Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Giữa Lòng Tăm Tối

Khép lại những tranh cãi, Giữa lòng tăm tối vẫn luôn và sẽ mãi là tuyệt phẩm văn chương đáng đọc của mọi thời đại. Joseph Conrad (1857 - 1924) là một trong những tác gia vĩ đại nhất của nền văn học Anh quốc. Ông là bậc thầy của nghệ thuật tạo tổng thể văn xuôi, phong cách tự sự, xây dựng nhân vật và mô tả tâm lý của ông có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều cây bút khác sau này như TS Eliot, F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway hay George Orwell. Thế nhưng tác giả của những áng văn đầy chất thơ Shakespeare này lại là một người gốc Ba Lan tới định cư tại xứ sở sương mù, và đến tận năm hai mươi tuổi mới nói trôi chảy tiếng Anh. Là người ngoại quốc, từng trải qua những năm tháng lênh đênh trên những con tàu thương gia của Anh và Pháp, Conrad đã truyền tải được xúc cảm của những miền đất khác vào nền văn học Anh, phản ánh một thế giới hoàn toàn bị thống trị bởi người châu Âu. Giữa lòng tăm tối là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Joseph Conrad, là kiệt tác văn học mà giới mộ điệu văn chương đều đã quen thuộc. Cuốn tiểu thuyết bao trọn câu chuyện phiêu lưu hải hồ của Marlow dựa trên hành trình có thật của chính tác giả vào năm 1890. Là người của biển cả, Marlow nghe theo tiếng sóng vẫy gọi, khao khát đi tới những miền đất chưa định danh trên địa đồ - “những khoảng trống của niềm hân hoan”, “một vạt trắng cho giấc mơ huy hoàng”, dấn thân vào “vùng tăm tối vô phương thấu hiểu”, cùng với tính hiếu kỳ thản nhiên của một trí óc tế nhị và trạng thái điềm tĩnh của một con tim sắt đá. Trên một con tàu hơi nước vá víu xập xệ thiếu thốn đủ đường, cùng thủy thủ đoàn là mấy tay da đen của bộ tộc ăn thịt người lúc nào cũng bốc mùi thịt hà mã thiu, Marlow ngược dòng con sông Congo hùng vĩ, bí hiểm mà mê hoặc để hoàn thành một nhiệm vụ tưởng chừng như bất khả thi. Ông phải đi cứu Kurtz - người được ca tụng khắp nơi là “thiên tài toàn năng”, kiếm được nhiều ngà voi nhất Công ty, được cả dân da đen yêu kính hết mực và đang ốm thập tử nhất sinh ở vùng thượng nguồn - về với văn minh, trước khi gã lìa đời. Sau bao nhiêu gian khổ, hiểm nguy của chốn rừng thiêng nước độc, Marlow tới được nơi, gặp được người, nhưng chỉ trở về với một tập tài liệu và lời tuyệt mệnh: “Nỗi kinh hoàng! Nỗi kinh hoàng!” Miền hoang dã Phi châu tạo ra bao nhiêu trở ngại cho con tàu của Marlow thì Giữa lòng tăm tối cũng gây ra bấy nhiêu sóng gió trong giới văn chương thậm chí cả giới phân tâm học, hoạt động nhân quyền hay nghiên cứu châu Phi cũng nhảy vào cuộc. Người ta bàn ra tán vào, khẩu chiến rồi cả bút chiến với nhau về cách hành văn của tác giả, cấu trúc, ý nghĩa của tác phẩm và vô vàn những thứ khác. Một trong những chủ đề được tranh cãi quyết liệt nhất chính là vấn đề phân biệt chủng tộc. Chinua Achebe - nhà văn, nhà thơ người Nigeria từng chỉ trích tác phẩm này là “phân biệt chủng tộc một cách khủng khiếp” với những hình ảnh miêu tả người da đen như những kẻ mọi rợ ngu đần, như những con vật chịu đòn roi. Những tình cảnh đáng thương, những vụ tra tấn kinh hoàng đều được kể lại bằng chất giọng lạnh lùng, vô cảm. Thế nhưng những lập luận khác lại cho rằng tại thời điểm Conrad viết cuốn tiểu thuyết này, khái niệm “phân biệt chủng tộc” vẫn chưa thành hình, quan niệm về khác biệt chủng tộc vẫn còn in đậm. Đó là thời người da đen bị trưng bày như thú lạ tại những nước đế quốc, và bị đối xử như súc vật, nô lệ tại những vùng thuộc địa. Vì thế, không thể trách cứ Conrad được. Tuy vậy, chính nhà văn cũng từng khẳng định rằng Giữa lòng tăm tối ngầm ý chỉ ra “tội ác của sự kém