anh?”. “Kỳ thực…”, Ngạc Lâm đưa tay ra định nắm lấy tay cô bị cô tránh né đành hậm hực thu lại, “Kỳ thực anh luôn muốn nói với em, nhưng…”. “Nhưng cảm thấy không cần thiết, phải không?” Tô Cẩm vò nát chiếc khăn giấy trong tay. Vốn dĩ không muốn khóc, nhưng khi cô ngẩng đầu lên, nước mắt vẫn chảy ra không sao dừng được, “Cho dù anh muốn nói sao thì nói, anh nghĩ rằng tôi không thể sống thiếu anh, phải không?”. “Sức khỏe của mẹ anh không tốt, em cũng biết…”, Ngạc Lâm nhìn xuống, lòng dạ rối bời, “Chúng ta đã ở bên nhau hơn hai năm, nếu anh không thực sự muốn sống cùng em thì sao lại muốn giao tiền lương cho em giữ?”. Tô Cẩm nhìn bàn tay của cậu ấm, nghẹn lời hỏi lại: “Sống cùng nhau như thế nào? Tôi cứ vờ không biết, mua một căn phòng sống với anh, đợi khi nào vợ anh ngủ rồi thì anh đến với tôi để mua vui sao?”. “Em đừng nói như vậy…”, sắc mặt Ngạc Lâm nghiêm lại, không suy nghĩ gì, nắm chặt lấy tay cô, “Em nên hiểu anh…”. “Anh đừng như vậy.” Tô Cẩm rụt tay khỏi tay anh, sắc mặt đanh lại, “Việc này tôi đã do dự rất lâu, tôi luôn nghĩ về tình cảm giữa chúng ta… làm thế nào để giành lại. Nhưng càng nghĩ lại càng cảm thấy… không đáng. Ngạc Lâm, anh cứ kết hôn đi. Bữa cơm này coi như bữa cơm chia tay, tôi mời”. “Tô Cẩm!” Đây là lần đầu tiên Ngạc Lâm gọi tên cô như thế này. Nhưng, cho dù là muốn nói những lời giả dối để an ủi cô hay là chính thức xin lỗi, Tô Cẩm cũng không muốn nghe. Ngoài hai điều này, cô không còn nghĩ ra anh có thể nói nói gì với cô nữa. Vẫy tay gọi người phục vụ, Tô Cẩm xòe ra mấy tờ tiền bảo anh ta lấy thêm vài chai bia. Ngạc Lâm không chịu đựng được, chau mày. Anh biết cô có thể uống được rượu, nhưng trong tình trạng uống từng chai từng chai một như thế này… Tô Cẩm rót đầy cốc rượu của mình, không ngẩng đầu lên, xua tay với Ngạc Lâm, “Cảnh sát Ngạc Lâm, tôi biết anh là người rất bận rộn, tôi không làm lỡ thời gian của anh nữa. Dẫu sao hôm nay cũng là Lễ tình nhân, để vị hôn thê làm thêm giờ là không tốt”. “Tô Cẩm, em nghe anh nói…”, không chờ anh nói hết câu, Tô Cẩm cầm lấy điện thoại ra, vội vàng gọi cho Lâm Chi Chi. Dường như chuông vừa kêu một tiếng đã có người nhận điện thoại. Giọng của Lâm Chi Chi có lẽ còn căng thẳng hơn, “Thế nào rồi, cậu đã hỏi chưa? Anh ta nói sao?”. Ánh mắt của Tô Cẩm liếc nhìn điện thoại của Ngạc Lâm đang rung trên bàn rồi nhanh chóng bị anh tắt máy, “Cảnh sát Ngạc có việc đi trước rồi, cậu đến ăn tối cùng mình đi. Vẫn chỗ cũ”. Ngạc Lâm ngồi đối diện thở dài, “Được, em cứ ngồi với Chi Chi. Tối anh sẽ gọi điện cho em”. Tô Cẩm giả như không nghe thấy lời anh nói, vứt điện thoại sang một bên, nhấp từng ngụm bia nhỏ. Thứ nước đắng chát lành lạnh chảy qua cuống họng, giống như kim châm đi vào dạ dày và bùng cháy ở trong đó khiến cô đau đớn. Điện thoại lại rung đầy thúc giục. Ngạc Lâm bối rối nhìn Tô Cẩm, do dự giây lát, rồi đứng dậy rời đi. “Đợi đã!” Tô Cẩm giật giọng gọi anh, cô đẩy phong bì tiền trên bàn, “Cầm tiền đi!”