Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Khói Lửa

Henri Bacbuyxơ (Henri Barbusse, 1873 – 1935) là một nhà văn cách mạng lớn đã đặt nền móng cho phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Pháp. Ông là một chiến sĩ cộng sản kiên quyết bênh vực những kẻ bị áp bức bóc lột, dũng cảm đấu tranh cho tự do và tiến bộ. Hội nhà văn quốc tế đánh giá ông là “người chiến sĩ phản đối chiến tranh đế quốc đầu tiên và lớn nhất trong văn học thế giới”. Và G. Đimitrôp viết: “Tên tuổi của H. Bacbuyxơ sẽ chói lòa trên những lá cờ của hàng triệu người đấu tranh chống lại thế giới cũ, thế giới của sự bóc lột, của sự nô lệ và của những cuộc chiến tranh ăn cướp”.[1]   Henri Bacbuyxơ sinh ngày 17 tháng 5 năm 1873 tại Axnierơ (quận Xen) nước Pháp. Cha ông, Anđriên Bacbuyxơ, là một nhà viết báo và viết kịch. Mẹ, Eni Benxơ, là con một chủ trại ấp người Anh. Bà mẹ chết lúc Bacbuyxơ mới lên ba tuổi.   Lúc còn là học sinh, Bacbuyxơ đã tỏ ra có biệt tài về văn thơ. Năm 1895, sau khi tốt nghiệp đại học, ông chính thức bước vào nghề viết văn, làm báo. Cũng chính năm đó, ông cho xuất bản tập thơ đầu tay, một tập thơ được Catuylơ Mendet (một nhà thơ Pháp nổi tiếng đương thời) hết sức ca ngợi.   Năm 1903, Bacbuyxơ viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Những người van xin (Les suppliants) và năm 1908 viết cuốn Địa ngục (L’Enfer). Hai cuốn này được các nhà văn Mateclink và Anatôn Franxơ coi là những tác phẩm lớn của một nhà văn có thiên tài.   Trong giai đoạn sáng tác này, Bacbuyxơ đã bắt đầu đi theo phương hướng hiện thực chủ nghĩa, nhưng mãi đến những năm chiến tranh 1914 – 1918, ông mới thực sự bước vào con đường sự nghiệp của một nhà văn và nhà chiến sĩ cách mạng.   Ngày 19 tháng 7 năm 1914, cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Nguyên nhân chủ yếu của cuộc chiến tranh này là những mâu thuẫn nội bộ của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa bọn đế quốc Anh và đế quốc Đức. Với mục đích đòi chia lại thị trường thế giới, ngay trong những năm 1879 – 1882 Đức đã liên minh với Áo, Hung và Ý nhằm chống lại Nga, Pháp và Anh. Và từ đầu thế kỷ XX, ở châu Âu đã dần dần thành hình hai phe đối địch. Cuộc chiến tranh thế giới năm 1914 đã lôi cuốn 28 nước với số dân trên một tỷ rưỡi, và có đến 74 triệu người bị động viên.   Lúc đó, Henri Bacbuyxơ đã ngoài bốn mươi, đã quá tuổi tòng quân. Nhưng dù tuổi cao, sức yếu, ông vẫn tình nguyện gia nhập quân đội. Ông vào quân đội không phải để phiêu lưu, mạo hiểm mà là để làm bổn phận đối với tổ quốc và nhìn cho rõ thực chất ghê tởm của chiến tranh đế quốc, đặng vạch trần nó, góp phần tiêu diệt nó. Tháng chạp năm 1914, ông được điều ra mặt trận với trung đoàn bộ binh 231, sống với một tiểu đội mà ông đã mô tả sâu sắc trong tác phẩm Khói lửa (Le Feu) bất hủ.   Sau những ngày lăn lộn ở chiến hào, sát cạnh những người lính bình thường, hàng ngày đụng đầu với gian khổ, khủng khiếp và chết chóc, Bacbuyxơ mang về hậu phương một quyển sổ ghi chép bết bùn. Từ quyển sổ tầm thường ấy, bắt đầu từ cuối năm 1915 và sau 6 tháng, Khói lửa ra đời.   Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1916, Khói lửa được đăng dần trên báo Sự nghiệp, (Œuvre), bị kiểm duyệt cắt mất nhiều chỗ, và năm 1917, được xuất bản thành sách. Ngay từ lúc đầu, độc giả đã nhiệt liệt hoan nghênh, mặc dầu những công kích của bọn sô vanh chủ nghĩa. Tác phẩm đoạt giải thưởng Gôncua (Goncourt) và đến nay đã được dịch ra trên sáu mươi thứ tiếng.   Sau Khói lửa, cuốn Ánh sáng (Clarté), ra đời năm 1919, là một tác phẩm khác nổi tiếng của Bacbuyxơ. Ánh sáng có thể được coi là tiếng lòng của tác giả và của cả một lớp người trẻ tuổi đáp lại tiếng vọng của cuộc cách mạng tháng Mười Nga. Viết Ánh sáng, H. Bacbuyxơ đã gửi vào đấy một mối hy vọng: Từ cảnh chết chóc của chiến tranh, do sức mạnh của quần chúng, một thế giới mới sẽ ra đời, trong đó con người được nảy nở toàn diện và cuộc sống thật là tốt đẹp.   Từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, Bacbuyxơ càng ra sức hoạt động chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Ông đã thành lập Hội cựu binh và thương binh ở Pháp (năm 1919) và Tổ chức cứu tế của Cựu binh sĩ (năm 1920). Cũng năm 1920, cùng với Raymôn Lơfevrơ (Raymond Lefevre) và Pôn Vayăng Cutuyriê (Paul Vaillant Couturier), ông sáng lập tạp chí Ánh sáng, cơ quan của nhóm Ánh sáng, một nhóm còn có tên là Tổ chức quốc tế của tri thức. Trong những năm đầu, tạp chí Ánh sáng đã có ảnh hưởng khá lớn, được sự cộng tác của các nhà trí thức tiến bộ toàn thế giới.   Từ năm 1917, trong những bài báo và diễn văn của mình, Bacbuyxơ luôn luôn lên tiếng ca ngợi Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa cộng sản. Đến năm 1923, giữa lúc chính phủ phản động Pháp ráo riết đàn áp phong trào của giai cấp công nhân, lùng bắt các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản, Henri Bacbuyxơ đã chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Ông tuyên bố: “Tôi đã lấy tư tưởng của họ làm tư tưởng của tôi thì ngày nay tôi phải chịu đựng những gian nguy mà họ phải chịu”.   Dưới lá cờ của Đảng, H. Bacbuyxơ càng có thêm nhiệt tình và phương hướng đúng đắn đấu tranh cho chân lý, cho sự nghiệp giải phóng những người bị áp bức bóc lột. Tiếng nói chính nghĩa của ông đã không ngớt vang lên tố cáo mọi bất công và tàn bạo. Năm 1925, ông đã kêu gọi chống chiến tranh xâm lược Marôc. Khi bọn thống trị ở Bancăng tiến hành khủng bố trắng đối với nhân dân vùng này, ông đã sang tận nơi điều tra, đã thành lập những ủy ban bảo vệ nhân dân của cuộc khủng bố và lúc về nước Pháp, đã viết bản tố cáo đanh thép Những tên đao phủ (Les bourreaux) (1925).   Cạnh những hoạt động chính trị có ý nghĩa lớn đó, Bacbuyxơ vẫn hăng say tiếp tục sự nghiệp văn học của mình, một sự nghiệp văn học tích cực phục vụ hoạt động chính trị chân chính. Năm 1925, ông cho xuất bản cuốn Những sự trói buộc (Enchainements) một cuốn sách vạch trần nguyên nhân đầu tiên của mọi tội lỗi: nạn người bóc lột người.   