Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Sao Mình Chia Tay - Daniel Handler

Trong tình yêu chia tay là điều không ai muốn nhưng dưới giọng văn hóm hỉnh, nhẹ nhàng của Daniel Handler việc chia ly chỉ như cái khẽ gật đầu đầy ắp những kỷ niệm đáng nhớ. Ai đó đã từng nói nếu ai can đảm yêu thì cũng can đảm để chia tay, rời xa cuộc tình của mình. Nhưng lời nói khi thốt ra lúc nào cũng đơn giản, nghe sao nhẹ nhàng, bình tĩnh. Đối diện với sự thật rằng hai người không còn bước đi chung một con đường dù là kẻ can trường nhất cũng phải yếu lòng. Tác giả Daniel Handler chia sẻ những chi tiết trong cuốn sách đều thể hiện từ chính cảm xúc ngoài đời thực của ông qua những lần đau đớn và buồn bã với bao chuyện tình thời đi học. Và từ đó, câu chuyện ngây ngốc, ngọt ngào giữa Min và Ed ra đời. Min Green và Ed Slaterton chia tay nhau, cô viết cho Ed một bức thư kèm theo một cái hộp. Trong hộp là lý do vì sao chuyện tình của họ đi đến hồi kết. Hai nắp chai, một tấm vé xem phim, một tờ ghi chú, một hộp diêm, một thước do độ, sách, xe tải đồ chơi, đôi hoa tai xấu xí, một chiếc lược trong nhà nghỉ và mọi thứ gắn với mối tình dễ thương và sâu sắc này. Từng món kỷ vật được liệt kê và minh họa chi tiết, và rồi cái hộp, cũng giống như anh chàng siêu sao bóng rổ này, bị cô gái cho ra rìa.   Cuốn sách không được thể hiện theo từng chương như các tác phẩm thông thường. Tác giả chia nhỏ khoảng trời kỷ niệm của hai người thành nhiều mẩu chuyện được sắp xếp liên tiếp nhau trong suốt khoảng thời gian yêu nhau. Những kỷ vật được giữ lại nơi đáy thùng rất lạ thường, thậm chí có cả những phế phẩm vứt đi như chiếc nắp chai, sợ dây chun hay cái ghim kẹp tóc. Những đồ vật tưởng như vô tri bỏ xó ấy mỗi lần nhìn lại là một cú thót mình ngọt ngào cho từng phần ký ức. Cuối cùng Min cũng là người bước tiếp, gửi trả lại người cô yêu tất cả mọi điều. Chuyện tình tan vỡ của Min và Ed làm người đọc như nhớ lại chuyện của mình. Đó có thể là điều đã từng xảy ra với bất kì ai, lúc yêu thương, lúc giận hờn hay cãi vã. Trong bức thư dài gửi lại Ed, Min chưa một lần hối tiếc hay ca thán về cuộc tình này. Cô gói ghém những điều tốt đẹp và gửi lại cho anh. Thái độ bình tĩnh giải thích lý do Min đưa ra không khỏi làm độc giả phải nghĩ ngợi. Liệu cô nàng là kẻ may mắn khi kịp thoát ra khỏi u mê, sẵn sàng cho khởi đầu mới hay Min vẫn sẽ là một cô nàng ngây ngốc, yêu đến cuồng nhiệt vì tuổi trẻ. Với giọng văn hóm hỉnh, nhẹ nhàng của Daniel Handler việc chia ly giờ đây chỉ như cái khẽ gật đầu đầy ắp kỷ niệm. Cuộc vui nào cũng phải tàn, chuyện tình hợp tan cũng như một quy luật cuộc sống. Tác giả viết và gom tất cả chúng lại, chuyển hóa thành những cơn đau dễ chịu, không bi lụy. Có lẽ cũng bởi vì đau nhiều, yêu nhiều nên mối tình của Min và Ed mới thú vị ngay cả khi nó đã thực sự kết thúc. Một tình yêu không còn hạnh phúc sẽ buồn hơn cả việc chia tay. Khi gấp cuốn sách lại ắt hẳn trong chúng ta sẽ có một ước mong rất lớn. Một khao khát có cậu bạn tâm lý đầy vị tha như Al, có một con người hoàn hảo, hấp dẫn như Ed để yêu và trở thành một cô gái yêu đuối, cuồng si, đầy