. Ngạc Lâm thở dài, “Em à, em có nhất thiết phải làm như vậy…”. Ánh mắt của Tô Cẩm sắc như dao, “Tôi gửi trả anh đấy, đừng làm phiền tôi nữa”. Sắc mặt của Ngạc Lâm trở nên rất khó coi, anh cầm chiếc phong bì không nói một lời, quay đầu bước đi không ngoảnh lại. Ánh mắt của Tô Cẩm xuyên qua cốc thủy tinh trong suốt, thấy bóng dáng bị bóp méo trên đó của anh bước ra khỏi khách sạn, biến mất vào bóng đêm ngoài cửa. Từ trước đến giờ, anh ấy vẫn luôn không quay đầu lại. Tô Cẩm uống một hơi hết sạch bia trong cốc. Đột nhiên cô nghĩ đến trong đêm chia tay này, cô đã quên làm một việc vô cùng quan trọng. Trước cuộc hẹn, Lâm Chi Chi đã dặn cô, nếu thực sự phải chia tay, cho dù thế nào thì cũng phải tát anh ta một cái để trút giận, nếu không trong lòng sẽ lưu lại ám ảnh bị người yêu bỏ rơi, ảnh hưởng đến việc đi tìm hạnh phúc sau này. Nhưng cô đã quên mất việc quan trọng đó. Tô Cẩm đau đớn nghĩ: Chi Chi đến nhất định sẽ mắng cô vô dụng. Cô biết Lâm Chi Chi luôn không tôn trọng Ngạc Lâm, luôn nói là anh ấy ngông nghênh, về cơ bản không phù hợp với mình… Nhưng đến bây giờ, phù hợp hay không cũng vậy, đều hoàn toàn không liên quan gì nữa… Tô Cẩm đặt chai bia xuống, uống từng ngụm nhỏ. Rất đắng, nhưng đối với cô, lạnh và đắng như thế này vẫn chưa đủ. Tô Cẩm gối đầu lên cánh tay, chầm chậm xoay cốc bia. Ánh đèn từ đỉnh đầu chiếu xuống thứ dung dịch màu vàng trong cốc bia trong suốt với những bọt khí nhỏ lấp lánh. Tô Cẩm biết tửu lượng của mình. Hoặc là cô luôn luôn đánh giá cao tửu lượng của mình. Thế là, trong đêm lạnh lẽo nhất của một năm ở thành phố này, Tô Cẩm đã không do dự uống cho đến say. Nhận thức mơ hồ, nhưng có nhiều khoảnh khắc lại ghi nhớ rất rõ ràng: Khi Chi Chi dìu cô ra khỏi cửa khách sạn, gió đêm thốc vào mặt cô lạnh buốt; trong căn phòng lạ lẫm ánh sáng mờ ảo, cô bổ nhào đến chiếc bồn vệ sinh nôn thốc, tay Chi Chi vỗ đều đều lên lưng cô. Chi Chi dìu cô đến bồn tắm, nước nóng nhanh chóng vây lấy cơ thể lạnh giá của cô… Ngoài ra, cô không còn nhớ gì nữa. Vì thế, khi cô được ánh sáng buổi sớm đánh thức, mơ màng mở mắt, hoàn toàn không biết là mình đang ngủ ở đâu. Ga gối màu trắng, rõ ràng không phải là họa tiết Mickey ở nhà mình, cũng không phải là họa tiết hoa nhỏ ở nhà Lâm Chi Chi, giống như là… Tô Cẩm ngồi bật dậy, hoảng hốt nhìn quanh, đúng là… phòng khách sạn. Quần áo đã được xếp ngay ngắn đặt trên giường, hình như đã được giặt sạch. Trong phòng không có dấu tích gì, chỉ ngoài… một xấp tiền màu hồng bắt mắt đặt trên chiếc tủ ở đầu giường. Trong đầu Tô Cẩm dội lên một tiếng động lớn, cô run rẩy cầm xấp tiền, bên dưới quả nhiên có một tờ ghi chú. Là một tờ ghi chú của khách sạn, trên mặt giấy ngà vàng có viết dòng chữ to rắn rỏi: Rất hài lòng với dịch vụ của cô, xin nhận tiền thưởng. Ngoài ra phòng sẽ được trả lúc 12 giờ trưa, bữa sáng phục vụ tại phòng. Ở chỗ ký tên góc dưới bên