Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lược Sử Máy Kéo Bằng Tiếng Ukraina

Ở tuổi tám mươi tư, ông kỹ sư già góa vợ tuyên bố đã tìm thấy tình yêu đích thực của đời mình. Tình yêu ấy mang hình hài một cô nàng ngực to tóc vàng đã ly dị chồng mà ông gặp ở Câu lạc bộ Ukraina. Hai cô con gái ông nhảy dựng lên, vất sạch những hằn học cá nhân để hợp lực tống cổ bằng được cô ả đào mỏ về nước. Tình huống bi hài ấy chẳng ngờ lại khiến những ký ức xúc động về người mẹ đã khuất, những phong tục của quê hương Ukraina từ lâu bị lãng quên cùng những sự thật không hề dễ chịu về quá khứ gia đình dần dần sống dậy... Câu chuyện, thoạt tiên, chỉ như một hài kịch vui nhộn. Nhưng nếu cảm nhận bằng trái tim, đó sẽ là một tấn bi kịch được thể hiện dí dỏm và sâu lắng, dưới một nhan đề có vẻ nghiêm túc đến độ cường điệu như Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina.... *** Tên sách ngỡ như chỉ nói về cơ khí nông nghiệp. Ở ta, chắc chắn không có một nhà văn nào đặt kiểu như thế, tên sách là phải hùng dũng hay bi thương, đầy “khái quát” và đặc biệt phải sáng quắc lên mới đủ tầm. Thế nhưng, cái tên sách kiểu Tây như thế lại lôi cuốn được một lớp bạn đọc nhất định. Với tôi, đã quá lâu rồi chưa được đọc một cuốn sách nào nói về Ukraina...   Ngược với tên, ngỡ như cuốn tiểu thuyết cũng “nhẹ đồng cân” thôi khi những dòng đầu mở ra một câu chuyện bi hài đầy chất Mêlô: “Hai năm sau khi mẹ tôi mất, cha tôi đem lòng yêu một cô ả Ukraina tóc vàng quyến rũ đã li dị chồng. Ông tám mươi tư còn ả ba mươi sáu. Ả ta sấn sổ vào cuộc đời chúng tôi. Cứ như là một quả lựu đạn bọc bông màu hồng, khuấy đảo mặt nước âm u, khiến cho đám cặn ký ức bị vứt bỏ lại nổi lên, đá một cú mạnh vào mông của những bóng ma gia đình”.   Và từ ấy, cuốn phim cũ nát về ký ức, lịch sử gia đình, thậm chí còn là một phần của dân tộc Ukraina từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay bỗng ập về.   Đó là một gia đình người Ukraina đã nhập cư vào nước Anh sau những biến động bi thảm của đất nước Ukraina và chính họ. Ông chủ nhà, một kỹ sư cơ khí yêu máy kéo như yêu gia đình. Ông đã dành những năm tháng cuối đời cho tình yêu sau cùng (cô ả tóc vàng người Ukraina đang khát khao kiếm chồng để định cư tại Anh) và tình yêu máy kéo muôn thuở của mình. Triết lý của ông là: “Yêu cũng như ngồi máy bay, quan trọng ở chỗ giữ được thăng bằng...”. Ông đã viết lược sử máy kéo bằng chữ Ukraina mẹ đẻ của mình. Nhưng cuốn ghi chép của ông không chỉ là máy kéo, mà nó còn nói đến nền nông nghiệp và cao hơn là một phần lịch sử của người nông dân và đất nước Ukraina. Và để “đấu tranh” lúc mạnh mẽ, lúc êm ái khôn ngoan tìm cách tống cổ “cô ả tóc vàng” ra khỏi nhà ông bố, hai chị em đã ở riêng, vốn mâu thuẫn không muốn nhìn mặt nhau đã đoàn kết lại và quan trọng hơn, ký ức về nguồn cội đã dần sống lại trong họ.   Câu chuyện được kể đầy chất uy-mua (humour - trào phúng) sắc sảo và đôi khi lạnh buốt đã đưa đến một cái kết vẫn đầy hài hước nhưng thật buồn. Ông lão vào nhà dưỡng lão và khi các con đến thăm, vẫn trần như nhộng chống tay quỳ dưới đất trên một tấm thảm trải giữa phòng phía trước cửa sổ. Ông đang “học” và câu kết thúc là “Ba chào mặt trời”. Trước đó người tình, người vợ tóc vàng - như tia nắng cuối cùng của đời ông - đã cùng ông li dị, theo chồng, con trở về Ukraina bằng chiếc Roll Royce cũ kỹ được ông sửa chữa và trao tặng. Ông cũng đã trao tặng sáng chế cuối cùng - những sáng chế chẳng đem lại tiền cho mình - sáng chế thứ 17, cho người chồng của “cô ả tóc vàng” - một nhà trí thức sang tìm vợ - mang về quê hương xứ sở với ước vọng nó sẽ “giúp nền công nghiệp máy kéo Ukraina hồi sinh...”.   Tác giả Marina Lewycka, sinh năm 1946 trong một trại tị nạn ở Đức, sau đó cùng gia đình sang Anh. Bà vốn chỉ viết sách về chăm sóc người cao tuổi. “Lược sử máy kéo...” là tiểu thuyết đầu tay của bà (2005). Những tiểu thuyết gần đây của bà vẫn chưa thể vượt qua “chiếc máy kéo” ấy.   Y Trang  (Tiểu thuyết của Marina Lewycka, Hồ Thanh Ái dịch từ nguyên bản tiếng Anh - Cty Nhã Nam và NXB Lao Động xuất bản năm 2010, 424 trang) *** Lời cảm tạ Rất nhiều người đã góp phần làm nên quyển sách này. Trước tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình và bạn bè, vì lòng kiên nhẫn, sự ủng hộ và những lời góp ý quý báu của họ. Tôi đặc biệt cảm ơn Sarah White, Tessa Perkins và Lesley Glaister cùng Chris và Alison Tyldesley vì đã giúp đỡ tôi về mặt lịch sử, câu cú, và nếu không có họ thì con mèo của tôi có lẽ đã chết vì bị bỏ mặc rồi. Tôi cũng rất biết ơn Eveline và Patrick Lessware, tôi đã viết bốn chương cuối cùng của quyển sách này trong ngôi nhà xinh xắn của họ ở Totnes. Tôi chân thành cảm ơn Bill Hamilton vì lòng hào hiệp và những lời khuyên quý báu của ông, cảm ơn Livi Michael, Jane Rogers, Juliet Annan và Scott Moyers vì những lời góp ý chân tình trên bản thảo. Cũng xin cảm ơn mọi người ở nhà xuất bản Viking, Penguin và A. M. Heath đã hợp tác hết sức ăn ý. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến nhiều tác giả, phần lớn là vô danh, những bài viết của họ trên Internet về lịch sử máy kéo và ngành hàng không đã cho tôi cảm hứng viết nên quyển sách này. Danh sách những người tôi đặc biệt mang ơn được ghi rõ ở cuối sách. *** Hai cú điện thoại và một đám tang Hai năm sau khi mẹ tôi mất, cha tôi đem lòng yêu một cô ả Ukraina tóc vàng quyến rũ đã ly dị chồng. Ông tám mươi tư còn ả ba mươi sáu. Ả ta sấn sổ vào cuộc đời chúng tôi cứ như là một quả lựu đạn bọc bông màu hồng, khuấy đảo mặt nước âm u, khiến cho đám cặn ký ức bị vứt bỏ lại nổi lên, đá một cú mạnh vào mông của những bóng ma gia đình. Mọi chuyện bắt đầu từ một cú điện thoại. Giọng cha tôi run run vì phấn khích lách tách vang lên trong ống nghe. ‘Có tin mừng này, Nadezhda. Ba sắp lập gia đình!’ Tôi nhớ lại lúc đó máu mình đổ dồn lên đầu. Lạy trời cho đó chỉ là một lời nói đùa! Ôi chao, ông bị mát dây rồi! Ôi chao, ông già ngu ngốc! Nhưng tôi chẳng hề nói những lời này ra miệng. ‘Ô, hay đấy, ba ạ’ tôi nói. ‘Đúng, đúng vậy. Nàng và con trai từ Ukraina đến. Tỉnh Ternopil ở Ukraina.’ Ukraina: ông thở dài, hít sâu hương cỏ khô và hoa anh đào trong ký ức. Nhưng tôi ngờ rằng đó chỉ là mùi xì gà dỏm của nước Nga mới. Tên nàng là Valentina, ông kể với tôi. Nhưng nàng hợp với tên Venus hơn. ‘Nàng Venus của Botticelli nhô lên từ sóng biển. Tóc vàng óng. Mắt lấp lánh. Ngực căng phồng. Khi con gặp nàng con sẽ hiểu’ Con người chín chắn trong tôi thấy thông cảm với ông. Đóa hoa tình yêu cuối cùng nở muộn thật ngọt ngào làm sao. Nhưng đứa con gái trong tôi thì nổi điên lên. Tên phản bội! Đồ già dê mắc dịch! Mẹ chúng tôi mới mất có hai năm thôi mà. Tôi vừa giận dữ vừa tò mò. Tôi háo hức muốn gặp cô ả, người đàn bà tiếm ngôi của mẹ tôi. ‘Nghe có vẻ cô ấy tuyệt vời quá. Khi nào con có thể gặp cô ấy?’ ‘Sau đám cưới.’ ‘Con nghĩ bọn con nên gặp cô ấy trước mới phải chứ?’ ‘Con gặp làm gì? Con có cưới nàng đâu?’ (Ông biết như vậy không phải lắm nhưng vẫn cố lẩn tránh.) ‘Nhưng ba à, ba đã nghĩ kỹ chưa? Mọi chuyện có phần đột ngột quá. Ý con là cô ấy nhất định trẻ hơn ba rất nhiều.’ Tôi cố giữ giọng bình tĩnh, giấu đi mọi dấu hiệu bất bình, cứ như một người lớn sành sỏi chuyện đòi cư xử với một gã trẻ tuổi si tình. ‘Ba mươi sáu. Nàng ba mươi sáu, ba thì tám mươi tư. Thế thì sao chứ?’ (Ông phát âm ‘sao’ thành ‘xao’.) Ông độp lại ngay, xem ra ông đã dự đoán trước câu hỏi này. ‘À, tuổi tác chênh lệch khá nhiều đó...’ ‘Nadezhda, ba không ngờ con lại bảo thủ đến thế’ (Ông nhấn mạnh từ ‘bảo thủ’ - ôi trời đất ơi!) ‘Không, không.’ Ông buộc tôi phải co vòi lại. ‘Chỉ là... có thể có vài vấn đề.’ Sẽ không có vấn đề gì ở đây cả, ba tôi nói. Ông đã lường trước mọi thứ rồi. Ông biết nàng được khoảng ba tháng. Nàng có một ông cậu ở Selby và đã đến thăm ông ta bằng thị thực du lịch. Nàng muốn xây dựng cuộc đời mới cho mình và con trai ở phương Tây, một cuộc đời tươi đẹp, việc làm tốt, tiền bạc dư dả, xe cộ hào nhoáng - tuyệt đối không chấp nhận xe Lada hay Skoda - chỗ học hành tốt cho con trai, ít nhất phải là trường Oxford hay Cambridge. Nhân tiện phải nói luôn nàng là một phụ nữ có học. Có bằng dược sĩ. Nàng sẽ dễ dàng tìm được việc làm tốt ở đây, một khi học xong tiếng Anh. Trong thời gian chờ đợi, ông sẽ giúp nàng tiếng Anh, nàng thì sẽ lau nhà và chăm sóc cho ông. Nàng ngồi lên đùi ông và cho phép ông mân mê bầu ngực của mình. Hai người sẽ sống hạnh phúc bên nhau. Tôi có nghe lầm không? Cô ả ngồi trên đùi ba tôi và ông mân mê bộ ngực kiểu Botticelli vĩ đại của cô ả? ‘À, ừ...’ Tôi giữ giọng bình tĩnh nhưng cơn giận đã bùng lên trong tim, ‘... cuộc đời này tràn đầy những chuyện bất ngờ. Con mong mọi chuyện sẽ tốt đẹp với ba. Nhưng nghe này, ba’ (đã đến lúc phải nói huỵch toẹt ra) ‘con hiểu vì sao ba muốn cưới cô ấy. Nhưng ba có bao giờ tự hỏi vì sao cô ấy muốn cưới ba không?’ ‘Tak tak. Ừ, ba biết chứ. Hộ chiếu. Thị thực. Giấy phép lao động. Thế thì xao nào?’ Giọng ông cáu gắt, bực tức. Ông đã liệu trước mọi thứ. Nàng sẽ chăm sóc ông khi ông già yếu đi. Ông sẽ cho nàng một mái nhà, chia sẻ khoản lương hưu ít ỏi cho đến khi nàng tìm được một công việc đáng tiền. Con trai nàng, một cậu bé cực kỳ thông minh, một thiên tài, biết chơi dương cầm, sẽ được hưởng nền giáo dục Anh quốc. Họ sẽ trò chuyện về nghệ thuật, văn chương, triết học vào buổi tối. Nàng là một phụ nữ có giáo dục chứ không phải là một ả nông dân lắp bắp. Cũng phải nói luôn, ông đã dò hỏi quan điểm của nàng về Nietzsche* và Schopenhauer* và nàng hoàn toàn đồng ý với ông. Cũng như ông, nàng ngưỡng mộ chủ nghĩa kết cấu và kinh tởm chủ nghĩa tân cổ điển. Họ có rất nhiều điểm chung. Một nền tảng hôn nhân vững chắc. ‘Nhưng ba à, ba không nghĩ cô ấy lấy một người gần tuổi với mình thì sẽ tốt hơn sao? Chính quyền sẽ nhận ra đây là một cuộc hôn nhân giả hiệu. Họ không có ngu đâu’ ‘Hừm’ ‘Cô ấy vẫn có thể bị gửi trả về.’ ‘Hừm’ Ông chưa lường tới chuyện này. Nó làm ông lọng cọng một chút nhưng không thể cản ông lại được. Con biết đấy, ông giải thích, ông là niềm hy vọng cuối cùng của nàng, cơ hội duy nhất giúp nàng thoát khỏi tình trạng bị ngược đãi, cảnh nghèo túng, con đường bán thân nuôi miệng. Cuộc sống ở Ukraina quá cực nhọc cho một tâm hồn nhạy cảm như nàng. Ông thường hay đọc báo, và tin tức khá ảm đạm. Không có bánh mì, giấy vệ sinh, đường, không hệ thống thoát nước, cuộc sống bon chen, điện đóm chập chờn. Làm sao ông có thể để một người phụ nữ đáng yêu chịu cảnh sống đó được? Làm sao ông có thể ngoảnh mặt làm ngơ? ‘Con phải hiểu, Nadezhda, chỉ có ba mới giúp được cô ấy!’ Đúng vậy. Ông đã thử. Ông đã hết sức cố gắng. Trước khi quyết định cưới cô ta, ông đã tìm kiếm những người chồng hợp cách. Ông đã đến gặp gia đình Stepanenko, một cặp vợ chồng già người Ukraina đang sống chung với đứa con trai còn độc thân. Ông đã nói chuyện với ông Greenway, một người đàn ông góa vợ sống ở quê, ông này có đứa con trai chưa vợ thỉnh thoảng về thăm. (Hợp lý đây. Một kỹ sư. Không phải loại tầm tầm. Là một đám rất tốt cho Valentina.) Bọn họ đều từ chối cả: họ hẹp lượng quá thể. Ông đã nói thẳng vào mặt họ như vậy. Giờ thì gia đình Stepanenko và ông Greemvay chẳng ai thèm nói chuyện với ông nữa. Cộng đồng Ukraina ở Peterborough cũng chối bỏ cô ấy. Bọn họ đúng là thiển cận. Bọn họ không bị ấn tượng trước quan điểm của cô ấy về Nietzsche và Schopenhauer. Bọn họ chỉ quan tâm đến quá khứ, chủ nghĩa dân tộc Ukraina, Banderivtsi. Cô ấy là một phụ nữ hiện đại phóng khoáng. Nhưng bọn họ đơm đặt những lời đồn kinh khủng về cô ấy. Bọn họ nói cô ấy bán dê và bò của mẹ để lấy tiền chăm chút nhan sắc nhằm quyến rũ đàn ông phương Tây. Bọn họ nói toàn thứ nhảm nhí. Mẹ cô ấy chỉ nuôi gà lợn chứ nào có dê hay bò. Chỉ nhiêu đó thôi cũng thấy rõ những kẻ ngồi lê ngu ngốc ra sao. Ông ho sù sụ ở đầu dây bên kia. Ông bị bạn bè xa lánh vì chuyện này. Nếu cần thì ông cũng sẽ từ luôn đám con gái. Ông sẽ một mình chống lại cả thế giới, chỉ với người đàn bà xinh đẹp đứng bên cạnh. Lưỡi của ông không theo kịp sự hứng khởi của Ý Tưởng Lớn đó. ‘Nhưng ba à...’ ‘Còn chuyện này nữa, Nadia. Đừng nói cho Vera biết.’ Chẳng có cơ đâu. Tôi đã không nói chuyện với bà chị gái hai năm rồi, kể từ trận tranh cãi nảy lửa sau đám tang của mẹ. ‘Nhưng ba à...’ ‘Nadezhda, con phải hiểu đàn ông đôi khi có những cơn bốc đồng khác hẳn với phụ nữ’ ‘Ba à, làm ơn đừng phân tích sinh học với con.’ Ô, cần quái gì? Cứ để ông ấy nếm mùi đau khổ. ○○○ Có lẽ câu chuyện bắt đầu từ trước cú điện thoại này. Có lẽ nó bắt đầu từ hai năm trước, trong chính căn phòng ông đang ngồi, nơi mẹ tôi nằm hấp hối và ông đi loanh quanh khắp nhà trong nỗi đau khổ vô biên. Tất cả cửa sổ mở toang, làn gió luồn qua tấm màn vải lanh khép hờ mang lại mùi oải hương từ khu vườn phía trước. Tiếng chim hót, tiếng người đi lại trên đường, cô con gái nhà hàng xóm làm màu với cậu bạn trai trước cửa. Trong căn phòng nhợt nhạt tinh tươm, mẹ tôi hổn hển thở hắt hết giờ này sang giờ khác, sự sống trong bà cứ mất dần, còn tôi thì đút morphine cho bà bằng muỗng. Cái chết khoác bộ đồng phục cao su: găng tay y tá bằng latex, tấm ga trải giường không thấm nước, đôi dép xốp, một hộp thuốc glycerine đặt hậu môn lấp lánh như những viên đạn bằng vàng, ghế tiểu tiện với nắp đậy và chân bọc cao su lúc này chứa đầy chất lỏng còn cợn xanh lè. ‘Mẹ có nhớ...?’ Tôi lặp đi lặp lại những câu chuyện về bà và thời ấu thơ của chúng tôi hết lần này đến lần khác. Đôi mắt mờ đục của bà chớp chớp. Trong một giây phút tỉnh táo, bàn tay bà nằm trong tay tôi, bà nói, ‘Hãy chăm sóc cho Kolya tội nghiệp’ Ba ở bên mẹ khi bà mất trong đêm. Tôi còn nhớ ông đã gào lên đau khổ. ‘Bắt tôi đi, bắt tôi theo cùng!’ Giọng ông khàn khàn nghẹn ngào, chân tay cứng đờ như bị động kinh. Vào buổi sáng, sau khi họ đưa thi thể của mẹ đi, ông ngồi ở căn phòng phía sau, vẻ mặt đau xót. Một lúc sau ông nói, ‘Con có biết không, Nadezhda, ngoài phương pháp chứng minh bằng đại số, định lý Pythagore còn có cách chứng minh bằng hình học nữa. Nhìn xem nó đẹp chưa này.’ Trên một tờ giấy, ông vẽ các đường thẳng và các góc, biểu trưng bởi các ký hiệu nhỏ, rồi lẩm bẩm trong lúc giải phương trình. Ba hoàn toàn mất trí rồi, tôi nghi. Kolya tội nghiệp. ○○○ Mấy tuần trước khi mất, mẹ tôi nửa nằm nửa ngồi dựa vào chiếc gối trên giường bệnh, lòng lo lắng không yên. Đám dây nhợ lằng nhằng nối liền mẹ với chiếc máy ghi lại từng nhịp đập yếu ớt của trái tim. Mẹ cằn nhằn luôn miệng về phòng bệnh chung - giường này giường nọ chỉ cách nhau bởi một tấm màn khép vội, về tiếng hắt hơi, tiếng ho, tiếng ngáy đầy khó chịu của mấy ông già. Mẹ co rúm trước bàn tay mập mạp lạnh lùng của nam y tá trẻ. Anh ta đến cắm dây truyền phía trên bầu ngực dúm dó bất cẩn hở ra dưới tấm áo choàng bệnh viện. Mẹ chỉ là một bà già bệnh tật. Ai thèm để ý đến những cảm nhận của mẹ chứ? Rời bỏ cuộc đời không dễ chút nào, mẹ nói. Quá nhiều chuyện phải lo trước khi có thể an tâm rời đi. Kolya, ai sẽ chăm sóc cho ông ấy? Chắc không phải là hai cô con gái rồi, chúng lanh lẹ đấy nhưng hay gắt gỏng quá. Chuyện gì sẽ xảy ra cho chúng? Chúng có tìm được hạnh phúc không? Hai tên đàn ông dễ thương nhưng vô dụng mà chúng lấy liệu có chăm sóc chúng đàng hoàng không? Rồi ba cô cháu ngoại nữa, thật xinh đẹp mà vẫn chưa chồng. Còn quá nhiều thứ để lo mà sức khỏe của mẹ lại đang dần yếu đi. Mẹ viết di chúc trong bệnh viện, chị Vera và tôi đều đứng ngay tại đó vì chẳng ai tin tưởng người kia cả. Mẹ tự tay viết những dòng di chúc xiêu vẹo, có hai y tá làm nhân chứng. Giờ bà yếu lắm nhưng bao nhiêu năm qua bà đã rất mạnh khỏe. Bà già ốm yếu bệnh tật nhưng di sản - số tiền tiết kiệm cả đời bà - vẫn đang sinh sôi trong ngân hàng Co-op. Một điều mẹ cương quyết: di sản không thể giao cho ba được. ‘Nikolai đáng thương, ông ấy không minh mẫn đâu. Đầu óc ông ấy chỉ toàn những kế hoạch quái dị. Tốt hơn là hai con chia đôi, mỗi người một nửa’ Bà nói chuyện bằng tiếng Anh bồi, pha lẫn vài từ Ukraina. Khi rõ ràng là bệnh viện chẳng thể làm gì hơn, họ cho bà về nhà để bà chết yên ổn bên cạnh người thân. Chị tôi ở cạnh bà trong suốt tháng cuối cùng. Tôi thì thường đến thăm vào cuối tuần. Trong tháng cuối cùng đó, khi tôi không có mặt, chị tôi đã viết thêm khoản phụ lục di chúc, chia đều di sản giữa ba cô cháu ngoại, Anna của tôi và hai đứa con gái Alice, Alexandra của chị ta, thay vì chia đôi giữa hai chị em. Mẹ tôi đã ký tên, hai người hàng xóm làm chứng. ‘Mẹ đừng lo’ tôi nói với mẹ trước khi bà mất, ‘mọi chuyện sẽ ổn thôi. Chúng con sẽ buồn, sẽ nhớ mẹ, nhưng chúng con sẽ thu xếp được’ Thực tế là chúng tôi chẳng ổn chút nào. Mẹ được chôn ở nghĩa trang nhà thờ trong làng, trên một khoảnh đất mới nhìn ra đồng quê thoáng đãng. Mộ của bà nằm ở cuối một dãy mộ mới tinh. Ba đứa cháu ngoại, Alice, Alexandra và Anna, dong dỏng cao và tóc vàng, ném hoa hồng vào huyệt, tiếp theo đó là những nắm đất. Nikolai, gập người vì bệnh thấp khớp, nước da xám xịt, đôi mắt vô hồn, bám chặt vào tay chồng tôi trong nỗi đau khổ không thể bật ra thành nước mắt. Hai đứa con gái, Vera và Nadezhda, Niềm tin và Hy vọng, chị tôi và tôi, đã sẵn sàng đánh nhau vì di chúc của mẹ. Khi khách dự tang lễ quay trở về nhà, ăn đồ nguội và say xỉn với rượu samo-hơnka của Ukraina, chị tôi và tôi tranh cãi trong phòng bếp. Chị đang mặc bộ đồ lụa đen mua từ một tiệm chuyên bán quần áo cũ bé tẹo nằm trong góc khuất ở Kensington. Trên giày chị có mấy cái khoen vàng, tay chị cầm cái túi Gucci có khóa vàng và trên cổ đeo một sợi dây chuyền vàng mảnh. Tôi thì mặc một bộ đồ màu đen mua ở Oxfam.* Vera hết nhìn lên rồi lại nhìn xuống tỏ vẻ chê bai. ‘À, bộ dạng nông dân. Tôi thấy rồi’ Tôi bốn mươi bảy tuổi và là giảng viên đại học, nhưng giọng điệu của bà chị gái bỗng chốc biến tôi trở thành một đứa nhóc bốn tuổi thò lò mũi xanh. ‘Nông dân thì có sao. Mẹ cũng là nông dân đấy’ đứa nhóc bốn tuổi phản pháo. ‘Cũng gần thế’ bà chị lớn nói. Chị châm một điếu thuốc. Khói thuốc bay lên cao lượn vòng điệu nghệ. Chị cúi về phía trước để cất bật lửa vào chiếc túi Gucci, và tôi nhìn thấy sợi dây chuyền vàng của chị có gắn một trái tim nhỏ lồng ảnh, lấp ló trong ve áo. Trông nó lỗi mốt và chẳng hợp chút nào với bộ đồ thời trang của Vera. Tôi nhìn nó chằm chằm. Mắt ngấn nước. ‘Chị đang đeo mặt dây chuyền của mẹ.’ Đó là của quý duy nhất mẹ mang đi từ Ukraina, đủ nhỏ để có thể giấu trong viền váy. Đó là món quà ông ngoại tặng cho bà ngoại trong ngày cưới. Bên trong trái tim, hai bức ảnh của ông bà tôi nhoẻn miệng cười nhìn nhau. Vera nhìn thẳng vào mắt tôi. ‘Mẹ cho tôi đó.’ (Tôi không thể tin được điều này. Mẹ biết tôi yêu mặt dây chuyền này, biết tôi mong có được nó hơn hẳn mọi thứ khác. Nhất định Vera đã lấy trộm nó. Không có cách giải thích nào khác.) ‘Bây giờ, cô muốn nói gì về di chúc nào?’ ‘Em chỉ muốn công bằng thôi’ tôi rên rỉ. ‘Có gì sai chứ?’ ‘Nadezhda, cô mua quần áo từ Oxfam cũng quá đủ rồi. Cô còn phải nghĩ đến cả chuyện đó nữa sao?’ ‘Chị đã lấy mặt dây chuyền. Chị ép mẹ ký vào khoản phụ lục di chúc. Chia đều số tiền cho ba cháu ngoại thay vì giữa hai con gái. Như vậy, chị và gia đình kiếm được nhiều gấp đôi. Đồ tham lam.’ ‘Hết chỗ nói, Nadezhda. Tôi thật sốc khi cô nghĩ như vậy.’ Đôi lông mày tỉa tót của bà chị lớn run run. ‘Cũng chưa sốc bằng em khi em biết rõ sự thật đâu’ con nhóc thò lò mũi xanh kêu lên be be. ‘Cô không có mặt ở đó, phải không, cô em bé bỏng của tôi? Cô đi làm công việc tuyệt vời của mình. Cứu vớt thế giới. Theo đuổi sự nghiệp. Để mặc mọi trách nhiệm lại cho tôi. Cô vẫn luôn làm như thế’ ‘Chị hành hạ những ngày cuối cùng của mẹ bằng câu chuyện về vụ ly dị, về sự tàn nhẫn của chồng chị. Chị đốt hết điếu này đến điếu khác bên giường bệnh của mẹ trong khi mẹ đang hấp hối’ Bà Chị Lớn búng tay gạt tàn thuốc rồi thở dài điệu bộ. ‘Cô thấy đấy, vấn đề của thế hệ các cô, Nadezhda, là cô chỉ đi lướt qua mặt ngoài cuộc sống thôi. Hòa bình. Tình yêu. Người lao động cầm quyền. Đó chỉ là những lý tưởng nhảm nhí. Cô phải gánh lấy sự xa xỉ của thói vô trách nhiệm, bởi vì cô chưa bao giờ nhìn thấy mặt đen tối của cuộc đời.’ Vì sao cái giọng ngân nga dạy đời của bà chị làm tôi nổi điên đến thế? Vì tôi biết đó là giả dối. Tôi biết cái giường đơn chúng tôi cùng nhau ngủ, biết cái nhà vệ sinh ở phía bên kia sân và chồng báo cũ chùi đít. Chị ta không thể qua mặt tôi. Nhưng tôi cũng có cách châm chích lại chị ta. ‘Ô, mặt đen tối của cuộc đời làm chị băn khoăn sao? Hay là chị đi xin tư vấn đi?’ Tôi ranh mãnh đề nghị bằng giọng điệu thành thạo hãy-biết-điều-với-nhau-đi, giọng điệu hãy-xem-tôi-người-lớn-thế-nào-này, giọng điệu tôi thường dùng với ba. ‘Làm ơn đừng nói theo kiểu của nhân-viên-xã-hội nữa, Nadezhda.’ ‘Điều trị tâm lý đi. Thấu hiểu mặt đen tối, rồi tống nó ra ngoài, trước khi nó ăn mòn chị.’ (Tôi biết nói vậy sẽ làm cho chị ta nổi điên.) ‘Tư vấn. Trị liệu. Hãy nói ra mọi khó khăn của chúng ta. Hãy ôm lấy nhau để cảm thấy dễ chịu hơn. Hãy giúp đỡ những người kém may mắn. Hãy tặng hết số tiền chúng ta có cho những đứa nhỏ đói khát.’ Chị ta cắn mạnh vào miếng bánh. Một trái ô liu bắn vọt xuống sàn. ‘Vera, chị vừa ly dị, lại mất mẹ. Đương nhiên là chị cảm thấy căng thẳng rồi. Chị cần được giúp đỡ’ ‘Đó chỉ là trò tự dối mình. Đằng sau tấm rèm, con người ai cũng nhỏ nhen, ích kỷ, chỉ biết vun vén cho bản thân. Cô không biết tôi khinh bỉ đám nhân viên xã hội thế nào đâu’ ‘Em biết chứ. Nhưng Vera này, em không phải là nhân viên xã hội’ Ba tôi cũng nổi điên. Ông đổ lỗi cho bác sĩ, chị tôi, gia đình Zadchuk, người đàn ông cắt cỏ sau nhà, đã làm mẹ chết. Thỉnh thoảng ông cũng tự đổ lỗi cho mình. Ông đi loanh quanh lẩm bẩm, nếu chuyện này không xảy ra, nếu chuyện kia không xảy ra, Millochka của ông vẫn còn sống. Gia đình lưu vong bé nhỏ của chúng tôi, trước giờ được gắn kết chặt chẽ bởi tình yêu thương và món xúp củ cải của mẹ, nay bắt đầu tan vỡ. Một mình trong căn nhà trống, ba tôi sống nhờ vào đồ hộp và thức ăn nhanh, cứ như thể trừng phạt mình kiểu đó thì ông sẽ mang được bà quay trở lại vậy. Ông không chịu đến sống với chúng tôi. Thỉnh thoảng tôi đến thăm ông. Tôi thích ngồi trong nghĩa trang nhà thờ nơi đặt mộ của mẹ. Tấm bia ghi rằng: Ludmilla Mayevska Sinh năm 1912 ở Ukraina Vợ yêu của Nikolai Mẹ của Vera và Nadezhda Bà ngoại của Alice, Alexandra và Anna Người thợ đá đã cất công ghi hết tất cả những từ này lên bia mộ. Có một cây anh đào đang trổ hoa, bên dưới là một băng ghế gỗ trông ra những khoảng cỏ vuông vắn mà quá nửa đã được chuyển thành phần mộ, một hàng rào táo gai ngăn cách nghĩa trang và cánh đồng lúa mạch, tiếp đó là những cánh đồng khác trồng lúa mạch, khoai tây, hạt dầu... nối liền nhau tới tận chân trời. Mẹ tôi gốc gác từ thảo nguyên, bà cảm thấy thư thái trước chân trời rộng mở. Lá cờ Ukraina có hai khối màu hình chữ nhật: màu xanh phía trên màu vàng - màu vàng biểu trưng cho cánh đồng bắp, màu xanh biểu trưng cho bầu trời. Khu đầm lầy mênh mông bằng phẳng không có gì đặc biệt này khiến bà nhớ lại quê nhà. Chỉ có điều bầu trời nơi đây hiếm khi xanh như bầu trời quê hương. Tôi nhớ mẹ, nhưng tôi bắt đầu chấp nhận sự mất mát này. Tôi có chồng, có con và cuộc đời của riêng mình. Ba tôi thơ thẩn đi quanh căn nhà ba mẹ từng sống chung. Đó là một căn nhà kiểu mới, nhỏ, xấu xí, tường ốp đá, ga ra sàn bê tông ở bên hông. Ba mặt còn lại quanh nhà là vườn, nơi mẹ tôi trồng hoa hồng, oải hương, tử đinh hương, mao lương, anh túc, păng xê, cây ông lão (giống Jackmanii và Ville de Lyon), hoa mõm chó, hoa ủy lăng, hoa quế trúc, bạc hà mèo, hoa lưu ly, mẫu đơn, hoa cải tím, hoa nghệ tây, hoa chuông, hoa hồng đá, hoa hương thảo, hoa diên vĩ, hoa loa kèn và hoa đậu tía xen lẫn vào nhau, cứ như ở vườn bách thảo vậy. Có hai cây táo, hai cây lê, ba cây mận, một cây đào và một cây mộc qua, những trái cây vàng ruộm thơm nức luôn giành giải thưởng ở hội làng hai mươi năm nay. Phía sau, bên ngoài vườn hoa và bãi cỏ, là ba khoảnh đất nơi mẹ tôi trồng khoai tây, hành, đậu đũa, đậu tằm, đậu Hà Lan, ngô ngọt, rau bí, cà rốt, tỏi, măng tây, rau diếp, rau bi na, bắp cải và cải bruxen. Thì là và mùi tây mọc rải rác giữa các luống rau. Ở một góc vườn, mấy luống mâm xôi, dâu, quả ngẩy, phúc bồn tử đen và đỏ, cùng một cây đào nằm gọn trong nhà lưới mà ba tôi dựng lên ngăn lũ chim béo háu ăn vào mổ. Nhưng vài cây dâu và mâm xôi đã lọt ra khỏi lưới, lan sang mấy khóm hoa. Trong nhà kính, những dây nho tím đầy sức sống uốn lượn bên trên những luống cà chua và ớt lúc lỉu. Phía sau nhà kính là thùng chứa nước, hai nhà kho nhỏ, một đống phân trộn và một đống phân chuồng vốn là niềm mơ ước của cả làng. Đó là phân bò đã hoại, toi xốp và giàu dinh dưỡng, do một người làm vườn người Ukraina tặng. ‘Sô cô la đen’ mẹ tôi gọi nó như vậy. ‘Nào, cục cưng của ta’ bà thì thầm với những mầm cây, ‘dùng chút sô cô la đen nào.’ Chúng ngấu nghiến sô cô la đen, rồi lớn nhanh vùn vụt. Mỗi lần ba tôi ra vườn, ông lại thấy bóng dáng mẹ lờ mờ in trên vách nhà kính, đang lúi húi giữa đám cây lá, với tay buộc lại mấy ngọn đậu đũa. Đôi khi giọng bà gọi ông văng vẳng giữa các gian nhà trống vắng. Mỗi lần nhớ ra là bà không còn ở đây nữa, vết thương của ông lại vỡ ra nhức nhối. Cú điện thoại thứ hai gọi đến vài ngày sau cú đầu tiên. ‘Nadezhda, con nghĩ một người đàn ông tám mươi tư tuổi có thể có con không?’ Thấy cách ông luôn đi thẳng vào vấn đề chứ? Không rào trước đón sau. Không thèm hỏi ‘Con thế nào? Mike và Anna khỏe không?’ Không dài dòng về thời tiết. Không thứ gì phù phiếm trì hoãn được ông khi ông đã nảy ra một Ý Tưởng Lớn. ‘Ô, con không chắc...’ Tại sao ba lại hỏi tôi? Làm sao tôi biết được? Tôi không muốn biết. Tôi không muốn con sóng xúc cảm đẩy tôi quay về tuổi thơ thò lò mũi xanh, thuở ba vẫn còn là một vị anh hùng và tôi luôn sợ bị ông quở mắng. ‘Nếu có con được, Nadezhda’ ông nhanh nhảu nói tiếp trước khi tôi kịp phòng vệ, ‘con nghĩ có bao nhiêu phần trăm đứa nhỏ bị thiểu năng?’ ‘Ô ba à’ (ngừng lại một chút để thở, cố giữ giọng vui vẻ và ân cần) ‘y học đã chứng minh rất rõ rằng phụ nữ càng lớn tuổi thì càng có khả năng sinh con mắc bệnh Down. Đó là một loại bệnh gây khó khăn trong học tập, còn gọi là bị đần độn’ ‘Hừm.’ (Ông không vui khi nghe tin này.) ‘Hừm. Nhưng có lẽ bọn ba sẽ liều một phen. Con thấy đấy, ba cho rằng nếu cô ấy là mẹ của một công dân Anh, đồng thời là vợ của một công dân Anh, cô ấy chắc chắn sẽ không bị trục xuất...’ ‘Ba à, con nghĩ ba không nên vội vã...’ ‘Bởi vì luật pháp nước Anh là tốt nhất toàn cầu. Nó vừa là một sứ mệnh vừa là một gánh nặng lịch sử, muốn gọi thế nào cũng được...’ Ba luôn nói với tôi bằng tiếng Anh, nhấn giọng sai và dùng mạo từ quái dị, nhưng đủ để hiểu được. Tiếng Anh của dân kỹ sư. Mẹ nói tiếng Ukraina với tôi, thứ tiếng thấm đẫm mọi sắc thái hậu tố. Tiếng mẹ đẻ. ‘Ba, nghĩ kỹ lại đi. Đây có phải là điều ba muốn không?’ ‘Hừm, điều ba muốn à?’ (ông phát âm thành ‘đều ba mún’). ‘Đương nhiên làm cha một đứa trẻ như vậy không đơn giản chút nào. Nhưng về mặt kỹ thuật thì có thể có cách...’ Nghĩ tới chuyện ba tôi ngủ với ả đàn bà này, tôi cảm thấy quặn bụng. ‘... Cái khó là không cương cứng được nữa. Nhưng có lẽ với Valentina thì...’ Ông lần khân ở kịch bản sinh sản này quá lâu so với sức chịu đụng của tôi. Nhìn từ những góc độ khác nhau. Tính ngược tính xuôi.’... con nghĩ thế nào?’ ‘Ba à, con không biết phải nghĩ thế nào cả’ Tôi chỉ muốn ông ngậm miệng lại. ‘Đúng, với Valentina thì vẫn có thể...’ Giọng ông trở nên mơ màng. Ông đang nghĩ mình sẽ tạo ra một đứa con như thế nào - một đứa bé trai, chắc chắn thế. Ông sẽ dạy nó cách chứng minh định lý Pythagore và cách đánh giá đúng chủ nghĩa kết cấu. Ông sẽ thảo luận về máy kéo với nó. Điều ba tôi nuối tiếc nhất là hai đứa con của ông đều là con gái. Trí tuệ kém cỏi, không đến nỗi phù phiếm và nữ tính như đám phụ nữ nói chung, nhưng vẫn là những sinh vật ồn ào, cứng đầu và không biết tôn ti trật tự. Đúng là bất hạnh cho đàn ông. Ba chưa bao giờ cố che giấu nỗi thất vọng của mình. ‘Ba à, con nghĩ trước khi làm chuyện gì, ba nên xin tư vấn pháp luật trước đã. Có thể mọi chuyện sẽ không như ba nghĩ. Ba có muốn con nói chuyện với luật sư không?’ ‘Tak tak.’ (Ừ... ừ.) ‘Con nên kiếm một luật sư ở Cambridge ấy. Có đủ yếu tố nước ngoài ở đó. Bọn họ nhất định biết chút ít về luật nhập cư’ Ông luôn tự động phân loại con người. Ông không có chút ý niệm gì về phân biệt chủng tộc cả. ‘OK, ba. Con sẽ ráng tìm một luật sư chuyên về luật nhập cư. Đừng làm gì cả cho đến khi con gọi lại cho ba.’ Viên luật sư là một chàng trai trẻ thạo việc ở một hãng luật trong khu ổ chuột. Anh ta viết: Nếu cha của bà muốn lập gia đình thì ông ấy cần phải nộp đơn tới Bộ Nội vụ xin cho vợ ông ấy ở lại. Để được chấp thuận, bà ấy cần phải thỏa mãn những điều kiện sau: Kết hôn không phải nhằm mục đích giúp bà ấy vào Anh hay ở lại Anh. Hai người đã gặp nhau. Hai người định sống chung lâu dài với tư cách là vợ chồng. Họ có thể tự trang trải cuộc sống mà không cần xin cứu trợ xã hội. Vấn đề chính là Bộ Nội vụ (hoặc Đại sứ quán nếu bà ấy nộp đơn bên ngoài nước Anh) rất có thể sẽ cho rằng bà ấy lấy chồng cốt chỉ để di dân sang Anh, bởi tuổi tác cách biệt và bởi đám cưới diễn ra quá gần ngày bà ấy phải rời khỏi Anh. Tôi chuyển lá thư đó cho ba tôi. Viên luật sư cũng nói với tôi rằng cơ hội thành công sẽ lớn hơn hẳn nếu cuộc hôn nhân kéo dài được năm năm hoặc hai người có con. Tôi không nói gì với ba tôi về chuyện này. Mời các bạn đón đọc Lược Sử Máy Kéo Bằng Tiếng Ukraina của tác giả Marina Lewycka & [Hồ Thanh Ái (dịch)].

