Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cô Thợ Thêu

Pascal Lainé là một nhà văn Pháp sinh năm 1942 ở Anet.    Ông đã đoạt cả hai giải thưởng lớn của Pháp là Medicis (1971 với tác phẩm l'Irrévolution) và Goncourt (1974 với tác phẩm La Dentellière), ngoài ra ông còn là tác giả của hơn 20 tiểu thuyết cũng như kịch bản phim.    Tác phẩm chính:  B comme Barrabas (1967) L'Irrévolution (Prix Médicis - 1971) La Dentellière (Prix Goncourt - 1974) Si on partait (1978) L'Eau du miroir (1979) Tendres cousines (1979) Terres des ombres (1982) Les Petites Egarées (1988) Dialogues du désir (1992) L'Incertaine (1993) Le Commerce des apparences (1997) Derniers jours avant fermeture (2001) Capitaine Bringuier (Théâtre) Monsieur vous oubliez votre cadavre Le mystère de la Tour Eiffel (2005) Un clou chasse l'autre ou La vie d'artiste (essai, Punctum editions 2006) *** Chuyện bắt đầu ở một tỉnh phía Bắc nước Pháp, cái tỉnh nhìn trên bản đồ nom giống một củ cải đường.   Về mùa đông, những người từ xa tới bằng ô-tô nhìn thấy trước mắt mình một vết phồng. Một mảng rộp ở chân trời. Cây cối ven đồng trơ trụi làm cho cảnh chiều tà thành mênh mông vô tận.   Nhà cửa trong làng rặt bằng gạch, một tầng. Vẫn chưa phải là phố, tuy giữa hai dãy nhà có con đường nhựa cộc cằn, thường được các trận mưa kỳ cọ chu đáo làm cho bóng loáng lên. Xe cộ rạch bùn trong các thửa ruộng trồng củ cải đường bị xéo nát thành hai cái rãnh sóng đôi. Cả những chiếc xe tải cũng làm việc tương tự đó.   Ngoài cái dòng các em bé đầu đội mũ trùm kín trước cửa trường học, mà sự lộn xộn tan biến ngay lập tức vì các em buộc phải tản đi theo lề đường, hoặc đi vào các rãnh rau, làng xóm nói chung im ắng vào mùa đông. Trong đêm tối, những con chó luồn từ xó tối này sang xó tối khác. Hoặc giả, tiếng lạch cạch của một chiếc xe đạp, tiếng động duy nhất làm nổi bật sự im ắng mỗi lúc một sâu hơn giữa các cơn động quen thuộc do những chiếc xe kéo moóc gây nên.   Đó là một làng công nhân nhưng nhà máy đã ngừng hoạt động, chỉ còn lại có cái vỏ bằng gạch và sắt.   Mùa hè ở đây thậm chí còn kỳ cục hơn. Có những đợt nắng kéo dài và con đường trở nên sạch sẽ. Khoai tây mọc trên những mảnh vườn nhỏ. Quần áo được đem phơi ra ngoài trời. Con đường hẻm xen giữa các ngôi nhà đầy những vỏ chai rỗng. Buổi tối, người đi làm ở thành phố trở về, sau khi bước khỏi ôtô, còn nán lại một chút. Họ sưởi chút nắng còn sót lại của mặt trời đang lặn trong ráng đỏ ánh lên từ phía đường quốc lộ. Đêm xuống. Bầu trời chuyển sang màu ximăng ướt và biến thành một bức tường nhẵn bóng, trên đó treo lơ lửng chiếc bóng đèn to tướng là mặt trăng.   Vào khoảng bảy giờ rưỡi, họ trở về nhà để xem tivi.   Với lũ trẻ, đó là khoảng thời gian để chạy nhảy trên đường phố và chơi những trò nghịch ngợm trong các ngõ ngách phía sau nhà.   Ở chỗ giao nhau của quốc lộ và con đường nội tỉnh đã có từ lâu là một quảng trường. Quốc lộ có trước. Trên quảng trường có nhà thờ; kề đó là đài tưởng niệm, xung quanh có những chiếc ghế dài. Các cụ ông, cụ bà bé choắt lại vì tuổi tác, thường đến đây vào những ngày đẹp trời. Với dáng điệu khẽ khàng một cách co ro, họ ngồi lên những chiếc ghế băng để đan len hoặc đọc báo. Cũng có khi hai ba em bé gái, mà thường thì vẫn chỉ có bọn chúng, ngồi trước mặt con đường quốc lộ, nhìn những chiếc xe con và xe tải chạy qua chạy lại. Một cô bé trong số đó có tên là Pom (Pomme - quả táo tây).   Và đây là ngôi nhà của hai mẹ con cô bé Pom. Trước hết là một phòng lớn với chiếc bàn dài sơn trắng. Mặt bàn phủ tấm vải dầu có in những bông hồng đã ngả màu vàng vì thuốc tẩy (cũng còn có cả những vết nhòe màu vàng giống như những chiếc lá của bó hoa. Còn những vết thủng do tàn thuốc lá gây nên thì chẳng ra hình thù gì cả).   Những chiếc ghế sơn, có vài chiếc cùng kiểu với bàn, còn nữa thì mỗi chiếc mỗi kiểu. Rồi đến chạn bát.   Có thể ru rú trong nhà đốt lò sưởi, cũng có thể ngồi thoải mái với bộ quần áo ngủ; và bất chấp tất cả, ta vẫn cảm thấy, hầu như bằng xúc giác, cũng rung lên theo nhịp rung của những chiếc bánh xe tải đồ sộ. Những chiếc xe hối hả chạy qua, chỉ cách nhà có vài mét, nó cũng là lý do để tạo nên một cái gì đó khiến ở trong nhà cũng có cái vẻ ở ngay cạnh lề đường.   