phải là một khẩu súng được phác vô cùng đơn giản. Nhìn thấy hai chữ “tiền thưởng”, đầu Tô Cẩm như bị nổ tung, vội vàng nhìn lại mình, quả nhiên cô chỉ mặc một chiếc áo tắm của khách sạn. Trong chiếc áo choàng… không cần kiểm tra cũng biết là không hề mặc gì. Tô Cẩm nắm chặt cổ áo tắm, hoàn toàn sững sờ. Lẽ nào mình đã say thật? Lẽ nào lại uống say như thế, người đón mình không phải là Lâm Chi Chi sao? Không phải là Lâm Chi Chi… thì là ai?! Tô Cẩm hoàn toàn sửng sốt. Không thể? Không thể? Không thể?! Mình chỉ là bị thất tình, rồi uống rượu, sau đó thì trinh tiết… mà bản thân cũng không biết là xảy ra chuyện gì, lại mất mà thần không hay quỷ không biết?! Cô không những không nhớ bất kỳ điều gì mà còn không biết người này như thế nào - tám chín mươi phần trăm đó chỉ là một khách làng chơi bỏ tiền để mua vui. Cũng có nghĩa là lần đầu tiên của mình đã trao cho một kẻ không có nhân phẩm một cách vô thức? Kẻ này chắc rất cao tay, không biết là đã hại bao nhiêu con gái nhà lành, mà… mà… không biết anh ta có bị nhiễm bệnh gì không… Nếu mà thực sự như thế… Tô Cẩm càng nghĩ càng tuyệt vọng, ôm đầu nằm vật xuống, chỉ muốn chết. Kẻ cặn bã này trả cho cô năm vạn tệ, bằng đúng số tiền mà cô đã đưa cho Ngạc Lâm. Số tiền này cũng như tiền khách sạn mà cô ở khiến Tô Cẩm không hề hoài nghi là có chuyện gì đã xảy ra vào đêm đó. Nếu không, làm gì có ai lại trả một số tiền lớn như thế này cho người lạ? Tô Cẩm cố gắng hết sức cũng chỉ nhớ được mình đã nôn khủng khiếp như thế nào, hình như có người đưa cho cô một cốc nước ấm và vỗ nhẹ vào lưng. Cố gắng nhớ tiếp, cũng chỉ lờ mờ biết có người dìu vào bồn tắm, nước nóng bao bọc lấy cơ thể rất thoải mái và dễ chịu. Tất cả ký ức đêm qua chỉ dừng lại ở đó. Tô Cẩm nhìn vô thức lên chiếc đèn chùm trên đỉnh đầu, trong tay vẫn cầm tờ ghi chú có ký tên là “khẩu súng” - Khẩu súng này có ý nghĩa gì không? Là biểu tượng của việc tham gia băng đảng nào đó, hay là ám thị anh ta có quyền có thế để mình không dám chống lại? Cũng có nghĩa, anh ta đưa mình đến khách sạn là biết mình không phải gái làm tiền? Vậy… giá của một cô gái cuối cùng là bao nhiêu? Tô Cẩm với lấy điện thoại của mình trên tủ ở đầu giường, lướt qua một dãy dài các cuộc gọi lỡ, cô gọi cho Lâm Chi Chi. Thật bất ngờ, điện thoại của Lâm Chi Chi tắt. Lâm Chi Chi tự nhiên tắt điện thoại. Tô Cẩm như muốn đổ sụp xuống. Chỉ qua một đêm, không những cuộc sống của cô bị đảo lộn, mà ngay cả Lâm Chi Chi điện thoại luôn mở hai tư tiếng cũng bắt đầu chơi trò chơi tắt máy? Hay là lúc này cô ấy đang có việc gấp ở công ty? Tô Cẩm xem lại danh bạ trong điện thoại, khung lựa chọn màu xanh da trời nhạt dừng ở số điện thoại của sư phụ. Tô Cẩm do dự giây lát rồi gửi một tin nhắn: “Sư phụ, một cô gái trong thành phố chúng ta có giá bao nhiêu?” Đợi đến khi tin nhắn đã gửi đi, Tô Cẩm bắt đầu ân hận, giận mình không biết giữ miệng. Quả nhiên, ngay lập tức có điện thoại