hiệu quả và ích kỷ thuần túy khi khai hóa văn minh ở châu Phi”. Thật vậy, hãy đọc những dòng này trong truyện: “Tôi ngờ rằng với họ cai trị chỉ đơn thuần là bóp nghẹt, không hơn. Họ là kẻ chinh phục, mà chinh phục thì chỉ cần vũ lực - vốn chả có gì đáng huênh hoang, vì sức mạnh của anh chỉ là ngẫu nhiên phát sinh từ cái yếu của kẻ khác. Họ vơ vét được bao nhiêu hay bấy nhiêu, vơ vét để mà vơ vét. Đó chẳng qua là cưỡng đoạt bằng bạo lực, sát nhân có tình tiết tăng nặng trên diện rộng...” Như thế, Giữa lòng tăm tối, ở một chừng mực nào đó, có thể coi là một bản cáo trạng về lòng tham, thói ưa hủy diệt và quyền lực chuyên chế của chủ nghĩa thực dân, “một bài phân tích về sự suy nhụt nhuệ khí của người da trắng, khi anh ra thoát khỏi vòng kiềm tỏa của châu Âu, bám rễ ở miền nhiệt đới với vũ khí trang bị đến tận chân răng, để thu lợi từ tầng lớp bị trị”. Và con sông dẫn tới “trái tim của một vùng tăm tối khôn cùng” không phải là con sông Congo cuộn xoáy ở lục địa Đen mà là con sông Thames êm đềm, dưới bầu trời hôn ám của “đế chế nơi mặt trời không bao giờ lặn”. Khép lại những tranh cãi, Giữa lòng tăm tối vẫn luôn và sẽ mãi là tuyệt phẩm văn chương đáng đọc của mọi thời đại. Bằng ngôn từ mơ hồ mà dứt khoát, huyền bí mà hữu hình, Joseph Conrad đã viết nên một áng văn đậm chất thơ, hấp dẫn, ám ảnh và đầy tính biểu tượng - một kiệt tác của của nghệ thuật phân tích tâm lý bậc thầy, của phiêu lưu, của thiên nhiên hoang dại, hùng vĩ, và ảo tưởng của cả thời đại. *** Nellie, chiếc thuyền hai buồm, buông neo không một tiếng buồm lật phật, lặng lẽ nghỉ ngơi. Nước đã xuống, gió cơ hồ đã lặng; được buộc dưới sông, nó chỉ còn một việc là đậu đó đợi triều lên. Cửa sông Thames trải dài trước mắt chúng tôi, như khởi đầu của một thủy lộ dài bất tận. Ngoài khơi xa biển và trời liền thành một tấm áo không thấy đường may, và trong không gian lung linh này, những cánh buồm rám nắng vẫn dập dờn trên ngọn thủy triều như đứng yên thành từng cụm vải bạt đỏ chóp nhọn, lấp lánh ánh vécni từ những cột buồm. Sương lan trên những bãi bồi phẳng lì chạy dài tít tắp về phía biển. Bầu trời trên Gravesend[1] tăm tối, còn phía xa dường như vẫn ngưng tụ thành một quầng u ám thảm sầu, âm trầm bất động trùm lên đô thành lớn nhất và vĩ đại nhất trên trái đất. Tay Giám đốc Công ty là thuyền trưởng và chủ nhà của chúng tôi. Bốn người bọn tôi[2] trìu mến nhìn bóng lưng gã đứng trên mũi thuyền, nhìn về phía biển. Cả sông không có hình ảnh nào đại dương bằng nửa gã. Nhìn gã như một hoa tiêu, niềm tin của người đi biển được nhân cách hóa. Khó mà nhận ra, nghề của gã không phải ngoài kia, nơi giang khẩu lung linh, mà ở sau lưng, giữa vùng âm trầm u ám nọ. Giữa chúng tôi, như đã có lần tôi từng nói[3], có sự gắn bó của biển khơi. Ngoài việc neo đậu lòng nhau sau những quãng dài xa cách, nó còn giúp chúng tôi chịu đựng được những huyên thuyên, thậm chí là định kiến, của nhau. Tay Luật sư - loại bạn già chơi rất được - bởi tuổi cao đức trọng nhất hội, sở hữu cái đệm duy nhất trên boong, và nằm trên tấm thảm duy nhất. Tay Kế toán ôm theo hộp domino và đang lẩn mẩn xây nhà với những mảnh ngà. Marlow ngồi xếp bằng ở đuôi tàu, lưng dựa vào cột buồm lái. Má hóp, da vàng, lưng thẳng, dung mạo khắc khổ, đôi tay buông xuôi, lòng bàn tay ngửa ra trước, gã nhìn như một bức ngẫu tượng. Tay giám đốc, yên tâm là neo đã chắc, xuống đuôi tàu nhập bọn với chúng tôi. Cả bọn uể oải trò chuyện đôi lời. Rồi boong tàu chìm trong im lặng. Bởi lẽ gì đó, chúng tôi không bắt đầu ván domino ấy. Chúng tôi thấy trầm tư, chẳng có hứng làm gì ngoài tĩnh tâm quan sát. Ngày tàn dần trong cái bình lặng của ánh quang huy thanh tĩnh và