Năm 1926, cuốn Sức mạnh (Force), tập truyện ngắn, và năm 1927, cuốn Jêdu (Jésus) của ông ra đời. Cũng trong năm 1927, Bacbuyxơ đã đi thăm Liên-xô, và ở Mạc-tư-khoa, ông đã tham dự vào việc thành lập Tổ chức quốc tế của các nhà văn cách mạng, mà sau này ông là một trong những người lãnh đạo. Khi trở về Pháp, ông đã viết cuốn Đây, người ta đã làm gì cho xứ Georgi (Voici ce qu’on a fait de la Géorgie) (1927). Năm 1928, Bacbuyxơ sáng lập tờ tuần báo Thế giới (Le monde). Tờ báo được coi như là một công cụ để giải phóng trí thức và là cơ quan liên lạc của những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa.   Năm 1932, Bacbuyxơ viết tác phẩm Đời Zôla (La vie de Zola). Trong công trình lịch sử và phê bình văn học này ông đã vạch rõ tác dụng tích cực và những hạn chế của Zôla và của chủ nghĩa tự nhiên trong văn học. Ông cũng đã trình bày tính chất và nhiệm vụ của văn học là phải thật sự hiện thực và phải phục vụ cho sự nghiệp giải phóng con người.   Trong những năm cuối cùng của đời mình, Bacbuyxơ đã ra sức chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh đang đe dọa thế giới, mặc dầu sức khỏe của ông ngày càng giảm sút. Ông đã tham dự và lãnh đạo nhiều cuộc hội nghị quốc tế chống chiến tranh và chủ nghĩa phát xít. Năm 1933, ông đã sang tận nước Mỹ nói chuyện trước nhiều cuộc mít-tinh và thành lập Liên đoàn chống chiến tranh và chủ nghĩa phát xít ở châu Mỹ.   Xtalin một thế giới mới nhìn qua một con người (Staline, un monde nouveau vu à travers un homme) ra đời năm 1935, là tác phẩm cuối cùng của đời ông. Trong cuốn sách này, ông đã hết lòng ca ngợi ý chí, tài năng của Xtalin, người đồng chí, người bạn và người kế nghiệp của Lênin.   Tháng 7 năm 1935, nhận lời mời của các nhà văn Xô-viết, ông lại sang thăm Liên-xô và đã tham dự Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản. Lúc này, thân thể ông đã suy nhược, lại bị bệnh sưng phổi, nên ngày 30 tháng 8 năm 1935, ông đã từ trần tại Mạc-tư-khoa.   Nhân dân Pháp, nhân dân Liên-xô và nhân dân thế giới hết sức thương tiếc Henri Bacbuyxơ. Suốt trong ba ngày, nhân dân thành phố Mạc-tư-khoa liên tục diễu qua trước linh cữu ông. Sau đó, linh cữu ông được đưa về Pháp và ngày 7 tháng 9 tang lễ đã được cử hành trọng thể ở Pa-ri.   Đối với Việt Nam chúng ta, thân thế và sự nghiệp văn học của Henri Bacbuyxơ đã có ảnh hưởng lớn đến các nhà văn và các nhà hoạt động cách mạng ngay trong những năm trước Cách mạng tháng Tám. Bacbuyxơ đã nghiêm khắc lên án chế độ thuộc địa vô cùng tàn bạo của thực dân Pháp. Đã từ lâu, báo chí Việt Nam đã có những bài giới thiệu H. Bacbuyxơ như một nhà văn dùng nghệ thuật của mình để phục vụ nhân dân, phục vụ chân lý, phục vụ chủ nghĩa xã hội.[2]   Khói lửa mà Henri Bacbuyxơ gọi là “Nhật ký của một tiểu đội” và đề tặng hương hồn những bạn đồng đội đã hy sinh bên cạnh mình ở Cruy và trên sườn đồi 119, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng không những trong sự nghiệp sáng tác của Bacbuyxơ mà cả trong nền văn học hiện đại Pháp.   Có thể khẳng định rằng giá trị chủ yếu của Khói lửa là ở chỗ đã chống đối mãnh liệt chiến tranh đế quốc. Annet Viđan (Annette Vidal), nữ thư ký của H. Bacbuyxơ, đã từng phân tích Khói lửa, coi đó là cuốn tiểu thuyết của chiến tranh, của chiến hào, của người lính, của sự thật và là cuốn tiểu thuyết viết cho nhân dân. Ý nghĩa phản đối chiến tranh đế quốc của tác phẩm biểu lộ trước hết ở chỗ vạch trần sự thật khủng khiếp và cái vô lý của chiến tranh.   Trong Khói lửa, những người phải trực tiếp ra mặt trần phần lớn là công nhân, nông dân và dân nghèo. Lấy tiểu đội của tác giả làm ví dụ: hầu như không có ai là nghệ sĩ, tri thức hoặc tư sản. Dưới bề ngoài bình thường và phức tạp, họ chứa chất những tình cảm dịu hiền, lành mạnh. Họ hết sức thương yêu bố mẹ, vợ con, làng mạc, quê hương, trân trọng giữ từng lá thư nhà để sưởi ấm lòng. Blerơ đã từng chăm chú mài giũa làm chiếc nhẫn tặng vợ, Fuiat những lúc rảnh rỗi đã từng mơ tưởng về quê hương yêu dấu. Pôteclô vì mong thấy mặt vợ mà quên hết mọi gian nguy và trước hoàn cảnh éo le, những ý nghĩ ghen tuông của anh đã pha trộn nhiều niềm tha thứ. Lamuydơ coi trọng tình đồng đội, nhiều lúc quên mình để cứu bạn. “Họ không phải là lính tráng, họ là những con người…”. Nhưng chiến tranh đã bắt buộc người lính làm những điều trái ý muốn và tâm tư của họ. Ở trận địa có khi họ đánh đổi một mạng người lấy một bao diêm, một cặp ống chân lấy một đôi bốt. Họ phải trở thành ích kỷ, phải xoay sở, giành giật lẫn nhau. Có người đã phải kêu lên: “Tiến đến đây, thì ai cũng như thú dữ. Sống mãi như súc vật rồi đến thành súc vật cả nút”… Chiến tranh còn là chia ly, tan tác. Một lá thư của Bikê gửi an ủi mẹ, một bà mẹ suốt đời chỉ sống vì con bị trả về tiểu đội anh khi anh đã vĩnh viễn lìa đời: chiến tranh đã đẩy mẹ anh phiêu bạt không biết đi đâu. Lamuydơ bị đạn đại bác cướp mất Ođôxi và, khi anh được tự do gần nàng, ôm nàng thì nàng đã thành một trong những cái xác rữa nát, hôi thối dưới cái hầm bị sập. Và Pôteclô lìa đời trong lúc hình ảnh vợ anh cười nụ bên cạnh mấy thằng sĩ quan Đức trong căn buồng đầy ánh sáng, ở miền bị Đức chiếm, chưa làm anh hết băn khoăn. Cả một tiểu đội gồm 17 người, đến cuối tác phẩm bị tiêu hao gần hết. Cảm động nhất là cái chết của Mexin Anđrê. “Hắn có sáu anh em… Bốn đứa đã ngoẻo rồi, hai đứa nghoẻo ở Anđat, một ở Sampanhơ và một ở Acgôn…” Và Mexin cũng đã hy sinh.   Trong lúc ấy, bọn giàu sang ở thành thị coi chiến tranh chỉ là một việc bình thường, và cho rằng mỗi người một nghề, chúng ở hậu phương buôn bán, bóc lột làm giàu, công lao cũng không kém những người ra trận!   