của Hàn Hiểu, giọng vừa hiếu kỳ, vừa buồn cười: “Sao thế? Có chuyện gì không?” “Không có gì.” Tô Cẩm ấp úng không biết giải thích như thế nào. “Em chỉ… tiện hỏi thế.” “Chị nghe nói, à, nhưng chỉ là nghe nói chứ chưa từng gọi họ”, Hàn Hiểu cười, “Nghe nói từ vài chục đến vài chục nghìn đều có. Nếu qua đêm ở một nơi sang trọng thì khoảng vài vạn”. Tô Cẩm cười đau khổ: Hóa ra mình được coi là hàng quý. Hàn Hiểu nói tiếp: “Tô Tô, lần này để em rời văn phòng xuống công trình, rồi chị lại không thể đi cùng với em, thật sự là chị thấy ngại quá”. Hàn Hiểu và Tô Cẩm đều là kỹ sư của bộ phận giám sát kỹ thuật ở Hải Công. Khi còn ở văn phòng, do Tô Cẩm là nhân viên mới của công ty nên được Hàn Hiểu chỉ dạy rất nhiều, vì thế mặc dù về danh nghĩa Tô Cẩm là trợ lý của Hàn Hiểu nhưng Tô Cẩm luôn gọi Hàn Hiểu là “sư phụ”. Sau tết, những người đã có gia đình như Hàn Hiểu được bị điều về làm dự án ở gần thành phố, Tô Cẩm cũng đi cùng. Nhưng không ngờ, khi chưa khởi công, Hàn Hiểu vì có bầu nên xin nghỉ trước hạn. Thế là, dự án vốn dĩ do hai người phụ trách giờ chỉ còn một mình Tô Cẩm tự lo liệu. Thiết bị luyện ba mươi lăm vạn tấn dầu một năm của dự án luyện dầu thành phố C là một hệ thống lớn, đây là một trong những nội dung quan trọng nhất của dự án. Theo sắp xếp tiến độ tổng thể của dự án luyện dầu thành phố C, tiến độ của hệ thống này phải song song với hệ thống sản xuất hydro. Theo thường lệ, khi thi công, hai hệ thống cần có hai nhân viên kỹ thuật điều hành. Nhưng Hàn Hiểu đột ngột nghỉ phép, bộ phận giám sát kỹ thuật cũng không có thời gian tìm thêm người, thế là công việc của hai người đều trút lên vai Tô Tô. Hàn Hiểu xin lỗi là vì như vậy. Tô Cẩm vội nói: “Sư phụ đừng nói như vậy. Chị đã giúp em điều chỉnh tất cả mọi thông số của hai hệ thống, em cũng đã nhàn hơn nhiều rồi. Chị cứ yên tâm ở nhà nghỉ ngơi, đừng bận tâm lo lắng điều gì”. Hàn Hiểu liền dặn dò cô vài câu rồi tắt máy. Tô Cẩm gọi lại cho Lâm Chi Chi, nhưng máy vẫn tắt. Tắm rửa, ăn bữa sáng mà khách sạn phục vụ tận phòng xong, Tô Cẩm cúi đầu buồn bã rời khỏi khách sạn. Tuyết vẫn rơi, tuyết trên đường bị người qua lại giẫm đạp thành một mớ hỗn độn. Cỏ cây hai bên đường cũng bị tuyết phủ trắng. Trên quảng trường phía xa, đám trẻ con đang chơi ném tuyết, cười nói ầm ĩ. Tô Cẩm đứng trên thềm khách sạn, mặc áo lông có mũ, xấp tiền vẫn để trong túi áo, cộm lên qua chiếc áo mỏng bên trong khiến cô thấy đau. “Mình đã mất bạn trai.” Tô Cẩm hé mắt nhìn thế giới bên ngoài vừa quen thuộc vừa lạ lẫm, buồn bã nghĩ, “Khi mình tự buông thả bản thân, muốn mượn rượu để giải sầu thì lại mất mát nhiều thứ hơn…”. Nghĩ vậy, Tô Cẩm không tránh khỏi cảm giác đau đớn, lạnh lẽo. Không phải đó chỉ là một người đàn ông sao? Không phải chỉ là một cuộc tình chết yểu sao? Vì sao lại phải đau khổ như vậy? Từ góc độ này thì việc xảy ra trong khách sạn rõ ràng là tự tạo ra một điều nghiệt ngã. Còn gã đàn