nhiệt thành như Min để được yêu. Thay vì quá chi tiết cho những mẩu chuyện, tác giả tập trung xây dựng nội tâm rất rõ ràng cho từng nhân vật dù đó chỉ là kẻ ngoài lề. Al ban đầu xuất hiện như người bạn thân của Min, nhưng ai ngờ rằng chính chàng trai này cũng đem theo những nỗi niềm giấu kín không thể cất lên được. Anh đã tạo cho câu chuyện một sự biến chuyển đáng thú vị rồi vỡ òa, hẫng hụt trong nỗi buồn bâng khuâng. Yếu tố bất ngờ luôn là những chi tiết sáng giá, làm câu truyện trở nên khó đoán và hấp dẫn hơn. Đôi khi một cuộc tình diễn tiến khó lường còn thú vị, đa sắc hơn khi nó trở nên quá êm đềm và bằng phẳng. Hạnh phúc như là ánh sáng, ánh sáng có thể vụt tắt bất cứ lúc nào. Sao mình chia tay là câu chuyện dành cho tất cả những kẻ cô đơn, những ai đau đớn vật vã khi tình yêu đã kết thúc. Hãy mỉm cười, lời tạm biệt không phải là dấu chấm hết, một hành trình mới mở ra. *** Gửi Ed, Chỉ trong tích tắc nữa thôi, anh sẽ nghe thấy một tiếng “rầm.” Ngay trước cửa chính nhà anh ấy, cánh cửa chẳng có ma nào dùng đến. Thứ ấy sẽ khiến cho mấy cái bản lề cửa rung lên chút đỉnh khi nó hạ cánh, bởi nó rất nặng và cực quan trọng, có tiếng loang xoảng, lanh canh ngân lên kèm với tiếng “rầm” đó, và Joan sẽ ngẩng đầu lên khỏi cái món chị ấy đang nấu dở. Chị ấy rồi sẽ lại ngó xuống nồi, lo lắng rằng nếu chạy ra xem có việc gì thì khéo thức ăn trong nồi lại bị trào ra ngoài mất. Em có thể thấy được cái cau mặt của Joan hiện lên trên món nước sốt hay món gì đó đại loại thế đang sôi bùng bục. Nhưng rồi chị ấy sẽ đi ra, chị ấy sẽ đi ra và xem. Còn anh thì không, Ed à. Anh sẽ chẳng bao giờ xuống. Có lẽ anh đang ở trên gác, nhễ nhại mồ hôi và chỉ có một mình. Có lẽ anh sẽ đi tắm táp, nhưng anh còn đang phải vật vã trên giường vì đau khổ, em hi vọng thế, và như vậy, chính chị gái anh, chị Joan, sẽ là người mở cửa mặc dù tiếng “rầm” ấy là dành cho anh. Anh sẽ còn chẳng mảy may hay biết hoặc nghe thấy thứ gì bị quẳng trước cửa nhà. Anh có khi còn không biết vì sao mà nó lại bị vứt ở đó. Hôm nay là một ngày đẹp trời, đầy nắng và kiểu kiểu thế. Kiểu ngày khiến anh nghĩ mọi chuyện sẽ thật tuyệt vời, vân vân và vân vân. Chứ đâu phải kiểu ngày cho những việc như thế này, cho chúng ta, hai đứa đã hẹn hò khi trời đổ mưa giông, từ ngày 5 tháng Mười đến ngày 12 tháng Mười Một. Nhưng giờ đã là tháng Mười Hai rồi, bầu trời bừng sáng, và với em thì mọi thứ thật rõ ràng. Em sẽ nói cho anh nghe vì sao hai đứa mình lại chia tay, Ed à. Em sẽ viết về chuyện đó trong lá thư này, toàn bộ sự thật vì sao chuyện đó lại xảy ra. Và sự thật rằng em đã yêu anh điên cuồng đến mức nào. • • • Ed ạ, cái tiếng “rầm” ấy thực ra là cái hộp này. Đây là thứ em sẽ quẳng lại cho anh. Em tìm thấy nó ở dưới tầng hầm và chỉ tiện tay cầm lên thôi vì tất cả chỗ đồ của hai đứa mình ấy mà, quá nhiều so với cái tủ cạnh giường em. Thêm nữa, em nghĩ thế nào mẹ em cũng sẽ lại tìm bới được cái gì đó trong chỗ đồ này vì mẹ là chúa lục lọi, săn đón những bí mật của em. Thế cho nên em đã nhét tất tần tật vào cái hộp này rồi tống nó và tủ, bên trên để mấy đôi giày em chẳng bao giờ xỏ chân