Căn phòng này do vậy đã trở thành phòng chính, và ở hai bên, mỗi bên một phòng nhỏ. Trong phòng thứ nhất có một chiếc tủ gương và một chiếc giường, một cái vũng mềm mại từ đó các giấc mơ, như ta vẫn thường nói, sẽ chảy thẳng ra lề đường. Ở chân chiếc giường lớn là một chiếc giường cũi dành cho trẻ em. Các thanh chắn trên thành cũi có cái bằng sắt mạ kền, có cái đã han gỉ.   Pom ngủ ở phòng thứ hai, căn phòng mà chúng ta chưa hề miêu tà đến, từ khi nó còn quá rộng đối với một chiếc giường cũi.   Chính vì có đôi má bầu bĩnh nên người ta mới gọi cô bé là Pom. Đôi má của cô rất nhẵn và khi có ai đó nói về nó trước mặt cô thì nó càng nhẵn, càng tròn và càng bóng nhoáng lên.   Cô bé còn có những thứ tròn trịa khác nữa. Vì thiếu một nhà thơ, kẻ xa lạ đến tội nghiệp trong câu chuyện này, bọn con trai trong làng bắt đầu nhìn cô bé như nhìn một giỏ trái cây.   Nhưng cô bé Pom cũng chẳng cần có nhà thơ để có thể rất hài hòa theo cốt cách riêng của cô. Có thể không thật đẹp. Cô không có cái mảnh mai thú vị của các thiếu nữ yêu kiều mà chỉ nhìn thôi, ta cũng đã có cảm giác rằng làn da tay của họ có thể làm chén nước rửa tay[1] mát mẻ và trong vắt hẳn lên. Trái lại, đôi bàn tay của cô, tuy không đến nỗi thô thiển, vẫn được gắn một cách chắn chắn vào cổ tay, rồi cổ tay lại được gắn vào cánh tay, và cứ như thế với cái vẻ hết sức tự nhiên.   Từ đầy đặn không phải dành cho một cô bé ở độ tuổi này (cứ cho là tuổi 14 đi), nhưng quả thật cô bé này tạo cho ta ngay lập tức một ấn tượng về sự đầy đặn: dù cô bận tíu tít hay chỉ ngồi rồi một chỗ, hoặc giả nằm bất động, mơ màng, dù mắt cô có lim dim, miệng há ra và tâm trí có phiêu diêu trong trạng thái gà gật thì sự có mặt của thân thể cô vẫn chế ngự cả căn phòng. Pom chỉ vừa đến độ tuổi trưởng thành, nhưng cả thân thể cô là một khối đồng nhất và chắc nịch. Cả phần hồn của cô cũng vậy. Cô không thuộc loại sinh vật mà sự hiện diện của nó tan biến đi những cái nhìn và những lời nói mơ hồ; cử chỉ, công việc của cô, dù là phù phiếm nhất, cũng vẫn làm cho mỗi giây phút của cô trở nên vĩnh cửu. Cô dọn ăn ở chỗ này, giặt giũ ở chỗ kia, cô ngồi làm bài tập (với một sự chăm chú khiến ai cũng phải mủi lòng) và những thái độ ấy, những cung cách ấy đều toát lên từ cô theo một nhu cầu hoàn toàn tự nhiên trong một thế giới yên bình.   Đôi bàn tay ngắn ngủi của cô bé trở nên luống cuống khi tập thêu, tưởng chừng như đã bị tách khỏi cô, nhưng cũng không vì thế mà mất đi ở cô cái nhất quán của sự tinh tế và sự thô kệch nào đó. Công việc cô làm, dù là việc gì ngay lập tức trở thành sự hòa hợp ấy, sự nhất quán ấy. Khi đó, cũng như những người khác, cô là chủ đề của một trong những bức tranh sinh hoạt mà trong đó hiện ra rất sống động qua cách bố cục và qua các giai thoại. Cái dáng vẻ ấy của cô thật riêng biệt, chẳng hạn như khi cô ngậm giữa hai làn môi chiếc ghim trong lúc đang sửa lại mái tóc. Cô bé là Cô thợ giặt, Cô xách nước, hoặc giả, Cô thợ thêu.   Có thể Pom đã thừa hưởng những năng khiếu đó ở bà mẹ, người đang phục vụ ở một quán rượu trong thành phố. Bà nói “Xin hầu ngài” một cách rất thoải mái bất cứ khi nào có một quý ông yêu cầu bà lên buồng trên gác. Bởi vì bà cũng là một người hầu theo đúng nghĩa riêng của từ đó dù ở gác lửng hay dưới tầng trệt, đứng hay bò, luôn luôn đơn giản và tự nhiên, cũng đơn giản, tự nhiên như cô con gái của bà vậy. Cả ở nhà bà mẹ và cô con gái, sự thoải mái trong tư thế là giống hệt nhau, kể cả khi ở trong căn buồng trên gác của quán rượu, vẫn là động tác tự nhiên ấy, luôn luôn đồng nhất và với một sự trong trẻo chân thành bất chấp tất cả. Tuy nhiên bà mẹ, người hầu ấy, không cởi giày vì trên sàn có những cái giằm. Đó chính là chỗ bất ổn duy nhất trong cuộc sống của bà.   Hai mẹ con nhà Pom còn giống nhau về tính nết. Họ chấp nhận một cách đơn giản những niềm vui và nỗi cay đắng mà số phận ban phát cho họ, cũng chẳng lấy gì làm nhiều lắm. Cả hai, cùng với ngôi nhà nhỏ của họ nằm ở rìa đường, tạo thành một cánh tay chết của cuộc sống, vệt sáng lặng lẽ từ một ô cửa sổ ở ngay cạnh một miệng cống, nơi những sinh vật khác qua lại nhộn nhịp.   