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Linh Hồn Chết - Nikolai Vasilyevich Gogol
Ngay sau khi ra đời, Những linh hồn chết của Gogol đã gây một cơn chấn động lớn trên toàn nước Nga. Rất nhanh chóng, cơn địa chấn này đã lan rộng ra nước ngoài. Theo viện sĩ B.L. Riftin, tập I tác phẩm Những linh hồn chết hoàn thành vào năm 1842, thì năm 1846, khi tái bản lần thứ 2, đã được dịch sang tiếng Đức, năm 1849 được dịch sang tiếng Tiệp. Năm 1854 xuất hiện bản dịch Những linh hồn chết bằng tiếng Anh. Tới năm 1858, cùng với thiên trường ca, tác giả Quan thanh tra đã nổi tiếng khắp châu Âu và phương Tây. Đánh giá về vai trò của Gogol đối với văn học Nga, nhà nghiên cứu I. Zolotuski khẳng định: Gogol là người đầu tiên có công đưa văn học Nga hội nhập với thế giới. Thiên tài của Gogol là một thiên tài nhiều mặt, ít thấy ở một nhà văn. Mới hai mươi sáu tuổi, Gogol đã có những tác phẩm mẫu mực của năm loại văn rất khác nhau, tựa hồ của nhiều nhà văn khác nhau: truyện dân gian quái dị với Những đêm trong thôn gần Đikanka, tiểu thuyết sử thi hùng tráng với Tarax Bunba, truyện châm biếm hài hước với Câu chuyện về sự bất hòa giữa Ivan Ivanovits và Ivan Nikiforovits, tiểu thuyết hiện thực phê phán với Một đôi vợ chồng trang chủ kiểu xưa và Cái áo khoác, hài kịch đả kích xã hội với Quan thanh tra. Với cái thiên tài nhiều mặt, mà mặt nào cũng lớn và đang độ phát triển, dồi dào sinh lực ấy, Gogol bắt tay vào viết tác phẩm chủ yếu của đời mình, lớn hơn tất cả các tác phẩm kia: Những linh hồn chết. Từ lúc ấy, cuộc đời của Gogol còn mười sáu năm nữa, nhưng chỉ còn có một mục đích, một công việc, một sứ mạng: hoàn thành Những linh hồn chết, phấn đấu gian lao, đau khổ khủng hoảng tinh thần, lịch sử mười sáu năm cuối của đời Gogol chính là lịch sử của Những linh hồn chết. Ý định viết tác phẩm lớn ấy đến với Gogol, như trong Sám hối của một tác giả, văn hào viết: “Chính Puskin làm cho tôi quan niệm vấn đề một cách nghiêm túc. Từ lâu Puskin khuyến khích tôi bắt tay viết một tác phẩm lớn; Puskin bảo tôi: “- Tại sao có cái tài đoán ra chân tướng con người để chỉ phác vài nét là lẽ ra như nó sống thật, mà anh lại không bắt tay vào viết một tác phẩm lớn? Như thế thật quả là một tội lỗi!”. Để kết luận, Puskin cho tôi đề tài mà chính anh dự định viết thành một trường ca và, theo lời anh, thì không bao giờ nhường lại cho bất kỳ một ai. Đó là đề tài của Những linh hồn chết”. Puskin từng khuyên Gogol sáng tác Những linh hồn chết thành một thiên “trường ca” - poema - Chữ “poema” đây không phải có nghĩa là một tập thơ, mà là một tiểu thuyết trường thiên có tính chất sử thi rộng lớn. Đến khi xuất bản tác phẩm, Gogol cho in lên bìa chữ “poema” to hơn tên sách. Càng viết và càng nghĩ, Gogol càng thấy cái tầm rộng lớn của tác phẩm; vì vậy mà những cuộc phiêu lưu buồn cười của nhân vật chính Tsitsikôp hợp thành tình tiết của thiên trường ca đã được khoác một ý nghĩa biểu tượng: Tsitsikôp không phải chỉ là một tên bịp bợm đi mua nông phu chết, mà còn là Gogol đi tìm những “linh hồn sống”, nhưng chỉ gặp toàn những “linh hồn chết” - trong tiếng Nga cái từ “đusi” có cả hai nghĩa “những linh hồn” và “những nông phu”. Năm 1843, trong một bức thư Gogol viết rõ ràng: - “Quả thật có thể tin được điều người ta nói là: tất cả đều chết hết rồi, rằng ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho những linh hồn chết”.  Bởi vậy mà nhan đề của thiên trường ca trước dự định là Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp (Pôkhôjdênia Tsitsikôva) với phụ đề là Những linh hồn chết (miôrtvưe đusi) phải đổi lại là Những linh hồn chết với tiêu đề Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp. Mùa hè 1841 phần thứ nhất Những linh hồn chết được hoàn thành. Tháng chín Gogol mang về nước để xuất bản. Ngày 12 tháng 11 bản thảo nộp cho Ủy ban kiểm duyệt Mạc tư khoa và dĩ nhiên là gặp ngay phải vô số khó khăn. Nhờ phu nhân Xmirnôva và mấy bạn vương công thần thế bảo trợ văn học, Những linh hồn chết mới được phép in, chỉ phải chữa lại đoạn nói về đại úy Kôpêikin. Ngày 23 tháng 5 năm 1842, Những linh hồn chết xuất bản lần thứ nhất. Tờ Người đương thời, trong bài phê bình, đã suy tôn tác giả cuốn sách là đệ nhất văn hào Nga; quả là một danh hiệu chính đáng; từ trước Biêlinxki vẫn nói rằng Puskin sớm chết thì Gogol đã thay vào chỗ mà Puskin để lại trong văn học Nga. Với những điều hiểu biết của một nghệ sĩ thiên tài, Gogol đã “vẽ lại cuộc đời với bộ mặt thật của nó”, và cái bộ mặt của xã hội Nga với các tầng lớp thống trị của nó thời ấy là ghê tởm; thì Gogol đã bắt các đại diện của chúng ta, “giật bộ trang phục mỹ lệ và cái mặt nạ anh hùng” của chúng, bắt chúng “đem thân cho thiên hạ mua cười”. Chỉ với Những linh hồn chết, sự nghiệp của Gogol cũng đã xứng đáng đặt ngang hàng với sự nghiệp của một nhà văn lớn khác của thế giới: Xervantex với bộ Đông Kisôt. Thuộc thể tiểu thuyết phê phán và châm biếm phong tục, - thể tiểu thuyết Picaret theo thuật ngữ văn học, do cái từ Tây Ban Nha picarô, chỉ tên bịp bợm, mà ra, - thì Những linh hồn chết của Gogol, Đông Kisôt của Xervantex và Những di văn của câu lạc bộ Pickuych của Dickenx là ba kiệt tác đứng hàng đầu trong văn học thế giới, và so với các tác phẩm cùng thể tài châm biếm ấy thì Những linh hồn chết đậm tính chất chân thực, gần với cuộc đời hơn cả. *** Bốn Bức Thư Của Tác Giả {Bốn bức thư này in trong chương XVII của cuốn Trích thư từ gửi các bạn tôi xuất bản cuối năm 1846; nhưng những thư này chỉ là những lời thanh minh của tác giả, không phải là những thư gửi đi cho ai cả} I. Anh có tỏ ý phẫn nộ vì cái giọng quá quắt của một số lời chỉ trích Những linh hồn chết. Tôi thấy như thế không được đúng: việc đó cũng có mặt tốt: đôi khi cũng cần có người phỉ báng mình. Người nào đã mê say với những cái đẹp rồi thì không thấy được những cái xấu, cho nên cái gì cũng dung thứ cả; ngược lại người nào đã muốn dèm pha thì cố tìm cho ra những cái xấu của anh và nêu rõ cái xấu đó lên đến nỗi buộc lòng anh phải thấy. Người ta ít khi có dịp nghe sự thật lắm; cho nên chỉ cần được một phần nhỏ sự thật thôi, người ta cũng đã có thể dung thứ cái giọng phỉ báng của kẻ lên tiếng nói sự thật. Những lời phê phán của Bungarin Xenlôpxki, Pôlêvôi có nhiều cái đúng, kể cả lời họ khuyên tôi nên học tiếng Nga trước khi có tham vọng viết lách {Những linh hồn chết phần thứ nhất, ra đời năm 1842, bị những nhà phê bình lạc hậu và phản động ghen ghét la ó. Trong tờ Tín sứ Nga, nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa N.A Pôlêvôi cho rằng Những linh hồn chết chỉ là một bức biếm họa, không thể xem là nghệ thuật được và tác giả chưa biết viết văn, còn mắc nhiều lỗi ngữ pháp; Pôlêvôi viết: “- Hãy gác sang một bên những cảm hứng bồng bột của anh mà đi học tiếng Nga đi!”. Có người chế giễu chữ poema ở bìa sách và suy diễn ra, gọi cả những sách giáo khoa vật lý học và sách dạy làm vườn là poema. Nhưng những lối phê bình ấy làm cho quần chúng chân chính rất căm phẫn}. Quả nhiên, giá tôi giữ bản thảo trong ngăn kéo thêm một năm nữa, chứ đừng vội vã cho in; thì chính bản thân tôi cũng đã thấy rằng không thể nào đem nó ra mà xuất bản dưới một hình thức kém cỏi như vậy. Tuy những bài thơ châm biếm và những lời chế giễu lúc đầu có làm cho tôi khó chịu thật; nhưng vẫn rất bổ ích cho tôi. Ôi! Những lời dèm pha liên miên ấy, cái giọng phỉ báng và những lời chế giễu cay cú ấy, thật có lợi cho ta không biết bao nhiêu mà kể! Trong thâm tâm ta thường giấu nhiều tự ái ti tiện, nhiều tham vọng xấu xa, đến nỗi ta cần phải luôn luôn bị châm chích, đánh đập bằng đủ mọi thứ khí giới; và phải cảm ơn bàn tay đã đánh ta. Tôi những mong được phê phán nhiều hơn nữa, nhưng lại muốn rằng người phê phán không phải là những người làm văn học, mà là những người có kinh nghiệm về thực tế. Tiếc thay, ngoài những người làm văn học, không có một bộ óc thực tiễn nào lên tiếng cả. Tuy nhiên Những linh hồn chết cũng đã gây nên lắm xôn xao bàn tán, lắm lời đồn đại, đã xúc phạm đến lòng tự ái của khá nhiều người vì lối giễu cợt, vì tính xác thực, vì lối biếm họa. Tuy đầy rẫy những sự lầm lẫn, sai lệch hiển nhiên; nó cũng đả động đến một tình hình mà ai nấy đều được chứng kiến hàng ngày. Tôi lại còn xen vào đấy một số đoạn có tính chất khiêu khích, hy vọng rằng sẽ có người lên tiếng quát mắng tôi và trong cơn phẫn nộ, sẽ vô tình mách cho tôi biết cái sự thực mà tôi đang tìm kiếm. Tại sao chưa có ai lên tiếng cả? Ai ai cũng đều có thể làm việc đó, và có đủ cơ sở để làm việc đó. Người viên chức có thể công khai chứng minh cho tôi thấy rằng câu chuyện tôi kể là không xác thực, bằng cách kể ra vài ba sự kiện có thật đã xảy ra và như vậy là đã đưa ra một lời cải chính hùng hồn hơn bất cứ lời biện luận nào. Vả chăng, cũng bằng cách ấy, người kia cũng lại có thể xác nhận thêm những lời miêu tả của tôi. Việc dẫn sự kiện có sức thuyết phục hơn là những lời lẽ rỗng tuếch và những bài luận văn về văn học. Nhà buôn, trang chủ, nói tóm lại là bất cứ ai