ông kia không biết có mắc bệnh truyền nhiễm gì không… Đó cũng là mình làm mình chịu thôi. Tô Cẩm dụi dụi mặt, cố gắng vực dậy tinh thần. Cho dù nói như thế nào thì giây phút khó khăn nhất cũng đã qua rồi. Quay về phòng trọ ở Hải Công, cô bạn cùng phòng Thanh Thanh vẫn chưa về. Tô Cẩm thu dọn xong hành lý của mình, gọi điện cho Lâm Chi Chi, điện thoại vẫn tắt máy. Tô Cẩm hết cách, đành gọi điện thoại cho Bành Tiểu Ngôn. Ở thành phố T, hai người này là bạn tốt nhất của Tô Cẩm. Bành Tiểu Ngôn đang trong giờ làm, nghe cô hỏi Lâm Chi Chi, lập tức giống như thùng thuốc nổ bị châm ngòi, “Con nhỏ Chi Chi đó chẳng thèm kiêng nể gì, trắng trợn lừa mình. Nó nói nó có việc gấp, bảo mình đến khách sạn đón cậu. Khi mình chạy đến khách sạn, chả thấy ma nào ở đấy cả. Gọi điện cho nó thì lại tắt máy, gọi cho cậu thì cũng không nghe máy. Hai người đang chơi trò gì vậy? Làm lỡ mất cuộc hẹn vào đêm có tuyết của mình, hôm qua là lễ Tình nhân, mỗi năm chỉ có một lần…”. Tô Cẩm ngắt những lời trách móc của cô, “Chi Chi có nói nó có chuyện gì không?”. Bành Tiểu Ngôn rên lên một tiếng, “Giọng nó nghe có vẻ rất gấp gáp, nhưng không nói là chuyện gì. Đúng rồi, lúc gọi điện, mình nghe thấy tiếng còi ô tô, có lẽ nó đang ở trên đường. Có phải là chuyện của công ty không?”. Lâm Chi Chi là trưởng bộ phận an ninh của tập đoàn Hưng Hòa, có thể là việc của công ty thật… “Gọi điện thoại đến công ty rồi phải không?”, Tô Cẩm hỏi, “Công ty nói thế nào?”. “Gọi rồi!” Giọng của Bành Tiểu Ngôn có vẻ rất ấm ức, “Người ở công ty nói là không thể tùy tiện tiết lộ cho người ngoài”. “Vậy à…”, Tô Cẩm nhìn những bông tuyết rơi trên ngọn cây ngoài cửa sổ, bất giác chau mày, “Ngày mai mình phải đi làm dự án rồi, lần này ít nhất cũng phải hai tháng. Việc của Chi Chi… đợi cô ấy về nhất định bắt cô ấy phải giải thích rõ với cậu”. Bành Tiểu Ngôn đáp: “Cứ yên tâm đi đi, có việc gì nhất định mình sẽ thông báo cho cậu”. Tắt máy, Tô Cẩm xem lại nhật ký điện thoại tối hôm trước, ngoài hai cuộc gọi của Ngạc Lâm, còn lại đều là số điện thoại của Lâm Chi Chi. Tô Cẩm vô cùng ân hận. Chỉ vì một người đàn ông khốn nạn mà làm lỡ bao nhiêu việc. Lòng đầy ân hận, Tô Cẩm vỗ trán, rồi tự thề với lòng: Một là, từ bỏ Ngạc Lâm, xem con người bội bạc đó rốt cuộc thế nào; hai là, không bao giờ để rượu làm ảnh hưởng đến mình nữa. Nếu vi phạm lời thề thì cô sẽ trở thành kẻ không ra gì suốt đời. ... Mời các bạn đón đọc Tình Yêu Không Mật Mã của tác giả Kinh Hồng.
Tiếng Thời Gian Du Dương - Ngải Tiểu Đồ