Pom không hề tỏ ra ngạc nhiên và hoảng sợ khi cô thấy những dấu hiệu đầu tiên của giới tính, những dấu hiệu chưa ai nói trước với cô. Cô tự thay và giặt lấy đồ lót của mình, không giấu giếm nhưng cũng không nói với ai, như một con mèo bới đất và mùn cưa giấu đi các thứ bẩn thỉu mà nó vừa bĩnh ra. Mẹ cô đã nhìn thấy cô làm cái công việc tỉ mẩn và lặng lẽ này, và cô lắng nghe những lời khuyên của mẹ với một sự chăm chú chừng như chính cô đã hỏi vậy. Tâm hồn Pom cũng tròn trĩnh và nhẵn bóng như thân thể cô: không có chỗ gồ ghề khúc khuỷu nào ngăn được dòng chảy mọi vật trong cô.   (Ở đây tác giả có thể nhấn mạnh một chút về sự chung sống giữa một thiếu nữ với một người mẹ có quan hệ với nghề làm điếm. Có thể gợi lại những đêm không ngủ, những giờ khác chờ đợi dày thêm nỗi tủi nhục âm thầm của cô gái, cho đến tận khi mẹ trở về vào giữa đêm khuya, bước đi mệt mỏi và nặng nề, đôi mắt đờ dại vì mệt và chán chường, đụng phải ngay khi cánh cửa vừa hé mở, bộ mặt nhợt nhạt và cái vẻ dò hỏi đầy đau khổ của đứa con. Cũng cần phải nói về những lời giễu cợt bóng gió, hoặc sự im lặng nhọn hoắt như lưỡi kim mà Pom thật khó bề chống đỡ được mỗi khi cô đi trên đường làng, làm những thương tổn của tâm hồn cô mỗi lúc một rõ ràng, sâu sắc hơn. Ta cứ hình dung số phận chua xót của cô bé, và cuốn tiểu thuyết có thể sẽ trở nên một câu chuyện về những hư đốn của cô tiếp theo sau sự ngây thơ trong trắng ban đầu).   Thế nhưng mọi việc lại khác hẳn. Trước tiên Pom và mẹ cô có đặc quyền về sự vô tư. Cái đó không che lấp thực tế mà ngược lại làm cho thực tế trở nên trong suốt khiến con mắt người đời lướt qua đi mà không dừng lại. Quả thật chẳng ích lợi gì để mà tìm hiểu xem Pom có “nghi ngờ” vị thế của bà mẹ hay không. Pom làm gì có đủ tư cách để mà nghi ngờ. Tuy nhiên, số phận của cô (nếu chúng ta cứ khoác cho tâm hồn đơn sơ ấy tấm áo “số phận”) không phải không liên quan đến việc mẹ cô làm điếm tại một quán rượu trong thành phố, hơn nữa, bà mẹ vốn tính ngay thật, cứ kể bô bô trước mặt con gái về những người đàn ông đã chung chạ với mình. Tình trạng đó cùng với những câu chuyện mà mẹ cô thường nói, những câu chuyện kỳ quặc vì sự tầm thường của nó (trong đó chỉ có sự vô hại và chỉ có một người mẹ trung thực mới có thể nói với con mình bằng những từ ngữ chính xác như vậy), đã tạo nên trong Pom lòng kính trọng lớn lao đối với phẩm chất của “các quý ông”. Cô không nhìn thấy phẩm chất ấy ở trong đám trai làng. (Chẳng hạn khi cô đi đến trường hoặc khi cô trở về nhà). Bọn này mang trên mình chúng tất cả những gì là bừa bãi, là nhếch nhác trên trái đất này, mùi rượu vang, mùi các cuộc đình công, các đám rước ngày Một tháng Năm, và mọi lộn xộn khác mà đôi khi người ta đã chiếu trên vô tuyến truyền hình. Mẹ con nhà Pom có một người hàng xóm, gã này mỗi lần say khướt thường làm bọn trẻ trong làng sợ hết hồn, chạy bán sóng bán chết cho đến tận đường cái. Pom đã nhìn thấy bộ phận sinh dục của gã. Những quý ông ở thành phố không thể được tạo nên như vậy. Bằng chứng là các quý ông ấy là những chưởng khế, dược sĩ, nhà công nghiệp, nhà buôn. Ngoài thú tính, họ còn có những chiếc đồng hồ, những chiếc nhẫn vàng và sau nữa là những tập séc dày cộp. Chính với những thứ ấy mà các quý ông cưỡi lên bụng các cô gái trong khi vợ của quý ông đang vào thời kỳ mãn kinh ở nhà (tất nhiên Pom không thể diễn đạt nổi tất cả những điều đó).   Mùa hè, cô bé ngồi trên một chiếc ghế băng ở quảng trường, buông thả mình trong một sự chú ý mơ hồ đến những người lái xe, rất gần vào lúc mà bọn chúng chuẩn bị chạy qua đường quốc lộ đến tận chân trời; và cũng rất xa, như những quý ông mà cô nhận biết được qua tấm kính bằng những lời kể của bà mẹ.   Mời các bạn đón đọc Cô Thợ Thêu của tác giả Pascal Lainé.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Britt-Marie Đã Ở Đây