biết cầm bút, cũng đều có quyền làm như vậy; dù người ấy chỉ sống quanh quẩn trong nhà hay vẫn thường đi đây đó khắp đất nước Nga. Ngoài ý kiến cá nhân của mình ra, bất cứ người nào, dù giữ chức vụ gì, ở địa vị xã hội nào, nghề nghiệp, học vấn ra sao, cũng đều có dịp quan sát sự việc trên một quan điểm riêng. Với đề tài của Những linh hồn chết, lẽ ra quần chúng độc giả có thể viết nên một cuốn sách hay hơn Những linh hồn chết không biết bao nhiêu mà kể; một cuốn sách có thể dạy nhiều điều, không những cho tôi, mà ngay cho các bạn đọc nữa; bởi vì giấu giếm mà làm gì, chúng ta đều biết nước Nga rất ít. Chao ôi! Tại sao không có ai công khai lên tiếng! Thật có thể tưởng chừng như mọi vật đều đã chết; và ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho Những linh hồn chết! Thế mà người ta lại trách tôi không biết rõ nước Nga! Làm như thể do một phép lạ của Đức chúa Thánh thần tôi nhất thiết phải biết rõ tất cả những sự việc xảy ra ở bất cứ xó xỉnh nào; phải học cho kỳ hết, không cần ai chỉ dẫn cả. Tôi làm thế nào mà học hỏi được! Thử nghĩ một nhà văn như tôi, vì nghề nghiệp phải ngồi ru rú ở nhà, sống cuộc đời khổ hạnh, lại thêm bệnh tật nữa và buộc lòng phải sống xa nước Nga; thì còn học hỏi làm sao được? Tôi không thể học hỏi các nhà văn hay các nhà báo, vì họ cũng sống cô độc và quanh quẩn trong phòng giấy. Nhà văn chỉ có một người thầy: bạn đọc. Thế nhưng những bạn đọc ấy đã từ chối, không chịu dạy dỗ tôi. Tôi biết rằng tôi sẽ phải chịu trước Thượng đế một trách nhiệm ghê gớm vì đã không làm tròn bổn phận; nhưng tôi lại biết rằng những người khác cũng sẽ phải chịu một trách nhiệm như thế. Và đây không phải là những lời nói suông: có Thượng đế chứng giám cho tôi, đây không phải là những lời nói suông. 1843 II. Tôi đã cảm thấy từ trước là những đoạn mạn đàm trữ tình trong thiên trường ca của tôi sẽ bị hiểu sai. Những đoạn ấy thiếu minh xác, ít ăn nhập với tình tiết và phong cách của cuốn truyện, đến nỗi khiến cho những người công kích tôi, cũng như những người bênh vực tôi, đều bị lầm. Người ta đã tưởng lầm rằng tất cả những đoạn nói về nhà văn nói chung, đều nhằm nói về tôi cả; tôi đã lấy làm xấu hổ khi thấy họ giải thích những đoạn ấy để bênh vực tôi. Chẳng qua, cũng đáng kiếp cho tôi! Lẽ ra, dù sao tôi cũng không nên cho xuất bản một tác phẩm tuy cắt khéo, nhưng khâu thì lại vụng, bằng chỉ trắng lên vải đen; như một bộ áo quần mà người thợ may vừa lược chỉ qua để thử. Tôi lấy làm lạ sao người ta ít có lời chê trách tôi về nghệ thuật và nghiệp vụ như vậy. Âu cũng tại những người phê phán tôi quá phẫn nộ, mà cũng tại họ không đủ sức khảo sát cách cấu tạo của một tác phẩm. Lẽ ra phải nêu rõ phần nào có vẻ dài một cách quái gở so với các phần khác; ở chỗ nào nhà văn đã tự phản mình, vì không nhất quán dùng cái giọng mà mình đã chọn từ đầu. Thậm chí cũng không có ai nhận thấy phần thứ hai của cuốn sách không được gọt giũa bằng phần đầu; nó chứa đựng những chỗ hổng lớn; những nét thứ yếu được khai triển quá mức, choán hết chỗ của những nét chính; các chương quá khác nhau, làm cho cuốn sách có tính chất vá víu, khiến người đọc không thấy tinh thần chung của nó. Nói tóm lại, lẽ ra nhà phê bình có thể có những lời phê phán sáng suốt và chính xác hơn, chê trách tôi nhiều hơn và một cách đích đáng hơn không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ ấy. Đây tôi muốn nói đến cái đoạn mạn văn trữ tình đã bị các nhà báo công kích nhiều hơn cả, vì họ thấy nó biểu lộ một sự kiêu ngạo, một lòng tự mãn {Biêlinxki phê bình Những linh hồn chết, phần thứ nhất, ngay khi sách mới xuất bản, trong tạp chí Niên san của Tổ quốc, ca tụng khả năng hiện thực chủ nghĩa và tâm hồn nhiệt thành của tác giả: nhưng cho rằng tác phẩm có những đoạn tỏ lòng yêu nước quá huênh hoang}, một lối khoác lác xưa nay chưa từng thấy ở một nhà văn nào. Đó là đoạn mạn văn ở chương cuối: sau khi tả Tsitsikôp ra đi, tác giả bỏ nhân vật của mình ở giữa đường thiên lý, thay mình vào chỗ đó và ngạc nhiên trước vẻ đơn điệu chán ngắt của sự vật, trước khoảng không gian bao la hoang vắng và tiếng hát ai oán từ dải đất Nga vang lên suốt từ biển này sang biển kia; trong một phút cảm khái, đã lên tiếng hỏi bản thân nước Nga, van xin nước Nga cắt nghĩa mối cảm xúc khó hiểu đang làm lòng mình thắt lại: tại sao cứ có cảm giác như tất cả mọi sinh linh, mọi sự vật trong nước Nga đều như đang nhìn mình đăm đăm và chờ đợi ở mình một cái gì? Người ta đã thấy trong những lời lẽ đó bằng chứng của kiêu ngạo, một sự huênh hoang không tiền khoáng hậu; nhưng thật ra đây không phải là huênh hoang, cũng chẳng phải là kiêu ngạo, mà chỉ là sự diễn đạt một cách vụng về của một tình cảm chân thành. Ngay giờ phút này, tôi vẫn còn cảm thấy ấn tượng đó. Tôi không sao chịu đựng nổi những âm thanh ai oán, não lòng của một bài ca Nga khi nó rung lên trong không gian vô tận của thôn quê ta. Những âm thanh ấy ám ảnh tâm hồn tôi. Thậm chí tôi còn lấy làm lạ sao mỗi một người trong chúng ta lại không biết đến cái cảm giác đó. Ai là người trông thấy những không gian vắng lặng, lạnh lẽo ấy mà không thấy lòng mình se lại; ai là người trong những âm thanh thê thiết của bài dân ca Nga, không nhận thấy những lời trách móc đau xót đối với bản thân mình - tôi nói rõ: đối với bản thân mình - thì người ấy đã làm xong bổn phận của mình một cách trọn vẹn, trừ phi không có một tâm hồn Nga. Sự vật như thế nào, ta hãy cứ nhìn nhận nó như thế. Gần một trăm năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Hoàng đế Piôtr đệ nhất mở mắt ra cho chúng ta, dắt dìu chúng ta bước lên con đường văn hóa Âu châu, và đặt vào tay chúng ta đủ mọi phương tiện hành động: thế nhưng nông thôn của ta vẫn buồn tẻ và hoang vắng như xưa. Quanh ta mọi vật đều có vẻ ghẻ lạnh, thù địch; tưởng chừng chúng ta chưa phải đang ở trong nhà mình, mà chỉ là đang cắm trại trên đường trường; tưởng chừng đối với ta, nước Nga không phải là một nơi trú ẩn ấm áp, thân tình, mà là một ngôi trạm phủ tuyết lạnh ngắt; ở đấy chỉ thấy hiện ra một gã coi trạm lãnh đạm buông thõng một câu trả lời gắt gao: “- Không có ngựa!”. Tại sao lại như thế? Lỗi tại ai? Tại chính phủ hay tại ta? Nhưng chính phủ vẫn hoạt động không ngừng: chứng cớ là những tập quy chế, chỉ thị, sắc lệnh dày cộm, cái số khổng lồ những tòa nhà đã xây, những cuốn sách đã xuất bản; những thiết chế đủ loại, giáo dục có, từ thiện có, bác ái có; không kể những thiết chế mà ở nước ngoài không thấy chính phủ nào lập ra. Từ trên có những câu hỏi đưa xuống, ở dưới có những lời giải đáp đưa lên. Đôi khi ở trên đưa xuống những câu hỏi chứng tỏ sự đại lượng của một vài nhà vua đã dám hy sinh cả quyền lợi bản thân. Thế mà ở dưới đã trả lời ra sao? Tất cả đều tùy ở cách thức, ở nghệ thuật ứng dụng một tư tưởng sao cho nó thành hiện thực và đi hẳn vào đời sống. Một đạo dụ, dù nội dung có hay ho, dù lời lẽ có chính xác bao nhiêu chăng nữa, cũng vẫn chỉ là một tờ giấy không hồn; nếu ở dưới không tỏ ra có ý muốn đem ứng dụng nó theo một cách thức thích đáng, theo cái cách thức mà chỉ có người nào quan niệm sự công bằng dưới ánh sáng của Thượng đế, chứ không phải dưới ánh sáng của con người, mới tìm ra được. Nếu không, tất cả sẽ thành ra có hại. Chứng cớ là những tay gian lận và ăn hối lộ tinh ma của chúng ta vốn biết cách xoay xở với tất cả các quy chế; một đạo dụ mới đối với họ là một nguồn thu hoạch mới, một phương tiện mới để làm cho sự giải quyết công việc rối ren thêm, để thọc thêm một gậy vào bánh xe. Nói tóm lại, nhìn về đâu tôi cũng thấy rằng thủ phạm chính là những kẻ có bổn phận thi hành pháp luật. Có người vì quá ước ao danh vọng và huân chương, mà đâm ra hấp tấp. Lại có người vì muốn tỏ ra nhiệt thành và tận tụy - một thói xấu rất Nga, - mà cứ đâm đầu vào công việc, không chịu khó nghiên cứu, những tưởng mình có thể điều khiển công việc một cách thành thạo; nhưng hễ thất bại một lần là nản chí ngay, và sau đó, - cũng một thói xấu không kém tính chất Nga, - lập tức thờ ơ với công việc. Lại có người, khi lòng tự ái nhỏ nhen của mình bị tổn thương, liền để lọt vào tay một tên trùm bịp bợm cái cương vị mà ở đấy mình đã bắt đầu phấn đấu cho chính nghĩa. Nói tóm lại, trong chúng ta, ít có người biết yêu cái thiện đến mức có thể vì việc thiện mà hy sinh tham vọng, tự ái cùng tất cả những cái nhỏ nhen của một lòng vị kỷ dễ đâm ra cay cú đến mức có thể khép mình vào một luật lệ bất di bất dịch là phụng sự đất nước, chứ không phải phụng sự bản thân mình; luôn luôn nhớ rằng mình ở cương vị là để mưu cầu hạnh phúc cho người khác, chứ không phải cho bản thân. Ngược lại từ ít lâu nay người Nga chúng ta tuồng như có dụng tâm muốn phô trương tính vị kỷ và dễ chạnh lòng của mình ra. Không biết trong chúng ta liệu có những người mà sau khi làm tròn nhiệm vụ mình rồi, có thể đứng trước toàn thể thiên hạ tuyên bố rằng mình không có lỗi gì đối với nước Nga hết; rằng khắp những khoảng đồng không mông quạnh của đất nước này, không có cái gì có thể coi như một lời trách