Thẩm An Bình có cảm tình với Cố Bình An, nhưng Cố Bình An lúc nào cũng cự tuyệt tình cảm ấy. Khi Thẩm An Bình du học ở nước ngoài, vì quá nhớ nhung Cố Bình An nên đã đáp máy bay trở về gặp cô, không ngờ vừa đúng lúc chứng kiến cảnh thân mật giữa Tất Nhiễm và Cố Bình An trong vườn trường. Thẩm An Bình đau khổ buồn bã, uống một trận thật say rồi quyết định buông xõa, còn Cố Bình An thì không hề biết gì. Liệu, tình yêu lặng lẽ chưa kịp nói của Thẩm An Bình có ngày nảy mầm? Liệu, có lúc nào đó Cố Bình An tình cờ nhận ra? Liệu, trên con đường này, họ có mỗi người một phương? Nếu như gió ngừng đưa tiếng hát du dương, chỉ còn lưu lại dư vị nhàn nhạt, hồi ức đau buồn có phải cũng theo gió tĩnh lặng mà dừng lại? Nếu như hồi ức không lan theo thủy triều, chỉ để lại sự khô cạn, sự lưu luyến trong đáy lòng có phải cũng theo ký ức khô kiệt mà tiêu tan mãi mãi? *** Từng cơn gió lạnh buốt len lỏi qua từng kẽ hở trên cơ thể, hơi thở đông cứng nơi lồng ngực, có cảm giác trước mắt là vực thẳm hun hút không nhìn thấy đáy, chẳng thấy đường chân trời, cũng không thấy điểm cuối cùng nhưng anh vẫn cam tâm tình nguyện lao xuống. Khung cảnh mờ mờ ảo ảo, những âm thanh vỡ vụn, anh không thể nghe rõ tiếng kêu thất thanh lẫn với tạp âm, cũng chẳng thể nhìn rõ những hình ảnh náo loạn trước mặt, trong mắt anh, trong lòng anh lúc này chỉ có một người, người mà anh sẵn sàng dùng sinh mạng mình để đánh đổi. Dường như trong một cái chớp mắt, tất cả mọi thứ đều im bặt. Đỉnh đầu anh đau đến tê dại, một thứ chất lỏng ấm nóng không ngừng tuôn trào, toàn thân chẳng còn chút sức lực, anh chỉ còn biết dùng chút tàn hơi còn lại ôm chặt lấy người đang ở trong vòng tay mình, trong giây phút cuối cùng còn chút cảm giác mơ hồ ấy, anh chỉ kịp nói một câu: “Nhắm mắt lại, đừng sợ.” Trái tim cũng theo đó mà đau nhói, con người ngốc nghếch ấy chắc lại khóc rồi. Chỉ cần cô ấy khóc là trời sẽ đổ mưa. Dường như cả thế giới cũng trở nên đau buồn theo. Cơn đau khiến ảo giác trở nên rõ ràng hơn, từng khung cảnh diễn ra trong quá khứ chợt ào ạt ùa về, khuôn mặt tươi tắn như hoa ấy lại một lần nữa vụt qua. Đó là Bình An của anh. “Anh An Bình, sau này lớn lên em lấy anh nhé?” “Thẩm An Bình, sẽ có ngày nhất định anh phải hối hận!” “Thẩm An Bình, em không thể sống thiếu anh. Anh đừng qua lại với người con gái khác, em không thể chịu được việc anh cưới người con gái khác.” “Thẩm An Bình, chúng ta đừng đính hôn nữa, có được không?” ... Từng khung cảnh lần lượt hiện ra, ngọt ngào đến chẳng muốn phải tỉnh dậy cũng có, đau đớn đến chẳng muốn phải nhớ tới cũng có... Nghĩ mãi, nghĩ mãi, anh chỉ có thể mím môi mà mỉm cười nhạt nhẽo. Đến chính anh cũng không biết thực ra, anh yêu cô, yêu đến khắc cốt ghi tâm. Anh muốn thời gian dừng lại ở giây phút này biết bao, để anh có thể mãi ôm chặt lấy cô như lúc này, chỉ cần như vậy, mà đi hết cả đời này. ... Mời các bạn đón đọc Tiếng Thời Gian Du Dương của tac giả Ngải Tiểu Đồ.
Bí Mật Của Emma - Sophie Kinsella