vào từng món đồ kỉ niệm mối tình của hai đứa mình, những giải thưởng và những mảnh vỡ của mối quan hệ này, giống như rãnh nước vụt óng ánh khi đoàn diễu hành bước qua, giống như những thử bèo bọt bị hắt hủi bên lề đường. Em sẽ vứt toàn bộ cái hộp này vào cuộc đời anh đấy, Ed, từng thứ một, của anh và em. Em sẽ vứt cái hộp này lên thêm nhà anh, Ed, nhưng chính anh, Ed, chính anh mới là kẻ bị vứt bỏ. Cái hộp này, em thừa nhận, sẽ làm em mỉm cười. Một điều thật hiếm hoi trong những ngày gần đây. Dạo này em thấy mình như cô ả Aimeé Rondelé trong Đến Trời Cũng Khóc, một bộ phim điện ảnh Pháp anh chưa xem bao giờ. Cô ta vào vai một sát thủ kiêm nhà thiết kế váy, và cô ta chỉ cười đúng có hai lần trong suốt cả bộ phim. Một lần là khi tên trùm sò, vốn là kẻ đã giết bố cô ta, bị ném bay khỏi tòa nhà. Nhưng đó không phải là nụ cười em đang nghĩ tới. Phải là nụ cười lúc gần hết phim kia, khi cô ta cuối cùng cũng có được chiếc phản với các tấm ảnh và rồi đã đốt nó trong một chiếc tàn đẹp mê hồn mà không thèm mở ra xem bên trong có gì và cô ta biết chắc rằng mọi chuyện đã kết thúc, châm một điếu thuốc lá và đứng đó, trong bộ váy dài màu xanh lá hoàn hảo, ngắm nhìn đám chim két túm tụm và nhộn nhạo bay quanh ngọn tháp nhà thờ. Em có thể nhìn thấy nó. Nụ cười như nói rằng thế giới này hóa ra vẫn còn có công lí. Nụ cười như nói rằng ừ đúng, em đã yêu anh, còn giờ, đây là đống đồ của anh, cũng chẳng khác gì anh, sẽ bắn ra khỏi cuộc đời em. Em biết là anh chẳng thể nhìn ra nó đâu, anh sai có thể nhìn ra được, nhưng có khi nếu em kể cho anh nghe toàn bộ kịch bản thì biết đâu đấy, anh sẽ hiểu ra ngay tắp lự, bởi ngay bây giờ, chính em cũng muốn anh nhìn thấy nụ cười ấy. Em chẳng còn yêu anh nữa, đương nhiên, nhưng vẫn còn đó, vài điều em muốn chỉ cho anh thấy. Anh cũng biết là em luôn muốn làm đạo diễn, nhưng anh đã chẳng bao giờ thực sự nhìn thấy được những bộ phim diễn ra trong đầu em, và, Ed ạ, đó là lí do vì sao hai đứa mình chia tay. • • • Em đã viết câu danh ngôn yêu thích lên nắp của cái hộp này, câu danh ngôn của Hawk Davies, một huyền thoại, và em đang dùng chính cái nắp hộp ấy làm bàn kê viết lá thư này để em có thể cảm nhận Hawk Davies đang chảy trôi trong từng con chữ gửi tới anh. Cái xe tải cửa hàng của bố Al có chút rung lắc nên thi thoảng chữ nghĩa xộc xệch, vì vậy chắc anh cũng sẽ phải chật vật lắm mới đọc hết được từng từ của lá thư. Sáng nay em đã gọi Al và ngay khi em vừa mới nói, “Đoán xem?” hắn đã đáp ngay, “Bà định nhờ tôi dùng xe của ông già để làm chân chạy việc cho bà chứ gì?” “Ông quả là thiên tài đoán mò,” em bật thốt. “Gần đúng đấy.” “Gần đúng thôi sao?” ... Mời các bạn đón đọc Sao Mình Chia Tay của tác giả Daniel Handler.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bí Kíp Quá Giang Vào Ngân Hà