móc đối với mình cả; rằng mọi vật đều hài lòng về mình và không còn mong chờ gì hơn nữa không? Tôi không biết số người có thể làm như vậy có nhiều không. Tôi chỉ biết rằng riêng tôi, tôi đã nghe thấy lời trách móc thầm lặng đó. Giờ đây, nó vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Sự nghiệp văn chương của tôi có hèn kém thật, nhưng lẽ ra dù sao nó cũng có thể giúp tôi là một việc có ích hơn. Tuy lòng tôi xưa nay vẫn ấp ủ khát vọng làm điều thiện và chỉ vì khát vọng đó mà tôi cầm bút; những cái đó phỏng có gì quan trọng đâu! Tôi đã làm tròn nhiệm vụ ấy như thế nào? Chẳng hạn, cuốn sách vừa rồi của tôi, nhan đề Những linh hồn chết, liệu có gây được cái ấn tượng mà lẽ ra nó phải gây nên; nếu nó được viết cho đúng với yêu cầu không? Vì không biết diễn đạt những ý nghĩ của chính mình; tuy đó là những ý nghĩ khá giản đơn, tôi đã làm cho nó bị hiểu sai, và lại hiểu sai theo một hướng có phần tai hại. Lỗi tại ai đây? Tôi có nên viện cớ là đã nghe theo những thị hiếu xốc nổi của những kẻ tài tử ưa chuộng những phong cách hào nhoáng và trống rỗng không? Tôi có nên đổ lỗi cho hoàn cảnh và tuyên bố rằng vì cần kiếm kế sinh nhai mà phải cho in vội, in vàng tác phẩm của mình không? Không. Ai là người đã từng quyết chí làm tròn nhiệm vụ một cách trung thực thì không thể để cho hoàn cảnh chi phối mình được; nếu cần, thà ngửa tay ra ăn xin, chứ quyết không nhượng bộ trước những lời chê trách hời hợt hay những ước lệ giả dối của xã hội được. Người nào đã vì muốn tuân theo những ước lệ giả dối đó mà làm hỏng một tác phẩm có ích cho nước nhà, thì người đó không phải là người yêu nước. Chính vì tôi đã cảm biết được cái tính nhu nhược đáng hổ thẹn của tôi, cái tính hèn nhát đáng khinh của tôi, nỗi bất lực của lòng yêu nước của tôi; cho nên tôi mới nghe thấu được lời trách móc đau xót mà tất cả những sự vật đang ở trong nưóc Nga đã lên tiếng nói với tôi. Nhưng một sức mạnh cao cả đã nâng tôi dậy; không có lỗi lầm nào không bổ cứu được; và tuy lúc đầu tôi đã chán nản trước cảnh tượng những không gian hoang vắng, về sau chính cảnh tượng ấy đã làm cho tôi đầy nhiệt tình: tôi đã thấy khoảng không vô tận ấy là một môi trường hoạt động tuyệt vời. Và tự đáy lòng tôi đã thốt lên lời kêu gọi đất nước Nga: “- Chẳng phải Ngươi vốn có sứ mệnh sinh ra những bậc anh hùng đó sao? Ngươi hiến cho họ biết bao nhiêu là không gian để xây dựng sự nghiệp!” Đó không phải là một câu văn viết cho kêu để lòe người, cũng không phải là một lời huênh hoang. Không: lời kêu gọi đó tôi thốt ra tự đáy lòng, và đến nay lòng tôi vẫn còn rung cảm vì nó. Giờ đây, sống ở nước Nga bất cứ lúc nào người ta cũng có thể trở thành một bậc anh hùng. Mỗi địa vị, mỗi chức vụ đều đòi hỏi bản lĩnh anh hùng. Mỗi người trong chúng ta đã làm ô uế tính chất thiêng liêng của địa vị và chức vụ của mình (tất cả mọi chức vụ đều thiêng liêng), đến nỗi phải có những sự cố gắng anh dũng mới đưa được địa vị và chức vụ trở lại trạng thái cao cả thích đáng. Trực giác tôi đã cảm thấy được sự nghiệp cao quý ấy, sự nghiệp ngày nay chỉ dành cho dân tộc Nga mà thôi; vì chỉ có dân tộc Nga biết được chủ nghĩa anh hùng và thấy trải ra trước mắt mình những khoảng không vô tận như vậy. Chính vì thế mà tôi đã thốt lên lời than kia, lời than mà người ta đã tưởng lầm là một biểu hiện của tính kiêu ngạo, một lời huênh hoang. 1843 III. Tôi lấy làm lạ rằng một người am hiểu lòng người như anh mà lại có thể đi hỏi tôi những câu ngớ ngẩn chẳng khác gì những người khác. Phần lớn những câu hỏi ấy đều liên quan đến phần sau này của bộ sách: tò mò như vậy mà làm gì? Chỉ có mỗi một câu hỏi thật là tế nhị và xứng đáng với anh; và tuy cũng chưa dám chắc là có thể trả lời một cách thỏa đáng, tôi vẫn ước ao rằng có những người khác cũng hỏi tôi câu đó. Cụ thể là: tại sao những nhân vật trong các tác phẩm gần đây của tôi, nhất là trong Những linh hồn chết, tuy không phải là những bức chân dung của người thật, lại cũng chẳng có gì hấp dẫn cho lắm, mà sao vẫn có vẻ thân thuộc, gần gũi với chúng ta; tưởng như có thể tìm thấy ở các nhân vật đó những nét riêng của bản thân mình? Mới năm ngoái đây thôi, giá có ai hỏi như vậy, dù người đó là anh đi nữa, thì tôi sẽ lúng túng, khó trả lời. Nhưng bây giờ thì tôi xin thú hết: sở dĩ các nhân vật của tôi gần gũi với lòng người là vì chúng ở lòng người mà ra; tất cả những tác phẩm gần đây của tôi đều là lịch sử của tâm hồn tôi. Để anh hiểu rõ hơn những điều này, tôi xin giãi bày để anh rõ tôi là nhà văn như thế nào. Người ta đã bình luận về tôi khá nhiều: người ta đã xác định một số khía cạnh trong tài năng của tôi, nhưng vẫn chưa nhận ra nét căn bản của nó. Puskin là người duy nhất đã nhận thấy nét đó. Puskin vẫn nói với tôi rằng chưa có nhà văn nào có được đến mức như tôi, cái năng khiếu làm hiện rõ sự nhạt nhẽo của cuộc đời, làm cho sự tầm thường dung tục nổi lên, sắc sảo đến nỗi những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đập ngay vào mắt người ta. Đó chính là cái khả năng thiên bẩm trội nhất của tôi, cái khả năng mà quả nhiên không còn nhà văn nào có. Tôi bẩm sinh đã có khả năng đó, và sau một cơn khủng hoảng tinh thần, nó lại càng phát triển thêm. Và đó chính là điều mà dạo ấy tôi chưa thể thú nhận, dù là với Puskin cũng vậy. Trong Những linh hồn chết, khả năng đó còn thể hiện một cách mạnh mẽ hơn nữa. Sở dĩ Những linh hồn chết đã làm cho nước Nga hoảng sợ và đã gây nên nhiều tiếng xôn xao như vậy, không phải là vì nó phát hiện những ung nhọt hay những bệnh tật ở bên trong; đó không phải là vì nó bày ra cái cảnh đắc thắng của sự xấu xa và cái cảnh những người vô tội bị áp bức, khiến người ta sửng sốt. Không, các nhân vật của tôi không phải là những kẻ vô lại. Tôi chỉ cần thêm một nét dễ ưa vào một trong các nhân vật đó là bạn đọc sẽ vừa lòng với tất cả các nhân vật khác; nhưng vẻ tầm thường dung tục của toàn thể khiến bạn đọc ghê tởm. Các nhân vật của tôi nối đuôi nhau xuất hiện, nhân vật này lại tầm thường hơn nhân vật kia; và độc giả hoài công đi tìm một đoạn có thể an ủi mình, một nơi có thể dừng lại để thở; gấp sách lại, bạn đọc tưởng như vừa từ cái hầm ngột ngạt bước ra để trở lại với ánh mặt trời. Giá đó là những tên gian phi có lắm màu, lắm vẻ đẹp mắt, thì hẳn người ta đã bỏ quá cho tôi; đằng này lại là những kẻ rất mực tầm thường, nên người ta không dung thứ được. Sự vô nghĩa lý của người Nga đã làm cho bạn đọc hoảng sợ hơn là những thói hư tật xấu của họ. Đáng khen thay nỗi kinh hoàng đó! Đã thấy ghê tởm như vậy trước sự đê tiện, hẳn phải có những đức tính trái ngược với sự đê tiện. Vậy thì cái khả năng trội nhất của tôi chính là ở chỗ đó; và xin nhắc lại rằng cái khả năng ấy lẽ ra không phát triển mạnh như vậy nếu tâm trạng của tôi và quá trình diễn biến tinh thần của tôi không góp sức vào đấy. Trong các bạn đọc của tôi, không có ai biết rằng trong khi cười các nhân vật của tôi, họ cũng cười cả chính bản thân tôi đó. Tôi không có một tật xấu, một đức tính nào đủ mạnh để chế ngự các tật xấu, các đức tính khác; ngược lại, tất cả những tính xấu mỗi cái một tí, đều họp nhau trong con người tôi; tôi chưa từng thấy ai tập họp nhiều tính xấu như thế. Thượng đế đã phú cho tôi một bản tính rất phức tạp. Người đã cho tôi một vài đức tính; đức tính đẹp nhất mà tôi không biết làm thế nào để tạ ơn người, là ước vọng tu thân. Tôi chưa bao giờ thích thú với những thói xấu của mình và cũng may mà Thượng đế chí nhân đã cho tôi phát hiện dần từng thói xấu một chứ không phải đột nhiên khám phá ra tất cả một lúc, trong khi tôi chưa quan niệm được lòng từ bi vô cùng vô tận của Người; nếu không thì chắc chắn tôi đã treo cổ mà chết cho rồi. Trong khi tôi dần dần phát hiện ra những tính xấu của mình, thì một sự xui khiến kỳ diệu của bề trên làm cho tôi tăng thêm ý muốn trút bỏ những tính xấu đó đi; một cơn khủng hoảng tinh thần kỳ dị đã thúc đẩy tôi chuyển những tính xấu đó cho các nhân vật của tôi. Cơn khủng hoảng đó cụ thể ra sao thì anh cũng không nên biết làm gì; ví thử điều đó có chút gì bổ ích cho bất cứ ai, thì tôi đã nói ra từ lâu rồi. Từ dạo ấy, tôi bắt đầu lấy những tính xấu của tôi thêm vào các tính xấu của nhân vật. Tôi làm như thế này: tôi lấy tính xấu của tôi gán cho một người nào mà cương vị và chức vụ khác tôi, rồi theo dõi tác dụng của nó trong người ấy; tôi cố gắng hình dung người đó là một kẻ thù không đội trời chung của tôi, đã từng lăng nhục tôi một cách tàn tệ; tôi hằn học, chế nhạo, dè bỉu hắn. Giá có ai trông thấy những quái vật mà ngòi bút tôi đã vẽ ra lúc đầu, người đó hẳn phải rùng mình, sởn gáy. Tôi chỉ xin nói với anh rằng khi nghe tôi đọc những chương đầu của Những linh hồn chết dưới dạng thức nguyên sơ, thì Puskin, - tính vốn hay cười xưa nay và bao giờ cũng vui lên khi nghe tôi đọc, - lần này lại cau mặt, mỗi lúc một thêm ủ dột. Khi tôi đọc xong, Puskin thốt lên, giọng thảm đạm: “Trời ơi, nước Nga của chúng ta thật buồn quá!” ... Mời các bạn đón đọc Những Linh Hồn Chết của tác giả Nikolai Vasilyevich Gogol.