tú lệ. Nước tỏa sáng một cách bình yên; vòm trời, không một gợn mây, như một khoảng mênh mông ôn nhuận ngập tràn thứ ánh sáng vô nhiễm; màn sương trên đầm lầy miền Essex[4] giống một tấm sa mỏng phát quang, rủ xuống từ những triền cao cây phủ trong nội địa, buông từng lớp trong mờ lên những bãi bồi. Chỉ riêng vùng ảm đạm phía tầy, vần vũ trên thượng lưu, là mỗi lúc một thêm u ám, như thể phẫn nộ trước sự lấn tới của mặt trời. Và cuối cùng, trong một đường lặn hình cung không thể cảm nhận được, mặt trời chìm dần, và từ màu trắng rực đổi sang sắc đỏ đục không phát quang và tỏa nhiệt, như thể sắp đột ngột tắt lịm, bị hạ sát khi chạm phải quầng u ám đang vần vũ trên một vùng người. Lập tức mặt nước bắt đầu thay đổi, và vẻ bình lặng kia bớt xán lạn nhưng lại nồng đậm hơn. Con sông lâu đời an tĩnh nghỉ ngơi giữa dòng nước mênh mang lúc ngày tàn, sau bao thuở phục vụ đắc lực chủng tộc định cư hai bên bờ, trải rộng trong vẻ tôn nghiêm bình đạm của một thủy lộ dẫn đến những chốn tận cùng trái đất. Bọn tôi quan sát dòng chảy khả kính này, không phải dưới hồng quang rực rỡ của một ngày ngắn ngủi một đến rồi đi không trở lại, mà trong ánh sáng uy nghi của ký ức trường tồn. Và quả thực, với kẻ từng, như người ta vẫn nói, “đi theo tiếng gọi biển khơi” với niềm đam mê và sùng kính, không gì dễ dàng hơn việc triệu hoán những anh linh quá khứ trên hạ lưu sông Thames. Con nước thủy triều vẫn miệt mài, tận tụy xuống lên, tràn ngập ký ức về người và thuyền từng được nó đưa về lại cố hương hoặc đem vào hải chiến. Nó từng quen biết và phục vụ tất cả những con người mà dân tộc này hằng tự hào, từ Sir Francis Drake tới Sir John Franklin, đều là Hiệp sĩ, có tước hiệu và không tước hiệu[5] - những hiệp khách giang hồ của biển cả. Nó từng vận chuyển những con tàu với cái tên lấp lánh như ngọc trong đêm tối thời gian, từ chiếc Golden Hind trở về với hai mạn tròn chất đầy châu báu và được ngự giá Nữ hoàng đến thăm, rồi từ ấy rời xa dòng chảy huyền thoại này[6], đến chiếc Erebus và Terror, theo đuổi những cuộc chinh phục khác - và không bao giờ quay lại[7]. Nó biết rõ cả hải thuyền và hải khách. Họ giong buồm từ Deptford, Greenwich và Erith[8] - kẻ phiêu lưu lẫn người lập nghiệp; tàu Hoàng gia cùng thuyền thương khách; thuyền trưởng, đô đốc, đám hắc thương[9] vùng Viễn Đông, các “tướng lĩnh tự phong của Hải đội Đông Ấn. Săn vàng hay cầu danh, ai nấy đều khởi hành theo dòng chảy ấy, mang gươm, và thường là cầm đuốc, sứ giả của quyền uy từ lục địa, hộ tống một điểm tinh hỏa từ ngọn lửa thiêng. Có sự vĩ đại nào không từng theo con nước của dòng sông ấy đến với bí ẩn của một miền đất lạ!... Giấc mơ của con người, hạt giống của thịnh vượng chung, mầm mống của đế quốc. Mặt trời lặn; hoàng hôn trùm lên dòng sông, và ánh đèn bắt đầu xuất hiện ven bờ. Hải đăng Chapman, một vật thể ba chân mọc lên từ bãi lầy, chiếu sáng rực rỡ. Ánh đèn từ những con tàu di chuyển trên thủy đạo - một dòng ngược xuôi tấp nập của những ngọn đèn. Và xa hơn về tây, trên thượng lưu, vùng trời phía trên thành phố khổng lồ kia vẫn mang dấu hiệu bất tường, một vầng âm trầm u ám trong ánh tịch dương, một tia nhìn giận dữ chói gắt dưới trời sao. “Nơi đây,” Marlow đột ngột lên tiếng, “cũng từng là một trong những chốn tối tăm trên trái đất.”