Chuyện kể rằng, sau những cuốc xe quá giang từ Anh quốc tới tận Thổ Nhĩ Kỳ, tác giả của chúng ta, anh chàng Douglas Adams rỗng túi say khướt nằm dưới trời đêm mộng tưởng về một ngày đi nhờ tàu vũ trụ lang thang giữa các vì tinh tú. Và thế là Bí kíp quá giang vào Ngân Hà ra đời: là tất cả những điều cần biết nếu bạn nghèo kiết xác mà lại khao khát chiêm ngưỡng các kỳ quan của Vũ Trụ, chỉ với chưa đầy ba mươi đô la Ngưu Lang một ngày. Với Bí kíp trong tay, một nhóm người ngoài hành tinh kỳ quặc bên cạnh, và một Trái Đất nổ tung sau lưng, Arthur đột nhiên trở thành kẻ lữ hành lạc trôi trong Vũ Trụ. Không, câu chuyện sẽ không mộng mơ hay nghiêm túc như bạn tưởng, mà quay cuồng giữa những trò khôi hài, ngẫu hứng, điên rồ. Một truyện khoa học viễn tưởng cực kỳ hài hước, bạn có tin không? “Một cổ tích hiện đại, một ngụ ngôn, một hài kịch bậc thầy.” - Television Today *** Tiểu thuyết gia Douglas Adams sinh ngày 11-3-1952 tại Thành phố Cambridge, nước Anh. Là Tiểu thuyết gia sinh thuộc cung Song Ngư, cầm tinh con (giáp) rồng (Nhâm Thìn 1952). Douglas Adams xếp hạng nổi tiếng thứ 20450 trên thế giới và thứ 103 trong danh sách Tiểu thuyết gia nổi tiếng. Tổng dân số trên thế giới năm 1952 vào khoảng 2.635 tỷ người. Tác giả tiếng Anh của bộ phim khoa học viễn tưởng nổi tiếng, của Hitchhiker Guide to the Galaxy, mà nguồn gốc là một bộ phim hài đài phát thanh BBC. tác phẩm khác của ông gồm The Long tối Tea-Time of the Soul (1988), và Ý nghĩa của Liff (1983).  Ông là một người vô thần tự xưng. Ông đã tham dự The Brentwood School, một học viện chuẩn bị có uy tín, và tiếp tục theo học tiếng Anh tại trường Cao đẳng St John, Cambridge. Sau khi tốt nghiệp, ông chuyển đến London để theo đuổi một nghề nghiệp trong truyền hình và đài phát thanh bằng văn bản. Cuộc sống gia đình Douglas Adams Ông và em gái của mình, Susan, là con cái của Christopher và Janet Adams. Ông kết hôn với Jane Belson vào năm 1991, và cặp đôi này chào đón cô con gái của họ, Polly, vào năm 1994, ít hơn so với một thập kỷ trước khi chết không đúng lúc của Adams từ một cơn đau tim. *** Ngôi nhà đứng trên một sườn đồi chếch ngoài rìa làng. Nó đứng đó trơ trọi trông ra trảng rộng đất nông trang khu vực Tây Nam nước Anh. Xét trên phương diện nào cũng đều chẳng phải một ngôi nhà đáng chú ý - chừng ba mươi năm tuổi, lùn bè, vuông chạnh, xây gạch, có bốn cửa sổ chình ình đằng trước ở kích thước lẫn tỷ lệ hầu như chính xác sao cho thật khó coi. Con người duy nhất thấy ngôi nhà ấy có chút nào đặc biệt chính là Arthur Dent, mà ấy chỉ bởi vì đó tình cờ là ngôi nhà anh đang sống. Anh sống trong ngôi nhà ấy được chừng ba năm, kể từ cái hồi anh chuyển đi khỏi London bởi thành phố ấy khiến anh lo âu và cáu bẳn. Bản thân anh cũng khoảng ba mươi, cao, tóc đen và chẳng bao giờ tự thấy thoải mái. Thứ từng khiến anh lo lắng nhất là mọi người luôn miệng hỏi anh trông có vẻ lo lắng thế vì nỗi gì. Anh làm ở đài phát thanh địa phương, anh từng hay bảo các bạn là chỗ đó thú vị hơn họ chắc là tưởng nhiều. Cũng có đúng vậy - phần lớn các bạn anh làm việc bên quảng cáo. Đêm hôm thứ Tư trời mưa rất nặng hạt, đường làng ướt nhép sình lầy, nhưng sáng thứ Năm mặt trời sáng trong veo lúc soi rọi ngôi nhà của Arthur đâu như sẽ là lần cuối. Chuyện hội đồng muốn đánh sập nhà anh và xây thế vào đó một đường vòng thì Arthur vẫn còn lơ mơ. ... Mời các bạn đón đọc Bí Kíp Quá Giang Vào Ngân Hà của tác giả Douglas Adams.