Đảo Bác Sỹ Moreau - Herbert George Wells
HG Wells (1866 – 1946), văn hào Anh, cùng với Jules Verne, là 1 trong 2 nhà tiểu thuyết khoa học viễn tưởng nổi tiếng nhất mọi thời. Các tác phẩm chính của ông bao gồm: Cỗ Máy Thời Gian (The Time Machine – 1895), Đảo Bác Sỹ Moreau (Island of Doctor Moreau – 1896), Người Vô Hình (The Invisible Man – 1897), và Chiến Tranh Liên Hành Tinh (The War of the Worlds – 1898). Wells cũng là 1 sử gia cự phách. Bộ Đại Cương Lịch Sử Thế Giới (The Outline of History – 1919) của ông là 1 tác phẩm mẫu mực về sử học. Đảo Bác Sỹ Moreau là tiểu thuyết thứ 3 trong đời viết văn của H G Wells. Truyện kể về 1 khoa học gia lập dị sống cùng người học trò, đơn độc trên đảo hoang vu, cách biệt với thế giới văn minh. 2 thầy trò từ năm này qua tháng khác chỉ miệt mài nghiên cứu. Ngoài họ ra, cùng trú ngụ trên đảo còn có 1 lũ thổ dân xấu xí, thú không ra thú, người không ra người. Lũ thổ dân từ đâu mà ra, tại sao lại xấu xí dị hình đến vậy? Ngòi bút tài tình của H G Wells sẽ dần dần tháo gỡ các nút thắt bí mật, đưa người đọc đến 1 thế giới kỳ bí, hoang đường… Ra đời đến nay hơn trăm năm, Đảo Bác Sỹ Moreau vẫn không ngừng cuốn hút các thế hệ độc giả. Tác phẩm đã được các hãng điện ảnh lớn ở Hollywood 3 lần dựng thành phim: Lần đầu vào năm 1933, với sự tham gia diễn xuất của Charles Laughton và Béla Lugosi, lần hai vào năm 1977, với Burt Lancaster và Michael York, lần gần nhất năm 1996, với Marlon Brando và Val Kilmer. Bản dịch này được thực hiện dần dần, như 1 thú tiêu khiển trong những lúc có thời gian rỗi. Lời văn có lẽ chưa được chuốt, đây đó ắt hẳn còn nhiều chỗ sai, mong được độc giả thể tất. Nguyên tác của H G Wells không có ghi chú. Các chú thích trong truyện đều của người dịch. Nguyễn Minh South Australia, 2011 *** Ngày 1 tháng 2 năm 1887, chiếc Lady Vain đâm nhằm tàu vô chủ, đắm tại vị trí 1 độ vĩ Nam,107 độ kinh Tây. Trong số hành khách mất tích có chú tôi, một thường dân tên gọi Edward Prendick. Chú tôi lên tàu Lady Vain tại cảng Callao (1). Ngày 5 tháng 1 năm 1888, tức 11 tháng 4 ngày sau đó, tại 5 độ 3 phút vĩ Nam, 101 độ kinh Tây, người ta phát hiện chú Prendick đang trôi dạt trên một chiếc thuyền. Tên thuyền mờ quá, không đọc được, nhưng dường như đó là thuyền con của chiếc tàu buồm bị mất tích mang tên Ipecacuanha. Chú kể lại một câu chuyện thật lạ lùng, lạ đến nỗi ai cũng ngỡ chú đã phát điên. Về sau, chú lại bảo: từ khi tàu Lady Vain bị đắm, chú chẳng nhớ gì nữa. Các nhà tâm lý học khi ấy thảo luận mãi về chú. Họ cho rằng đấy là một trường hợp bị mất trí tạm thời, do sang chấn cả về thể xác và tâm lý mà ra. Tôi là cháu ruột, cũng là người ăn thừa tự chú Prendick. Khi soạn lại giấy tờ của chú, tôi tìm được câu chuyện dưới đây. Xuất bản câu chuyện ấy hay không?Tùy ở quý vị. Khắp quanh khu vực nơi chú tôi được cứu, chỉ có duy nhất một hòn đảo, tức hòn Noble, một đảo núi lửa nhỏ, không dân cư ngụ. Hồi năm 1891, tàu HMS Scorpion đã từng ghé đảo này. Thủy thủ tàu đổ bộ lên đảo, nhưng không tìm thấy một sinh vật sống nào, ngoại trừ mấy con bướm trắng, heo, thỏ, và vài giống chuột lạ. Như vậy, không có bằng chứng xác thực nào cho chi tiết lạ kỳ nhất trong câu chuyện của chú tôi. Vậy nên, tôi thiết nghĩ, xuất bản chuyện ấy ra cũng chẳng hại gì. Chuyện chú Prendick kể có những điều chắc chắc thật. Chú đúng là đã mất tích trong khoảng 5 độ vĩ Nam và 105 độ vĩ Đông, rồi lại tái xuất trong khoảng ấy vào 11 tháng sau. Cũng đúng là có chiếc thuyền buồm mang tên Ipecacuanha, với gã thuyền trưởng say rượu John Davies. Chiếc Ipecacuanha khởi hành từ Phi châu cỡ tháng 1 năm 1887, chở theo trên boong một con báo và mấy con thú nữa. Nó cập vài cảng ở Nam Thái Bình Dương, và mất tích sau khi rời Bayna vào tháng 12 cùng năm. Những số liệu ngày tháng ấy hoàn toàn ăn khớp với chuyện của chú tôi.   CHARLES EDWARD PRENDICK. (Câu chuyện dưới đây do chú tôi, Edward Prendick, thuật) *** H. G. Wells sinh tại số nhà 46 phố High, Bromley, Kent. Ông là con út trong gia đình 4 người con và thường được gọi yêu là "Bertie." Cha ông, Joseph Wells, là một người bán hàng kiêm vận động viên tường cầu; và mẹ ông, Sarah Neal, là người giúp việc. Nhờ chút tài sản thừa kế, gia đình ông mở cửa hàng bán đồ sành sứ và dụng cụ thể thao, nhưng kinh doanh khá ế ẩm. Joseph Wells phải dựa cả vào chơi tường cầu để kiếm thêm tiền nuôi gia đình. Năm 1874, H. G. Wells bị gãy chân phải nằm bẹp giường. Cha ông thường mượn sách ở thư viện về cho con đọc, và H. G. Wells bị hớp hồn bởi các thế giới trong sách vở kể từ đó. Năm 1877, cha Wells bị gãy chân, không thể chơi tường cầu được nữa, và gia cảnh Wells càng thêm khốn khó. Wells phải tìm việc hỗ trợ gia đình, và có giai đoạn ông phải là việc liên tục 13 tiếng không nghỉ mỗi ngày. Năm 1980, Wells được học bổng trường Đại học Khoa học Hoàng gia. Tại đây ông nghiên cứu sinh học và bắt đầu quan tâm đến tình hình xã hội, hình thành ham muốn thay đổi thế giới thành nơi tốt đẹp hơn. Giai đoạn theo học đại học cũng là lúc H. G. Wells bắt đầu sự nghiệp cầm bút. Ông thành lập một tạp chí trường và thường xuyên đăng các bài viết của mình, và trong số đó có cả tiền thân cho một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Wells: Người tàng hình. Wells là một cây bút đa tài. Ông viết rất nhiều thể loại, bao gồm cả truyện viễn tưởng lẫn các tác phẩm phi hư cấu về xã hội, con người. Nhưng người ta nhớ đến Wells nhiều nhất nhờ các tác phẩm Sci Fi, mà như lời của ông là "khoa học lãng mạn." Một số tác phẩm Sci Fi của ông được coi là tác phẩm tiên phong, mở ra các chi mới cho dòng văn Sci Fi, và đến nay vẫn nhiều tác phẩm Sci Fi vay mượn các yếu tố từ những sáng tác của Wells. Về sau, danh tiếng của H. G. Wells trong văn giới có phần bị sứt mẻ vì ông ủng hộ những quan điểm phần lớn người đương thời không chấp nhận được. Nhận định về Wells trong giai đoạn đó, George Orwell đã nói ông "chưa đủ điên rồ để hiểu được thế giới lúc bấy giờ." Wells mất vào ngày 13/08/1946, hưởng thọ 79 tuổi tại London. Trong ấn bản năm 1941 của The War in the Air, Wells viết ông muốn trên bia mộ của mình khắc dòng chữ: "Nói rồi không nghe. Lũ ngốc."   Mời các bạn đón đọc Đảo Bác Sỹ Moreau của tác giả Herbert George Wells.
Yêu Không Hối Tiếc - Hân Như
Vẫn là những con người đó, nhưng thế giới của CHỈ CÓ THỂ LÀ YÊU giờ đây sẽ nhường chỗ lại cho một thế hệ mới hơn, có suy nghĩ mới hơn, nhưng chân lý tình yêu thì chỉ có một.  18 năm sau, những đứa trẻ rồi sẽ khôn lớn… 18 năm sau, một tình yêu mới lại bắt đầu… 18 năm sau… Có những vụng dại khiến người ta phải ân hận.  Có thể bạn không thích sự trần trụi đó. Tôi cũng không thích. Nên tôi sẽ cố gắng thay đổi nó… Dành tặng bạn, nếu bạn từng đồng hành cùng CHỈ CÓ THỂ LÀ YÊU Dành tặng bạn, nếu bạn lần đầu bước vào thế giới của Hân Như. Dành tặng bạn, nếu bạn tiếp tục ủng hộ YÊU KHÔNG HỐI TIẾC *** Tác giả Hân Như tên thật Minh Ngọc Là học sinh chuyên Sinh cứ tưởng sẽ bén rễ sang nghiệp y nhưng Hân Như lại trở thành sinh viên khoa Tiếng Anh của trường Đại học ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Mẹ cô là giáo viên dạy văn - có nhiều sách văn nổi tiếng của Nga nên ngay từ nhỏ Hân Như đã được tiếp xúc với những câu truyện ngắn hay của xứ sở Bạch Dương và có niềm đam mê lớn với viết lách. Năm lớp 12, “Bàn tay” – tác phẩm đầu tiên của Hân Như đã  nằm trong tuyển tập Truyện chọn lọc viết về Nhà giáo Việt Nam “Bản tình ca mùa thu” (Nhà Xuất bản giáo dục). Trưởng thành từ những trang viết dành cho tuổi teen, Hân Như đã có những bước khởi đầu khi còn ngồi trên giảng đường Đại học. Với lối văn viết cảm xúc và không theo khuôn mẫu nên nhiều truyện ngắn của Hân Như để lại ấn tượng tốt với độc giả như: “Chỉ có thể yêu” (2011) , “Giấu Anh vào nỗi nhớ”(2012) , “Yêu không hối tiếc” (2012) , truyện dài “Interpol”… Năm 2011 được xem là năm thành công của cô gái trẻ này khi tiểu thuyết  “Chỉ có thể là yêu” được dựng thành phim với sự dàn dựng của đạo diễn Vũ Minh Trí (Phim chính thức lên sóng vào 6/12/2012). Trưởng thành ngòi bút theo từng giai đoạn, Hân Như luôn cố gắng tạo dựng màu sắc riêng cho những nhân vật trong truyện của mình. Cô luôn cố gắng đổi mới để độc giả không cảm thấy nhàm chán. Nhân vật Hải Long (trong “Chỉ có thể yêu”) là một chàng hiệp sĩ ảnh hưởng của chuyện cổ Pháp “Ba chàng hiệp sĩ ngự lâm”.  Nhân vật Thiên Nguyên – “Giấu anh vào trong nỗi nhớ của em” – một nhân vật nam chính không có gì nổi bật. Mới đây là nhân vật Nguyễn Đại – “The secret” – một giám đốc có nhiều tật xấu, sống ích kỉ… Không truy cầu danh tiếng, chỉ cầu sự bình an Hân Như chia sẻ bản thân cô là một con người cầu toàn, vì vậy trong công việc cô luôn đòi hỏi ở bản thân sự sáng tạo cao. Gia đình là nơi cô chia sẻ thành công của mình đầu tiên, đó là nơi xây dựng cho Hân Như ý chí và tiềm lực để theo nghề viết lách. Mẹ của Hân Như từng nói với cô: “Đã muốn phấn đấu với nghề văn thì không nên bỏ cuộc, không truy cầu danh tiếng chỉ cầu sự bình an”. Đó cũng chính là điều Hân Như mong mỏi và hướng đến. Bản thân cô viết sách là để thỏa mãn đam mê của mình và muốn được chia sẻ, đồng cảm cùng con người. "Truyền thông giết chết những cây bút trẻ, nó chỉ giúp cho bên phát hành sách của họ và chỉ đem lại hiệu quả nhất thời" - Hân Như chia sẻ. Khi còn là sinh viên Đại học Ngoại ngữ, Hân Như từng là Trưởng ban tuyên truyền của CLB sinh viên trẻ. Chính vì vậy, chị rất thích công việc tình nguyện. Vừa qua Hân Như đã cùng các bạn trẻ tham gia chương trình: “Thiện nguyện mùa đông” – Hướng về miền trung ruột thịt. Nhóm thiện nguyện trẻ Hà Tĩnh đã có 200 suất quà trong đó có 10 suất học bổng dành cho học sinh nghèo vượt khó đã được chia sẻ tới những đồng bào vùng lũ lụt tại Hương Khê -  Hà Tĩnh. Tiếp tục sự nghiệp viết văn của mình, Hân Như sẽ cho ra đời tập truyện “The Secret” vào giữa tháng 12 tới. Và sẽ tổ chức một buổi tọa đàm các tác giả trẻ để chia sẻ kinh nghiệm cho những người yêu viết và muốn viết. Buổi tọa đàm sẽ có sự góp mặt của các tác giả trẻ nổi tiếng như: Hân Như, Nguyễn Thủy, Quỳnh Thi, Lê Ngọc Mẫn,… Hân Như luôn muốn cố gắng trưởng thành ngòi bút của mình, hứa hẹn với nhiều truyện ngắn phản ánh, đi sâu vào thế giới của người trẻ ra đời. *** Trở lại Việt Nam Đậu chiếc xe đời mới vào gara ô tô, chàng trai nhanh nhẹn nhảy ra khỏi xe, lại gần người quản gia đang tỉa hoa với một vẻ chăm chú đặc biệt. - Chú Kim, mẹ cháu về chưa ạ?