Bên cạnh việc mô tả đầy tính chất hiện thực cuộc chiến tranh đế quốc với những thảm trạng và bất công của nó; Khói lửa còn phản ánh được quá trình giác ngộ của những người lính. Lúc đầu, họ hục hặc với tất cả, họ phá phách và đôi khi độc ác. Dần dần sự phản ứng ấy đã hướng được vào đúng chỗ. Từ thái độ đối với bọn nhà báo bồi bút, đến sự phản kháng có ý nghĩa trước cái chết của Caja, và cơn phẫn nộ đối với bọn phục hậu, dần dần, người lính đã thấy rằng “một sự khác biệt bắt đầu hình thành giữa những con người, một sự khác biệt thật sâu xa, không thể dung hòa được… sự khác biệt giữa những kẻ bóc lột và những người phải làm quần quật, phải hy sinh tất cả… còn những kẻ khác thì giẫm đạp lên họ, tiến lên, mỉm cười và toại nguyện…”. Bước đầu giác ngộ giai cấp đã khiến họ có những suy nghĩ đúng đắn về chiến tranh: “… từng đoàn quân chui vào lò sát sinh là để cho một giai cấp đeo lon vàng có thể ghi tên tuổi quí phái của chúng vào lịch sử, để cho những kẻ cũng đeo đầy vàng, cũng thuộc vào một đẳng cấp như bọn kia có thể ôm đồm kinh doanh nhiều hơn để phục vụ cá nhân chúng…” Họ biết mình sinh ra là để làm những người chồng, người cha, làm những con người đúng với nghĩa của nó, chứ không phải để làm những con thú dữ cắn xé nhau, gieo khổ cho nhau. Cái băn khoăn của Mactơrô về bọn lính Đức không thích xung phong mà sao vẫn cứ phải ra trận, câu chuyện của anh lính phi cơ ở trạm cấp cứu về những lời cầu nguyện giống nhau trong một buổi sáng chủ nhật của lính Đức và lính Pháp, càng khẳng định thêm tội ác gây chiến của bọn thống trị bóc lột. Họ đã tự đặt nhiệm vụ phải tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt ở Đức và ở tất cả các nước một khi nó bành trướng đến và phải trừ khử chiến tranh ngay trong lòng tất cả các nước. Mục tiêu chiến đấu của họ là rồi đây phải chống những điều tội lỗi chứ không phải chống riêng một nước nào. Xã hội cần có một sự đổi thay và họ “hé thấy một cuộc Cách mạng nào đó lớn lao hơn cuộc cách mạng kia[3]”.   Khi nắm được thực chất của chiến tranh đế quốc, họ đã xác định được lòng tin, tin ở sức mạnh của mình, tin ở ngày mai tươi đẹp, tin rằng xã hội xấu xa sẽ mất, chiến tranh sẽ bị tiêu diệt và tương lai sẽ rực rỡ, vì mặt trời vẫn tồn tại.   Vạch trần được nguyên nhân của chiến tranh, nêu được những mâu thuẫn xã hội, Khói lửa còn đề cao được mối tình quốc tế mới nhóm trong lòng những người lính bị đưa ra mặt trận. Trong bao nhiêu đau khổ và mất mát chung, lính Đức và lính Pháp dần dần hiểu nhau hơn, bước đầu thấy sự phân biệt chủng tộc là một điều vô lý và bịp bợm. Những người lính Pháp coi việc giết được nhiều lính Đức là một điều tội lỗi hơn là một vinh quang. Và lính Đức cũng thế, cũng chửi rủa chiến tranh, chửi rủa cấp chỉ huy của họ. Ở phần cuối của tác phẩm, những bọn dân tộc hẹp hòi được coi là quân dòi bọ và viên cai Bectrăng đã lớn tiếng ca ngợi Lepnick, một lãnh tụ của nhân dân Đức là “nhân vật đã vươn cao mình lên trên cuộc chiến tranh và sẽ luôn luôn sáng ngời vì lòng gan dạ đẹp đẽ và lớn lao…”   Khói lửa đã nghiêm khắc lên án chiến tranh đế quốc giữa lúc đa số đảng trong Đệ nhị quốc tế phản bội quyền lợi của giai cấp công nhân, chạy theo ủng hộ chiến tranh, giữa lúc bọn Trôtxky đề ra luận điệu lừa bịp “không thắng, không bại” nhằm lợi dụng chiến tranh chống lại bước tiến của Cách mạng. Khói lửa là tiếng nói của sự thật vọng lên từ những chiến hào bùn lầy, tuyết đọng, đầy thiếu thốn, và chết chóc. Khói lửa động viên và tập hợp những lực lượng trước kia còn phân tán để chống chiến tranh một cách tích cực hơn.   Không những về mặt nội dung, mà cả về phương pháp nghệ thuật, Khói lửa là một hiện tượng rất mới, rất đặc biệt, rất có ý nghĩa trong văn học Pháp đương thời. Giữa lúc văn học Pháp và văn học các nước phương Tây nói chung vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đang ngày càng sa vào những khuynh hướng đồi trụy, không lối thoát, giữa lúc chủ nghĩa tự nhiên còn ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nhà văn có khuynh hướng tiến bộ, Khói lửa đã mang nhiều yếu tố của chủ nghĩa hiện thực mới, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ngòi bút của Bacbuyxơ vừa phê phán sâu sắc, vừa gợi lên ý niệm về tương lai, bước đầu gây lòng tin tưởng ở cái mới rồi đây sẽ thắng cái cũ.   Điều chủ yếu là trong Khói lửa, Bacbuyxơ đã sử dụng một ngòi bút hiện thực thật sinh động. Chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Khói lửa, như tác giả đã gọi, chỉ là một tập nhật ký, một tập ghi chép, không phải là một cuốn tiểu thuyết, không tập trung vào một nhân vật nhất định nào cả. Nhân vật ở đây là cả một tiểu đội binh sĩ, mỗi người một khía cạnh, một sắc thái đúc lại làm thành điển hình người lính Pháp trong đại chiến thế giới lần thứ nhất. Cảnh trong Khói lửa cũng thường thay đổi: khi là những chiến hào lầy bùn, âm u và ghê rợn, khi là chặng đường hành quân dài dằng dặc, khi là chỗ trú quân nơi sơn cước, khi là mặt trận khói đạn mù trời, khi là nơi hậu phương lúc nhúc những bọn phục hậu hèn nhát, khi là một làng đã hoàn toàn bị chiến tranh san phẳng v.v… Những cảnh đó, cộng lại, tiếp nhau, đã khiến người đọc hình dung được phần nào hình ảnh nước Pháp điêu đứng trong chiến tranh và làm thành môi trường hoạt động của nhân vật người lính.   Đối với nhà văn hiện thực, những chi tiết của cuộc sống có tầm quan trọng đặc biệt. Chi tiết đưa vào đúng lúc, đúng chỗ, sẽ phản ánh được cụ thể bản chất của sự vật, nâng cao thêm tác dụng phê phán. Bacbuyxơ đã thành công nhiều ở điểm này. Ông đã mô tả sự thật đúng như sự thật, nhưng đã mô tả có khuynh hướng. Không bỏ sót một tí gì tai nghe mắt thấy, ông đã để cho sự vật tự nói lên kết luận, làm cho người đọc với lương tâm và lý trí của họ, thấy hết những đen tối, xấu xa của chiến tranh đế quốc. A. Ivasenkô, tiến sĩ ngữ văn Liên-xô đã nhận xét: “Bacbuyxơ liên miên bất tận trong những mô tả tàn khốc, vì bản thân thực tại cũng tàn khốc. Ở nhà tự nhiên chủ nghĩa, sự thể hiện tự nó là mục đích; ở nhà hiện thực xã hội chủ nghĩa Bacbuyxơ, mô tả cái gì là đứng trên lập trường của một lý tưởng xã hội nhất định và nhằm phục tùng nhiệm vụ tác động đến thực tại về mặt tư tưởng…”[4]   Quan điểm tôn trọng sự thật vì hiểu được ý nghĩa của sự thật đã được Bacbuyxơ biểu hiện khá rõ rệt trong chương “Những lời văng tục”.   Tính chất hiện thực sâu sắc của Khói lửa thực tế đã tác động mạnh mẽ đến người đọc. Một nữ độc giả bình thường đã viết cho Bacbuyxơ: “Đọc xong tác phẩm của ông, tôi như vừa chui ở chiến hào ra…”[5] Có những lá thư khác, gửi từ mặt trận về đã viết: “Ông đã thét lên tiếng thét của chân lý… Tác phẩm của ông là bức tranh của cuộc đời tối tăm như địa ngục của chúng tôi. Chúng tôi cảm ơn ông đã trả thù cho chúng tôi, đã tố cáo chiến tranh, đã vạch cho chúng tôi một tương lai vô cùng vinh quang…”[6]   Cho đến nay (1962) Khói lửa ra đời đã gần năm mươi năm, nhưng vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong văn học thế giới. Chủ nghĩa đế quốc vẫn còn, nghĩa là vẫn còn âm mưu gây chiến. Các nước đế quốc, cầm đầu là đế quốc Mỹ đang ra sức chạy đua vũ trang, gây tình hình căng thẳng trên thế giới. Các khối quân sự Bắc Đại Tây Dương, trung tâm, Đông nam Á và các khối quân sự khác đang đe dọa nghiêm trọng hòa bình và an ninh chung. Và ngay trên đất nước ta, đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.   Đọc Khói lửa, càng ghê tởm những thảm trạng của chiến tranh, càng căm thù bọn đế quốc gây chiến, nhân dân thế giới càng nâng cao thêm ý chí đấu tranh cho hòa bình. Cái quyết định là lòng người. Khói lửa nhen thêm trong lòng mọi người sự căm ghét chiến tranh, nhất định sẽ góp phần xứng đáng vào việc chặn đứng mọi âm mưu gây chiến. Đối với bạn đọc Việt Nam, Khói lửa sẽ góp phần nung nấu thêm chí căm thù bọn Mỹ – Diệm khát máu, nâng cao thêm quyết tâm đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.   NGUYỄN TRỌNG THỤ – LÊ VĂN TỤNG   Mời các bạn đón đọc Khói Lửa của tác giả Henri Barbusse.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thiên Đường Tiền Xu Tập 2
Thiên đường Tiền xu vẫn vậy, luôn làm vui lòng khách đến , vừa lòng khách đi. Ngặt một nỗi đám bánh kẹo ở tiệm lạ làng quá, khiến họ mê mẩn hết rồi. Đến nỗi lần nào Beniko cũng phải cẩn thận dặn dò khách về những tai ương có thể ập đến nếu lỡ ăn bánh kẹo không đúng cách, vậy mà người thì quên béng, người thì nghe rồi bỏ đấy. Để rồi cuối cùng có thể bị cuốn vào một thế giới xa lạ... *** Hiroshima Reiko, sinh tại tỉnh Kanagawa, Nhật Bản và là một tác giả sách thiếu nhi lừng danh. Năm 2005, bà đoạt giải Juniorboukenshousetsu với tác phẩm Suiyou no mori. Bà cũng là tác giả của vô số các tác phẩm văn học thiếu nhi, kỳ ảo nổi tiếng khác. jyajya, sinh tại Fukuoka, từng làm nhân viên cho một công ty phát triển các ứng dụng trên điện thoại. Năm 2011, jyajya bắt đầu ra làm thiết kế tự do và hiện đã lấn sân sang cả lĩnh vực vẽ minh họa. *** Bánh cuộn siêu trộm Hidemoto vừa thở hổn hển vừa chạy vào một con hẻm tối. Hắn có cảm giác dù mình có chạy thế nào, chạy kiểu gì những kẻ phía sau vẫn sẽ đuổi kịp. Khỉ thật. Là đám cảnh sát đây mà. Cảnh sát gì mà lại đi rình bắt cả trộm vặt như mình chứ. Đúng là lũ rỗi hơi. Muốn bắt thì bắt bọn trộm tài sản kia kìa. Hidemoto bất giác chửi thầm trong bụng. Đúng vậy, Hidemoto là một tên trộm. Hơn thế nữa còn là một tên trộm vặt vãnh tầm thường. Hắn chẳng những vụng về mà còn nhát gan. Hắn chỉ dám đột nhập khi chủ nhà đi vắng hoặc lấy cắp đồ ở cửa hàng tiện lợi, ấy vậy mà toàn hỏng việc. Lần này cũng thế. Đói quá nên hắn định sẽ trộm cơm nắm ở cửa hàng tiện lợi, ai ngờ đúng lúc đó mấy người đàn ông rần rần từ đâu kéo tới. Thôi chết rồi! Cũng may hắn vẫn còn có trực giác của một tên trộm, nhận ra đám người đó chính là cảnh sát mặc thường phục, Hidemoto lập thức tháo chạy. Hắn lao ngay vào con hẻm bên cạnh, rồi chỉ biết phó mặc cho đôi chân chạy bán sống bán chết. Hắn còn chẳng rõ mình đang chạy đi đâu, chỉ biết phải chạy cho thật nhanh. Chạy được một lúc cuối cùng hắn cũng phải dừng lại vì không còn chút sức lực nào nữa. Hắn dỏng tai nghe ngóng nhưng không thấy động tĩnh gì. Xem ra thoát rồi. Trời tối đen như mực làm hắn lao phải con hẻm này nhưng hóa ra lại hay. Hidemoto thở dốc, ngồi thụp xuống nền đất bẩn thỉu. Đầu gối hắn vẫn run bần bật, hơi thở vẫn gấp gáp. Nói gì thì nói hắn đã bốn mươi sáu tuổi rồi. Hồi mười mấy, hai mươi chạy trốn kiểu này có thấm gì với hắn, nhưng giờ ở tuổi này âu cũng lực bất tòng tâm. Lần tới có khi hắn sẽ chạy không nổi, cứ ngồi đấy chờ bị tóm cũng nên. Cảm giác sợ hãi đó vẫn dai dẳng đeo bám tâm trí Hidemoto. Hắn muốn được thanh thản. Hắn muốn được giải thoát khỏi nỗi sợ khủng khiếp này. Đúng lúc thâm tâm hắn đang vang lên những suy nghĩ đó, Hidemoto chợt có linh cảm, hắn quay người lại. Ở ngay phía sau, sâu tận cùng con hẻm có một cửa hàng nhỏ. Cửa hàng trông có vẻ lâu đời với biển hiệu khang trang đề tên “Thiên đường tiền xu”. Gần nửa đêm rồi mà chừng như ở đây vẫn đang mở cửa. Tò mò không biết đó là cửa hàng gì, Hidemoto căng mắt ra nhìn. Thế rồi hắn ngạc nhiên khi thấy trong quầy bày vô số các loại bánh kẹo đủ sắc màu. Ra là một tiệm bánh kẹo à. Hồi nhỏ hắn cũng hay đến tiệm bánh kẹo lắm. Nhắc mới nhớ, lần đầu tiên hắn ăn trộm cũng là ở tiệm bánh kẹo. Hắn đã qua mắt được bà chủ tiệm, lén lút nhét một cục thạch màu đỏ vào túi, sau đó bước ra khỏi cửa trong khi trống ngực vẫn đập thình thịch. Kể từ đó, hắn bắt đầu rời xa con đường đúng đắn, sa chân vào trộm cắp. Hidemoto vừa hồi tưởng lại cảm giác hối hận pha chút hoài niệm, vừa tiến đến gần tiệm bánh kẹo như thể bị lôi cuốn bởi một sức hút lạ kỳ nào đó. Cảnh sát có thể đuổi kịp hắn bất cứ lúc nào. Hắn phải rời khỏi đây ngay lập tức. Bụng nghĩ vậy, nhưng đám bánh kẹo trong tiệm cứ níu chặt lấy trái tim hắn không rời. Bánh giầy mến mộ, Nước chanh giả bệnh, Hạnh nhân hải tặc, Kẹo thời tiết, Bánh xèo lộn xộn, Soda Tengu[1], Pinocchio Pick[2], Bánh đậu đỏ nửa đêm. Toàn những loại bánh kẹo hắn chưa thấy bao giờ, Hidemoto bỗng vui mừng khôn xiết. Hắn say sưa ngắm nghía hết loại này đến loại khác, cùng lúc đó một cái bóng to lớn chậm rãi trượt đến từ bóng tối sâu bên trong cửa tiệm. Hidemoto sửng sốt, cái bóng giờ đã biến thành một người phụ nữ cao to đứng trước mặt hắn. Người này có tạng người to con, cao hơn Hidemoto cả hai cái đầu. Chị ta mặc bộ kimono màu đỏ tím, mái tóc được tô điểm bởi vô số những trâm cài đầu. Mặt chị ta trông vẫn còn trẻ, thế nhưng tóc lại bạc trắng hết cả. Đôi môi tô son đỏ chót nở một nụ cười bí hiểm đầy ẩn ý. Người này không xoàng đâu. Hidemoto bắt đầu run lên, nhưng hắn không thể chạy trốn nổi. Toàn thân hắn không tài nào cử động, như thể nó đã bị khâu lại với cái bóng của chính mình vậy. Thế rồi, người phụ nữ lịch sự cúi đầu. “Chào mừng quý khách đến với Thiên đường tiền xu bán hàng cả ban đêm của chúng tôi. Mời quý khách cứ từ từ xem hàng.” “À, chẳng là, tôi...” “Tiệm bánh kẹo Thiên đường tiền xu của chúng tôi có thể biến điều ước của những khách hàng may mắn thành hiện thực. Chắc chắn quý khách sẽ tìm thấy món đồ mình đang cần. Nếu quý khách ngại tìm, ta sẽ tìm giúp. Nào, xin đừng khách sáo, hãy cho ta biết quý khách muốn gì.” Dứt lời, bà chủ tiệm lập tức tiến lại gần Hidemoto. Bị áp đảo bởi khí thế ấy, Hidemoto buột miệng nói ra suy nghĩ thật của mình. “Tôi muốn trở thành một tên trộm tài giỏi, một siêu trộm huyền thoại, xuất sắc hơn người, và không bao giờ bị tóm.” Nói xong, Hidemoto biết mình đã lỡ miệng. Nói vậy khác nào hắn vừa tự thú mình chính là một tên trộm. Hidemoto định chống chế rằng đó chỉ là lời nói đùa. Thế nhưng, mới đó mà bà chủ tiệm đã gật đầu mất rồi. “Nếu vậy, có một món lý tưởng cho quý khách đây. Xin quý khách đợi một lát nhé.” Nói rồi bà chủ tiệm lấy thứ gì đó từ giá đựng đồ tận trong cùng ra. Đó là một chiếc bánh mì ngọt. Mặt trên của bánh phủ lớp đường trắng trông như bánh mì chiên hoặc bánh rán vòng, nhưng hình dáng lại khác. Chiếc bánh này có hình giống cặp ria mép. Trên chiếc túi ni lông trong suốt bọc ngoài ghi dòng chữ “Bánh cuộn siêu trộm”. Trái tim Hidemoto đập rộn ràng trong lồng ngực. Chiếc bánh này là của mình! Định mệnh bảo nó phải là của mình! Trong đời hắn chưa bao giờ khao khát thứ gì đến vậy. Hắn thấy trân quý và coi trọng món bánh mì ngọt nhỏ bé này còn hơn cả vàng bạc lẫn đá quý. Bà chủ tiệm khẽ thì thầm những lời đường mật vào tai Hidemoto lúc này còn đang dán mắt vào món bánh đầy thèm thuồng. “Đây là Bánh cuộn siêu trộm. Tôi nghĩ nó chính là thứ quý khách đang tìm. Quý khách thấy sao? Chiếc bánh này có một trăm yên thôi?” Hidemoto vội vàng thọc tay vào túi tìm tiền lẻ. Không hiểu sao hắn không hề có ý định lấy cắp chiếc bánh. Đúng hơn là ý nghĩ trộm cắp thậm chí chưa từng xuất hiện trong đầu hắn. Bà chủ tiệm tươi cười nhận đồng một trăm yên từ Hidemoto. “Ồ. Quả nhiên. Đúng là đồng một trăm yên của năm Chiêu Hòa thứ năm mươi sáu rồi. Xin mời, bánh của quý khách đây.” Hidemoto giật lấy chiếc Bánh cuộn siêu trộm bà chủ tiệm đưa cho. Mình đã có nó! Mình đã có nó! Mình đã có nó rồi! Hidemoto vui mừng khôn tả, đầu óc hắn lâng lâng như thể vừa trúng vé số một trăm triệu yên. Đúng lúc đó, bà chủ tiệm lại thủ thỉ vào tai Hidemoto những lời vô cùng kỳ lạ. “Quý khách nên tiết chế vừa phải thôi. Trên đời này có những người còn may mắn hơn quý khách nhiều. Nếu quý khách quên mất điều đó thì...” Nhưng Hidemoto chẳng mảy may bận tâm tới lời cảnh báo đó. Mua được Bánh cuộn siêu trộm rồi, hắn cũng chẳng còn việc gì ở đây nữa. Hắn muốn được ở một mình nên lao như bay ra khỏi cửa hàng. Loáng một cái, Hidemoto đã đứng bên ngoài con hẻm khuất, tối tăm và yên tĩnh. Sau khi chắc chắn xung quanh không có người, Hidemoto mới nhìn ngắm chiếc bánh cuộn thật lung. Càng nhìn chiếc bánh, hắn càng bị lôi cuốn. Trên túi đựng có ghi những dòng chữ thế này: Ưu điểm của chiếc bánh này là việc có thể hành động ẩn danh dưới lớp cải trang tùy chọn. Nếu bạn khao khát được như siêu trộm Lupin tài hoa, người đã thực hiện thành công những phi vụ táo tợn và ngoạn mục mà không ai hay biết thì chiếc bánh cuộn siêu trộm này chính là dành cho bạn. Sau khi ăn bánh, ngay lập tức bạn sẽ sở hữu “năng lực trộm cắp”. Sẽ không người nào nhớ được khuôn mặt bạn và cũng sẽ chẳng ai phát hiện ra bạn được. Nào, cùng bước vào thế giới trộm cắp đẳng cấp thôi! Bước thì bước! Hidemoto xé túi ni lông, lấy chiếc bánh bên trong ra. Ở bên ngoài, Bánh cuộn siêu trộm lại càng hấp dẫn hơn. Lớp đường phủ trên mặt bánh sáng lấp lánh như những viên kim cương nhỏ xinh. Hidemoto cắn phập một miếng. Bánh ngon tuyệt vời. Vỏ ngoài giòn rụm, bên trong xốp mềm như bánh kếp. Lại thêm vị ngọt của lớp đường bọc ngoài không thể cưỡng lại được. Đang đói nên Hidemoto chỉ cắn bốn miếng đã hết bay chiếc bánh. Vừa ăn xong, hắn liền cảm thấy có gì đó rất khác thường. Dường như mọi thứ trên đời chẳng còn gì đáng sợ hết. Hidemoto đứng dậy, thong thả bước ra khỏi con hẻm. Hắn vừa ra tới mặt phố sáng đèn thì chạm trán ngay mấy người đàn ông. Hắn nhớ mặt một người trong số đó. Chính là một trong những tay cảnh sát mặc thường phục đuổi theo hắn ban nãy. Bình thường hắn đã giật nẩy mình lên, bấn loạn rẽ vào một con ngõ nào đó rồi. Hoặc hắn sẽ đột ngột quay gót, bỏ chạy thục mạng. Nhưng hẳn là nhờ ăn Bánh cuộn siêu trộm nên Hidemoto mới bình tĩnh thế này. Hắn tiến thẳng tới trước mặt đám người nọ. Khuôn mặt mấy người đàn ông mỗi lúc một gần hơn. Khi ánh mắt hai bên giao nhau, hắn mới chột dạ “Kiểu này có khi toi rồi”. Thế nhưng đám cảnh sát nhanh chóng nhìn về hướng khác, đi lướt qua hắn. Hidemoto nở nụ cười thỏa mãn. Bánh cuộn siêu trộm có năng lực thật rồi. Bọn chúng không nhớ mặt mình. Giờ mình đã có năng lực cải trang của Lupin. Hay quá! Từ giờ không còn phải canh cánh nỗi lo bị bắt nữa. Mình thích trộm gì thì trộm ấy thôi! Hidemoto nhảy cẫng lên vui sướng, chạy biến vào màn đêm. Thế rồi từ đó Hidemoto cứ trộm rồi lại trộm. Hắn không thèm đột nhập vào nhà trống hay trộm vặt vớ vẩn nữa. Giữa ban ngày ban mặt hắn đường đường chính chính bước vào những cửa hàng đá quý lớn, ních đầy đá quý vào túi ngay trước mặt nhân viên cửa hàng rồi lại thản nhiên đi ra. Vậy mà chẳng ai nhận ra hành vi phạm tội của hắn cả. Giả như ai đó có nhận ra đồ đạc của mình bị mất và đuổi theo hắn đi chăng nữa, họ cũng sẽ chẳng nhớ ra khuôn mặt hắn và cuối cùng đành bỏ cuộc thôi. Dĩ nhiên hành tung của tên trộm bí ẩn đã trở thành đề tài gây xôn xao dư luận. Hidemoto còn hân hoan phấn khích vì mỗi ngày hắn đều được báo đài nhắc tới. Mọi người đều đang đổ dồn sự chú ý vào mình. Mình cũng ra trò đấy chứ. Được rồi. Đã vậy mình sẽ học siêu trộm Lupin, gửi thư thách đấu xem sao. Gửi thư rồi mà vẫn trộm được đồ ngon lành cành đào, tên tuổi của mình lại chẳng càng nổi như cồn ấy à. Nghĩ là làm, Hidemoto gửi thư thách đấu tới đồn cảnh sát dưới danh nghĩa “siêu trộm Lupin”. “Vào ngày... tháng...,... giờ... phút, chiếc vương miện của của hàng đá quý ... sẽ thuộc về ta. Các người muốn ngăn cản ta thì cứ thử xem. Siêu trộm Lupin.” Thế rồi giữa vòng vây bảo vệ nghiêm ngặt của cảnh sát, hắn vẫn dễ dàng lấy được thứ mình muốn. Thật thú vị làm sao. Hắn tận hưởng sự hưng phấn và ly kỳ mỗi khi qua mặt được cảnh sát. Rồi cả cảm giác chẳng ai bằng mình, lẫn sự khoái trá khi báo đài công kích đám cảnh sát thiếu năng lực. Dù đây là điều hắn không tài nào hiểu nổi. Hidemoto càng ngày càng không thể dừng lại. Ham muốn sở hữu những món đồ dần biến mất, thay vào đó hắn chỉ còn cảm giác thích trộm cắp. Chuyện xảy ra sau khi hắn trở thành siêu trộm Lupin khoảng một tháng rưỡi. Hidemoto hay tin Nhật Bản mới mượn được một chiếc vương miện tuyệt phẩm từ nước ngoài. Chiếc vương miện vốn thuộc về hoàng tộc Nga, trên đó khảm những viên ngọc lục bảo và ngọc trai cỡ lớn, lộng lẫy đến sững sờ. Hidemoto liếm môi thán phục vẻ đẹp của chiếc vương miện. Đây chẳng phải là món đồ rất xứng đáng với tên tuổi của “siêu trộm Lupin” hay sao? Ồ. Ra nó đang được trưng bày tại bảo tàng à. Thế này là mỡ dâng tới miệng mèo rồi chứ gì nữa. Như thường lệ, Hidemoto gửi thư thách đấu cho cảnh sát và báo đài trước rồi mới tới bảo tàng. Biết tin siêu trộm Lupin đang nhắm tới chiếc vương miện, cảnh sát đã cho tăng cường bảo vệ rất nghiêm ngặt. Họ lại làm việc chu đáo thế này thật cảm kích quá, Hidemoto cười thầm trong bụng. Tuy nhiên, xin chia buồn. Nỗ lực của các vị cũng đành vô dụng trước năng lực của Bánh cuộn siêu trộm mà Hidemoto này sở hữu thôi. Hidemoto vừa cười khẩy vừa len lỏi qua các cảnh vệ, thoắt cái đã đứng trước chiếc vương miện. Chiếc vương miện tỏa sáng lấp lánh bên trong một hộp kính đặc biệt. Nó lộng lẫy gấp bội lần những hình ảnh trên tivi và tạp chí. Mình sẽ bổ sung nó vào bộ sưu tập chứ không bán. Thi thoảng lấy ra đội cho giống vua chúa, nghe cũng được đấy chứ. Hidemoto nghĩ bụng, thế rồi hắn chạm tay vào hộp kính. Tức thì, khóa hộp bật mở đánh tách. Hidemoto nhàn nhã lấy chiếc vương miện từ trong hộp ra, cho vào túi. Xung quanh rất đông người nhưng không ai tri hô lên cả. Bởi vì họ đâu có nhìn thấy việc Hidemoto làm. Chắc phải một phút sau khi Hidemoto cao chạy xa bay họ mới nhận ra được. Hidemoto vừa cười đắc thắng vừa lướt qua đoàn người, đi về phía lối ra. Đột nhiên có tiếng lách cách, thế rồi cổ tay hắn truyền đến một cảm giác lạ thường. Đồng thời, một giọng nói vang lên sang sảng. “Siêu trộm Lupin! Anh bị bắt vì đã thực hiện hành vi trộm cắp!” Hidemoto sửng sốt ngoảnh lại. Đó là một người đàn ông trung niên lực lưỡng. Đôi mắt sắc sảo của người này đang nhìn Hidemoto chằm chằm. Theo phản xạ, Hidemoto định chạy trốn, nhưng hắn không thể. Tay hắn đã nằm gọn trong còng số tám. Tại sao! Tại sao hắn ta lại biết? Tại sao mình lại bị tóm cơ chứ! Lòng hắn rối như tơ vò tới nỗi cơ thể kiệt quệ sức lực. Giữa lúc đó, tiếng bàn tán xôn xao mỗi lúc một lớn. “Chiếc vương miện biến mất rồi!” “Này, nghe nói Lupin bị bắt rồi...” “Nhìn kìa, có phải đằng kia không? Có phải hắn không?” “Gì chứ. Chỉ là một ông chú thôi mà. Có đúng là Lupin không vậy?” Một nhóm cảnh sát đẩy những người xung quanh sang một bên, rầm rập ập tới. “Thanh tra Mikawa!” “Tôi đây. Như các cậu thấy, tên này là Lupin. Không phải nói nhiều, bằng chứng đây.” Người đàn ông được gọi là thanh tra Mikawa kia giật lấy túi của Hidemoto, lấy chiếc vương miện ra. Xung quanh trở nên náo loạn, những lời bàn tán xì xào mỗi lúc một lớn hơn. “Người đó là thanh tra trong truyền thuyết đấy.” “Tôi cũng biết ông ấy. Ông Mikawa này chính là người đã bắt được thủ phạm cướp ngân hàng Tokugawa.” “Cả vụ bắt cóc ở Kyoto nữa. Tôi vẫn nhớ vụ đó.” “Lần này lại bắt được Lupin nữa... Cảnh sát đúng là cừ quá.” Mọi người đổ dồn sự chú ý về phía thanh tra Mikawa. Chẳng ai buồn để ý tới tên siêu trộm Lupin, tức Hidemoto đang thất thểu kia. Điều này càng khiến Hidemoto thêm phần suy sụp. Hidemoto bị dẫn giải lên xe cảnh sát giữa những ánh đèn chớp không khoan nhượng của mấy tay phóng viên ảnh. Ngồi trong chiếc xe chật chội, cuối cùng Hidemoto mới định thần lại. Mình bị bắt rồi. Rõ ràng mình không thể bị bắt, vậy mà giờ bị tóm gọn rồi. “Tại... tại sao chứ!” Hidemoto bất giác ôm lấy đầu, hét lên. “Không thể thế này được. Tao là siêu trộm Lupin. Tao không thể nào bị bắt. Đây chỉ là mơ thôi! Giấc mơ thôi! Sao có thể thế này chứ.” “Không đâu, là thật đấy.” Chẳng biết từ lúc nào, thanh tra Mikawa đã ngồi cạnh Hidemoto, ném ánh nhìn sắc sảo về phía hắn. “Tao mới nằm viện vì tai nạn không lâu mà hình như mày đã làm loạn ghê quá nhỉ. Tên khốn này. Mày dám đem cảnh sát bọn tao ra làm trò đùa đấy à. Giờ thì vào tù mà ăn năn hối cải đi nhé.” Hidemoto run lẩy bẩy khi nghĩ đến chuyện mình sẽ bị tống vào phòng giam. Nhưng hắn vẫn không thể chấp nhận thực tế và kêu gào thảm thiết. “Đây là mơ! Không thể như vậy được! Tao không thể bị bắt...” “Sao mày có thể chắc chắn như thế?” “Bởi vì tao là Lupin. Tao đã ăn bánh ở tiệm bánh kẹo ấy. Lũ cảnh sát các ngươi làm sao bắt được siêu trộm Lupin...” “Tên kia!” Thanh tra Mikawa đột ngột túm lấy cổ áo Hidemoto. Vẻ mặt viên thanh tra hơi biến sắc. “Tiệm bánh kẹo mày nói có phải tiệm Thiên đường tiền xu không?” “Hả?” Hidemoto trợn tròn mắt. Tại sao gã thanh tra này lại biết về tiệm bánh kẹo đó? “Mày... mày... mày... tiệm bánh kẹo đó...” “Đúng vậy, tao biết tiệm bánh kẹo đó đấy.” Mặt Hidemoto mỗi lúc một tái nhợt. Tim hắn dội lên những tiếng thình thịch khó chịu. “Mày đã mua gì ở đó?” “... Bánh cuộn siêu trộm.” “Hừm, đúng là ở đó có thứ như vậy thật. Thế là mày đã mua nó à? Vậy thì chấp nhận đi thôi.” “Thôi đừng nói chuyện đó nữa. Nói đi. Sao mày lại biết tiệm bánh kẹo đó?” Thanh tra Mikawa đột nhiên phì cười, buông cổ áo Hidemoto ra. “Từ hồi còn là đứa trẻ ranh, tao đã muốn trở thành một người ra tay trừng trị kẻ xấu. Sau khi nhập học trường cảnh sát, có lần tao tình cờ bắt gặp tiệm bánh kẹo đó. Và tao đã mua món bánh Pudding thanh tra anh hùng, đồng minh của chính nghĩa. Có lẽ nhờ món bánh ấy mà cho đến giờ tao chưa hề bỏ sót một tội ác nào hết.” Thanh tra Mikawa nở nụ cười giễu cợt. “Chuyện là như vậy đấy, siêu trộm Lupin à. Mày đã bị đồng minh của chính nghĩa bắt rồi, bỏ cuộc đi thôi.” “Tao... tao vẫn không hiểu!” Hidemoto gào lên. “Chẳng... chẳng phải cùng một tiệm bánh kẹo sao? Vậy mà tại sao Bánh cuộn siêu trộm của tao lại yếu hơn Pudding thanh tra anh hùng của mày chứ. Không... thể chấp nhận được!” Vừa dứt lời, Hidemoto chợt nhớ lại. Những lời cuối cùng của người phụ nữ ở tiệm bánh kẹo đó... “Quý khách nên tiết chế vừa phải thôi. Trên đời này có những người còn may mắn hơn quý khách nhiều. Nếu quý khách quên mất điều đó thì...” Thanh tra Mikawa nói với viên cảnh sát ngồi sau tay lái, “Lái xe đi.” Chiếc xe cảnh sát lăn bánh, chở theo Hidemoto với khuôn mặt như người đã chết. * * * Eshiro Hidemoto. Bốn mươi sáu tuổi. Người đàn ông có đồng một trăm yên năm Chiêu Hòa thứ năm mươi sáu. Mời các bạn đón đọc Thiên Đường Tiền Xu Tập 2 của tác giả Hiroshima Reiko.
Người Thổi Thủy Tinh Xứ Murano - Marina Fiorato
"Người thổi thủy tinh xứ Murano" là tiểu thuyết mang đầy không khí thần bí về lịch sử và truyền thống thổi thủy tinh của người dân ở đảo Murano, thành Venice, một trong 3 thành phố nổi tiếng của Italy. Nghề thổi thủy tinh là nghề sống còn thành phố này và những tấm gương được làm từ đây đắt hơn vàng. Được những kẻ giết người từ Hội đồng thành phố canh cẩn mật, nhiều người thợ thủy tinh xứ Murano gần như bị cầm tù trên đảo của họ. Nhưng một bậc thầy của nghề là Corradino Manin đã bán các phương thức và linh hồn mình cho vua Louis XIV (Pháp), nhằm bảo vệ cô con gái bí mật của ông. Nhiều thế kỷ sau, hậu duệ của ông, Nora Manin - một phụ nữ Anh trẻ tuổi - vì muốn thoát khỏi cuộc sống không hạnh phúc của mình ở London, đã quyết định đến Venice và theo học nghề thổi thủy tinh ở thành phố của tổ tiên mình. Sôi nổi và tài năng, tên họ nổi tiếng của cô đã đặt cô vào nguy hiểm bên trong các xưởng thủy tinh cổ xưa khi các kình địch của cô xuất hiện. Tìm thấy được cuộc sống mới và tình yêu ở Venice, số phận của Nora trở nên gắn bó chặt chẽ với ông tổ Corradino; và lúc này, những bí mật về sự phản bội của ông lộ ra. *** Marina Fiorato là nhà văn nữ gốc Venice. Cô tốt nghiệp ngành lịch sử tại Đại học Oxford, từng theo học chuyên ngành về kịch Shakespeare tại Đại học Venice. Sau khi tốt nghiệp đại học, nhà văn theo đuổi hội họa và trải qua nhiều nghề: diễn viên, nhà phê bình phim và họa sĩ minh họa. Cô từng thiết kế chuyến du lịch bằng hình (visual tour) cho ban nhạc U2 và Rolling Stones. Cô kết hôn tại Venice và hiện sống ở North London với chồng, con trai và con gái. Nữ nhà văn được xem là một "Rowling thứ hai" khi vừa viết sách vừa trông con trong một quán cà phê. Fiorato đang thương thảo việc chuyển nhượng bản quyền để chuyển thể tác phẩm này thành phim. *** Khi Corradino Manin nhìn những ngọn đèn của San Marco lần cuối cùng. Venice bên kia phá với chàng dường như là một chòm sao vàng óng trong màn đêm nhung xanh thẫm. Bao nhiêu ô cửa trong số những ô cửa sổ đó, điểm trang kinh thành của chàng như những viên đá quý, mà chàng đã làm ra bằng chính đôi tay mình? Giờ đây chúng là ánh sao lấp lánh soi đường chàng cuối cuộc hành trình của đời chàng. Dẫn lối cho chàng cuối cùng cũng trở về quê nhà. Khi con thuyền chạy vào San Zaccaria, chàng không nghĩ – một lần này thôi – là mình có thể diễn tả cảnh này trong thủy tinh bằng một pulegoso 1 với vàng lá và đá da trời nóng ra sao, mà là chàng sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy khung cảnh dấu yêu này nữa. Chàng đứng trước mũi thuyền, hình chạm đầu mũi thuyền lấm tấm nước biển, nhìn sang trái về Santa Maria della Salute, đôi mắt nhìn cái khối mái vòm trắng lờ mờ hiện ra trong màn đêm vẻ tinh khôi của nó. Người ta đã đặt móng cho ngôi nhà thờ lớn vào năm 1631, năm Corradino chào đời, để cảm tạ Đức Mẹ Đồng Trinh đã cứu thành khỏi Trận dịch. Tuổi thơ và thời trai trẻ của chàng đã sánh bước với công trình đang dần hình thành. Giờ nó đã hoàn thành, năm 1681, năm chàng chết. Chàng chưa từng được thấy sự rỡ ràng trọn vẹn của nó dưới ánh sáng ban ngày, và giờ thì sẽ không bao giờ nữa. Chàng nghe thấy một người trèo traghetto 2 thê lương mời khách khi băng qua Kênh lớn. Chiếc thuyền đen của ông gợi nhớ một chiếc gondola 3 đưa tang. Corradino rùng mình. Chàng cân nhắc xem có nên gỡ cái mặt nạ bauta trắng ra không ngay khi chân chàng đặt lên bờ; một khoảng khắc nên thơ – một cử chỉ cao cả khi chàng trở về Serenissima 4. Không, mỉnh còn một việc nữa phải làm trước khi họ tìm thấy mình. Chàng cài kín chiếc áo choàng đen trên vai chống lại sương mù tăm tối và đi qua Piazzetta dưới lớp che của chiếc mũ ba sừng và bauta. Bộ trang phục tabarro 5 truyền thống, đen từ đầu đến chân trừ chiếc mặt nạ trắng, phải giúp chàng đủ vô danh để kéo dài thời gian chàng cần. Bản thân cái bauta, một phiến mặt nạ ma quái hình thù như cái xuổng của phu đào huyệt, có cái mũi ngắn và cằm dài có thể biến đổi giọng một cách kỳ quái nếu chàng phải nói. Chẳng mấy lạ là, chàng nghĩ, cái mặt nạ vay mượn tên nó từ ngữ "baubau", "ác quỷ" mà các ông bố bà mẹ cầu khẩn để làm mấy đứa con lang thang của họ khiếp sợ. Theo thói quen do mê tín, Corradino đi nhanh vào màn đêm qua giữa hai cây cột San Marco và San Teodoro vươn lên, trắng và đối xứng. Vị Thánh và con quái vật đứng trên đỉnh trán tường của hai cây cột chìm trong bóng tối. Nấn ná lại đây là xui xẻo, vì các tội nhân bị hành quyết giữa hai cây cột này – bị treo bên trên hoặc chôn sống ở dưới. Corradino làm dấu thánh giá, tự nhận ra mình và mỉm cười. Còn vận rủi nào nữa có thể xảy đến cho chàng? Ấy thế mà chàng vẫn rảo bước. Vẫn còn một tai họa có thể làm hỏng mình: bị ngăn cản không hoàn thành được việc cuối cùng. ... Mời các bạn đón đọc Người Thổi Thủy Tinh Xứ Murano của tác giả Marina Fiorato.
Người Trong Bóng Tối - Paul Auster
Ngày 19/8, độc giả nước Mỹ cầm trên tay cuốn tiểu thuyết 'The man in dark' của nhà văn Paul Auster. Và cùng ngày này, bản dịch cuốn sách do dịch giả Trịnh Lữ thực hiện với tựa 'Người trong bóng tối' cũng xuất hiện trên các kệ sách. Người trong bóng tối là câu chuyện về August Brill, một nhà phê bình văn học 72 tuổi, bị tai nạn phải ngồi một chỗ. Trong khi ông ngồi trên xe lăn hay nằm lì trên giường, chong chong mất ngủ, thì một thế giới khác, một "thực tại song hành" đang diễn ra với đầy những phức tạp và phi lý. Thực tại ấy đúng là do trí tưởng tượng của August Brill tạo ra, đưa đẩy ảo thuật gia Owen Brick vào một nước Mỹ khói lửa của cuộc nội chiến lần thứ hai, như cách lý giải của tác giả: "Chuyện chiến tranh. Cứ mất cảnh giác một tí thôi là chúng ào đến, từng trận một, từng trận một". Và chiến tranh vẫn chỉ là cái cớ để Paul Auster kể những câu chuyện nhiều ngụ ý của mình. Trước đó, hai tác phẩm của Paul Auster là Trần trụi với văn chương và Nhạc đời may rủi đã được dịch và phát hành tại Việt nam. *** Paul Auster sinh năm 1947 tại thành phố Newark, bang New Jersey (Mỹ) trong một gia đình Do Thái trung lưu gốc Ba Lan. Tốt nghiệp đại học Columbia năm 1970, ông sang Paris và sống bằng việc dịch văn học Pháp. Năm 1974, ông trở lại Mỹ và bắt đầu sáng tác. Tên tuổi Paul Auster bắt đầu nổi lên khi bộ ba tiểu thuyết The New York Trilogy (đã được dịch sang tiếng Việt với tựa Trần trụi với văn chương), trong đó ông tạo nên hình thức hậu hiện đại riêng biệt của mình. ***  Tôi một mình trong bóng tối, đang quay cuồng vật lộn với một cơn mất ngủ nữa, một đêm trắng nữa trong chốn hoang mạc Mỹ vĩ đại. Trên gác, con gái và cháu gái tôi đang ngủ trong phòng của chúng, đứa nào cũng một mình. Miriam, bốn mươi bẩy tuổi, đứa con duy nhất của tôi, đã ngủ một mình từ 5 năm qua, và Katya hai mươi ba tuổi, đứa con duy nhất của Miriam, trước đây vẫn ngủ với một thanh niên tên là Titus Small, nhưng giờ thì Titus đã chết rồi, và Katya ngủ một mình với con tim tan nát của nó.   Sáng trưng, rồi bóng tối. Nắng dội xuống từ mọi ngả trời, sau đó là đêm đen, những vì sao im lặng, gió xao động lá cành. Lệ thường là vậy. Tôi đã sống trong ngôi nhà này được hơn một năm nay, suốt từ ngày họ cho tôi xuất viện. Miriam cứ nhất định là tôi phải về đây. Lúc đầu chỉ có hai bố con, với một hộ lý hàng ngày đến chăm tôi trong lúc Miriam đi làm. Thế rồi, ba tháng sau đó, tai họa giáng xuống đầu Katya, và nó bỏ dở trường điện ảnh New York để về nhà với mẹ ở Vermont.   Cha mẹ thằng bé ấy đã lấy tên đứa con trai của nhà danh họa Rembrandt ngày xưa để đặt cho nó, thằng bé của những bức tranh, đứa nhỏ tóc vàng với cái mũ đỏ, cậu học trò mơ mộng ngỡ ngàng với những bài học của mình, thằng bé đã lớn lên trong bệnh tật và chết khi mới trên hai chục tuổi đầu, hệt như Titus của Katya[1]. Một cái tên tuyệt mệnh, nhẽ ra phải bị cấm tiệt từ lâu rồi. Tôi thường nghĩ đến cái chết của Titus, câu chuyện khủng khiếp của cái chết ấy, những hình tượng của cái chết ấy, đám tro tàn trắng xóa của nó bao phủ lên đứa cháu gái buồn khổ của tôi, nhưng tôi không muốn lại về miền ý nghĩ ấy nữa, nhất là bây giờ, tôi phải tránh xa nó, càng xa càng tốt. Đêm còn rất dài, và khi tôi nằm trên chiếc giường này nhìn vào bóng tối, một thứ bóng tối đậm đặc đến mức cả trần nhà cũng không còn thấy đâu nữa, tôi bắt đầu nhớ đến câu chuyện mình đã bắt đầu đêm hôm trước. Đó là việc tôi làm khi giấc ngủ không chịu đến. Tôi nằm trên giường và tự kể chuyện cho mình. Có thể những câu chuyện ấy chẳng đi đến đâu, nhưng cứ còn sống với chúng thì tôi còn không phải nghĩ đến những thứ mình vẫn muốn quên đi. Nhưng tập trung cũng không phải là dễ, và thường thì cuối cùng tâm trí tôi vẫn cứ trôi khỏi câu chuyện mình đang cố kể và dạt vào những thứ mình chẳng muốn nghĩ đến chút nào. Chẳng biết làm sao được. Tôi vẫn cứ thua như thế, thua nhiều hơn được, nhưng không có nghĩa là tôi không chịu gắng hết sức mình. ... Mời các bạn đón đọc Người Trong Bóng Tối của tác giả Paul Auster.
Quan Hệ Nguy Hiểm - Khiêu Dược Hỏa Diệm
Khiêu Dược Hỏa Diễm là cái tên tương đối lạ, không có sức thu hút như Cố Mạn, Tiên Chanh, Diệp Lạc Vô Tâm hay Đường thất công tử. Tuy nhiên, sau khi đọc xong cuốn Quan hệ nguy hiểm, Hoa Ban quyết định phải ra sức săn lùng các tác phẩm khác của tác giả này. Nói làm sao nhỉ? Một tác phẩm đồ sộ về nội dung, hình thức, lối viết và từ ngữ. Ngay từ  chương 1 của câu chuyện, người đọc đã không cách này dứt ra được. Bối cảnh diễn ra chủ yếu ở 3 nước Trung Quốc, Miến Điện và Thái Lan. Đây là một câu chuyện nồng nặc mùi súng đạn, tình dục, bạo lực… thể loại bao gồm có tình cảm, trinh thám, hình sự, …người viết đã xây dựng tỉ mỉ và chân thực bộ mặc xấu xa của thế giới ngầm vùng Tam giác vàng. Bắt đầu từ khi cô bác sĩ trẻ Đặng Sơ Vũ bị bắt làm con tin trong một vụ khủng bố ở Thái Lan rồi may mắn rơi vào tay Tam ca Lục Tử Mạc của nhóm buôn bán ma túy Kim Gia. Con người này tự nhận mình bị bất lực, chỉ muốn dùng cô làm vật chơi đùa. Ấn tượng ban đầu của cô về anh ta chính là giọng nói trầm ấm, còn cảm nhận ban đầu của người đọc là có linh cảm anh ấy là người tốt. Bởi vì theo cách kể của tác giả, Tử Mạc đã cố ý cứu Sơ Vũ trở thành trò tiêu khiển dung tục của đám đàn ông và còn tạo cơ hội để cô được giải cứu. Tuy nhiên, tác giả cũng sớm làm người đọc vỡ mộng khi cho anh ta lộ ra sự nhơ nhuốc, máu lánh, nguy hiểm chết chóc như đúng công việc anh ta làm. Lục Tử Mạc được người trong giới đánh giá là “không có nhược điểm” từ ngày gặp Sơ Vũ đã để lộ mọi sơ hở chết người cũng như hành động trái quy tắc bản thân Sau khi đọc hết truyện, Hoa Ban quyết định cho tên anh vào nhóm nam nhân vật top tem của tiểu thuyết ngôn tình. Nếu xét trong đề tài xã hội đen, tội phạm thì rõ ràng Lục Tử Mạc cuốn hút hơn cả Hàn Trạc Thần, An Dĩ Phong, Lôi Kình vân vân và ve ve ^^ Anh được miêu tả với phong cách Bad Guy trong công việc, sự can đảm và bãn lĩnh phi thường lúc nguy nan. Nếu Hàn Trạc Thần khiến người đọc ngất ngay vì uy quyền, tiền tài, bề ngoài, lòng si tình thì Lục Tử Mạc là hình mẫu của người đàn ông không thể đốn ngã, hành động siêu phàm và bình tĩnh ngay lúc cận kề cái chết. Hầu hết câu chuyện anh không mấy khi thảnh thơi làm ông hoàng trong địa vị thứ 3 của Kim Gia mà là lăn lộn trong cuộc chiến ma túy và sinh tử. Cả tình huống ngặc nghèo nhất cũng không khiến anh khiếp sợ. Người đọc sẽ yêu mến nhân vật dù cho anh thường là kẻ bị chỉa súng vào đầu, bị săn lùng, tả tơi hay thương tích trầm trọng. Chỉ như thể mới thấy được bản năng sinh tồn và lòng dũng cảm của con người này. Phong cách viết của truyện này là theo trường phái hành động. Nhiều lúc tình hình của đôi nhân vật chính nguy cấp như ngàn cân treo sợi tóc, khiến ta phải thót tim chờ đợi. Cái hay khác là câu chuyện viết quá thực, không hề kể lể sơ sài mà còn cho thấy vốn kiến thực của người viết về chính trị, quân sự, thao lược, văn hóa các dân tộc người Thái Lan,… Nhờ vậy mà câu chuyện sống động như một bộ phim của HBO. Dường như mọi chi tiết đều có căn cứ, tính logic rõ ràng. Nhân vật không đối thoại thừa câu nào và sự tỉ mỉ trong lối tả khiến không gian truyện như hiện ra trước mắt. Đọc câu chuyện chính là khám phá xem 2 người làm cách nào để sống sót và thoát khỏi mỗi khi bị vây bắt, bị phản bội, bị hãm hại, bị cho vào tròng,… Có thể thấy rằng, con người thường quá ỷ lại vào vũ khí trong tay, vào số đông hay vào chút hiểu biết ít ỏi. Chính vì thế mà lần lượt các nhân vật bị thua thảm hại dưới tay Lục Tiểu Mạc dù anh không có lấy một tất sắt. Thật ra cái đầu của con người mới là quyết định chứ không phải tứ chi. Câu chuyện có nội dung mang tính kịch như trong điện ảnh nhưng không tạo cảm giác hoang đường mà còn rất chân thật. Nguồn: Hoa Ban - hoabanland.wordpress.com *** Ngày thứ bảy, Sơ Vũ cuối cùng cũng có thời gian dành cho bản thân sau 48 tiếng đồng hồ làm việc liên tục. Kể từ lúc đến công tác ở phòng cấp cứu bệnh viện số một Chiang Rai, Sơ Vũ đã quên mất cảm giác thong dong đi dạo phố là như thế nào. Di động của Sơ Vũ luôn ở tình trạng 24/24h mở máy. Dù cô vừa ngồi xe buýt hơn nửa tiếng đồng hồ về đến nhà, chỉ cần bệnh viện gọi điện thông báo bệnh nhân do cô phụ trách xảy ra tình hình đột xuất, Sơ Vũ sẽ lập tức quay lại, có thể lao vào cấp cứu thông đêm. Gần như không có thời gian cá nhân, phòng cấp cứu ở nước ngoài khác với trong nước. Ở đây giống như chiến trường không ngừng nghỉ. Trách nhiệm và sức ép đối với những người làm việc ở đây là không thể tưởng tượng nổi. CÓ lúc, Sơ Vũ cảm thấy cô không thể tiếp tục, dù bắt cô đi nơi mệt mỏi nhất là khoa phụ sản, cô cũng cảm thấy còn đỡ hơn phòng cấp cứu. Sơ Vũ năm nay 28 tuổi, vẫn sống độc thân. Công việc bận rộn ở nước ngoài khiến cô không có tinh thần nghĩ đến chuyện riêng tư. Tuy người nhà luôn thúc giục, nhưng ưu điểm lớn nhất của độc thân là sự tự do. Không cần nghĩ đến chuyện tan sở về nhà phải chăm sóc người đàn ông tứ chi mạnh khỏe nhưng chẳng làm gì, không cần nghĩ đến chuyện dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ, rửa bát. Nếu không muốn nấu cơm thì ra ngoài ăn. Khi nào cảm thấy cô đơn thì có sách báo, đọc hết số sách ba cô thu thập cũng phải mất mấy năm. Thứ bảy này nếu không phải trong nhà dùng hết vật phẩm thiết yếu, nếu siêu thị không chỉ cách nhà cô 5 phút đi bộ, Sơ Vũ sẽ ở nhà ngủ chứ chẳng thèm chạy ra ngoài mua đồ. Về cơ bản, Sơ Vũ không có tâm trạng shopping. Thân thể mệt mỏi khiến cô chỉ thèm chiếc giường mềm mại. Sơ Vũ hận mình không mọc hai móng sắc, quét sạch đám người xếp hàng đằng trước, sau đó mọc thêm hai đôi cánh, thanh toán xong bay vụt về nhà. Xếp hàng mất 10 phút, khó khăn lắm mới đến quầy thu ngân, Sơ Vũ cố nhấc giỏ đựng hàng nặng đặt lên quầy thu ngân. Đúng lúc này, siêu thị phát ra tiếng nổ cực lớn. Cửa kính lớn đằng trước quầy thu ngân nổ tung giống như trong phim điện ảnh, vô số mảnh thủy tinh bay đến như cơn mưa băng. Sơ Vũ đứng ngây người nhìn các mảnh thủy tinh bay về phía cô giống như phim quay chậm. Tay Sơ Vũ đột nhiên truyền đến sức mạnh to lớn. Có người bảo vệ đầu cô, nhanh chóng đẩy cô xuống đất. Tất cả động tác này chỉ diễn ra trong một hai giây. "Đi!" ... Mời các bạn đón đọc Quan Hệ Nguy Hiểm của tác giả Khiêu Dược Hỏa Diệm.