[10] Gã là người duy nhất trong cả hội còn “đi theo tiếng gọi biển khơi.” Nếu có nói xấu được gã điểm gì thì đó là gã không đại diện cho tầng lớp của mình. Gã là hải khách nhưng cũng là lãng khách, trong khi phần lớn những người đi biển khác sống một cuộc đời, ta tạm gọi là, yên vị. Đầu óc họ mang tâm thức tại gia, và nhà của họ luôn đi cùng họ - con tàu; và tổ quốc của họ cũng vậy - biển cả. Tàu nào cũng giống tàu nào, và biển cả thì muôn đời vẫn thế. Trong sự bất biến của môi trường quanh họ, những duyên hải xa xôi, những mặt người xứ lạ, những bao la biến động của cuộc đời, tất cả lướt qua, được che phủ không phải bởi cảm giác huyền bí mà dưới một thái độ vô tri ít nhiều khinh thị; bởi đối với người đi biển, chẳng có gì huyền bí trừ bản thân biển cả, người tình của sự hiện tồn của y, và khó nhìn thấu như chính số mệnh. Với họ, sau giờ lao động, một cuộc dạo chơi hoặc truy hoan tùy tiện trên bờ là đủ khám phá bí mật của cả một lục địa, và nhìn chung họ thấy bí mật này chả có gì đáng biết. Chuyện của dân đi biển có một sự giản đơn trực diện, toàn bộ ý nghĩa của nó chỉ gói gọn trong một cái vỏ lạc vỡ[11]. Nhưng Marlow không phải dân đi biển điển hình (không kể xu hướng huyên thuyên ở gã), và với gã, ý nghĩa của sự kiện không nằm trong hạt lạc, mà ở ngoài, bao quanh sự tích phát sinh ra nó giống như nguồn sáng nhiệt phát sinh hồng quang, tương tự như những quầng sáng đôi khi ta vẫn quan sát thấy nhờ quang phổ của ánh trăng. Bình luận của gã không làm ai ngạc nhiên. Marlow là như thế. Phát ngôn ấy được đón nhận trong im lặng. Thậm chí chẳng ai buồn lầm bầm; và lúc này gã đang nói, rất chậm rãi... “Tôi đang nghĩ về thời xa xưa, khi quân La Mã lần đầu đặt chân đến đây, một ngàn chín trăm năm trước[12] - như mới hôm qua... Ánh sáng đã phát xuất từ dòng sông này từ... thời các Hiệp sĩ, nhỉ? Phải; nhưng nó như một lưỡi lửa chạy trên đồng cỏ, một vệt chớp giữa trùng mây. Chúng ta sống dưới ánh sáng bập bùng ấy - cầu cho nó bền lâu như vòng quay của trái đất này! Nhưng hôm qua bóng tối vẫn ở đây. Thử tưởng tượng, cảm giác của viên chỉ huy một chiếc... gọi là gì nhể? – Trireme[13] ưu tú trên Địa Trung Hải, đột nhiên bị điều lên phương bắc; vội vàng đi đường bộ băng qua Gauls; và được giao một con thuyền, loại vẫn được các quân đoàn La Mã - hẳn toàn những kẻ khéo tay ghê gớm - đóng cả trăm chiếc trong một, hai tháng, nếu những gì ta vẫn đọc là đáng tin. Thử hình dung ra gã ở đây - nơi tận cùng thế giới, biển màu chì, trời màu khói, kiểu thuyền vững chãi như cây đàn concertina[14] - bơi ngược sông đem theo quân nhu, hoặc mệnh lệnh, hoặc gì cũng được. Bờ cát, đầm lầy, rừng rú, man dân - cơ hồ không có gì vừa miệng người văn minh, không có gì để uống ngoài nước sông Thames. Ở đây chẳng có rượu Falernian[15], và cũng chẳng có chuyện lên bờ. Thi thoảng lại thấy một doanh trại thất tung trong hoang dã, như cây kim mất tích giữa đụn rơm - giá, sương, bão táp, bệnh dịch, lưu đày và chết chóc - cái chết lởn vởn trong không khí, dưới nước, trong bụi rậm. Binh sĩ chắc hẳn chết ở đây như ngả rạ. Phải rồi - gã sống sót. sống tốt là đằng khác, sống mà không nghĩ ngợi gì nhiều, có chăng chỉ đủ để sau này khoác lác về những gì đã trải qua. Họ đủ nam nhi để đối mặt với bóng tối. Mà có lẽ gã đã phấn chấn hơn khi tơ tưởng đến cơ hội được đề bạt lên hải đội ở Ravenna[16] trong ngày một ngày hai, nếu gã có bạn bè thân cận ở Rome và sống sót qua mùa lam chướng này. Hoặc hãy nghĩ tới một công dân trẻ tử tế, khoác toga - chắc hẳn cháy túi vì cờ bạc - theo gót thái thú, hoặc thuế quan, thậm chí thương gia, đến đây mong kiếm chác được chút gì. Đặt chân lên đầm lầy, cuốc bộ xuyên rừng, và khi đến dịch trạm trong nội địa, thì cảm thấy cái man di, man di cùng cực, vây bủa lấy mình, - tất cả sự sống hoang dã bí hiểm sục sôi trong rừng rậm, trong rừng già, trong tim đám man dân. Chẳng có thời gian để làm quen với những bí ẩn ấy. Gã phải sống giữa chốn vô minh, vốn dĩ là điều đáng hận. Song nó cũng tỏa ra sức dụ hoặc, tác động lên gã. Thứ dụ hoặc nảy sinh từ oán hận - hãy tưởng tượng nỗi hối hận, cơn khát khao đào tẩu, sự ghê tởm trong bất lực, tâm lý buông xuôi, cảm giác căm ghét ngày một dâng cao.” Mời các bạn đón đọc Giữa Lòng Tăm Tối của tác giả Joseph Conrad.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Từ Hôn