Britt-Marie không chịu được sự bừa bãi. Một cái khay đựng đầy dao kéo vô tổ chức luôn nằm ở đầu danh sách những tội ác không thể dung thứ của bà. Bà không phải là kẻ đi phán xử khác người – bất kể họ là kẻ có cư xử kém văn hóa hay bê bối, hoặc khả nghi đạo đức. Chỉ là đôi khi người ta cứ suy diễn sai những gợi ý đầy tính giúp đỡ của bà như là sự chỉ trích, mà thực sự không phải ý định của bà. Nhưng ẩn bên trong sự kỳ quặc về mặt xã hội và dáng điệu tất bật đó là một người phụ nữ có nhiều trí tưởng tượng, những đam mê bay bổng và một trái tim nồng hậu mà không ai xung quanh nhận ra. *** Một con người, bất kỳ con người nào, có rất ít cơ hội để đứng nguyên đó, buông thả thời gian, rơi vào một khoảnh khắc. Và yêu ai đó vô bờ bến. Nổ tung vì đam mê. Một vài lần khi chúng ta còn bé, có lẽ thế, đối với những người từng được là trẻ con. Nhưng sau đó, chúng ta được phép hít bao nhiêu hơi thở bên ngoài sự tù túng của bản thân? Bao nhiêu cảm xúc chân thực khiến chúng ta cười phá lên mà không cảm thấy xấu hổ? Chúng ta có bao nhiêu cơ hội để được ban phước bởi sự lãng quên? Sự đam mê đúng là trẻ con. Nó tầm thường và ngây ngô. Nó không phải là một điều mà chúng ta học được, nó thuộc về bản năng, và nó áp đảo chúng ta. Xô ngả chúng ta. Nó cuốn phăng chúng ta đi. Mọi cảm xúc khác thuộc về trái đất, còn đam mê thuộc về vũ trụ. *** Fredrik Backman là blogger, nhà báo, nhà văn người Thụy Điển với các tác phẩm nổi tiếng đã được được dịch ra hơn 40 thứ tiếng như Người đàn ông mang tên Ove, Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi, Britt-Marie đã ở đây. Tác phẩm: Người Đàn Ông Mang Tên Ove Bà Ngoại Tôi Gửi Lời Xin Lỗi Britt-Marie Đã Ở Đây ... *** Review sách Britt-Marie Đã Ở Đây (Fredrid Backman) Binh Boog:   ạn muốn tìm một cái gì đó văn chương bóng bẩy, điêu luyện trong từng câu chữ? Không, bạn sẽ không tìm thấy cái đó trong Fredrick Backman đâu. Tất cả những gì trong đó là một sự gần gũi đời thường như cân đường hộp sữa vậy. Đâu đó chỉ là những câu chuyện giữa cuộc sống đời thường, những cái gì thân thuộc có thể nói là thường nhất trong những cái bình thường nhưng nó như một ly cafe sữa vậy. Nhấm từ từ để thưởng thức vị đắng rồi vị ngọt vào đầu lưỡi, nó từ từ thấm dần thấm dần vào trong bạn. Fredrik Backman rất có duyên và rất giỏi trong việc xây dựng hình tượng các nhân vật “cây cao bóng cả”. Trong con mắt mọi người họ là những người kỳ lạ, có thể là phiền phức. Nhưng ai cũng có quá khứ, cũng có những khó khăn của mình chẳng qua là họ cho nó vào trong mà ít ai hiểu được. Hài hước là chất không thể thiếu trong Fredrik Backman. Mọi sự việc với những hành động tưởng như không bình thường của các nhân vật lại là chất để gây cười, thậm chí một vụ cướp cũng trở nên hài hước. Nhưng đâu chỉ hài hước, mà cái hài hước ấy chỉ là gia vị để che dấu đi những tổn thương, những khó khăn trong lòng mỗi người thôi. Một lần nữa chào mừng các bạn đến với thế giới của bà Britt Marie. Cuộc sống của bà là sống cuộc sống của người khác, suốt 40 năm bà không ra khỏi nhà, cuộc sống của bà là ông Kent chồng bà mặc dù ông là người đàn ông mắc lỗi khi có bồ, là natri bicarbonate là Faxin những chất tẩy rửa để làm sạch, là sự sạch sẽ ngăn nắp khi dao nĩa trong tủ bếp lúc nào cũng phải được phân chia theo loại rõ ràng, mọi thứ lúc nào cũng cần phải ngăn nắp, sạch sẽ và đặc biệt là không có bóng đá. Nhưng bà ở tình thế bắt buộc lại vô tình trở thành huấn luận viên của một đội mà không thể coi là một đội bóng. Những ai yêu bóng đá nhất là giải Ngoại hạng Anh có lẽ sẽ tìm thấy sự đồng cảm và yêu thích trong quyển sách này. Bóng đá đem lại cho cuộc sống như đã chết, đã lụi tàn ở Borg một cái gì khác. Đôi khi bạn ủng hộ một đội bóng chỉ vì không có ai ủng hộ nó. Làm kẻ ngoại đạo như bà Britt Marie cũng khản cả tiếng chỉ vì hò hét, đau như chính mình bị đau khi các cầu thủ ở Borg bị thương. Tỷ số một trận đấu bóng liệu có quan trọng không khi bạn thua với tỷ số 1- 14 nhưng bạn vẫn sẵn sàng hò hét ăn mừng chỉ vì bàn thắng mà mình đã ghi được hay bạn thua 0 - 5 nhưng trận đấu vẫn bị gián đoạn chỉ vì bạn cản phá được một quả phạt đền trong trận đấu đó. Mọi thứ với đội bóng ngẫu nhiên của bà Britt Marie là cách mà họ chiến đấu, cách mà họ được vui vẻ khi được làm điều đó. Luôn tìm thấy một cái gì đó nghèn nghẹn khi người ta vẫn phải ra đi dù không mong muốn. Nhưng vẫn còn cả một tương lai phía trước, cuộc sống vẫn cứ phải tiếp diễn. *** Review Thu Hoài - zing.vn: Đến một độ tuổi nhất định, gần như mọi câu hỏi mà người ta tự vấn đều xoay quanh một điểm, ta nên sống cuộc đời mình như thế nào? Britt-Marie cảm thấy những yêu cầu của bà không hề khó thực hiện. Tất cả những điều bà muốn chỉ là một ngăn kéo cất nĩa