Sài Gòn Năm Xưa - Vương Hồng Sển
Dựa vào cuốn Ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ cận của học giả Trương Vĩnh Ký viết năm 1885 (tức là sau 25 năm Sài Gòn bị thực dân Pháp chiếm đóng), Vương Hồng Sển đã... kể tiếp, nhắc lại những sự biến đổi từ thuở đó cho đến ngày Sài Gòn trở về với dân Việt.... Ở đây, tác giả chú trọng nhiều nhất là những đoạn sử vụn vặt buổi giao thời: Pháp - Nam - Chà - Chệc chung đụng, những chuyện Tây đến, Tây đi, những việc chưa ai nói rõ ràng, tác giả đã được nghe đến tận tai hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại.  Đọc Sài Gòn năm xưa giúp chúng ta hiểu biết thêm về lịch sử sự hình thành và phát triển của Hòn ngọc viễn đông mà ngày nay được mang tên - Thành phố Hồ Chí Minh   *** Vương Hồng Sển (1902-1996), bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam. Khi chết ông đã hiến tặng ngôi nhà (Vân đường phủ) và toàn bộ sưu tập đồ cổ của mình cho Nhà nước Việt Nam (tổng cộng 849 cổ vật khác nhau) với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông. Năm 2003, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố ngôi nhà này (địa chỉ: số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, Quận Bình Thạnh). Khi qua đời, ông Vương Hồng Sển đã hiến tặng lại những cổ vật, mà cả đời ông sưu tập được, cho thành phố và mong muốn những di vật này sẽ được trưng bày trong ngôi nhà cổ của ông, trong sự bài trí rất tinh tế và hài hòa với sự cổ xưa của ngôi nhà được biến thành "Nhà lưu niệm Vương Hồng Sển" [6]. Tuy nhiên, từ năm 1996, Sở Văn hóa Thông tin TP Hồ Chí Minh, với sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân Thành phố đã di dời các cổ vật về quản lý và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố, và tại Thư viện Khoa học tổng hợp. **** Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển cổ, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm gì cũng hỏi vặn tôi về:   Mời các bạn đón đọc Sài Gòn Năm Xưa của tác giả Vương Hồng Sển.
Đồng Quê - Phi Vân
Đề tài nông thôn trong sáng tác của các nhà văn không phải là điều gì mới lạ. Tuy nhiên, để khắc họa được một bức tranh quê với đủ các diện mạo, màu sắc của nó không phải là điều dễ dàng. Có thể nói, phần lớn chủ đề tác phẩm của các nhà văn miền Nam *** Đây là những bài báo. Bởi thế cách hành-văn cũng như nội-dung đều có tính-cách “nhật-trình”. Lối văn gần như cẩu-thả. Câu-chuyện có vẻ nhất-thời. Nhưng tôi cứ để nguyên cho nhà xuất-bản. Nghĩ rằng: hồi ấy tôi đã để ngòi bút chạy theo dòng ý-tưởng, dầu khéo dầu vụng, cách thuật chuyện cũng được cái đặc-điểm là ghi tâm-trạng tôi lúc viết. Hình-ảnh những nhân-vật trong chuyện - những người đã cùng tôi sống chung - ngày nay đã mờ trong ký-ức. Kể lại một quãng đời phải chăng là sống lại với ngày qua? Có lẽ thế. Nhưng tôi muốn xa hơn: Vẽ một bức tranh phong-tục và tập-quán. Thật là quá cao-vọng. Tự thấy còn thấp-kém, nhưng tôi vẫn cố-gắng. Đây là những bài đầu, tôi ước-mong sẽ có thể viết thêm. Nếu chưa hiến được độc-giả những bài đúng theo nguyên-tắc tôi đã tự vạch, thì xin hẹn lại ở những bài sau. PHI-VÂN *** Phi Vân (1917-1977) là một nhà báo, nhà văn chuyên viết thể loại truyện vừa và tiểu thuyết mang sâu đậm dấu ấn Nam bộ trước 1954. Phi Vân tên thật là Lâm Thế Nhơn, sinh năm 1917 trong một gia đình trung lưu ở thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Ông chuyên viết phóng sự, truyện ngắn cho những tờ báo, tạp chí ở miền Nam trước đây như Tiếng Chuông, Dân Chúng, Tiếng Dân (của cụ Huỳnh Thúc Kháng) và làm chủ bút tờ Thủ Đô thời báo. Ông có lối viết linh hoạt, gọn gàng, pha chút hóm hỉnh, làm cho cho độc giả khóc, cười theo từng cảnh đời, từng nhân vật. Bối cảnh trong các tác phẩm của ông là làng quê Nam bộ xa xôi hẻo lánh với những người nông dân chất phác, cục mịch sống với tập tục cổ hủ, lạc hậu và cuộc sống cực nhọc tối tăm. *** Chỗ hứng-thú của quyển phỏng-sự ấy là nó cho ta thấy những phong-tục cũ-kỹ ở thôn-quê, những tin-tưởng dị-đoan của hạng bình dân lao-động. Nó cho ta thấy những cuộc giao-tiếp, xung-đột giữa bọn điền-chủ và tá-điền, những tâm-hồn mộc-mạc trong bọn nầy và những oai-quyền thế-lực của bọn kia. Đọc qua, chúng ta thấy mình len-lỏi chốn đồng quê, đang mục-kích những cuộc tụ-họp chơi-bời, những cảnh cần-lao rộn-rịp. Thỉnh-thoảng như đưa lại giọng hò trầm bổng trong đám gặt, như phất lại mùi thơm thanh-đạm của lúa vàng. Tác-giả lại còn dắt ta đi quanh co trong những sông rạch ở vùng Bạc-liêu, Cà-mau và sau mấy ngày dạo chơi mệt-mỏi, tác-giả dừng lại cho ta thấy một cảnh-sắc êm-đềm: trên bờ sông Trẹm, lững-lờ mấy làn khói trắng bốc lên và dưới hàng dừa xanh tươi, một thiếu-phụ ẵm con đứng đợi chồng về, lâu-lâu đuổi bầy gà đang bới trên giồng rau cải. Hoặc giữa đêm trường vắng-vẻ, chiếc thuyền xuôi mái theo Rạch Bần, tác-giả mời ta trông lên bờ sau hàng dừa nước âm-u, một vài ánh đèn le-lói; nghe từ xa đưa lại tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa đêm… Cho được kể lại rất tài tình những điều quan-sát rất kỹ-càng, làm cho ta như nghe, như thấy, lúc cảm, lúc vui, tất phải nhờ một ngọn bút tỉ-mỉ mà linh-hoạt, một giọng văn thành thật mà hữu-duyên, một cách viết tự nhiên, không rườm-rà mà đầy đủ. Ông Phi-Vân đã gồm cả mấy điều kiện ấy: Quyển phỏng-sự của ông như một tấn tuồng gay-cấn đặt trong cảnh trí xanh tươi; hay là - muốn nói cho rõ hơn - nó là một “nông kịch” chia ra nhiều lớp: có hồi hộp, có vui cười và và sau rốt kết cuộc rất thương-tâm, khiến cho độc-giả phải ngậm-ngùi cảm động. Có lẽ đó là bài luân-lý sâu sắc mà tác-giả không muốn chỉ cho rõ-ràng, để ta tự hiểu ngầm mà thương hại cho hạng nông dân lao-lực. Họ chỉ sống một cuộc đời mộc-mạc, siêng-năng; nhưng mãn kiếp phải làm nạn nhân cho bọn giàu sang thế-lực. Mà cả thảy chúng ta, theo như tác-giả nói lại là “nạn nhân của một thời-kỳ”; cho nên đối với mọi người ta nên để lòng thương hại và thứ dung, và nên cầu nguyện cho chốn đồng quê được chút vui tươi yên ổn… (Trích lục một đoạn bài diễn-văn của giáo-sư Nguyễn-văn-Kiết chủ-tịch của Hội Khuyến-học Cần-thơ đọc trong dịp lễ phát giải thưởng văn-chương Thủ-khoa Nghĩa năm 1943).   Mời các bạn đón đọc Đồng Quê của tác giả Phi Vân.