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Từ Hôn của tác giả Hồ Biểu Chánh. Trong „Từ hôn“ tác giả đã dùng kỹ thuật đối thoại, lối viết được xem là tân tiến của thời đó, để diễn tả 3 mẫu người lập dị - mà họ gọi là “chủ nghĩa” –: Châu Tất Ðắc với thuyết “bất cần lao”, Lê Võ Lộ theo gương Lão Tử đặt ra thuyết “vô khả vô bất khả”, Nguyễn Tự Cao lấy tên mình lập ra phái “tự cao” Cốt chuyện quanh quẩn việc cô giám đốc trường nữ công là Cẩm Hương bắt cá với Tất Ðắc sẽ làm mối để anh ta cưới được con gái của một bà Phủ là Bạch Yến với một số tiền đánh cuộc là 2000 đồng. Cô Yến và bà Phủ thuận ý. Lý do đưa đến từ hôn thật bất ngờ. Kết quả ra sao mời bạn đọc tiếp. *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ vào những năm đầu thế kỉ 20 với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới và cũ. Tiểu thuyết của ông, gồm hơn 60 quyển, chủ yếu xoay quanh các vấn đề đạo đức, nhân nghĩa, tình đời bị cuốn trôi, bị xen lẫn, phải vùng vẫy trong làn hương mê muội của tiền bạc. Đọc về Nam Bộ xưa là tiếp xúc với những ngôn từ có phần chân quê, lạ lẫm thêm cách nói chuyện hưỡn đãi, nhưng cũng không kém phần tinh tế vì những khía cạnh của một câu chuyện tưởng như chân chất bình thường lại được xoáy vào ở mọi góc cạnh, và bất giác khiến ta giật mình khi những gai góc của nó lộ ra. Tôi chưa đọc nhiều tiểu thuyết của ông, chỉ mới 5 quyển thôi gồm các tựa: Từ hôn, Ăn Theo Thủa Ở Theo Thời, Nhơn tình ấm lạnh, Con nhà nghèo và Con nhà giàu, nên cũng chỉ bàn đến nội dung trong những truyện trên. “Từ hôn” là một câu chuyện nội dung đơn giản, kể về một chàng trai có gốc quan lại, tên là Châu Tất Đắc, nhưng hiện tại học hành chưa đến nơi đến chốn, công việc cũng không có để nuôi thân, nhờ một bà mai nhanh trí khôn ngoan giới thiệu để kết hôn với một cô gái con nhà giàu có, được cưng như trứng mỏng, với một điều kiện duy nhất là anh chàng phải ở rể. Để được nhà gái chấp thuận, anh chàng và bà mai đã câu kết với nhau đơm đặt nhiều chuyện như anh đã học đậu bằng “bác vật”, lại còn sắp có một công việc ăn lương lớn. Làm tất cả những điều đó, anh nọ chỉ nhằm vào một mục tiêu duy nhất là được làm “nghề chồng”, cái nghề chỉ nằm nhà vợ ăn không ngồi rồi, sung sướng tấm thân, như “chuột sa hũ nếp”. Khi cá lớn cá nhỏ đều đã cắn câu, anh được vợ sắp cưới yêu đương mê mẩn, mẹ vợ quý trọng thương mến, cứ ngỡ mọi chuyện sẽ êm xuôi mà cứ thế làm đám cưới, thì đột ngột anh từ hôn… … bởi con người ta, thời nào cũng vậy, vẫn cần một lòng tự trọng để sống trên đời, để không hổ thẹn với tòa án chuẩn mực công bình và thấu hiểu nhất đó là lương tâm.   Đọc truyện của Hồ Biểu Chánh, cũng là một bước nhìn lại quá khứ, không phải của tôi, mà là của con người, của thiên hạ, đế thấy con tạo xoay vần, nhân gian biến đổi, nói thiệt, không khỏi có chút chạnh lòng. *** Tóm tắt Tiểu thuyết "Từ hôn" của Hồ Biểu Chánh kể về cuộc hôn nhân giữa Châu Tất Ðắc và Bạch Yến. Châu Tất Ðắc là một người lập dị, theo thuyết "bất cần lao". Ông cho rằng con người không cần phải lao động mà chỉ cần hưởng thụ cuộc sống. Bạch Yến là một cô gái xinh đẹp, nhưng lại có tính cách mạnh mẽ, độc lập. Cuộc hôn nhân của hai người bắt nguồn từ một cuộc cá cược giữa Châu Tất Ðắc và Cẩm Hương, giám đốc trường nữ công. Cẩm Hương muốn chứng minh rằng cô có thể tìm được một người chồng cho Bạch Yến, dù cho anh ta có lập dị đến đâu. Ban đầu, Châu Tất Ðắc và Bạch