- Anh liếc chừng về phía ngôi biệt thự sang trọng. - Thưa cậu, bà chủ đã về từ lâu rồi ạ. Bà nói cậu về thì lên phòng bà ngay. “Ôi! Ôi! Xong rồi!”- Anh thầm than- “Lần này thì chết chắc với mẹ rồi.” Cửa phòng làm việc của mẹ anh không khép, anh hé mắt nhìn vào, thấy mẹ mình đang đứng khoanh tay nhìn ra ngoài cửa sổ. Vậy là bà đã trông thấy anh về, có muốn trốn cũng không được. Anh lại gần, ôm chầm lấy bà từ phía sau, nói bằng giọng nịnh nọt mà xưa nay anh vẫn làm nũng với bà: - Mẹ yêu, con về rồi đây. - Biết về rồi à?- Mẹ anh khẽ hừ giọng. - Con nhớ mẹ nên về mà. - Lần này lái xe đến tận đâu thế? - Ôi, mẹ thừa biết rồi mà, con có chạy lên trời cũng không thoát khỏi bàn tay của mẹ.- Anh nháy mắt cười và ngồi phịch xuống ghế. Quay lại nhìn con trai, người phụ nữ ấy khẽ lắc đầu thở dài. Đã bước sang tuổi 43, Thảo Nhi vẫn còn mang vẻ đẹp mặn mà như gái một con, dù rằng cô con gái thứ hai của chị vừa bước sang tuổi 16, đẹp như một đóa hoa. Nhiều năm nay, là phu nhân chủ tịch tập đoàn Silver Wings nhưng chị vẫn giữ được những nét giản dị, mộc mạc như hồi 20 năm về trước, khi chị còn là một cô sinh viên tỉnh lẻ về thành phố học, rồi vô tình gặp gỡ được con trai của tập đoàn Lotus Vũ Nam Phong. Sau khi đoàn tụ, chị sinh tiếp bé Trác Vân, rồi cả gia đình sang Hà Lan sinh sống để thuận tiện cho việc phát triển sự nghiệp của chồng chị. Hai đứa trẻ cũng lớn lên trên quê hương hoa Tuylip này cho đến tận bây giờ. Khánh Nam đã tròn 20 tuổi, giống ba mình như đúc, cũng cao lớn, cũng đẹp trai, thông minh và mê đua xe, nhưng thằng con trai này của chị còn mắc thêm tật phong lưu mà chị không sao sửa được cho nó. Ném cho đứa con một cái nhìn không hài lòng, chị rút từ trong ngăn kéo ra một đống hóa đơn và phiếu phạt, vất lên bàn, nghiêm giọng: - Con nghĩ sao nếu ba con trông thấy đống giấy tờ này? Đua xe trái phép để cảnh sát phải gửi vé phạt về nhà, rồi vào quậy ở quán bar... Còn có việc gì là con không dám làm không? Khánh Nam định mở miệng cãi lại nhưng nhìn thấy đôi mắt giận dữ của mẹ, anh chỉ há miệng ngáp ngáp mấy cái như thiếu hơi rồi lại im re. Mẹ anh thường ngày rất hiền, nhưng mỗi khi bà nổi nóng lên thì nghĩa là bà đang giận thật sự. - Còn nữa... Đưa con gái vào khách sạn ngủ. Con không nghĩ được việc gì hay ho hơn để làm à? - Mẹ... Ở đây mấy thằng bạn con đứa nào chả thế. Con vào khách sạn là lịch sự lắm rồi đấy. - Con còn dám cãi à?- Chị trừng mắt- Mẹ quyết định phải tách con với đám bạn hư đốn đó ra. - Ôi dào... Đằng nào thì con cũng vui vẻ với chúng được mấy ngày nữa đâu. Sang tháng là con cũng sang Harvard nhập học rồi còn gì. Mẹ yêu cứ lo lắng hão cho già người.- Anh khẽ đung đưa người trên chiếc ghế xoay êm ái. - Con hãy quên giấc mơ Harvard đi. - Cái...gì?- Khánh Nam suýt té ngã xuống đất khi nghe mẹ mình nói câu đó- Mẹ nói sao cơ ạ? - Mẹ và ba đã quyết định sẽ không cho con đi học ở Harvard. - Mẹ...mẹ điên à?- Anh hét lên- Ơ...con xin lỗi... con không có ý đó... Nhưng thật bất công. Mẹ biết là Harvard không phải là nơi ai muốn đến cũng được cơ mà. - Mẹ biết.- Chị bình tĩnh đáp lại con trai. - Thế tại sao ba mẹ lại có quyết định kì cục như thế? - Đó không phải là nơi ai muốn đến cũng được, mẹ biết điều đó. Nhưng đó cũng không phải là nơi tốt nhất cho con. - Vậy theo mẹ thì còn nơi nào là nơi tốt nhất cho con?- Anh bất mãn hỏi lại. ... Mời các bạn đón đọc Chỉ Có Thể Là Yêu 2: Yêu Không Hối Tiếc của tác giả Hân Như
Trúng Số Độc Đắc - Vũ Trọng Phụng
Trúng số độc đắc là một biến cố, thường đem đến cho con người những thay đổi thật lạ lùng. Cái ngày trúng số như chia cuộc đời con người gặp may ra hai phần, mà bao nhiêu thứ đều trái ngược nhau đến mức bi đát. Trúng số độc đắc đã vẽ lại con đường rất biện chứng, biến một anh ký viết ra một tay cự phú, với các hoàn cảnh gia đình, xã hội vây quanh anh ta.  Thất nghiệp, Nguyễn Văn Phúc bị vợ sỉ vả đủ thứ. Bố mẹ thì nói ra, nói vào, chửa Phúc là ăn hại, đái nát, vô tích sự, gàn dở, không đáng bưng bát cơm lên mà ăn. Nhẫn nhục đi xin một chân thư ký hãng buôn thì lão chủ Tây ném đơn xuống đất...  Chưa đầy nửa tháng, nghe tin Phúc trúng số mọi thứ đều thay đổi. Gia đình thì thấy anh Phúc biến ra đại quý, còn người đời thì cung kính vô cùng. Cái số độc đắc không chỉ sinh ra hài kịch gia đình mà còn làm nổ ra những bi kịch ghê gớm. Nhân tình thế thái, thì ra cái số độc đắc là giọt rượu quý để ma lực làm cho nó đỏ hay xanh trước mắt người đời.  Viết Trúng số độc đắc, Vũ Trọng Phụng đã tập trung tất cả bút lực để theo dõi, phân tích, mô tả những thay đổi trong đời và trong lòng của chỉ một nhân vật. Ông có cái nhìn rất sáng suốt, tính nhậy cảm thật tinh tế, không những trông thấy những tình cảm được biểu lộ mà cả những ý muốn sơ phát còn tiềm tàng, những ký ức bị quên đi bỗng hiện về, những cảm giác từ lâu sống dậy.  Với cuốn tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng lên án thế gian và người đời nghiêm khác, thế nhưng giọng kể chuyện, tả cảnh, tả tình cứ hồn nhiên, vui vẻ và có dịp là không quên hài hước.  Đây là tác phẩm cuối đời của Vũ Trọng Phụng, tác phẩm tuyệt mệnh này thực sự là một tuyệt tác về nhiều phương diện. *** Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ 20. Đặc biệt ông nổi tiếng với những bài phóng sự và được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc”. Những tác phẩm của ông góp phần tạo nên diện mạo văn học Việt Nam trước cách mạng tháng tám chịu nhiều chìm nổi. Ông sinh năm 1912, mất năm 1939, quê ở tỉnh Hưng Yên, nhưng được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Vốn xuất thân trong một gia đình nghèo, lại mồ côi cha mẹ từ lúc mới 7 tháng tuổi, mẹ tần tảo nuôi ăn học. Năm 16 tuổi, sau khi đỗ bằng tiểu học, ông phải thôi học để đi làm kiếm sống. Sau hai tháng làm thư kí đánh máy cho hãng buôn Goddard, ông bị đuổi và thất nghiệp. Ít lâu sau, ông đánh máy chữ cho Nhà in Viễn Đông nhưng hai năm sau lại bị đuổi.Từ đó ông chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp. Với giọng văn sắc sảo, mang đậm chất châm biếm, trào phúng và nội dung tư tưởng sâu sắc, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đều hướng tới chủ đề hiện thực, tố cáo và vạch trần xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8 – một xã hội bê bối với những tấn trò đời bi kịch. Đọc những trang văn của ông, người ta không khỏi ngậm ngùi, chua chát. ***  Trừ những ngày mưa không kể, sáng nào cũng vậy, cứ đúng chín giờ là anh Phúc đã ngồi trên một cái ghế xi măng trước nhà Kèn, trong vườn hoa Paul Beri[1]. Đã tám tháng nay nhàn cư như vậy cho nên từ người phu lục lộ quét vườn hoa cho đến mấy đứa sống cầu bơ cầu bất bằng đủ các nghề như trèo me, trèo sấu, câu cá, bắt tổ chim, có khi ăn cắp, giật khăn nữa: nói tóm lại là bọn ma cà bông vẫn lấy nhà Kèn làm khách sạn, đối với anh Phúc, đều đã trở nên ít nhiều thân thuộc. Hễ anh cứ ngồi vừa nóng ghế được năm phút, thì người phu gát đến chỗ chân anh. Mà lần nào cũng vậy, hễ anh co chân lên để tránh những hòn sỏi nhỏ do cái chổi tre hắt bắn lung tung, thì người phu cũng thản nhiên khẽ chào anh: “Cậu chơi!” để cho Phúc vui vẻ đáp: “Không dám! Ấy kìa bác…”. Độ nửa giờ sau, người phu ấy lại quay lại với Phúc, giơ cái điếu thuốc lào quấn bằng lá chuối mà bác ta vẫn gài mang tai khiến Phúc phải gập sách lại, ngừng đọc. Anh ta bèn lôi ngay ở túi áo ra bao diêm và gói thuốc lào. Bao giờ Phúc cũng để người phu hút trước, mình sau. Bao giờ người phu cũng để cho Phúc cái hân hạnh mời mình cả diêm lẫn thuốc, và sự ấy, Phúc coi là một thứ thuế đánh chỗ ngồi của chàng, không phải đóng thẳng cho Nhà nước nhưng đóng cho một người thay mặt Nhà nước vậy. Sau cuộc thù tạc nhỏ mọn ấy, Phúc lại đọc sách, người phu lại vác chổi ra đi. Còn bọn ma cà bông, giao thiệp với anh ta thì khác. Chúng gọi anh là “cậu áo trắng dài” chỉ vì cái lẽ rất dễ hiểu là xưa nay chúng không thấy Phúc vận gì khác ngoài cái áo trắng dài. Thoạt đầu, chúng cũng ngạc nhiên không hiểu sao trong đời lại có người vô công rỗi nghề đến bậc ngày nào cũng ra ngồi vườn hoa như thế, nhưng khi thấy Phúc bao giờ cũng đọc sách, chúng bèn đoán hẳn đó là một người học trò sửa soạn đi thi. Đối với bọn ấy, Phúc rất dè dặt. Có đứa đã đến ngồi cạnh chân anh ta, và sau khi hỏi chuyện mà không được đáp lời đằm thắm, đã ngồi ra nghịch những hòn cuộn dưới chân anh hàng nửa giờ mà chưa đi cho. Lại có đứa đã từng có lần moi trong một cái tay nải ra những quả me xanh hoặc sấu chín nó có thể làm cho Phúc nhớ lại cái thời học trò thơ ấu nữa, nhưng Phúc đã trả tiền, sợ ăn không thì thành ra thân mật quá, và thân mật với cái hạng hay văng tục ghê gớm, hay chửi ỏm tỏi, là rất nguy hiểm. Những khi bị bọn quỉ sứ ấy hỏi chuyện, Phúc chỉ đáp thế nào cho phải phép, cho khỏi là đáng ghét mà thôi. Tuy vậy, anh ta cũng đã nhớ tên và hiểu rõ cả tâm tính từng đứa một: thằng Bí Sến Vườn hay đánh chửi nhưng thẳng và tốt, thằng Tẹo mắt híp miệng nói leo lẻo nhưng mà gian, thằng Bôn Tây Lai có cả những tánh xấu của hai thằng kia, nghĩa là vừa hay bắt nạt vừa ăn gian, thằng Sáu Vẩu mềm nắn rắn buông, khôn ngoan đủ khoé, vân, vân… ... Mời các bạn đón đọc Trúng Số Độc Đắc của tác giả Vũ Trọng Phụng