Emma đang hỗn loạn, cô đang ngồi trên một chuyến bay - thứ mà cô luôn sợ! Thế là, như là lần cuối được nói chuyện, cô bắt đầu kể những câu chuyện thầm kín nhất của mình cho gã đàn ông - một người có thân hình khá nóng bỏng đang ngồi cạnh cô. Cô đọc kỹ đằng sau những cuốn sách trí thức và ra vẻ mình đã đọc chúng như thế nào. Cô làm kiểu tóc Công chú Leia trong phòng ngủ ra sao. Cô không chắc về việc mình có điểm G và dầu sao cũng không rõ bạn trai mình có thể tìm thấy nó hay chưa. Cô cảm thấy như một kẻ lừa gạt khi làm việc ra sao - mọi người sử dụng từ “thao tác” suốt ngày mà cô chẳng hề hiểu nó có nghĩa gì. Cà phê ở chỗ làm kinh khủng thế nào. Có lần cô đã vứt một hồ sơ khách hàng phiền phức vào thùng rác ra sao. Nếu đấy là một linh hồn trống rỗng thì đó là cô. Tất nhiên, cô sống sót sau chuyến bay, và sáng hôm sau ông chủ trứ danh của tập đoàn hùng mạnh mà cô đang làm việc tới thăm chi nhánh ở Anh. Khi anh ta đi qua, Emma nhìn lên và nhận ra... đó là người đàn ông trên chuyến bay. Anh ta sẽ làm gì với những bí mật của cô? Anh ta biết mọi thứ – nhưng cô thì không biết 1 tí gì về anh ta cả. Hay là... có? *** Lời giới thiệu của người dịch: 10 điều bí mật về cuốn truyện này: 1. Nếu bạn muốn tìm những công chúa, hoàng tử, những anh hùng, mỹ nhân, những tình yêu vĩ đại... trong cuốn truyện này, không nghi ngờ gì bạn sẽ thất bại. 2. Nếu bạn muốn tìm những con người cao đẹp, những thứ tình cảm lớn lao, những triết lý tầm vóc... bạn cũng sẽ thất bại. 3. Nếu bạn muốn tìm những tình tiết gay cấn, những thời khắc thót tim, những bí ẩn cần giải mã... bạn, chắc chắn cũng thất bại. 4. Nhưng tôi dùng từ “thất bại” mà không phải “thất vọng”, bởi tôi có lòng tin bạn sẽ không phải thất vọng về cuốn truyện này. 5. Nếu bạn muốn thư giãn, bạn thích hài hước, bạn hơi chút lãng mạn, bạn thích cười vui và tin tưởng vào cuộc sống... Đây là câu chuyện dành cho bạn. 6. Nếu bạn không hoàn hảo, không xinh đẹp, không nổi trội, không siêu phàm... Đây chắc chắn là câu chuyện dành cho bạn. 7. Nếu bạn có cả tỷ tật xấu, nếu bạn thất vọng với bản thân, nếu bạn gặp thất bại, nếu bạn ngờ vực với cuộc đời... Đây chính là câu chuyện dành cho bạn. 8. Đây là câu chuyện viết bởi một con người bình thường ngoài 40 tuổi với 1 ông chồng và 4 đứa con; viết về một con người bình thường 25 tuổi chưa lập gia đình, xuất thân và công việc đều khiêm tốn hạng trung; và viết dành cho tất cả những con người bình thường khác trên toàn Trái đất. 9. Emma Corrigan, nhân vật trung tâm của câu chuyện, có thể trong hình hài bất cứ ai, không có đặc điểm nổi trội, không miêu tả màu mắt, không màu tóc; gian lận điểm A trong hồ sơ CV, luôn e ngại làm mếch lòng người khác, che giữ cả tỷ bí mật nho nhỏ của mình, thất vọng về bản thân quá đỗi tầm thường và nhiều tật xấu. Emma Corrigan, luôn bị bao quanh bởi những người xinh đẹp, tài năng, giỏi giang, thành đạt, giàu có... liệu có thể tìm thấy chỗ đứng của mình trong cuộc đời? liệu có thể tìm thấy một chàng hoàng tử cưỡi limousin, toả sáng trong bộlê đắt tiền và tấm thẻ triệu đô trong tay? ... và liệu có thể tìm thấy... điểm G của mình? 10. Tôi sẽ không tiết lộ thêm bí mật thứ 10 của cuốn truyện. Bởi biết đâu bạn chính là người sẽ tìm ra nó? Mời các bạn đón đọc ​Bí Mật Của Emma của tác giả Sophie Kinsella.