Yến sống rất hạnh phúc. Họ có chung những quan điểm sống và yêu thương nhau rất nhiều. Tuy nhiên, theo thời gian, những mâu thuẫn giữa hai người bắt đầu nảy sinh. Châu Tất Ðắc không muốn làm việc, chỉ muốn hưởng thụ cuộc sống. Bạch Yến thì muốn có một người chồng có thể mang lại cho cô một cuộc sống ổn định. Cuối cùng, hai người quyết định từ hôn. Châu Tất Ðắc trở về với cuộc sống của mình, còn Bạch Yến thì tìm được một người chồng khác. Đánh giá Tiểu thuyết "Từ hôn" là một tác phẩm văn học xuất sắc của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm đã đề cập đến một vấn đề xã hội bức thiết trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, đó là vấn đề hôn nhân. Tác phẩm đã thể hiện được sự mâu thuẫn giữa hai quan điểm sống: quan điểm sống hưởng thụ và quan điểm sống cần lao. Quan điểm sống hưởng thụ sẽ dẫn đến những hậu quả xấu, như: lười biếng, ích kỷ, không có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đã thể hiện được sự mạnh mẽ, độc lập của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bạch Yến là một cô gái có cá tính, không chịu khuất phục trước những định kiến của xã hội. Cô đã tự mình quyết định cuộc đời của mình, không phụ thuộc vào bất cứ ai. Cảm nhận Tôi rất thích tiểu thuyết "Từ hôn" của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm đã mang đến cho tôi nhiều suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống và con người. Tôi đồng ý với quan điểm của tác giả rằng quan điểm sống hưởng thụ sẽ dẫn đến những hậu quả xấu. Con người cần phải có một quan điểm sống đúng đắn, cần lao để có thể xây dựng cuộc sống tốt đẹp cho bản thân và xã hội. Tôi cũng rất ngưỡng mộ nhân vật Bạch Yến. Cô là một người phụ nữ mạnh mẽ, độc lập, có ý chí và nghị lực. Cô là một tấm gương sáng cho những người phụ nữ trong xã hội. Tôi nghĩ rằng tiểu thuyết "Từ hôn" là một tác phẩm văn học đáng đọc. Tác phẩm đã mang đến cho người đọc những giá trị nhân văn sâu sắc. Mời các bạn mượn đọc sách Từ Hôn của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Người Gia Sư
Lịch sử đích thực chứa đựng những bài học tựa như những kho báu, mặc dù, trong một số trường hợp, kho báu không dễ phát hiện, và khi được tìm ra lại chẳng đáng kể về số lượng, đã cạn kiệt, phần cốt lõi đã teo tóp và hầu như chẳng bõ công cạy cục tìm tòi. Điều đó có đúng với lịch sử của tôi hay không, tôi không giỏi đánh giá cho lắm. Đôi khi tôi nghĩ có thể câu chuyện của mình có ích cho ai đó, có thể đem lại sự thú vị cho người khác, nhưng người đời có sự đánh giá của riêng mình. Được ít người biết đến, sau nhiều năm trôi qua, và với việc sử dụng một vài cái tên giả, tôi không sợ mạo hiểm, và tôi sẽ tiết lộ với các bạn những gì tôi thậm chí không tâm sự với ngay cả người bạn thân nhất của mình. Cha tôi là một mục sư ở miền Bắc nước Anh, người đáng được tất cả những ai biết đến kính nể. Thời trai trẻ, ông sống khá thoải mái bằng thu nhập từ công việc của mình và chút sản nghiệp riêng. Mẹ tôi, người phụ nữ kết hôn với ông bất chấp sự phản đối của gia đình, là con gái của một địa chủ, và là một người ngoan đạo. Chẳng ích gì khi nói với bà rằng nếu trở thành vợ của một mục sư thì bà sẽ phải từ bỏ cỗ xe ngựa, cô hầu phòng, và tất cả những thứ xa xỉ, thanh nhã của sự giàu sang, điều mà đối với bà ít quan trọng hơn nhiều so với những thứ thiết yếu trong cuộc sống. Một cỗ xe ngựa và một cô người hầu tiện lợi thật đấy, nhưng, ơn Trời, bà có đôi chân để tự bước đi, có đôi tay để tự làm được những việc cần thiết của cá nhân. Một ngôi nhà đẹp và những mẫu đất không phải là những thứ chẳng đáng giá một xu, nhưng bà thích sống dưới mái nhà tranh cùng với Richard Grey hơn là sống