dao muỗng gọn gàng theo đúng thứ tự. Và bất cứ ai cũng phải chùi giày ở thảm trước khi bước vào sàn nhà bóng loáng bà mới lau. Và ăn tối lúc 6 giờ. Và không chơi bóng đá. Không phải Britt-Marie ghét bóng đá, hay bất cứ môn thể thao nào khác. Bà chỉ đơn giản là không hiểu được tại sao người ta phải khiến mình bị lấm bẩn, bị gãy chân, xước xát mặt chỉ để tranh giành một quả bóng. Hơn nữa, môn bóng đá ở Borg cũng không được chăm chút nhiều cho lắm. Britt-Marie tìm đến Borg, một nơi khỉ ho cò gáy ở vùng nông thôn không phải để làm người lau dọn, hay một người giải quyết các xung đột, và càng không phải là huấn luyện viên của một đội bóng nhí. Bà đơn giản chỉ muốn tìm một công việc để chứng minh với thế giới rằng mình vẫn còn sống và tồn tại, thay vì chỉ thu lu ở nhà đợi chồng đi làm về và rồi bị phản bội. Từ một phụ nữ “văn minh” trở thành ban huấn luyện bóng đá bất đắc dĩ cho lũ trẻ ở Borg, Britt-Marie bỗng trở thành điểm tựa cho tất cả những người dân nơi đây, thổi bừng sức sống cho cái thị trấn xám xịt này. Và khi đó, lần đầu tiên trong đời, Britt-Marie thực sự tìm được một nơi thuộc về. Tiếp nối thành công của Người đàn ông mang tên Ove và Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi, Fredrik Backman tiếp tục cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Britt-Marie đã ở đây, giữ nguyên tinh thần của bộ truyện: chỉ những người đặc biệt mới làm nên điều khác biệt. Britt-Marie là một nhân vật phụ đã xuất hiện trong cuốn sách trước về mối quan hệ giữa bà ngoại và cô gái nhỏ Elsa, nay trở lại với cuốn sách mới, bạn đọc có cơ hội được biết nhiều hơn về cuộc sống của bà. Ở tuổi 63, lần đầu tiên trong đời Britt-Marie có một chuyến phiêu lưu thực thụ. Vốn là một người ưa sạch sẽ ngăn nắp và chỉ muốn sống một cuộc sống bình thường nhất có thể, nhưng kể từ khi Britt-Marie đặt chân đến Borg, bà đã phá bỏ hầu hết hết các nguyên tắc của mình. Ẩn bên trong sự kỳ quặc mọi người chỉ thấy được bằng mắt thường là một tâm hồn giàu trí tưởng tượng, những đam mê bay bổng và một trái tim nhân hậu chỉ có thể cảm nhận được bằng trái tim. Nếu nhìn vào Britt-Marie và ông Ove, mở đầu mọi câu chuyện của họ đều khá buồn cười và hài hước, bởi họ đều là những người khác biệt – những người như họ rất hiếm trong xã hội này, nếu như họ có thực sự tồn tại. Vậy nên khi cư xử không giống như người bình thường, họ thực ra đang chứng minh bản thân mình khác biệt, ta chỉ nhận ra điều đó rõ hơn qua Elsa và những câu chuyện thần tiên của bà ngoại đã giải thích về thế giới người lớn như cách chúng ta sống bây giờ: lo lắng, sợ hãi, cô đơn, buồn bã và đau đớn. Đây chính là sự kỳ diệu trong những cuốn sách của Fredrik Backman: khả năng mang lại nước mắt cho độc giả cả trong niềm vui và nỗi buồn, đôi khi chỉ cần đến một chương truyện. Nói như vậy không có nghĩa là ta so sánh cuộc sống của Backman theo bất kỳ cách nào với cuộc sống của các nhân vật trong sách hoặc câu chuyện của họ. Ông đơn giản chỉ nói ngôn ngữ của nhân vật qua chuyện họ đang trải qua, và để giúp họ phát triển vượt ra ngoài bản thân mình theo cách mà chỉ những người kể chuyện thành thạo mới thực sự làm được. Mời các bạn đón đọc Britt-Marie Đã Ở Đây của tác giả Fredrik Backman.
Quỷ Bạc
Tên eBook: Quỷ Bạc (full prc, pdf, epub) Tác giả: Teresa Denys Thể loại: 18+, Tiểu thuyết, Văn học phương Tây Tên tiếng Anh: The Silver Devil Biên dịch: Shane_D Hiệu chỉnh: minogirl, bibi in love, mayphieulang, lehuyenlily Nguồn: tve-4u.org Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu: Truyện không dành cho người dưới 18  tuổi. Bầu trời xanh ngắt. Cuộc diễu hành huyên náo đến điếc đặc tai. Những lời reo hò cổ vũ, những cái liếc mắt lả lơi, những sắc màu ngập tràn đường phố. Kẻ tung hô, kẻ ngoái nhìn. Cứ như một tuồng kịch. Các khung cửa sổ chật ních. Người người người người người người. Đầy rẫy. Choáng ngợp. Và tẻ ngắt. Đột ngột, có ai đó ở trên cao, cao lắm. Ai đó khoác lên mình chiếc áo màu đen, với mái tóc cũng đen dài. Ai đó nơi chân trời xanh thẳm thẳm. Ai đó như một con chim nhỏ giữa bốn bề rộng lớn. Ta nheo mắt, ngược nắng nhìn. Ai đó như quạ con bé nhỏ của ta. Phải. Của ta. Và ta sẽ tìm được nàng... Mời các bạn đón đọc Quỷ Bạc của tác giả Teresa Denys.
Lạc mất và Hy vọng - Colleen Hoover
Tên eBook: Lạc mất và Hy vọng Tác giả: Colleen Hoover Nguyên tác: Hopeless Thể loại: Best seller, Lãng mạn, Tiểu thuyết, Văn học phương Tây Người dịch: Lạc Anh Kích thước: 14.5 x 20.5 cm Số trang: 506 Ngày xuất bản: 01/07/2014 Giá bìa: 115.000 ₫ Công ty phát hành: Thái Uyên Nhà xuất bản: NXB Lao Động Chụp pic: sundaefruit Type: Meobongxu87, salie_20, saral, intheend Beta: kararoxbee Tạo prc: Dâu Lê Nguồn: luv-ebook.com Nguồn: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu:    Họ đã lạc mất nhau… từ mười ba năm trước. Mười ba năm kiếm tìm trong vô vọng của chàng trai, cũng là mười ba năm chọn cách lãng quên, khóa chặt ký ức của cô gái mang tên Hope - Hy vọng.   Vậy mà số phận vẫn cho họ gặp lại nhau, tình cờ và nhiều bí ẩn. Họ để mắt đến nhau từ cái nhìn đầu tiên, bị hút vào nhau nồng nàn say đắm, và đã không chỉ like, không chỉ love, mà còn live - sống vì nhau.   Và rồi cô gái khám phá ra mảnh ký ức xa xôi kia trong những giấc mơ chớp nhoáng. Những bí mật thân phận, những uẩn khúc gia đình lần lượt được phơi bày. Còn có một cuộc đời khác từ mười ba năm trước mà trong vô thức cô luôn né tránh. Giờ đây, cô đối diện với nó vô vọng, hoang mang.   Nhưng lần này, cô đã có chàng trai ở bên. Người đã cho cô biết thế nào là cảm xúc bất diệt của nụ hôn đầu. Người đã hứa trao cho cô những lần đầu tuyệt diệu nhất và những lần cuối cùng vĩnh cửu nhất. Người đã cho cô biết thế nào là tin yêu và hy vọng từ những ngày bé thơ:   “Hứa với mình là khi ông ta làm cậu buồn, cậu hãy nghĩ đến bầu trời nhé?”   Tôi không biết sao cậu ấy muốn tôi hứa, nhưng vẫn gật đầu.   “Nhưng tại sao?”   “Bởi vì,” cậu ấy lại ngửa mặt lên nhìn những vì sao, “bầu trời luôn luôn đẹp. Dù khi tối tăm, mưa giông hay âm u, nó vẫn rất đẹp để ta ngắm nhìn. Mình yêu nó, vì mình biết nếu mình có thất bại, cô đơn hay sợ hãi, mình chỉ cần nhìn lên và nó sẽ ở đó… luôn luôn đẹp đẽ, dẫu có bất cứ chuyện gì.” Tác giả COLLEEN HOOVER:   Colleen Hoover là nữ tác giả có sách bán chạy nhất của New York Times. Năm 2012, bà xuất bản series truyện đầu tiên gồm ba cuốn Slammed, Point of Retreat và This girl. Năm 2013, bà xuất bản series thứ hai bao gồm Hopeless, Losing Hope và Finding Cinderella. Các tiểu thuyết của bà đều viết về những câu chuyện tình yêu đầy đam mê nhưng cũng chứa nhiều uẩn khúc, với một văn phong lãng mạn, tràn đầy thấu cảm và yêu thương. Trong số đó, tiểu thuyết Lạc mất & Hy vọng (Hopeless) gây ấn tượng mạnh với độc giả hơn cả. Cuốn sách đã dẫn đầu bảng xếp hạng của New York Times trong một thời gian dài, trở thành tiểu thuyết dành cho lứa tuổi trưởng thành hay nhất năm 2013. Mời các bạn đón đọc Lạc mất và Hy vọng của tác giả Colleen Hoover.
Ánh Sáng Vô Hình
Đây là cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh về chiến tranh Thế giới thứ II kể về số phận một cô gái mù người Pháp và cậu bé mồ côi người Đức. "Marie Laure sống cùng cha tại Paris, gần bảo tàng Lịch sử tự nhiên, nơi cha cô làm thợ khóa chính. Khi lên 6 tuổi, Marie Laure bị mù. Cha cô đã dựng một mô hình thu nhỏ hoàn chỉnh về khu phố hai cha con đang sống để cô có thể ghi nhớ bằng cách chạm và lần tìm đường về nhà. Năm Marie Laure 12 tuổi, Đức Quốc xã chiếm giữ Paris, cô cùng cha chạy trốn đến thành phố nằm trong tường thành, Saint-Malo, nơi ông chú thích ẩn dật của cha cô sống trong một ngôi nhà cao ven biển. Hai cha con họ đã mang theo một viên đá quý giá trị nhất và cũng nguy hiểm nhất viện bảo tàng. Cậu bé mồ côi Werner lớn lên cùng em gái trong một khu mỏ than ở Đức. Cậu bị một chiếc điện đài thô sơ mà hai anh em tìm được thu hút, sau này Werner trở thành chuyên gia lắp ráp và sửa chữa những thiết bị thông tin. Tài năng ấy đem lại cho cậu một vị trí trong học viện tàn bạo của Đoàn Thanh niên Hitler, sau đó là nhiệm vụ đặc biệt theo dấu quân kháng chiến. Ngày càng nhận thức được cái giá sinh mệnh con người phải trả cho trí tuệ của mình, Werner đi qua trung tâm cuộc chiến, cuối cùng, đến Saint-Malo, nơi cậu gặp gỡ Marie-Laure." "Cảm nhận tinh tế về từng chi tiết vật chất và những phép ẩn dụ tài tình" của Doerr ( theo báo San Francisco Chronicle ) thật tuyệt vời. Khéo léo đan cài cuộc đời của Marie-Laure và Werner, ông đã làm sáng tỏ cái cách con người cố gắng đối tốt với nhau bất chấp bao khó khăn chồng chất. Mất đến 10 năm sáng tác, " Ánh sáng vô hình" thực sự là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời và vô cùng xúc động của  Anthony Doerr - nhà văn của " những câu chữ không bao giờ mất đi sức lay động" ( theo thời báo Los Angeles Times ). *** Marie Laure, cô gái nhỏ người Pháp, năm lên 6 tuổi không may bị mù. Cha cô là thợ khóa và là người nắm giữ chìa khóa của Bảo tàng Lịch sử tự nhiên, ông làm cho cô một mô hình thu nhỏ của khu phố để cô có thể dễ dàng đi lại và tìm được đường về nhà. Werner cậu bé mồ côi người Đức sống trong khu mỏ than, cậu bé là một thiên tài và có niềm say mê đặc biệt với việc sửa chữa các thiết bị thông tin. Chính nhờ tài năng ấy cậu được vào Học viện Quân sự Hitle. Nhưng chiến tranh đã làm đảo lộn cuộc sống của hai con người trẻ tuổi này. Marie Laure mất đi người cha thân yêu của mình, cô sống trong niềm đau khổ và niềm thương nhớ với cha. Đối với cô chỉ có những lần được đi ra bãi biển Môle nhúng đôi chân trần của mình xuống dòng nước lạnh băng, lúc đó cô mới có được khoảng thời gian ngắn ngủi thôi không nghĩ về người cha yêu quý của mình. Hai con người ở hai đầu chiến tuyến nhưng cái cách họ gặp nhau và đối xử với nhau cho ta thấy được tình người trong chiến tranh. Họ cùng nhau giúp đỡ nhau vượt qua những ngày tháng khốc liệt của bom đạn. Cuốn tiểu thuyết viết rất hay về những chiếc điện đài, những mảnh vỏ ốc, thành phố Breton của Saint-Malo, về viên kim cương truyền thuyết và cái cách con người cố gắng đối tốt với nhau bất chấp bao khó khăn xung đột. Ngòi bút tinh tế, giàu cảm xúc, đậm chất Mỹ của Anthony Doerr đã kết nối thành công suy nghĩ chân thực của hai nhân vật trẻ tuổi trong cuộc chiến tranh tàn khốc với độc giả. Ánh sáng vô hình cho thấy khả năng cảm nhận nhạy bén về những chi tiết vật lý và những phép ẩn dụ bóng bẩy của Anthony Doerr thật kinh ngạc. 10 năm cầm bút, tác phẩm này là một kiệt tác nghệ thuật, một cuốn tiểu thuyết vô cùng cảm động. Tác phẩm cũng lọt vào danh sách 10 cuốn sách hay nhất năm 2014 của New York Times và được Hudson Booksellers chọn là Cuốn sách của năm 2014. Năm 2015, cuốn sách được trao giải thưởng danh giá Pulitzer cho tiểu thuyết hư cấu. Hãng phim 20 th Century Fox cũng đã nhanh chóng mua lại bản quyền phim của cuốn tiểu thuyết này. Cuốn sách được nhiều nhà chuyên môn đánh giá cao về nội dung, lẫn giá trị nghệ thuật. Đây được coi là cuốn sách tốn nhiều giấy mực nhất của giới phê bình văn học. Trịnh Dung - Zing.vn *** Review Regina Morgenstern:   Một cuốn tiểu thuyết lịch sử quá xuất sắc về nhiều mặt. Nếu có một điều duy nhất nào mình không thích về cuốn sách này, đó chính là nó khá dài và diễn biến chậm. Nhưng không vì vậy mà mình cảm thấy chán nản khi đọc "Ánh sáng vô hình".Lấy bối cảnh thế chiến II, với 2 tuyến nhân vật chính là Werner ở Đức và Marie-Laure bị mù ở Pháp - đều ở độ tuổi còn rất nhỏ, tác giả Anthony Doerr đã dựng nên một cốt truyện rất tài tình để rồi đưa hai tầm hồn này tới lại gần với nhau. Đây không phải là bức tranh khắc họa một chiến tuyệt khốc liệt với nhiều tổn thất cho cả hai bên. Đây là những câu chuyện đầy thương cảm về cuộc đời 2 người còn trẻ bị cuốn vào vòng xoáy tưởng chừng không hồi kết của chiến tranh: Werner được huấn luyện để phục vụ cho Đức từ rất sớm, Marie-Laure phải sống một cuộc sống thấp thỏm lo âu với đôi mắt mù lòa. Bên cạnh mạch kể chính lại là những câu chuyện nhỏ lẻ hết sức sâu sắc, như cái cách dân Pháp ghét lính Đức đến mức tìm đủ mọi cách để chọc phá, hay tìm cách để truyền thông tin phục vụ quân Đồng minh bất chấp sự cấm đoán của quân Đức chiếm đóng. "Ánh sáng vô hình", mình ban đầu đã suy hết từ điều nọ sang thứ kia. Mình cho rằng nó là những "điều tốt đẹp nho nhỏ mà chúng ta không nhìn thấy trong thời điểm chiến tranh", rằng cuốn sách này sẽ cho chúng ta rõ hơn về những điều ấy. Nào ngờ nó là một khái niệm đơn giản nằm ngay trong cuốn sách, một ẩn ý của tác giả: sóng radio (vật lý)! Trong cuốn sách này có hai hình ảnh biểu tưởng lớn nhất là viên đá Biển Lửa - tương truyền có khả năng khiến người ta bất tử và chiếc radio. Có lẽ ai cũng rõ, radio là một công cụ không thể thiếu trong các cuộc chiến tranh nói chung và Thế chiến II nói riêng, vậy nên đưa hình ảnh sóng radio vào tên sách cũng hợp tình hợp lý. Nhưng phải đọc hết cuốn sách này, các bạn mới vỡ lẽ ra tầm quan trọng của sóng radio, cách mà nó tạo nên mạch truyện, cách mà nó gắn kết các nhân vật với nhau! Quả là diệu kì, một cái tên mà mang bao ý nghĩa, một hình ảnh được sử dụng đầy sáng tạo! Để nói hết về cuốn sách này quả thực là không thể. Một cuốn sách chứa chan cảm xúc, đậm tính nhân văn và tràn đầy nghị lực. Quả không hổ danh tác phẩm đoạt giải Pulitzer! *** Cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh về chiến tranh Thế giới thứ II kể về số phận một cô gái mù người Pháp và cậu bé mồ côi người Đức, nhưng lại khiến chúng ta phải nhìn nhận lại thời đại thông tin ngày nay. Hiếm người biết rằng trong số những vật báu Đức Quốc xã săn lùng trong Thế Chiến thứ hai có cả một viên kim cương nguyên chất với sức mạnh làm cho người giữ nó bất tử nhưng lại đem đến xui rủi cho những người xung quanh. Giống như tất cả những lời đồn xoay quanh Đức Quốc xã, đây là một câu chuyện có màu sắc hư ảo, nhưng những chi tiết nghe qua càng phi lý thì người ta lại càng thấy đáng tin. Ai chứ quân Đức Quốc xã đi tìm kiếm sự bất tử thì có gì lạ? Câu chuyện về viên kim cương Lửa Biển, tuy chỉ là chuyện trong cuốn tiểu thuyết Ánh sáng vô hình của Anthony Doerr, đủ cho ta thấy sức mạnh của những lời đồn đại. Trong một thời kỳ không biết nên tin vào ai hay vào cái gì, những luồng thông tin như thế có thể điều khiển người ta mù quáng đến mức quên mình, như những câu chuyện xảy ra xung quanh Werner Pfennig, một binh nhì Đức, trong Ánh sáng vô hình. Giữa một thời đại mù mờ tin tức liên lạc như Chiến tranh Thế giới II, không có gì ngạc nhiên khi những nguồn tin chính xác trở thành tài nguyên quý giá. Werner được chiêu mộ vào quân đội chính bởi cậu là một thiên tài khoa học kỹ thuật, có thể lắp ráp sửa chữa mọi loại điện đài và dựa vào sóng điện đài để tính toán vị trí quân địch. Werner nắm trong tay sức mạnh của thông tin, và với sức mạnh ấy cậu đã gây ra nhiều cái chết. Khỏi phải nói những điều khủng khiếp nào có thể xảy ra bởi một sai lầm đơn giản trong tin tức của cậu. Nhưng những tin tức bên ngoài thì không thiếu sai lạc. Những lời đồn thổi phồng về quân Đức Quốc xã đủ lan truyền sự sợ hãi từ khi chưa một bóng lính nào xuất hiện. Quân Đức - người thợ làm vườn khẳng định - có sáu mươi nghìn máy bay chiến đấu; quân Đức có thể hành quân trong nhiều ngày mà không cần ăn; quân Đức giao cấu với bất cứ nữ sinh nào chúng gặp. Một phụ nữ đứng sau quầy bán vé nói rằng quân Đức mang lựu đạn khói và giắt súng chống tên lửa ở thắt lưng; quân phục của chúng, cô thì thào, được làm từ một chất liệu còn cứng hơn thép. Và khi thành phố bị chiếm đóng, những lời đồn vẫn tiếp tục lan rộng, bóp nghẹt những cư dân trong sợ hãi. Còn ở bên kia chiến tuyến, quân Đức theo đuổi cuộc chiến với niềm tin được củng cố bởi những lời đồn đại phần thực phần hư, những lời ca ngợi Lãnh tụ Hitler với khả năng vô song và những tin tức khẳng định thắng lợi ngay cả khi quân sĩ tử trận còn thường hơn cơm bữa. Cùng lúc đó, việc trao đổi thông tin bị kiểm duyệt gắt gao. Những chiếc radio đúng tiêu chuẩn Đức không bắt được các kênh nước ngoài, trong khi sử dụng loại radio khác là bất hợp pháp. Những bức thư giữa Werner khi còn ở Học viện Chính trị Quốc gia và em gái cậu phải qua bộ phận kiểm duyệt của trường trước khi đến tay người nhận, và những thông tin không thích hợp sẽ bị bôi đen để không thể đọc được. Quả là một sự mỉa mai khi không thể tiếp cận thông tin từ những người thân thuộc đáng tin mà chỉ được phép nghe những lời đồn không rõ căn cứ. Rốt cuộc, giữa cuộc chiến đuổi bắt những bóng ma lời đồn, chỉ có sự thật bên trong là đáng để người ta tin vào. Những niềm tin mà Werner chia sẻ với em gái từ ngày còn bé, đó mới là ngọn đèn soi sáng cho cậu thoát khỏi cái bóng tăm tối của chiến tranh. Giữa những lời đồn, những thông tin sai lệch, lòng tin vào thiện tâm giữ cậu đi đúng hướng. Werner chọn tin vào cô gái mù người Pháp, chỉ từ một ngày quan sát cô, chỉ từ những lời của Jules Verne cô đã đọc để cậu bắt được trên điện đài, cậu đã quyết định giúp đỡ cô. Cậu thà đặt lòng tin vào một người gần như xa lạ còn hơn tiếp tục làm thuộc hạ của một đế chế giả dối. Đế chế tạo dựng trên nền tảng những lời đồn thổi, những thông tin bưng bít thì không thể đứng vững quá lâu. Werner đã từng tin vào những cơ hội mà Lãnh tụ có thể cho cậu và nước Đức. Werner đã từng tận tuỵ lần theo sóng điện đài để tìm những bóng ma quân Xô Viết, “những kẻ nổi dậy hết sức nguy hiểm, có kỷ luật; chúng làm theo mệnh lệnh của những chỉ huy tàn bạo, hung ác,” để đến lúc ra trận mới nhận ra rằng những kẻ chống đối mà cậu tiếp tay kết liễu chỉ là “những kẻ khố rách áo ôm, những kẻ cố cùng liều thân chẳng có gì để mất.” Khoảng cách giữa những lời tuyên truyền bên tai cậu và hiện thực mà cậu biết càng ngày càng lớn, cho tới khi cậu không thể bỏ qua được nữa. Hệ thống tin tức phi nhân cuối cùng đã không chiến thắng được lòng tin của con người. Câu chuyện từ Thế Chiến thứ hai, nhưng cũng không hiếm trong thời đại thừa mứa thông tin ngày nay. Internet có thể giúp thổi phồng những tin đồn không ai bận tâm xác minh, và khiến người ta lao vào sát phạt nhau mà không cần biết mình làm tổn thương những ai. Thông tin thời nào cũng là quý giá, và nó có thể xé nát hoặc hàn gắn thế giới, tuỳ vào cách ta sử dụng. Khi một lời nói ra vô danh, chẳng ai phải chịu trách nhiệm về nó, và người ta lao vào phân tích, đánh giá cũng chẳng mất gì. Nhưng bạn à, hãy dùng niềm tin, nỗ lực và lòng tốt của mình một cách tỉnh táo. Mời các bạn đón đọc Ánh Sáng Vô Hình của tác giả Anthony Doerr.