Phụ Nữ Vạn Người Mê - Huyền Trang Bất Hối
Tôi viết những dòng đầu tiên của Phụ nữ vạn người mê vào một đêm Hà Nội oi bức. Đồng hồ đã chỉ 04:30. Trời sắp sáng, cũng là lúc tôi sắp ra sân bay. Tôi dự kiến sẽ ở Sài Gòn đến tháng Mười một. Theo đúng lịch trình, ngày tôi về, có lẽ Hà Nội đã lạnh. Cuốn sách đầu tay của tôi đã được phát hành. Và sáu ngày sau khi ra mắt cuốn sách đó, tôi bắt đầu viết cuốn sách thứ hai, Phụ nữ vạn người mê. Một cái tên kiêu hãnh, ngông cuồng và tự cao là thế nhưng những gì tôi viết trong cuốn sách này không hẳn là như vậy. Giống như một con người, chúng ta hoàn toàn không thể nhìn nhận chỉ bằng vẻ bên ngoài, hay với một người phụ nữ, khi nhìn vẻ bên ngoài chưa chắc bạn đã cảm nhận được trái tim họ. Vạn người mê? Vạn người mê thì sao chứ, chắc gì người mình muốn, mình cần, mình thích cũng sẽ yêu và thương mình? Trăm người cần thì sao chứ, lòng lại chỉ cần một người duy nhất! Phụ nữ vạn người mê tựa như tấm gương, bạn hãy soi mình vào đó, đắm mình vào những dòng chữ, để thấy bao nhiêu là thật, bao nhiêu là giả, bao nhiêu là dối trá, bao nhiêu là hoài niệm và bao nhiêu là hoang mang. Cuốn sách này tôi viết về những người phụ nữ không hoàn hảo. Họ xinh đẹp nhưng gia cảnh không tốt. Họ có thứ này nhưng không có thứ khác. Nhưng họ có thể tự biến mình trở nên hoàn hảo bằng cách này hay cách khác. Thứ họ đánh đổi là thanh xuân, là máu, là nước mắt, là niềm tin hay chính cả bản thân mình nữa. Tôi tự hỏi, những người phụ nữ trong Phụ nữ vạn người mê đến khi đạt được điều họ mong muốn, đến khi nắm được trong tay mộng tưởng của mình, ngoảnh đầu nhìn lại phía sau, họ có thật sự hài lòng và hạnh phúc hay không? Mỗi người đàn ông đi ngang qua cuộc đời của những "phụ nữ vạn người mê" đều là bàn đạp, đều là mấu chốt, đều là động lực để tạo ra những cô gái "vạn người mê". *** Đã là phụ nữ thì tuyệt đối đừng dung túng cho sự lười biếng của bản thân. Phụ nữ - không thông minh thì phải xinh đẹp, không xinh đẹp thì phải thông minh, chứ đã ngu lại còn xấu thì... Đàn ông thường đến bên cạnh người phụ nữ theo hai tiêu chí, một là dung mạo, hai là cốt cách. Phụ nữ xinh đẹp chỉ khiến đàn ông dừng chân, phụ nữ thông minh khiến đàn ông lưu luyến. Đừng lười biếng trau dồi trí tuệ, đừng lười biếng chăm sóc bản thân. Bạn xinh đẹp, bước đi của bạn sẽ thêm dễ dàng. Bạn thông minh, tin tôi đi, đường đi dù vô tình hay hữu ý đều sẽ gặp được nhiều tri kỷ. Trên đời này nên biết hài lòng với những gì đang có, nhưng không có nghĩa rằng chấp nhận chỉ có như vậy mà thôi. Cuộc sống là không ngừng đòi hỏi, chứ không phải cam chịu và chấp nhận. Nhớ nhé, xinh đẹp và thông minh là hai bánh xe đưa bạn đến thành công nhanh nhất. Dù quá trình bạn có điều khiển thế nào, người đời có chê bai ra sao, hãy nhớ kết quả luôn quan trọng hơn quá trình. ... Mời các bạn đón đọc Phụ Nữ Vạn Người Mê của tác giả Huyền Trang Bất Hối.