trong một cung điện với bất cứ người đàn ông nào khác trên đời này. Biết rằng tranh cãi, phản đối chẳng ích gì, cha của bà sau một thời gian dài, đã nói với đôi uyên ương rằng nếu thích thì họ cứ việc lấy nhau, nhưng, nếu như vậy, thì con gái của ông sẽ không được hưởng một mẩu của nả nào từ gia đình. Ông cụ hy vọng tuyên bố đó có thể dập tắt ngọn lửa tình yêu nồng nàn trong trái tim đôi trẻ, nhưng ông đã nhầm. Cha tôi biết quá rõ rằng giá trị vượt trội không dễ nhận thấy của mẹ tôi chính là kho báu ở trong con người bà và nếu bà ưng thuận về xây đắp tổ ấm của ông thì ông sẽ hân hoan đón nhận bà với bất cứ điều kiện nào. Trong khi đó, mẹ tôi thích lao động bằng đôi bàn tay của mình hơn là phải chia tay người đàn ông mà bà đã đem lòng yêu, người mà bà tình nguyện đem lại hạnh phúc, khi mà cả trái tim và tâm hồn của hai người đã hòa làm một. Vậy là tài sản thừa kế của bà đã làm căng cái ví của người chị gái khôn ngoan hơn, người đã kết hôn với một vị quan thái thú, còn bà đi chôn vùi bản thân trong ngôi nhà đơn sơ của vị mục sư giữa những ngọn đồi trong sự ngạc nhiên và thương hại của tất cả những người quen biết. Bất chấp tất cả những chuyện đã xảy ra, dù tính cách mạnh mẽ của mẹ tôi và những ý thích nhất thời của cha tôi, tôi tin rằng bạn tìm khắp cả nước Anh này cũng chẳng thể tìm nổi một đôi vợ chồng nào hạnh phúc hơn cha mẹ tôi. ... Mời các bạn đón đọc Người Gia Sư của tác giả Anne Brontë.
Tỉnh Mộng
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Tỉnh Mộng của tác giả Hồ Biểu Chánh. Bà phủ Tiên góa chồng chỉ có một gái là Yến Tuyết xinh đep và đoan trang. Yến Tuyết có người anh con dì là Trường Xuân, trước làm thông ngôn, tham giàu lấy người vợ xấu xí, rồi xin thôi việc ra làm hội đồng địa hạt. Yến Tuyết ngây thơ bị Trường Xuân dùng những lời ong bướm gợi tình, nên thất tiết và mang thai. Sợ chuyện đổ bể thì mang tai tiếng và có hại trong việc tranh chức cai tổng, Trường Xuân muớn Kỳ Tâm làm nôm (là người nhận một số tiền đền bù để làm chồng một cô gái chửa hoang ). Kỳ Tâm vốn là con một ông cả giàu có lớn, vì gia đình suy sụp phải bỏ học, lại bị vị hôn thê phụ bạc nên chán ngán nhâm tình. Chàng nhận làm nôm để giúp mẹ con bà phủ khỏi mang tiếng xấu và để có dịp hiểu đời thêm, chớ không nhận tiền. Kỳ Tâm bằng lòng nhận điều kiện của Yến Tuyết là chỉ đóng vai chồng hờ và điều kiện của Trường Xuân là phải ra khỏi gia đình bà Phủ bất cứ lúc nào khi có yêu cầu. Chàng chỉ đòi hỏi một điều là được biết chuyện tình giữa Trường Xuân và Yến Tuyết. Trường Xuân tưởng nhờ người nôm tạm để về sau còn đi lại với Yến Tuyết, không ngờ từ khi thất thân với Trường Xuân, nàng khinh bỉ chàng và luôn luôn lánh mặt. Kết quả ra sao mời bạn đọc tiếp... Tỉnh mộng *** Tóm tắt Tỉnh Mộng là một tiểu thuyết hiện thực của nhà văn Hồ Biểu Chánh, được xuất bản năm 1937. Tác phẩm kể về cuộc đời và tình yêu của ba nhân vật chính là Yến Tuyết, Kỳ Tâm và Trường Xuân. Yến Tuyết là một cô gái xinh đẹp và đoan trang, nhưng lại ngây thơ và thiếu hiểu biết. Cô bị Trường Xuân, người anh con dì của mình, dụ dỗ và thất tiết. Trường Xuân là một người đàn ông tham lam và ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân. Anh ta đã lợi dụng sự ngây thơ của Yến Tuyết để thỏa mãn dục vọng của mình. Kỳ Tâm là một chàng trai có học thức và phẩm hạnh. Anh ta nhận làm nôm cho Yến Tuyết để giúp cô thoát khỏi tai tiếng. Kỳ Tâm yêu Yến Tuyết ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ, nhưng anh ta biết rằng tình yêu của mình là vô vọng. Cuối cùng, Trường Xuân đã bị bà Phủ đuổi ra khỏi nhà. Yến Tuyết đã sinh con cho Kỳ Tâm, nhưng cô vẫn không thể quên được Trường Xuân. Kỳ Tâm đã trở thành người chồng hiền lành và yêu thương Yến Tuyết hết mực. Anh ta đã giúp Yến Tuyết vượt qua nỗi đau tinh thần và tìm lại hạnh phúc. Cảm nhận Tỉnh Mộng là một tiểu thuyết có giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã phản ánh chân thực cuộc sống của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam. Tác phẩm cũng ca ngợi tình yêu chân thành, thủy chung, và tinh thần đấu tranh cho hạnh phúc của con người. Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn mang đậm chất Nam Bộ. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Hồ Biểu Chánh cũng rất thành công. Đánh giá Tỉnh Mộng là một tiểu thuyết đáng đọc của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm đã để lại trong lòng độc giả nhiều ấn tượng sâu sắc về cuộc đời và số phận của những con người trong xã hội phong kiến Việt Nam. Một số điểm hạn chế của tác phẩm Cốt truyện khá đơn giản, chưa có nhiều điểm nhấn. Kết thúc truyện có phần hơi dễ đoán. Tuy nhiên, những hạn chế này không làm giảm đi giá trị của tác phẩm. Tỉnh Mộng vẫn là một tiểu thuyết xuất sắc của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Mời các bạn mượn đọc sách Tỉnh Mộng của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Hai Khối Tình
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Hai Khối Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh. “Ái tình là ý nghĩa của sự sống. Ngày nay khối tình của em đã tan rã, thế thì em còn sống làm chi nữa, mà chị khuyên em phải sống.” “Sự sống còn nhiều mục đích khác cao thượng lắm, chớ nào phải sống đặng say sưa với ái tình mà thôi đâu.” “Em không có mục đích nào khác nữa.” “Em còn trẻ, em chưa lịch duyệt thế cuộc, nên em mới nói như vậy. Trong một ít nữa rồi em sẽ thấy sự sống có nhiều mục đích tốt đẹp nồng nàn hơn ái tình thập bội.” *** Cảm nhận Hai Khối Tình là một tiểu thuyết hiện thực của nhà văn Hồ Biểu Chánh, được xuất bản năm 1936. Tác phẩm kể về cuộc đời và tình yêu của hai nhân vật chính là cô Cúc và ông trạng sư Xương. Cô Cúc là một cô gái xinh đẹp, tài giỏi, có chí tiến thủ. Cô đã thi đậu bằng Thành chung, trở thành người phụ nữ đầu tiên trong gia đình đỗ đạt. Cô có ước mơ trở thành nhà văn, viết tiểu thuyết để đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ. Ông trạng sư Xương là một người đàn ông hào hoa, phong nhã, có học thức uyên bác. Ông rất quý mến cô Cúc, luôn giúp đỡ cô trong cuộc sống và học tập. Ông cũng là người có tư tưởng tiến bộ, ủng hộ quyền bình đẳng của phụ nữ. Tình yêu của cô Cúc và ông trạng sư Xương là một tình yêu đẹp, nhưng cũng gặp phải nhiều trắc trở. Vì những khác biệt về quan niệm sống và hoàn cảnh gia đình, họ đã phải chia tay nhau. Tiểu thuyết Hai Khối Tình đã phản ánh chân thực cuộc sống của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam. Tác phẩm cũng thể hiện tinh thần đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Đánh giá Hai Khối Tình là một tiểu thuyết có giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã phê phán xã hội phong kiến với những hủ tục lạc hậu, những bất công, áp bức đối với phụ nữ. Đồng thời, tác phẩm cũng ca ngợi tình yêu chân thành, thủy chung, và tinh thần đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn mang đậm chất Nam Bộ. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Hồ Biểu Chánh cũng rất thành công. Tuy nhiên, tác phẩm cũng có một số hạn chế như: Cốt truyện khá đơn giản, chưa có nhiều điểm nhấn. Kết thúc truyện có phần hơi dễ đoán. Nhìn chung, Hai Khối Tình là một tiểu thuyết đáng đọc của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Mời các bạn mượn đọc sách Hai Khối Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh.