Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cháu ông Rameau - Denis Diderot

Cháu ông Rameau bắt đầu được sáng tác vào khoảng 1761, nhưng mãi đến 1779 mới hoàn thành, là một thể nghiệm táo bạo của Diderot tiếp tục tìm tòi nội dung và hình thức mới của tiểu thuyết. Đó là “kiệt tác duy nhất” theo chữ dùng của Marx (1818-1883), và là “kiệt tác về mặt biện chứng” theo đánh giá của Engels (1820-1895). Cháu ông Rameau là một người có thật, tên là Jean-François Rameau, cháu gọi nhạc sĩ nổi tiếng Jean-Philippe Rameau (1683-1764) là bác ruột. J-F. Rameau kém Diderot vài tuổi. Hắn vốn là một gã đê tiện, sống cuộc đời ăn bám bằng cách nịnh hót hoặc làm trò hề mua vui cho những kẻ có tiền bạc và đến năm 1771 thì chết trong một nhà tế bần dành cho những kẻ vô gia cư. Tiểu thuyết viết theo hình thức đối thoại giữa “Tôi” và “Hắn” trong tiệm giải khát La Régence ở gần Hoàng-Cung, vào một buổi chiều, bên cạnh những người đang chơi cờ. Nếu như đối thoại choán gần hết từ đầu đến cuối trong Ý kiến ngược đời về diễn viên, chỉ mãi đến khi gần kết thúc mớỉ xuất hiện vai trò của người kể chuyện, thì ở Cháu ông Rameau, người kể chuyện xuất hiện nhiều hơn. Tác phẩm mở đầu bằng lời của người kể chuyện: “Dù đẹp trời hay thời tiết xấu, tôi có thói quen cứ đến năm giờ chiều đi dạo ở Hoàng-Cung. Thiên hạ luôn thấy tôi chỉ ngồi một mình, mơ mộng trên chiếc ghế dài ở Àrgenson[9]. Tôi trò chuyện với bản thân tôi về chính trị, về tình yêu, về thị hiếu và về triết học. Tôi mặc cho đầu óc tôi tha hồ bông lông...” Tiếp đó câu chuyện giữa “Tôi” và “Hắn” hơn hai chục lần bị ngắt quãng bởỉ lời của người kể chuyện, đó thường là những đoạn ngắn với lối văn tự sự, kể chuyện ở ngôi thứ ba. Khác với mối quan hệ giữa người kể chuyện và “Người trò chuyện thứ nhất” trong Ý kiến ngược đời về diễn viên, ở tiểu thuyết này, người kể chuyện và “Tôi” có thể xem là đồng nhất. Có nhiều dấu hiệu gắn bó hai nhân vật ấy[10] với chính tác giả, chẳng hạn trong khi trò chuyện, “Hắn” thường xưng hô với “Tôi” là thưa ông triết gia... và nhiều chi tiết khác ám chỉ đến quá khứ nghèo khổ của Diderot. Nhưng dẫu sao, trong khuôn khổ của tiểu thuyết, không thể và không nên quá nhấn mạnh vào sự trùng khớp này. Trong cuộc trò chuyện ở Ý kiến ngược đời về diễn viên, “Người trò chuyện thứ hai” thường nói ngắn, dường như chỉ đóng vai trò đưa đẩy cho “Người trò chuyện thứ nhất” mà thôi. Đến Cháu ông Rameau, lời nói chủ yếu thuộc về “Hắn”. Triết gia chủ yếu là gợi mở để cho “Hắn” nói, hoặc khi thấy những quan niệm của hắn vô liêm sỉ quá, bắt buộc phải nói dài để phản đối. Vì vậy, hầu như từ đầu đến cuối, ta chỉ nghe vang lên tiếng nói của Rameau trình bày với triết gia về cuộc sống đê tiện của hắn, cùng với những ý nghĩ, những quan niệm của hắn về xã hội và thế thái nhân tình. Có tài liệu cho rằng cuộc trò chuyện giữa tác giả và cháu ông Rameau (gọi tắt là Rameau) là có thật, nên có thể đồng nhất “Tôi” với Diderot và “Hắn” với Jean-François. Ý kiến ấy không thỏa đáng. Một tác phẩm viết trong gần hai mươi năm mới xong chắc chắn không phải chỉ là một cuốn kí sự đơn thuần, một tập biên bản ghi lại trung thực sự việc xảy ra. “Hắn” có nhiều khả năng không hoàn toàn là Jean-François, cũng như “Tôi” là triết gia, nhưng không nhất thiết là triết gia Diderot. Tác giả chắc đã nhìn thấy trong số phận Rameau những nét đặc biệt của thời đại ông và từ nguyên mẫu đó xây dựng nên một nhân vật có tính khái quát xã hội. Lại có ý kiến cho rằng anh chàng ăn bám Rameau sống một thời gian quanh quẩn gần Hoàng-Cung, nên Diderot thỉnh thoảng gặp hắn ta, nhưng không hề diễn ra cuộc trò chuyện giữa hai người trong tiệm giải khát La Régence. Đây chỉ là tác phẩm hoàn toàn hư cấu. Đoạn mở đầu tác phẩm đã dẫn ra trên kia đặc biệt có ý nghĩa. Người kể chuyện có thói quen dạo chơi một mình, mơ mộng một mình và trò chuyện cũng với chính bản thân mình chiều chiều ở Hoàng-Cung. Vậy “Tôi” và “Hắn” ở đây cũng chỉ là hiện tượng lưỡng hóa nghệ thuật như biện pháp lưỡng hóa được sử dụng trong Ý kiến ngược đời về diễn viên mà thôi. Thực chất của những “đối thoại” này là “độc thoại”, hay đúng hơn là “độc thoại nội tâm” phơi bày lên trang giấy những suy tư trăn trở miên man của bản thân, mong đi tới chân lí. Jean-Marie Goulemot so sánh chức năng của đối thoại ở đây với phép đỡ đẻ (maieutique), hiểu theo nghĩa phương pháp gợi hỏi của Socrate (470-399 TCN) nhằm hướng dẫn tìm ra chân lí còn đang thai nghén tiềm tàng ngay trong bản thân Diderot. Rameau, nhân vật chính của tiểu thuyết này, có thể nói hoàn toàn có thật mà cũng hoàn toàn hư cấu. Hắn có thể nhận ra chân dung của mình qua những dòng sau đây: “Chẳng có gì khác với hắn hơn là chính bản thân hắn. Đôi khi, hắn gầy gò và xanh xao như một người ốm sức tàn lực kiệt; ta như đếm được qua hai bên má những chiếc răng của hắn. Ta tưởng đâu hắn đã nhiều ngày chẳng ăn uống gì, hoặc là hắn vừa ra khỏi tu viện dòng Trappe. Đến tháng sau hắn lại béo mập và đẫy đà như thể hắn chưa từng rời bàn ăn của một nhà tài chính, hoặc là hắn bị lưu giữ trong một tu viện dòng thánh Bernard. Hôm nay ăn mặc bẩn thỉu, quần áo rách bươm, vá chằng vá đụp, hầu như giày dép chẳng có, hắn cúi gầm mặt xuống mà đi, lén la lén lút, khiến người ta như chỉ muốn gọi hắn để bố thí cho hắn. Hôm sau, đầu tóc chải chuốt, áo quần giày dép tinh tươm, hắn ngẩng cao đầu bước đi, vênh vang, và bạn có lẽ tưởng đâu hắn là một bậc hào hoa phong nhã...” Nhưng Jean-Marie Goulemot cũng hoàn toàn có lí khi nhận định rằng những dòng miêu tả Rameau trên đây, để cho hắn thay đổi dáng vẻ tuỳ ngày, tuỳ mùa... chính lại là một cách phủ nhận hoàn toàn sự có thực của nhân vật này[11]. Rameau là một nhân vật tiểu thuyết. Xét về mặt hình thức, cuộc trò chuyện giữa “Tôi” và “Hắn” có vẻ giống như bất cứ cuộc trò chuyện nào thuộc loại ấy, nhảy từ vấn đề này sang vấn đề khác, chẳng đi theo một trình tự ấn định trước. J-M. Goulemot lưu ý chi tiết phụ đề của tác phẩm này là “truyện châm biếm” - satire - bắt nguồn từ chữ latin “satura” có nghĩa là món hổ lốn, mớ hổ lốn, tập tạp văn. Nhưng đằng sau cái vẻ ngoài linh tinh, Goethe nhận định “câu chuyện đối thoại này thật ra có mạch lạc tài tình; người nào tưởng rằng cuộc đối thoại ấy rời rạc lỏng lẻo như một cuộc trò chuyện thường thì thật là lầm; nó chỉ giống cuộc trò chuyện thường ở chỗ linh hoạt mà thôi”[12]. Theo Michel Launay, câu chuyện lần lượt xoay quanh bốn chủ điểm. Thoạt tiên là “Nhận xét về con người và tính cách”. Tiếp đến là “Đạo đức”, chứa đựng những suy nghĩ về các khái niệm lương thiện và bất lương, thiện và ác và về việc giáo dục con cái. Thứ ba là “Triết học” với những suy nghĩ về lí lẽ của các hiện tượng, về bản chất của các sự vật. Cuối cùng là “Thị hiếu” bàn luận về mĩ học, về thiên tài, về âm nhạc, về sáng tác văn học[13]. Rameau vốn là người có sức khoẻ, thông minh và chẳng phải không yêu đời, tuy cuộc sống của hắn có nhiều điều bất hạnh. Hắn có những khả năng đặc biệt, rất yêu âm nhạc và rõ ràng có thể trở thành một nhạc sĩ khá. Nhưng Rameau chọn cái nghề dễ dàng nhất, cũng khó khăn nhất vì nó đòi hỏi phải có trí thông minh, phải lanh lẹn tháo vát, đó là nghề ăn bám. Hắn phủ nhận tất cả những cái gì tốt đẹp ở trên đời và chỉ công nhận một nguyên tắc sống là thoả mãn những bản năng đê hèn, tuy hắn biết như thế là bỉ ổi. Rameau là sản phẩm của xã hội phong kiến Pháp đang đi đến chỗ tan rã. Chính xã hội đã phơi bày ra trước mắt hắn cuộc sống mà bao nhiêu kẻ tai to mặt lớn lại là những kẻ không có đạo đức; trong xã hội ấy, “thiên hạ ca ngợi đức hạnh, nhưng thiên hạ ghét nó, nhưng thiên hạ trốn tránh nó, nhưng nó lạnh cóng, mà trong thế gian này lại cần phải có đôi bàn chân ấm nóng”; trong xã hội ấy, chính những kẻ quyền quý đã dạy cho hắn lòng căm ghét những người lương thiện như lập luận của vị thượng thư kia khi chứng minh rằng “đối với nhân dân không có gì ích lợi bằng sự dối trá và không có gì hại bằng sự thật thà”. Trong sự phủ định triệt để của Rameau, tuy hết sức bỉ ổi, nhưng lại chứa đựng không ít sự thật của thời đại, vì thế vẫn toát lên ý nghĩa phê phán tích cực. Rameau không ngần ngại nói toạc ra rằng ở đời “khi người ta đã giàu có thì người ta muốn làm gì mặc lòng, không bao giờ bị nhục nhã cả”, và còn vô liêm sỉ hơn, nhưng chẳng phải là không sâu sắc: hắn tuyên bố con tôi sẽ phải giàu có... “Cháu sẽ có vàng, tôi xin nói với ông như vậy. Nếu cháu có nhiều vàng, thì cháu sẽ chẳng thiếu gì hết, kể cả lòng tôn trọng và sự kính nể của ông”. Tác giả viết: “Rameau là một người đáng ghét không hơn không kém những kẻ khác, chỉ có điều hắn thẳng thắn hơn, nhất quán hơn và đôi khi sâu sắc hơn trong sự hư hỏng của mình”. Rameau không đơn thuần là sản phẩm thụ động của xã hội. Hắn còn vượt lên trên xã hội, quan sát nó bằng con mắt có ý thức và trí thông minh sẵn có. Hắn mò mẫm tìm ra nguyên nhân của những bất công trong xã hội: “Sự sắp đặt quỷ quái gì mà có những kẻ ngốn đầy ứ đủ thứ, trong khi những người khác có cái dạ dày quấy nhiễu như họ, có cái đói tái phát như họ, mà lại chẳng có gì để đút vào miệng”. Hắn hiểu rằng “trong thiên nhiên có các loài vật xâu xé nhau, trong xã hội có các giai cấp xâu xé nhau”. Nhưng Rameau lại rút ra kết luận muốn trở thành “một tên kẻ cướp sung sướng giữa những tên kẻ cướp giàu có”, vì hắn lí luận rằng “người ta phỉ nhổ một kẻ lưu manh tầm thường, nhưng không thể không cảm phục một tên đại gian đại ác”. Rameau chính là hình ảnh lớp người đang vật lộn trong xã hội lúc bấy giờ để tự khẳng định, nhưng cuộc đấu tranh của họ không vượt ra ngoài khuôn khổ của chủ nghĩa cá nhân do đó rơi vào bế tắc. Có ý kiến cho rằng trong cuộc trò chuyện này, Rameau hoàn toàn nắm quyền chủ động. Những lập luận của hắn tuy hết sức bỉ ổi, nhưng lại có sức lôi cuốn ghê gớm ngay cả đối với người đang ngồi trò chuyện với hắn và thỉnh thoảng lên tiếng phản đối. Dường như “Tôi” chỉ phản ứng lấy lệ, chứ trong thâm tâm thầm cảm phục “Hắn”. Có ý kiến lại cho rằng Rameau chỉ có vẻ thắng thế trong phần thứ hai trên bình diện lí thuyết, nhưng sang đến phần sau, triết gia dễ dàng chứng minh cho hắn thấy rằng mọi lí thuyết của hắn chẳng có giá trị gì trong thực tiễn, mà chỉ đưa đến những thất bại và những thái độ mâu thuẫn. Dù sao cũng phải thừa nhận có sự bắt gặp, thông cảm đến một mức độ nào đấy giữa triết gia và Rameau. Điều này cũng dễ hiểu khi ta biết rằng có thể xem “Tôi” và “Hắn” là hai mặt của chính tác giả. Triết gia tự tách một phần của mình ra để trò chuyện. Ông gán cho Rameau những ý nghĩ lời lẽ mà bản thân ông thấy bỉ ổi quá, không thể trực tiếp nói ra. Không có sự đối lập giữa “Tôi” và “Hắn”, giữa tác giả và nhân vật, giữa độc thoại và đối thoại. Đối thoại ở đây trở thành biện pháp để tác giả tự phân đôi và trình bày những mặt mâu thuẫn thống nhất của chính bản thân ông. *** Denis Diderot (1713-1784) là kiến trúc sư của công trình Bách khoa thư (Encyclopédie) đồ sộ, nhà văn có nhiều đóng góp độc đáo, nhà triết học duy vật, sôi nổi “lòng yêu chân lí và chính nghĩa”[1], nhà phê bình nghệ thuật sắc sảo. Ông là “nhà thơ lớn, nhà họa sĩ lớn, nhà điêu khắc lớn, nhà nhạc sĩ lớn... tuy chưa từng bao giờ làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, nặn tượng”[2]. Denis Diderot sinh ở Langres, một thành phố cổ kính miền Đông-Bắc nước Pháp, trong một gia đình thợ thủ công nhiều đời chuyên sản xuất các loại dao. Thuở nhỏ, Diderot học ở quê nhà; năm mười hai tuổi, nhà triết học tương lai chịu lễ cắt tóc chuẩn bị phụng sự tôn giáo. Nhưng ba năm sau, năm 1728, ông quyết định từ giã quê hương lên Paris học tập, bất chấp mọi người can ngăn. Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông. Những năm đầu tiên sống ở Paris, nhà văn sẽ có dịp gợi lại sau này qua cuộc đối thoại kì lạ giữa “Tôi” và “Hắn” trong Cháu ông Rameau (Le Neveu de Rameau), một cuộc sống gần như lang thang, bữa đói bữa no, nay đây mai đó. Cảnh túng thiếu sẽ còn đeo đẳng ông cho mãi về già. Nhưng để bù đắp lại, Diderot được hưởng một cuộc sống tinh thần hết sức phong phú. Ông thoả sức tắm mình trong không khí của thời đại; ông mở tâm hồn ra đón những luồng gió mớỉ của bốn phương; ông đọc sách của Voltaire (1694-1778), ông tham dự những buổi tọa đàm ở nhà triết gia D'Holbach (1723-1789); ông kết bạn với F.M. Grimm (1723- 1807) ở Đức vừa sang; ông được Rousseau (1712- 1778) đến thăm ở Vincennes khi bị giam cầm; ông dự đám tang Montesquieu (1689-1755)... Diderot - nhà triết học ra mắt độc giả bằng tác phẩm Những tư tưởng triết học (Les Pensées philosophiques, 1746). Liền năm sau, ông cho in Cuộc dạo chơi của người theo chủ nghĩa hoài nghi. Tác phẩm nổi tiếng Bức thư về những người mù (Lettre sur les Aveugles, 1749) khiến ông bị tống giam ở Vincennes mấy tháng. Năm 1753, ông cho in Về việc giải thích tự nhiên (Sur l’Interprétation de la nature). Đến 1772, hai tác phẩm quan trọng nữa ra đời: Trò chuyện giữa Diderot và D'Alembert và Giấc mơ của D'Alembert (Le Rêve de d'Alembert). Diderot bước vào lĩnh vực văn học gần như đồng thời với triết học, nhưng Diderot - nhà văn được khẳng định sau Diderot - triết gia khá lâu, và những kiệt tác văn học của ông cũng trải qua số phận long đong hơn nhiều. Tiểu thuyết Những đồ trang sức không kín đáo (Les Bijoux indiscrets, viết năm 1745, in năm 1748) chưa bộc lộ tài năng của tác giả. Với các vở kịch Đứa con hoang (Le Fils naturel, 1757) và Người cha trong gia đình (Le Père de famille, 1758), ông thử nghiệm một thể loại mới: kịch “drame” hoặc “hài kịch nghiêm chỉnh”; đáng tiếc ở đây tài nghệ của nhà soạn kịch không tương xứng với ý đồ lớn lao. Năm 1760, ông viết cuốn tiểu thuyết Nữ tu sĩ (La Religieuse) thực sự có giá trị, nhưng mãi đến 1796, sau khi tác giả qua đời mười hai năm, mới được xuất bản. Đó cũng là số phận của kiệt tác Cháu ông Rameau, sáng tác khoảng năm 1761, lưu hành một vài bản ở dạng chép tay trong số bạn bè quen biết. Một bản theo Grimm về Đức, lọt vào tay Goethe (1749-1832), được ông dịch ra tiếng Đức. Mãi đến 1823, Cháu ông Rameau mới được dịch lại từ bản tiếng Đức để xuất bản ở Paris, và tới gần cuối thế kỉ XIX, năm 1891, ngưòỉ ta mới tìm thấy nguyên bản của nó! Tiểu thuyết không kém phần độc đáo Jacques người theo thuyết định mệnh (Jacques le Fataliste), sáng tác năm 1773, cũng phải đợi đến 1796 mới được ra mắt công chúng.   Mời các bạn đón đọc Cháu ông Rameau của tác giả Denis Diderot.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Khi Yêu Cần Nhiều Dũng Cảm - Chetan Bhagat
Trên thế giới này những cuộc hôn nhân dựa trên tình yêu luôn theo một quy trình tuần tự: chàng trai yêu cô gái, cô gái yêu chàng trai và họ kết hôn. Tuy nhiên ở Ấn Độ có thêm vài bước nữa: chàng trai yêu cô gái, cô gái yêu chàng trai; gia đình cô gái thích chàng trai; họ hàng cô gái thích họ hàng chàng trai; họ hàng chàng trai thích họ hàng cô gái; chàng trai và cô gái vẫn yêu nhau và họ kết hôn. Đó chính là câu chuyện của Krish và Ananya, trai tài gái sắc là đôi bạn đồng chí hướng trong những tháng năm học MBA tại ngôi trường danh giá hàng đầu Ấn Độ, họ chỉ còn chờ một lễ cưới rực rỡ, nhưng trăm núi nghìn sông còn dễ vượt qua hơn so với sự phản đối của hai bên gia đình, hai người phải làm thế nào đây, khi nổi loạn thì dễ, thuyết phục mới là điều khó? Thành danh với tiểu thuyết đình đám Ba chàng ngốc, lần này Chetan Bhagat mang đến một tác phẩm gần như tự truyện của mình. Khi yêu cần nhiều dũng cảm-cuốn tiểu thuyết di dỏm về cuộc hôn nhân liên cộng đồng tại Ấn Độ hiện đại, cũng được chuyển thể thành phim điện ảnh với những ca ngợi của giới phê bình và công phá mãnh liệt doanh số phòng vé. *** “Tại sao tôi lại được giới thiệu tới đây? Tôi có bị làm sao đâu,” tôi nói. Chị ta không đáp lại. Chỉ ra hiệu cho tôi cởi giày và ngồi xuống ghế. Chị ta có một phòng khám cũng giống như phòng khám của bất cứ bác sĩ nào khác, có điều không có mùi thuốc và những dụng cụ y tế nguy hiểm, lạnh lùng. Chị ta chờ cho tôi nói nhiều hơn. Tôi do dự rồi lại cất lời. “Tôi dám chắc người ta đến đây với những vấn đề to tát, khó vượt qua. Các cô nàng đá đít bạn trai họ thì là chuyện cơm bữa. Cần gì phải đến gặp bác sĩ tâm thần, phải không? Tôi là ai, một kẻ thần kinh chắc?” “Không, tôi mới thần kinh, bác sĩ thần kinh. Chính xác ra là bác sĩ tâm lý. Nếu anh không phiền thì tôi thích cách gọi đó hơn,” chị ta nói. “Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Không sao,” chị ta nói và dựa người vào ghế. Chưa quá ba mươi, chị ta dường như quá trẻ để trở thành một bác sĩ tâm thần, xin lỗi, bác sĩ tâm lý. Bằng cấp từ những trường đại học hàng đầu nước Mỹ trang điểm cho những bức tường như những cái đầu hổ treo trong nhà một thợ săn. Vâng, lại một người Nam Ấn nữa đã chinh phục thế giới học thuật. Bác sĩ Neeta Iyer, tốt nghiệp thủ khoa Đại học Vassar. “Tôi tính tiền năm trăm rupi một giờ đấy,” chị ta nói. “Anh cứ trân trối nhìn tường hay nói chuyện, với tôi kiểu nào cũng được.” Tôi đã xài hết mười hai phút rồi, tức là một trăm rupi, mà chẳng đi đến đâu cả. Tôi tự hỏi liệu rằng chị ta có chấp nhận trả tiền từng phần và để cho tôi đi không. “Bác sĩ Iyer …” “Gọi tôi Neeta được rồi,” chị ta nói. “Được rồi, chị Neeta, tôi không nghĩ chuyện của tôi lại cần đến việc này. Tôi không biết tại sao bác sĩ Ramachandran lại giới thiệu tôi đến đây.” Chị ta cầm quyển bệnh án của tôi trên bàn. “Xem nào. Đây là những gì bác sĩ Ram thông tin cho tôi - bệnh nhân mắc chứng mất ngủ, đã cắt đứt liên lạc với loài người trong vòng một tuần, không chịu ăn, đã lên Google để tìm cách tự tử tốt nhất.” Chị ta dừng lại và nhìn tôi, mày nhướng lên. “Tôi Google tất cả mọi thứ,” tôi lẩm bẩm, “chị không làm thế à?” “Bệnh án ghi rằng nội việc thoáng nhắc tới tên cô ấy, nơi cô ấy ở hay bất cứ mối liên hệ nào khác, chẳng hạn như món ăn yêu thích của cô ấy, cũng sẽ đưa tới những cảm xúc khó lường từ nước mắt tới giận dữ tới thất vọng.” “Tôi vừa mới chia tay. Chị nghĩ phải thế nào?” tôi cáu kỉnh. “Đúng rồi, với Ananya ở Mylapore. Món ăn yêu thích của cô ấy là gì nhỉ? Cơm cà ri?” Tôi ngồi thẳng dậy. “Đừng,” tôi nói một cách yếu ớt và cảm thấy nghẹn trong cổ. Tôi cố kìm cho nước mắt khỏi tuôn ra. “Đừng,” tôi nhắc lại. “Đừng cái gì cơ?” Neeta khích tôi. “Chẳng phải chuyện nhỏ sao?” “Nhỏ cái con khỉ. Nó đang giết tôi đây.” Tôi đứng phắt dậy đầy kích động. “Người Nam Ấn các người có biết tình cảm là cái gì không?” “Tôi sẽ lờ đi các nhận xét mang tính phân biệt vùng miền của anh. Anh có thể đứng mà nói, nhưng nếu đó là một câu chuyện dài thì hãy ngồi xuống ghế. Tôi muốn được nghe có đầu có đuôi,” chị ta nói. Tôi bật khóc. “Sao chuyện này lại xảy ra với tôi?” tôi nức nở. Chị ta đưa tôi một tờ khăn giấy. “Tôi phải bắt đầu từ đâu đây?” tôi nói và cẩn trọng ngồi xuống ghế. “Từ nơi tất cả những câu chuyện tình bắt đầu. Khi anh gặp cô ấy lần đầu tiên,” chị ta nói. Chị ta kéo rèm và bật điều hòa. Tôi bắt đầu nói và bắt đầu làm cho tiền của mình có giá trị. ... Mời các bạn đón đọc Khi Yêu Cần Nhiều Dũng Cảm của tác giả Chetan Bhagat. Người đăng: dtv-ebook
Thời Thơ Ấu Gian Khổ - Iamin Muxtaphin
CUỐN SÁCH VỀ THỜI THƠ ẤU GIAN KHỔ VÀ ANH HÙNG     Đây là truyện ngắn trong tuyển tập "Điều kỳ diệu của Xibêri" xuất bản năm 1972 của Iamin Muxtaphin     Nữ văn sĩ Marieta Saghinhian, người được giải thưởng Lênin, một nghệ sĩ có tên tuổi, một nhà phê bình nghệ thuật rất nghiêm khắc đã viết trong lời tựa cho cuốn sách "Điều kỳ diệu của Xibêri" như sau: "Những truyện ngắn của anh làm say mê lòng người bằng sự tươi mát, sự độc đáo, bằng chủ nghĩa nhân đạo cao cả và sự trong sáng rất hiếm thấy trong cách diễn giải của mình" (Mátxcơva, 1972).     Cuốn truyện "Thời thơ ấu gian khổ" đã kể về những năm tháng khó khăn và ác liệt của cuộc chiến tranh. Ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, toàn dân đều phải chiến đấu chống bọn phát xít xâm lược. Và không những chỉ có người lớn mà cả trẻ em đã lập nên những chiến tích phi thường. Chính tác giả là người đã biết, đã trải qua nhiều sự kiện được mô tả trong cuốn sách "Thời thơ ấu gian khổ". Cũng như Giamin, một thiếu niên mười bốn tuổi, nhân vật chính của cuốn truyện là hiện thân của tác giả. *** Đ ã mấy ngày nay một mùi củi cháy nồng nặc bao trùm lên khu làng nhỏ. Mọi người lo lắng nhìn về phía Đông, ở đấy, đêm đêm, từng đám vừng hồng lại bừng lên trên rừng Taiga, như có một người nào đấy không ngớt vẫy tung một chiếc khăn khổng lồ màu đỏ. Thậm chí cả những con chó trước đây suốt ngày chỉ gầm ghè nhau, bây giờ con nào cũng nằm im cạnh cổng nhà mình, lắng nghe tiếng ầm ì từ xa vọng lại, vẻ sợ sệt lộ ra mặt. Ban ngày, mặt trời như một chiếc đĩa bằng đồng chiếu qua các đám mây khói. Lũ trẻ Tai sét nhìn thẳng lên thiên thể đỏ rực ấy mà không cần nheo mắt, và chúng nhận thấy có vết đen trên đó. - Trông kìa, trên ấy có núi, cậu ạ! - Giamin, một cậu bé mười bốn tuổi, sau khi đã leo hẳn lên mái nhà, sung sướng reo lên như vậy. - Cứ như là không có cậu thì tớ không nhìn thấy đấy! Hừ! - Gô-ga vừa tiếp tục dùng chiếc dao nhíp cũ chăm chú cạo nhựa khô từ một khúc gỗ tùng lá rụng, vừa đáp lại. Rồi cậu ngẩng mái đầu bù xù đã lâu ngày không cắt tóc, dùng lưỡi đảo đi đảo lại cục nhựa thông thơm thơm trong miệng, phều phào nói: - Bà tớ còn nói thế này: sẽ còn lắm chuyện nữa đấy. - Thì hãy nhổ cái cục kia ra đã, rõ đồ tham. Bà cậu nói cái gì? - Giamin vừa thận trọng bước trên mái nhà lợp bằng những thanh gỗ mỏng, vừa hỏi bạn. Gô-ga khó nhọc dùng lưỡi ùn cục nhựa cây màu vàng ra khỏi miệng - Xem này, mình nhai được nhiều! Đủ dùng cho cả ngày nhé - Cậu ta khoái trí cười. Chỗ sún thoáng hiện lên như một hạt bá hương giữa hàng răng đều và trắng muốt. Cậu lấy tay vo tròn cục nhựa, cẩn thận gói lại bằng một chiếc mã đề rộng rồi đút vào chiếc túi rất sâu của mình. Trong túi đó, cậu luôn luôn giữ các mẩu kim loại, các lõi chỉ và các loại diêm khác nhau, những thứ này làm bọn bạn thèm rỏ dãi. ... Mời các bạn đón đọc Thời Thơ Ấu Gian Khổ của tác giả Iamin Muxtaphin.
Tuổi 17 - German Matveev
Tuổi mười bảy (tiếng Nga: Семнадцатилетние) là một cuốn tiểu thuyết dành cho lứa tuổi mới lớn của nhà văn German Matveyev, ra đời năm 1954. "Tuổi mười bảy” của German Matveev là câu chuyện kể về lớp học nữ sinh ở thành phố Leningrad (thuộc Liên Xô cũ) thời kỳ sau chiến tranh Thế giới thứ hai.  Nhân vật chiếm số đông trong tác phẩm là các cô nữ sinh đang bước vào lứa tuổi đẹp nhất của cuộc đời, tuổi 17 đầy mộng mơ, trong sáng.  Đó là Catia Ivanova – cô bí thư đoàn yêu thích môn hóa học; là cô gái xinh xắn học giỏi nhưng lại thích trở thành công nhân Svetlana; là Lida Versinina –cô gái xinh đẹp có nhiều bạn trai hâm mộ, hay Valia Belova-một nữ sinh học giỏi nhưng lại xấu tính, ích kỷ… Bên cạnh đó còn có cả những nhân vật lớn tuổi như: thầy giáo chủ nhiệm tận tâm Constantin Sergheevich, cô giáo hiệu trưởng Natalia Zakharovna, cô giáo Marina Leopoldovna... Những con người trẻ tuổi,với những tính cách khác nhau lại sống trong cùng môi trường đã tạo nên những câu chuyện về tình bạn, tình yêu với nhiều tình tiết hấp dẫn, bất ngờ. *** Ông Sergei Ivanovich đi dự dạ hội nhân dịp năm mới về và thấy Lida nằm trên giường, hai mắt đỏ hoe. - Lida, con làm sao thế? Con ốm à? - Không, không sao... Ba để con yên... - Lida khó nhọc nói. Ông sờ vào cái trán nóng hổi của con gái và ngồi xuống bên cạnh. - Con có bị đau gì không? Nhiệt độ có cao không? Hay con bị sốt?... Lida? - Ông bảo con gái. - Sao con không trả lời ba? Hay có gì xảy ra với con? Lida... Con có nghe thấy ba hỏi gì không? - Ba ơi, con xin ba, ba để cho con yên... - Cô khẽ nói và quay mặt đi. Ông bố lo lắng, đến đánh thức bà Pasa và nhờ bà giúp cho con gái ông thay áo đi ngủ. Đêm hôm ấy, mấy lần ông vào phòng con gái lắng nghe hơi thở đều đều của đứa con gái đang ngủ. Sáng hôm sau Lida thấy dễ chịu hơn. Cô không còn khóc nữa, tuy rằng cô vẫn cho mình là đứa bất hạnh với “trái tim tan nát”. Cô thấy trong người hơi yếu và nhức đầu nên có lý do để nằm trên giường. Suốt buổi sáng cô nằm trên giường gần như bất động, mắt đăm đăm nhìn bâng quơ vào một khoảng không xa thẳm. Gần mười hai giờ thì bác Vaxili Igomatievich đã đến. Vừa bước vào ông đã kêu lên như mọi lần: - Ồ, thật là mới mẻ! Cháu đã nghĩ ra được cái trò gì vậy! Ốm thật là đúng lúc... Cháu đang nghỉ đông cơ mà, cô gái xinh đẹp của bác. Phải ra ngoài trời để hít thở không khí, phải đi trượt băng! - Ông nói và ngồi xuống cạnh cô gái. - Nào đau ở đâu? Ốm gì? Thè lưỡi bác xem nào! Người ta bảo hôm qua các cháu ăn hàng thùng kem cơ mà... ... Mời các bạn đón đọc Tuổi 17 của tác giả German Matveev.
Nổi Loạn - Đào Hiếu
Dây là một tác phẩm đã bị kết án tử hình. Nó đã bị bắn nhiều loạt đạn, một ngàn mũi tên tẩm thuốc độc, bị chém bởi những lưỡi dao cùn… Trong một thời gian dài, tác phẩm đã bị mấy tờ báo quốc doanh lên án nào là đồi trụy, phản động, nào là nhảm nhí không có chút giá trị văn chương nào. Họ hùa nhau như đám hôi của, đám cơ hội, hò hét, nhảy múa, xỉa xói. Và cuối cùng là chém ngang lưng, tru di tam tộc. Nhưng tác phẩm vẫn sống. Bởi vì nó quá mãnh liệt, nó đầy ắp những chất liệu sống hung hãn và độc đáo. Không một trí tường tượng nào có thể nghĩ ra được các tình huống, các chi tiết đã được người trong cuộc “bứng” từ trong mảnh đất thực tế đời mình đem trồng vào tác phẩm và được nhà văn vun đắp gọt tỉa thành một chuyện tình, một tác phẩm văn học đầy lửa và đầy tro tàn, vừa cháy bỏng vừa lạnh giá, vừa lung linh vừa u ám ngậm ngùi. Nổi Loạn đơn giản chỉ là một chuyện tình. Nổi Loạn không có tham vọng đặt ra những “vấn đề chính trị”, những “phê phán đạo đức” hay những “tố cáo xã hội”. Những thứ vặt vãnh ấy đã bị sức nóng của câu chuyện tình này đẩy lùi ra tận phía sau hậu trường, trở thành những phông màn nám khói, mờ nhạt, cũ kỹ. Đọc Nổi Loạn để xem các nhân vật yêu nhau điên rồ, liều lĩnh như thế nào, và xem họ đã dẫn dắt chuyện tình của mình đến bờ vực nào? Có lẽ đó là điều duy nhất tác giả muốn mô tả trong tác phẩm. NGUYỆT HẠ *** Đào Hiếu (sinh năm 1946), tên khai sinh: Đào Chí Hiếu. Các bút danh khác: Biển Hồ, Đào Duy. Hiện ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Đào Hiếu, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1946 tại Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông sớm gia nhập phong trào sinh viên cách mạng tại Quy Nhơn. Năm 1968 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1970 ông bị bắt quân dịch và trở thành binh nhì sư đoàn 22 Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sau sáu tháng, ông trốn vào Sài Gòn bắt liên lạc với Tổng hội sinh viên hoc sinh để tiếp tục hoạt động chống Mỹ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương trước 1975 tại Sài Gòn. Từng làm phóng viên báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ. Hiện Đào Hiếu sống và viết tại TP. Hồ Chí Minh. Truyện dài Giữa cơn lốc, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1978. Một chuyến đi xa, Nhà xuất bản Măng Non, 1984, nxb Trẻ 1994. Qua sông, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1986. Vùng biển mất tích, Nhà xuất bản Đồng Nai 1987. Vượt biển, Nhà xuất bản Trẻ 1988, 1995. Vua Mèo, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Người tình cũ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1989. Kẻ tử đạo cuối cùng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Thung lũng ảo vọng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Hoa dại lang thang, Nhà xuất bản Văn Học 1990. Trong vòng tay người khác, Nhà xuất bản Tác phẩm Mới 1990. Kỷ niệm đàn bà, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1990. Nổi loạn, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1993. Lạc Đường (tự truyện), Nhà xuất bản Giấy Vụn 2008, Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 2008. Tuyển tập Đào Hiếu (tập 1 và tập 2) Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 12. 2009. Mạt lộ, Nhà xuất bản Lề Bên Trái (tự xuất bản)[1], 03. 2009. Truyện ngắn và tạp văn Bầy chim sẻ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1982. Những bông hồng muộn, Nhà xuất bản Trẻ 1999. Tình địch, Nhà xuất bản Trẻ 2003. Thơ Đường phố và thềm nhà, Nhà xuất bản Trẻ 2004. *** Chung Quanh Tác Phẩm “Nổi Loạn" Cuộc phóng vấn do tác giả Đoàn Giao Thủy, Báo “Diễn Đàn Paris” thực hiện và đăng trên số 28 phát hành tháng 3/1994 tại Pháp. Trong sáu tháng cuối năm 1993, cuốn tiểu thuyết NỔI LOẠN của Ðào Hiếu đã nổi lên như một sự kiện văn học ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong chừng mực nào đó: có thể gọi “vụ án NỔI LOẠN”, bởi vì đã có lời buộc tội đăng trên báo chí, cuốn sách đã bị tịch thâu và tác giả đã bị bắt giam và truy tố. So với các vụ án văn nghệ trước kia, đây chỉ là một vụ án nhỏ, song nhìn chung không có gì thay đổi về phương pháp của nhà cầm quyền dùng để triệt hạ một tác phẩm: tác phẩm bị kết án, tác giả bị đi tù, song tác giả không được quyền giải thích công khai về tác phẩm của mình. Chỉ có một điều là ở cuối thể kỷ thứhai mươi này việc bỏ tù một nhà văn vì tác phẩm của họ không còn dễ dàng như xưa nữa! Trong lần về thăm Việt Nam vừa qua tôi có dịp nói chuyện với nhà văn Ðào Hiếu cũng như nhiều người có thẩm quyền trong giới văn nghệ sĩ ở Sài Gòn về cuốn sách và các sự kiện chung quanh nó. Khi đó khả năng anh bị bắt giam đã được nêu ra. Trở lại Âu châu được tin anh bị bắt thật, tôi tự thấy có trách nhiệm giới thiệu những lời trao đổi với anh mà tôi ghi được. Như một chứng từ! Như quyền trả lời của một người bị buộc tội. Phải nói ngay rằng đây không phải là một phân tích về nội dung cuốn sách: xin dành phần đó cho bạn đọc hay các nhà chuyên phê bình văn học. Trước khi đi vào phần trao đổi, có lẽ cần nói đôi điều về tác giả cũng như bối cảnh của vụ án.   Mời các bạn đón đọc Nổi Loạn của tác giả Đào Hiếu.