Doña Bárbara - Rómulo Gallegos
Rómulo Gallegos, tác giả của Doña Bárbara, là nhà viết tiểu thuyết nổi tiếng không những ở Venezuela – Tổ quốc ông – mà cả ở Trung và Nam Mỹ. Người đọc và nhà phê bình ở nhiều nước đều nhiệt liệt hoan nghênh tác phẩm của ông. Sinh năm 1884 và lớn lên trong một gia đình nghèo, Rómulo Gallegos, sau khi học xong trung học, phải đi làm “nghề gõ đầu trẻ” để kiếm sống. Với tư tưởng tiến bộ và nhiệt tình gắn bó với vận mệnh của đất nước, ông tham gia hoạt động chính trị rất sớm chống chế độ quân phiệt, độc tài Gómez đã bán rẻ quyền lợi kinh tế quốc gia cho tư bản nước ngoài và đàn áp tàn bạo nhân dân. Bắt đầu viết văn thật sự khi đã hơn ba mươi lăm tuổi, ông cho xuất bản tác phẩm đầu tay Reinaldo Solar (1920). Ngoài nhiều truyện ngắn, các tác phẩm khác gồm có Cây leo (1925), Doña Bárbara (1929), Canaima (1935), Cantaclaro (1934), Anh da đen khốn khổ (1937), Cũng trên mảnh đất ấy (1943), Cọng rơm trong gió (1952), Nổi loạn (1946). Đấu tranh không mệt mỏi cho tương lai tươi sáng của đất nước bằng cả hành động chính trị và tác phẩm văn học có tính chiến đấu sâu sắc, Rómulo Gallegos được bầu làm tổng thống Venezuela năm 1948, nhưng chẳng bao lâu ông bị các phe phái phản động lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Ông mất năm 1960. Đánh giá sáng tác văn học của Rómulo Gallegos, nhân dân nước ông và người đọc nước ngoài đặc biệt ca ngợi tính chiến đấu trong tiểu thuyết của ông nhằm cải tạo xã hội, giải phóng con người, chiến thắng thiên nhiên khắc nghiệt. Nổi bật hơn cả là Doña Bárbara được in lại rất nhiều lần ở Tây bán cầu, được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước thuộc các lục địa khác. Thảo nguyên bao la của Venezuela ngót sáu mươi năm trước đây, “Những dòng sông rộng không tưới cho đất trồng trọt, cũng không đưa đẩy thuyền bè ngược xuôi”, với những cuộc săn dồn bò hoang, săn cá sấu, bắt ba ba, tìm mật ong, đốt phá đồng cỏ trên phạm vi rộng cũng như những buổi liên hoan nhảy múa vào mùa chia đàn súc vật được miêu tả thật đặc sắc dưới ngòi bút của ông. Con người thảo nguyên cường tráng, chất phác, dũng cảm mà thiên nhiên hoang vu tạo nên và rèn luyện được dựng lên rất sắc sảo trong tác phẩm của ông. Tố cáo chế độ thống trị bất công, lên án bọn cầm quyền tàn bạo, vạch trần bọn ăn cướp Bắc Mỹ vừa trơ trẽn vừa nham hiểm trên đất Venezuela, tác giả tỏ ra là một nhà văn hiện thực sâu sắc, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc. Nhưng đấu tranh bằng con đường nào để đất nước ông “sẽ có ngày trù phú và vui tươi” thì Rómulo Gallegos không vạch ra được. Con mụ địa chủ ác bá Doña Bárbara, tham lam cực kỳ, lại tự nguyện từ bỏ trang trại mà nó tạo nên bằng mọi thủ đoạn và đam mê hơn cả tình yêu say đắm, rồi lưu lạc nơi đâu chẳng ai biết nữa. Thằng cướp đất, cướp súc vật Bắc Mỹ cũng tự nguyện rời bỏ cơ ngơi nó chiếm được và đi kiếm ăn nơi khác khi thấy láng giềng của nó giăng dây thép cương quyết bảo vệ đất đai và súc vật của mình. Đó là do ông bị hạn chế trong quan điểm đấu tranh giai cấp gay gắt trong thời đại ngày nay để giải phóng xã hội, cải tạo con người, là ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng – những hạn chế rất dễ hiểu vào những năm 1925-1930. Dù sao, với những ưu điểm nổi bật của nó, nhà nghiên cứu văn học Đức Ulrich Leo đã đánh giá Doña Bárbara “là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất, vừa khỏe khoắn vừa mềm mại, vừa rộng lớn vừa thâm thúy, vừa hùng tráng vừa trữ tình… có thể so sánh với bất kỳ tác phẩm văn học hiện đại nào.” NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP PHÚ KHÁNH ... Mời các bạn đón đọc Doña Bárbara của tác giả Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn.