Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tuyết Hoa và Cây Quạt Bí Mật - Lisa See

Câu chuyện ám ảnh, đẹp đẽ và buồn khôn xiết về nỗi khao khát khắc khoải, mãnh liệt đến mức sống để bụng chết mang đi này được viết bằng giọng văn mạnh mẽ đặc trưng của See. Với câu chuyện lay động về những người đàn bà viết nữ thư ở một vùng đất xa xôi của Trung Quốc vào thế kỷ XIX, Tuyết Hoa và cây quạt bí mật nhanh chóng cuốn độc giả vào một trải nghiệm đọc giàu có và lộng lẫy. Văn hóa Trung Quốc, những cụm từ hẳn khá quen thuộc với nhiều độc giả: “bó chân”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “trọng nam khinh nữ”… bỗng ùa tới trong một không gian khác lạ của Lisa See, một người sinh ra ở Paris, lớn lên ở Los Angeles nhưng mang trong mình một phần dòng máu Trung Hoa. Không có sự phá cách ồn ã, song từ cách tiếp cận gần gũi và đậm sắc thực tế của tác giả lớn lên ở phương Tây với chính vùng đất xảy ra câu chuyện, đã đẩy cuốn sách bước ra khỏi những lối mòn nặng nề định kiến mà người ta vẫn thường hình dung về văn hóa Trung Hoa, với những hủ tục nghiệt ngã cùng thân phận đắng cay của người đàn bà trong xã hội. Trong Tuyết Hoa và cây quạt bí mật, đó là một ám ảnh mạnh mẽ về mối quan hệ lão đồng, mối kết giao đặc biệt giữa hai người con gái nguyện thề với nhau “dù cách xa vạn dặm vẫn như hai dòng suối cùng đổ về một sông, như hai đóa hoa nở cùng một vườn, sẽ ở bên nhau cho đến khi nhắm mắt xuôi tay”. Đó không chỉ là một tình bạn gắn kết và sẻ chia, nó thực sự là một liều thuốc quý, một thứ men khiến hai người phụ nữ - Bách Huệ và Tuyết Hoa - có chỗ dựa duy nhất, trong những lúc cô độc tưởng như không thể chạm vào đâu để bấu víu. Và nữ thư được sống trong những trái tim đầy khao khát của những người đàn bà ít có dịp bước ra khỏi ngôi nhà của mình ấy. Cho dù có những sự thật được che giấu suốt mười năm mới có dịp phanh phui, cho dù sự chênh lệch về địa vị giữa họ sau này, cho dù thời gian không ngừng trôi qua và cả một hiểu lầm đáng tiếc xảy đến… họ đã bằng mọi cách để ở bên nhau, hơn cả những người chị em ruột thịt. Vẻ đẹp của mối thâm tình ấy khiến câu chuyện mang đầy sức nặng trong những khát khao được yêu thương mãnh liệt, giấu mình trong những bản nữ thư, thứ ngôn ngữ độc nhất vô nhị mà người phụ nữ Trung Quốc đã sáng tạo ra để có thể bí mật liên lạc với nhau, thoát khỏi sự kiểm tỏa của nam giới. Trên hành trình mong manh song đầy sâu lắng của những bản nữ thư trên khăn thêu hay viết bằng bút lông trên quạt giấy, người đọc sửng sốt khi khám phá không gian mới mẻ trong Tuyết Hoa và cây quạt bí mật. Vẫn là đau thương bi ai của những cô gái trẻ bước vào thời kỳ đầu bó chân, có cả tiếng thét xé trời trong tiếng xương chân gẫy trước niềm vui hân hoan của người mẹ, những thì thầm an ủi về viễn cảnh có gót sen ba tấc sẽ được lấy một người chồng giàu sang cho dù các cô gái có thể bỏ mạng về điều đó, niềm hạnh phúc nhất đời của người đàn bà là đẻ con trai… Sự mới mẻ được mở ra là vẻ đẹp sâu xa trong những nỗi đau ấy. Bài học đầu tiên của những bé gái là sự cam chịu đến nhẫn nhục thân phận bị khinh rẻ của mình, mà về sau Tuyết Hoa chấp nhận để anh chồng đồ tể đánh đập tàn nhẫn, còn Bách Huệ im lìm trong mọi khoảnh khắc ân ái với chồng. Cả một thế hệ phụ nữ Trung Hoa chịu đựng và truyền lại cho nhau trong những căn buồng phụ nữ dưới sự phong tỏa của hai nguyên tắc Khổng giáo: tứ tức và tam tòng. Không một ai trong số họ muốn vượt khỏi vòng kiểm tỏa khắc nghiệt ấy, vì cho rằng đó là bổn phận, nhưng họ đã chứng tỏ vị trí của mình trong gia tộc, ngay cả anh chồng đồ tể vốn thường xuyên đánh đập Tuyết Hoa đã khóc khi đến phút cuối đời mới nhận ra giá trị của vợ mình. Nó khiến độc giả khi ngoái đầu về những ngày chưa xa ấy, hiểu hơn về những người dân Trung Quốc ấy không phải dưới ánh mắt thương hại về sự mê muội, mà ngập tràn sự chia sẻ, bởi họ thuộc một phần của nền văn hóa trong quá khứ với những nguyên tắc được xã hội chấp nhận và thừa nhận. Có lẽ Lisa See đã đi tìm nữ thư bắt đầu từ một phần dòng máu Trung Hoa chảy trong mình. Rất nhiều tình tiết trong cuốn tiểu thuyết được khởi nguồn từ thực tế, biến thành dòng chảy qua sự tái tạo của một nhà văn, càng khiến câu chuyện trở nên thật sự thuyết phục. Lồng trong bức phác họa thật đẹp về tình bạn và sức mạnh của người phụ nữ, thứ văn phong tao nhã ẩn giấu sự mạnh mẽ đặc trưng của Lisa See đã làm nên một tác phẩm mê hoặc lòng người. Tuyết Hoa và cây quạt bí mật đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng và bản quyền được bán cho 36 quốc gia. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết nằm trong danh sách best-seller của New York Times, đồng thời được xem như "lựa chọn số một" của Booksense, giành được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. *** Tôi là người mà dân trong thôn gọi là "kẻ lọt sổ tử thần" - một bà góa tám mươi. Sống thiếu chồng, ngày đối với tôi thật dài. Tôi chẳng buồn để ý đến những món ăn đặc biệt mà Mẫu Đơn và người khác dọn cho nữa. Tôi cũng không còn mong chờ những sự kiện vui vẻ đã thành lệ của gia đình. Giờ đây, tôi chỉ đăm đăm hướng về quá khứ. Sau ngần ấy thời gian, cuối cùng tôi cũng đã có thể nói ra những điều mà trước đây, khi còn chịu ơn sinh dưỡng của cha mẹ cũng như ơn nuôi nấng của nhà chồng, tôi không thể. Tôi có cả một cuộc đời để kể lại; tôi chẳng còn gì để mất và cũng chẳng có mấy thứ phải kiêng kỵ. Tôi đã sống đủ lâu để hiểu thấu những cái hay cái dở của bản thân, mà cái hay cái dở đó xét cho cùng cũng chỉ là một. Suốt cả cuộc đời tôi luôn khao khát tình yêu. Tôi biết khát khao và mong đợi điều đó thì thực không phải đạo chút nào, cả khi còn con gái lẫn khi đã trở thành đàn bà, nhưng tôi vẫn khao khát, và chính cái khát vọng không chính đáng này là gốc rễ của mọi muộn phiền trong cuộc đời tôi sau này. Tôi từng ước mơ rằng mẹ sẽ chú ý đến tôi, rằng bà và mọi người trong gia đình sẽ dần yêu thương tôi. Để giành được tình cảm của họ, tôi đã tỏ ra biết vâng lời - một phẩm chất lý tưởng cho những người thuộc giới nữ như tôi - nhưng tôi lại quá sẵn sàng làm bất kỳ điều gì họ bảo. Hy vọng họ sẽ tỏ ra ân cần với tôi dù chỉ là chút ân cần nhỏ bé nhất, nên tôi đã cố gắng đáp ứng mong mỏi của họ - phải có được một đôi chân bó vào loại nhỏ nhất vùng - vì thế tôi chấp nhận để cho người ta bóp vỡ xương ra rồi khuôn lại thành một hình dạng đẹp hơn. Khi nhận ra mình không thể chịu đựng thêm một phút đau đớn nào nữa, nước mắt tôi rơi xuống đôi chân bị bó nhuộm máu, mẹ thì thầm vào tai động viên tôi cố vượt qua thêm một giờ, một ngày, rồi một tuần nữa, nhắc tôi nghĩ đến những phần thưởng tôi sẽ được hưởng nếu cố thêm chút nữa. Cứ như thế, mẹ dạy tôi cách chịu đựng - không chỉ những đau đớn về thể xác như việc bó chân hay sinh nở, mà còn là những nỗi đau day dứt hơn trong tâm, trong trí và trong hồn. Mẹ cũng chỉ ra những nhược điểm của tôi và hướng dẫn tôi làm thế nào để biến chúng thành lợi thế. Ở đất nước tôi, người ta bảo những người như mẹ là thống ái. Con trai tôi bảo rằng về chữ viết thì từ thống ái gồm hai chữ, thống nghĩa là nỗi đau, ái nghĩa là yêu. Đó là tình yêu của người mẹ. Việc bó chân không chỉ làm biến đổi đôi chân tôi mà còn biến đổi toàn bộ cá tính của tôi, và theo một cách kỳ lạ nào đó, tôi cảm thấy dường như quá trình đó vẫn tiếp diễn suốt cả đời mình, biến tôi từ một con bé yếu đuối thành một cô gái cả quyết, rồi từ một người phụ nữ trẻ tuyệt đối phục tùng nhà chồng trở thành người đàn bà có địa vị thuộc hàng cao nhất trong huyện, thi hành những luật lệ và tập tục thôn xã hà khắc. Cho đến năm bốn mươi tuổi, sự cứng rắn khi bó chân từ đôi gót sen ba tấc đã ăn sâu vào trái tim tôi, vốn vẫn khư khư giữ lấy những ký ức về sự bất công và lòng oán hận dai dẳng đến độ tôi không bao giờ có thể tha thứ cho những người tôi yêu và cho những người yêu tôi. Sự nổi loạn duy nhất của tôi bộc lộ ở nữ thư, thứ chữ viết bí mật của nữ giới chúng tôi. Vụ vượt rào đầu tiên của tôi là vào lúc Tuyết Hoa - lão đồng của tôi, người bạn viết thư bí mật của tôi - gửi cho tôi một chiếc quạt đang nằm trên bàn của tôi đây, và rồi tiếp tục viết thư cho tôi trên chiếc quạt sau khi chúng tôi gặp nhau. Tuy vậy, ngoài lúc ở bên Tuyết Hoa ra, tôi quyết tâm trở thành người vợ đảm, nàng dâu thảo, và người mẹ hiền. Vào những thời kỳ khó khăn, trái tim tôi trở nên rắn như đá vững như đồng. Tôi có một sức mạnh tiềm tàng để chống chọi với đau khổ và bi kịch. Nhưng giờ tôi lại đang ở đây, là một quả phụ, ngồi im lặng theo truyền thống, và tôi hiểu rằng mình đã mù quáng suốt bao năm ròng. Ngoại trừ ba tháng khủng khiếp vào năm thứ năm thời vua Hàm Phong, tôi sống trong căn buồng phụ nữ ở trên gác. Vâng, tôi đã đi đến Miếu Cô Bà, quay trở lại nơi chôn nhau cắt rốn, thậm chí đến thăm Tuyết Hoa, nhưng tôi chẳng biết gì ngoài địa hạt của mình. Tôi nghe đàn ông bàn luận về thuế má, về hạn hán, về những cuộc nổi dậy; nhưng những chủ đề ấy quá xa vời với cuộc sống của tôi. Những gì tôi có thể làm là thêu thùa, may vá, nấu nướng, chăm lo cho gia đình chồng, con cái, cháu chắt tôi, và viết nữ thư. Cuộc đời tôi là một cuộc đời diễn tiến tuần tự bình lặng - thời ấu thơ, tuổi vấn tóc cài trâm, những tháng ngày gạo muối, và giờ đây là chuỗi ngày ngồi im lặng. Vậy nên, giờ tôi ngồi đây một mình với những ý nghĩ và chiếc quạt trước mặt. Khi tôi nhấc nó lên, thật kỳ lạ, tôi thấy nó nhẹ bẫng trên tay tôi, bởi nó đã ghi dấu biết bao sướng vui, biết bao đau buồn. Tôi xòe nó ra, và mỗi thanh âm mà các nếp gấp tạo ra lại gợi tôi nhớ về những rung động của trái tim. Những ký ức vụt qua trước mắt tôi. Bốn mươi năm nay, tôi đã đọc đi đọc lại biết bao lần đến mức thuộc lòng như những bài hát của tuổi thơ. Tôi còn nhớ cái ngày bà mối đưa nó cho tôi. Những ngón tay tôi run run khi mở các nếp gấp. Rồi tôi thấy một vòng lá giản dị được trang trí ở mép quạt và một dòng thư từ từ lộ ra sau nếp gấp đầu tiên. Lúc đó, tôi không biết nhiều chữ trong nữ thư cho lắm, nên thím tôi đã đọc cho tôi nghe. "Mình được biết trong nhà bạn có một cô bé tính tình thùy mị nết na, hiểu đạo công dung ngôn hạnh. Bạn và mình sinh cùng ngày, cùng năm. Sao chúng ta không trở thành đôi bạn tương giao của nhau nhỉ?" Bây giờ tôi nhìn vào cái nhúm lông mềm mại đã viết nên những dòng chữ này và không chỉ thấy lại Tuyết Hoa thời con gái mà còn nhìn thấy Tuyết Hoa khi đã trở thành một người đàn bà - người đàn bà bền bỉ, thẳng thắn và vị tha. Tôi đưa mắt nhìn theo những nếp gấp và thấy lại sự lạc quan phơi phới và niềm vui của chúng tôi, sự ngưỡng mộ lẫn nhau và những điều chúng tôi đã hứa với nhau. Tôi thấy chiếc vòng đơn giản này đã trở thành một kết cấu tinh xảo bằng những bông tuyết xen kẽ với bông huệ để tượng trưng cho cuộc đời của chúng tôi song hành bên nhau như một cặp lão đồng ra sao. Tôi thấy vầng trăng chênh chếch về bên phải trên bầu trời đang rọi xuống chúng tôi. Chúng tôi tựa như đôi cây dây leo rễ quấn vào nhau, như đôi cây cổ thụ đã đứng đó hàng nghìn năm, như đôi uyên ương làm bạn với nhau suốt cuộc đời. Trong một nếp gấp, Tuyết Hoa viết, chúng ta yêu thương nhau thắm thiết và sẽ mãi mãi không bao giờ lìa xa. Nhưng trong một nếp gấp khác, tôi thấy những hiểu lầm, niềm tin đổ vỡ, và cuối cùng cánh cửa khép lại. Với tôi, tình yêu là thứ tài sản quý báu mà tôi sẽ không thể chia sẻ cho bất kỳ ai, và rốt cuộc chính điều đó đã khiến tôi với người bạn giống tôi ấy chia lìa nhau. Tôi vẫn đang tiếp tục học về tình yêu. Tôi nghĩ là tôi hiểu được nó - không chỉ tình mẫu tử, mà còn là tình yêu với song thân, tình phu phụ và cả tình cảm với lão đồng nữa. Tôi đã trải nghiệm nhiều kiểu tình cảm khác nhau - nỗi trắc ẩn, sự kính trọng, lòng biết ơn. Nhưng nhìn vào những bức thư mà tôi và Tuyết Hoa đã viết cho nhau trên chiếc quạt bí mật trong nhiều năm, tôi nhận ra rằng mình đã không biết quý trọng thứ tình yêu quan trọng nhất - tình yêu từ sâu thẳm con tim. Trong những năm cuối đời này, tôi ghi lại tiểu sử hộ nhiều người phụ nữ khác chưa từng học nữ thư. Tôi lắng nghe mọi nỗi buồn và lời than vãn, mọi bất công và bi kịch. Tôi đã chép lại cuộc đời bất hạnh của những con người khốn khổ theo niên đại. Tôi lắng nghe tất cả và ghi lại tất cả. Nhưng nếu như tôi biết nhiều về chuyện của đàn bà, thì tôi lại hầu như chẳng biết chút nào về chuyện của đàn ông, trừ chuyện họ không phải là anh nông dân chống chọi với thiên nhiên thì là người lính trên chiến trường, hoặc một người cô độc đang tự vấn chính mình... Nhìn lại cuộc đời mình, tôi thấy và con người mà tôi cần phải trở thành. Tôi viết những trang này cho những người đang an nghỉ dưới suối vàng. Mẫu Đơn, cháu dâu tôi, hứa chắc chắn sẽ đốt hết tất cả ngay khi tôi nhắm mắt xuôi tay, vì thế câu chuyện của tôi sẽ đến với họ trước cả linh hồn tôi. Hãy để những lời này giải thích cho hành động của tôi với ông bà tổ tiên tôi, với chồng tôi, nhưng trên hết là với Tuyết Hoa, trước khi tôi gặp lại họ. điều đó được rút ra từ chính những câu chuyện về đàn ông và đàn bà. Tôi chỉ là một người đàn bà hèn mọn với những ta thán đời thường, nhưng trong thâm tâm tôi cũng diễn ra một cuộc vật lộn như cuộc vật lộn của đàn ông, giữa bản chất đích thực của tôi. ... Mời các bạn đón đọc Tuyết Hoa và Cây Quạt Bí Mật của tác giả Lisa See.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Phố Academy
Một bé con. Một tình nhân. Và một người mẹ.  Đời nàng mở ra mặc khải “ký ức tình yêu giúp làm vơi nhẹ.” Cuộc đời một con người được tái dựng trong chưa đầy 200 trang sách. Điều đó xem chừng là bất khả cho tới khi ta đọc một tác phẩm như Phố Academy: Màn thứ nhất - cô bé Tess mồ côi mẹ; màn thứ hai - nàng Tess yêu khờ dại; và màn cuối - bà Tess bất hạnh. Cuốn tiểu thuyết không mới mẻ trên bình diện khắc họa một đời người, nhưng chính sự “không mới mẻ” này lại khiến nó tạo nên những cảm xúc rất thực. Rồi chúng ta sẽ nhớ thắt lòng hình ảnh cô bé Tess thảng thốt, ngác ngơ trước chiếc quan tài mẹ: “Mẹ đã đi mất. Mẹ của Tess đi xa rồi. (...) Bé cảm thấy mặt đất dưới chân sụp xuống – thảm cỏ, cánh đồng và gò đất đang trượt ra xa, đến khi bé bị bỏ mặc bơ vơ nơi đỉnh gò trơ trụi. (...) Bé hầu như không thở nổi. Tess ngoảnh về phía vầng mặt trời đã xuống thấp, nhắm mặt và chờ đợi. Xin hãy rủ lòng thương. Bé chờ khuôn mặt mẹ hiện lên, chờ một cánh tay chìa ra. Toàn bộ cơ thể Tess nhướn lên, khao khát được mặt trời chạm vào, được gió nâng lên, bầu trời mở ra và cõi Thiên Đường kéo bé vào.” Niềm nhớ mẹ của Tess làm chúng ta cũng giật mình muốn gọi: “Mẹ, mẹ ơi!”  Chính mất mát vào tuổi ấu thơ ấy đã khiến nhân vật Tess cuống quýt kiếm tìm yên ấm, mãi mãi về sau. Tess thèm được có ai đó cho riêng nàng. Đâu phải chú Mike bởi lời chú hứa cưới nàng chỉ là trò bông đùa hồn hậu; cũng đâu phải chị Claire vì chị rời đi Mỹ - miền đất hứa rồi. Tâm trí Tess chịu ám ảnh về một mối quan hệ lấp đầy sự trống rỗng hoang hoải nơi nàng, và nàng gặp David. Anh càng dửng dưng thì Tess càng khao khát, anh càng xa cách thì cô gái càng muốn lại gần: để dựa đầu lên vai anh, hôn anh, để cùng anh “hòa nhập”. Cuộc hoan ái với chàng trai chỉ diễn ra một đêm song đã kéo dài miên viễn trong đời Tess - kéo dài nỗi thảng thốt lại bị bỏ rơi, kéo dài bất hạnh: “David bỏ đi thật rồi. Hết thảy thanh danh, hết thảy hạnh phúc, đã theo anh đi mất và nàng bị bỏ lại giữa tình cảnh ngặt nghèo.” Một lần nữa, những cảm xúc mãnh liệt của nhân vật cuốn chúng ta theo, khiến ta ngả nghiêng rất thực: “Tess bò vào giường. Trong bóng tối làn môi nàng tự nhiên chu lại như đang hôn, thêm một nụ hôn nữa, cặp môi máy động như hớp lấy không khí. Những thứ, trước đây tơ tưởng là thiếu đoan trang, giờ không còn vậy nữa: tay chân anh, làn da anh, bàn tay anh đặt trên bụng nàng. Hãy trở lại với em.”  Đời Tess không chan chứa gì ngoài mất mát, ngay cả đứa con trai những tưởng sẽ làm tròn đầy đời bà sau cuối cũng lìa xa mẹ - ngay trong cõi sống và sau đó, bằng cái chết. Lấy bối cảnh phố Academy, nước Mỹ và Mary Costello viết về số phận một phụ nữ gốc Ireland. Với người nhập cư, xứ sở cờ hoa trao gửi giấc mơ nao? Mộng lành - “cuộc đời nơi đây là đáng sống, là lý tưởng” hay mộng dữ - lũ chim ác đâm ngang tòa tháp?  Lời chị Evelyn than xiết: “Cô biết sao không? Trước giờ những gì nước Mỹ mang tới cho gia đình này chỉ toàn là bất hạnh” cơ hồ đẩy người đọc vào ngả chông chênh trước tín điều về giấc mơ Mỹ lấp lánh. Lựa chọn khắc họa cái bất hạnh song may thay Mary đã “làm điều này khúc chiết, chân thật không ủy mị”. Tuổi ấu thơ mơ mộng Thiên Đường, ngày xế bóng sực ngẫm ra “đã không có vườn Địa Đàng, sẽ không có vườn Địa Đàng” nhưng Tess không gây cho ta thứ cảm giác bi lụy lê thê. Dẫu gợi ngậm ngùi, dẫu khơi nuối tiếc, nhân vật vẫn chứng tỏ một đời sống can trường “những ngày như mọi ngày bà sẽ đặt bàn chân này lên trước bàn chân kia để bước đi”, một “mặc khải” rằng “ký ức tình yêu giúp làm vơi nhẹ”: Tess đã yêu mẹ, yêu một người đàn ông và yêu con trai tới tận cùng tế bào mình. Có thể nói rằng, trong không gian phố Academy nhỏ bé, Mary Costello đã khắc họa một số phận dễ chìm khuất giữa đám đông “nhu thuận và mờ nhạt” tuy không viện đến những thủ pháp văn chương đột phá nhưng vẫn đủ sức lay động tâm can tới tột cùng. *** Bắt đầu bằng một cái chết và kết thúc cũng bởi một cái chết, cuốn sách mỏng mảnh tinh tế này gói gọn cuộc đời của một con người với những bi kịch cố hữu của nó, không tô vẽ hay có chút gì màu mè giả tạo, “Phố Academy” khiến người đọc lay động với sự chân thực giản dị dù có lẽ cuốn sách sẽ khiến những ai mong chờ một câu chuyện giật gân hay đón đợi một cuộc đời với nhiều biến cố rợn ngợp phải thất vọng. Bảy tuổi, cô bé Tess mất đi người mẹ của mình và từ đó người cha của cô rơi vào sự cộc cằn, xa cách, đặc biệt là khi cô bé bị mất giọng nói khi chứng kiến một đứa trẻ vô gia cư qua đời, cô bé trở nên sợ hãi cha mình và ngày càng tạo khoảng cách với cha dù đôi lúc cô bé vẫn cảm nhận được tình yêu mà ông dành cho bé. Mất mẹ, không được cha quan tâm nên dần dần Tess rơi vào trạng thái cô độc dù còn rất nhỏ, những nỗi nhớ, khao khát về mẹ chỉ có thể được em giữ kín trong lòng: “Vậy là ký ức và vết tích về mẹ quyết còn vương khắp nhà – trong phòng, sảnh, cầu thang. Vết lõm chân mẹ in trên thảm, Trên cái ly nước có dấu tay mẹ. Em thầm hỏi liệu trong những đêm ấm áp, lúc toàn bộ ngôi nhà say ngủ, người mẹ dịu dàng của em, hay các hồi ức về bà có trở lại, mang an ủi cùng hứa hẹn đến cho mọi thứ, bù đắp những nhẫn nại đợi chờ. Cả ngoài kia nữa, khoảng sân, chuồng vịt, có nhớ mẹ chăng?” Nỗi đau mất mẹ dần dà cũng nguôi ngoai thế nhưng vết tích về nó vẫn hằn sau trong cuộc đời của Tess dù rằng em vẫn được yêu thương bởi những người anh chị em trong gia đình. Rời Ireland để di cư sang Mỹ và trở thành y tá trong một bệnh viện nhỏ, Tess bén rễ ở phố Academy và ngày càng lún sâu vào cuộc đời cô độc, buồn bã và không chắc chắn. Ta sẽ theo chân Tess từ khi là một cô gái với những nỗi nhớ khắc khoải về quê hương khi phải tự lập trên một mảnh đất xa lạ, những rung động khát khao của cô với chàng trai mình yêu thương, những nỗi đau đớn khi tình yêu không được đáp lại, niềm hạnh phúc khi được làm mẹ dù có những lúc cô bối rối vì nghĩ rằng một mình cô không thể nuôi được đứa con trai nên người, sự trưởng thành, sự tha thứ, những nỗi buồn và những giọt nước mắt. Mary Costelo khiến người đọc đồng cảm và sống cùng với cuộc đời của Tess, dõi theo từng bước chân của cô với sự rung động đôi lúc khiến trái tim đau nhói, ta cảm thấy một lúc nào đó trong cuộc đời, ta cũng sẽ hoang mang và cảm thấy cuộc sống thật vô định, khó khăn biết bao, đôi lúc ta không thể nào biết rõ ta đang sống hay đang tồn tại, những ngày trôi qua nặng nề như thể ta phải chịu đựng nó, thế nhưng rốt cuộc thì ta vẫn phải tiếp tục bước tiếp và nhìn quanh bên cạnh ta chẳng có ai, ta chỉ có thể một mình quyết định được điều gì sẽ xảy đến với chính bản thân mình. Cuốn sách nói về cuộc đời một con người bình thường nhưng sao mà buồn thăm thẳm, thật ra cái ý nghĩa đích thực của việc sống trên đời này là gì? Một câu chuyện rất chân thực, không hề có những bất ngờ hay biến cố, nỗi buồn trong cuốn sách không lớn lao hay xa lạ, nó khiến ta nhận ra có những giây phút hoài nghi về cuộc đời của chính mình. Đến một lúc nào đó, cũng như Tess, ta sẽ cảm thấy mệt mỏi với việc đấu tranh với cuộc đời, và những ước ao, dự định, hoài bão ta từng ôm ấp thời trẻ đều không thể trở thành hiện thực. Cuộc đời trước mặt không có gì đáng để ta mong đợi những cũng chẳng thể làm ta sợ hãi, ta sẽ chấp nhận nó như đúng bản chất thật sự của nó với những niềm vui và nỗi buồn, nụ cười và nước mắt, hạnh phúc và đau khổ. Mary Costelo xoáy sâu vào sự bình thường trong cuộc đời của mỗi con người, không có phát minh vĩ đại hay bước nhảy vọt lớn lao, chỉ có nỗi buồn và sự cô đơn ngự trị. Tình yêu gia đình và sự gắn bó với mảnh đất quê hương cũng là một điểm sáng trong “Phố Academy”, dù không luôn bên cạnh nhưng gia đình và vùng quê Ireland luôn có một vai trò đặc biệt trong cuộc đời của Tess, trong những lúc cô đơn nhất cô nhận ra vẫn có một thành viên trong gia đình ở đâu đó trên cùng đất nước này, và điều đó khiến cô và cả người đọc được ai ủi. Nỗi nhớ khắc khoải về quê hương khiến cô luôn ghi nhớ từng bậc thanh, từng bụi cỏ, nơi đó còn lưu giữ bao kỷ niệm ấu thơ để khiến cô không quên đi gốc rễ của mình và kết nối cô với những thành viên khác trong gia đình. Mary Costelo quả thật rất tinh tế trong việc miêu tả những nối kết ấy một cách đẹp đẽ, vững chắc và khó quên. Và đó có phải là khả năng đặc biệt của văn chương, không chỉ kết nối các nhân vật của mình với nhau và còn có thể kết nối bạn đọc với những nhân vật xa lạ ở những vùng đất xa lạ và nền văn hóa xa lạ. Dù có thể, trong cuộc đời những phút giây hạnh phúc thật ít ỏi so với nỗi buồn nhưng đó là những điều mà ta luôn nhớ về, những ký ức sẽ sưởi ấm tim ta vào đêm giá lạnh như khi Tess đứng dưới đường nhìn lên căn hộ cũ của mình đang sáng đèn ở phố Academy và nhớ lại những kỷ niệm về đứa con trai, và đối với cô, cuộc đời chỉ cần như thế là đủ, và cô cảm thấy hạnh phúc. *** Review Meowth: Lại là một cuốn sách không hợp với mình. Có vẻ năm nay mình không có duyên đọc sách lắm, trong 5 cuốn đã đọc thì chỉ thích có 2 cuốn thôi. Phố Academy là câu chuyện về Tess từ khi còn là một bé gái đến khi trở thành cô gái, mẹ rồi bà. Cuộc đời của một người phụ nữ gói gọn trong 200 trang sách. Cuốn sách được viết dưới ngôi thứ ba, những bi kịch của Tess được thuật lại mà không có thêm bất kì cảm xúc nào của người kể, giống như lời thuyết trình của một bộ phim tài liệu vậy. Bởi thế dù qua những con chữ mình thấy được mọi thứ của Tess từ niềm vui, nỗi buồn, sự cô đơn lạc lõng đến nỗi đau song nó vẫn không gợi lên chút gì trong mình. Giọng văn của cuốn sách rất nhẹ nhàng, lúc nào cũng đều đều làm mình cảm thấy nó giống như một câu chuyện không có tình tiết. Nếu vẫn câu chuyện về cuộc đời Tess nhưng được viết bởi một cách khác chắc chắn mình sẽ thích hơn. Cuốn này khiến mình liên tưởng đến "một chỗ trong đời", mình thấy hai cuốn gần như có cùng cách kể truyện. Chắc mình không hợp với nó lắm. Cuốn sách đề cập đến tất cả những vấn đề xoay quanh mỗi gia đình như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa các anh chị em trong nhà với nhau; chạm đến nhiều vấn đề của cuộc sống với đại diện là một người phụ nữ. Bắt đầu bởi một đám tang, kết thúc cũng bởi một đám tang và xuyên suốt cuốn sách là những cái chết khác bên cạnh Tess. Một người phụ nữ mờ nhạt mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu ngoài kia, việc đưa cuộc đời đó lên giấy với mình là thành công lớn nhất của tác giả. Nhưng mình có lẽ sẽ không đọc thêm cuốn nào khác của bà. Đánh giá: 5.5/10 Mời các bạn đón đọc Phố Academy của tác giả Mary Costello.
Đất Dữ
Cuộc đấu tranh tàn khốc nhằm giành lấy khu rừng Sanqueiro Grande – nơi có loại đất đen tốt nhất để trồng ca cao – cuốn rất nhiều người vào vòng quay điên cuồng của nó. Một bên là đại tá Horácio, với sự trợ giúp của tay luật sư có học thức và tài năng Virgilío Cabral, không từ thủ đoạn nào để chiếm đoạt hết đất của những điền chủ nhỏ trong vùng. Bên kia là anh em nhà Badaró: Juca và Sinhô, thích giải quyết mọi chuyện một cách nhanh, gọn bằng những cuộc mưu sát. Và nhiều, nhiều nữa những con người tìm đến vùng đất ấy để làm giàu. Ở đó, cuộc đời của họ gắn liền, xoay quanh, phụ thuộc vào những gốc ca cao để rồi cuối cùng kết thúc bên chính những gốc cây ấy. Ra đời năm 1943, Đất dữ của Jorge Amado viết về nền “văn hóa ca cao” đặc trưng của đất nước Brazil bằng tình yêu của tác giả dành cho quê hương xứ sở. Tác phẩm đã trở thành một trong những tiểu thuyết thành công nhất trong sự nghiệp của ông, được dịch ra nhiều ngôn ngữ, rồi chuyển thể thành kịch, phim và được khán giả đón nhận nồng nhiệt. *** Review Binh Boog: 6 tháng 6, 2018 Ngày, tháng, năm Em thân yêu Ngày chia tay em, anh ra đi với bao ước vọng sẽ giàu có trở về. Hành trang mang theo là niềm khát khao gây dựng cho mình được một đồn điền ca cao. Mỗi quả ca cao chín là một tấc vàng. Ở mảnh đất hứa ấy, ca cao là vàng, là sự giàu có. Nhưng em thân yêu ơi. Anh đã thực sự bị choáng ngợp bởi mảnh đất ấy. Nó không phải là mảnh đất hứa như anh đã tưởng tượng. Ở mảnh đất ấy là sự dữ dội của thiên nhiên. Quay đi quay lại xung quanh chỉ là những khu rừng âm u tăm tối, là những đầm lầy, là bùn đất. Là tiếng kêu của các loài động vật, là tiếng thét gào vĩnh biệt của chú ếch khi bị rắn độc nuốt. Là rắn bò ngổn ngang nhiều vô kể, phải luôn cảnh giác đề phòng với nọc độc của chúng. Là đối mặt với dịch sốt vô phương cứu chữa, là sốt rét rừng. Nhưng trên hết là máu. Máu ở đây đổ xuống mỗi ngày. Cái chết ở đây diễn ra như cơm bữa. Luật lệ nằm trong tay những kẻ mạnh. Người ta thanh toán, trừ khử, chĩa súng vào nhau để tranh dành địa bàn là những đồn điền ca cao hay khu rừng sẽ khai phá để trở thành đồn điền ca cao sau này. Em có thể hình dung những thế lực ở đây không khác gì những băng đảng mafia khét tiếng. Những cuộc ám sát, trừ khử, tranh dành không bao giờ chấm dứt. Người ta sai đi giết người dễ như đi chặt một cái cây. Cùng với ca cao và bùn đất nơi đây đã biến anh thành một con người khác mà chính anh cũng thấy thật xa lạ không còn là chính mình. Từ một người hiền lành và hoà nhã đầy tham vọng rồi anh cũng trở thành một con người thô bạo, một con quỷ một con người hèn hạ vô ích và nhu nhược, một kẻ giết người. Ngoài những lúc bắn giết thì trò giải trí duy nhất ở đây là gái điếm và cờ bạc. Những cô gái ở đây là công cụ giải trí thoả mãn cơn hứng của những tay chém giết hay những anh phu cày lưng lao động trên những đồn điền ca cao. Ca cao ở đây là sự sống, là vàng. Mỗi gốc cây ca cao ở đây là một xác người vun xới. Và anh rồi cũng sẽ là một trong những người nằm dưới gốc cây ca cao để hoà máu mình vào đất cho những đồn điền ca cao ngày càng được mở rộng. Máu và bùn đất sẽ vẫn hoà trộn vào nhau để vun xới cho những cây ca cao ở đây và sẽ luôn luôn tiếp nối trên mảnh đất này. Yêu em! *** Review Huy Minh: Trong lịch sử thế giới, đã có rất nhiều cuộc chiến liên quan đến những loại cây công nghiệp, có thể kể đến cuộc chiến tranh nha phiến hay mặt trận cao su. Đến với “Đất dữ”, tôi được chứng kiến một cuộc chiến mới: cuộc chiến ca cao, một cuộc chiến đẫm máu và đầy rẫy bạo lực với sự dẫn dắt của nhà văn Brazil Jorge Amado. Được viết vào năm 1942, “Đất dữ” – tên của cuốn sách đã nói lên câu chuyện của nó – cuộc chiến giữa hai nhà điền chủ để chiếm đoạt những đồn điền ca cao. Một bên là Horacio, người sẵn sàng gạt phăng tất cả những thứ gì cản đường để đạt được mục đích của mình, với điểm yếu duy nhất là người vợ nhỏ nhắn, luôn khao khát tự do Ester. Một bên là anh em nhà Badaro, cũng thèm khát vùng đất mà Horacio muốn chiếm đoạt, bất chấp thủ đoạn để trở thành người thắng cuộc. Với hệ thống nhân vật khá nhiều và dày đặc nhưng nhân vật trung tâm của cuốn sách không phải là bất cứ người nào trong câu chuyện, Jorge Amado chọn chính vùng đất là nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết của mình. Chúng ta bắt gặp một vùng đất vô luật lệ mà sự quyến rũ của tiền nhanh chóng thu hút mọi người từ khắp nơi đổ về mà trong đó có rất ít người trở về nguyên vẹn – cả về thế xác lẫn tâm hồn: “Người ta nói vùng đất này thực là cái mỏ vàng; người ta bảo có một người nào đó vừa xuống khỏi tàu thủy đã giàu ngay rồi; người ta nói là phố xa đều lát vàng, kiếm vàng cũng dễ như kiếm bụi.” Trong câu chuyện, Jorge Amado liên tục mô tả sự chuyển động song song giữa một bên là bọn điền chủ và tay sai của chúng, một bên là hơi thở tự nhiên của những khu rừng xung quanh – nơi bọn chúng khao khát phá bỏ để lập nên những đồn điền. Nhịp điệu của cuốn sách biến đổi không ngừng, mở đầu với sự chậm rãi và mô tả tỉ mỉ cảnh vật, những phong tục địa phương và giới thiệu từng nhân vật, lúc sau khi bạo lực bắt đầu leo thang thì Jorge Amado liên tục kéo người đọc với những diễn biến nhanh dồn dập, những cuộc giao dịch, những vụ giết người chớp nhoáng. Thông qua cốt truyện chính (cuộc đấu tranh giữa Badaros và Đại Tá Horacio), Jorge Amado mở cho tôi một cánh cửa để nhìn vào thời kỳ khi đồng tiền chi phối mọi thứ và làm thế nào mà bạo lực trở thành một vòng xoáy liên tục định hình cuộc sống của tất cả mọi người. Bạo lực chảy xuyên suốt cuốn sách theo một vòng lặp lại, không biết bao giờ kết thúc, những cây ca cao được tưới bằng máu của những người ngã xuống sau các cuộc tranh giành đất đai. Những nhân vật của Jorge Amado đôi lúc cũng bối rối, không chắn chắc rằng bạo lực sẽ giải quyết tất cả hay tiền sẽ là câu trả lời cho mọi chuyện: “Có tiền đâu phải là xấu, nếu như người ta không mong ước gì khác nữa. Nhưng nếu một người nào đó ở đời chỉ biết có tiền thì hắn quả là một thằng tồi. Người ta trở nên mù và điếc khi nói đến tiền.” Nhưng những suy tư ấy nhanh chóng bị gạt bỏ khi người ta bị cuốn vào cái vòng xoáy mà không thoát ra được. Hai nhân vật là đại diện cho những khao khát hướng thiện trong cuốn sách là Ester và Virgilio, cặp tình nhân luôn tha thiết được bỏ trốn đến nơi nào mà ban đêm họ có thể nhắm mắt ngủ an lành bên nhau mà không bận tâm đến những bạo lực, những cuộc tranh chấp, những kẻ thù. Nhưng quả thật, chỉ ao ước là không đủ, cần phải có can đảm đứng lên nữa. Những đoạn độc thoại nội tâm của hai nhân vật này là những đoạn dường như Jorge Amado muốn gửi gắm thông điệp thật sự của mình. Đây không phải là cuốn sách đầu tiên của Jorge Amado mà tôi đọc, vì vậy tôi thật sự cảm giác lạ lẫm với phong cách này của ông khi đã quên với sự huyền ảo trong các cuốn sách khác của ông, cũng có thể là được viết trong thời kỳ đầu trong sự nghiệp sáng tác, nên “Đất dữ” cũng kém đi sự uyển chuyển, kỳ bí như những cuốn sách khác, cũng có thể bởi tiếp cận một chủ đề có phần thực tế – ông lớn lên ở một đồn điền ca cao – nên ông chọn cách kể chuyện thô ráp, trực diện nhưng vẫn là một cuốn sách hấp dẫn, kỳ lạ dẫn tôi đến một thế giới hoàn toàn mới, mà tôi luôn khao khát được khám phá them nữa. *** Jorge Amado de Faria Leal (10/8/1912 - 06/8/2001)   Trong lịch sử văn học Brazil, không có nhà văn nào nổi tiếng, có uy tín và nhiều độc giả như Jorge Amado. Bằng những tác phẩm văn học và hoạt động chính trị không mệt mỏi, nhà văn cộng sản này đã được sự ngưỡng mộ của tầng lớp người nghèo khổ, người da đen bị áp bức.   Hầu hết những tiểu thuyết của Jorge Amado đều được thai nghén tại thành phố Salvador, thủ phủ bang Bahia thuộc vùng Đông Bắc vốn là thủ đô của Brazil c đến năm 1763.   Ra đời năm 1912 trong ngôi làng Ferradas, con một nông dân trồng ca cao, J. Amado trải qua thời thơ ấu trong một khu phố nghèo của Salvador mà mọi đường phố, ngôi nhà giờ đây vẫn gợi nhớ về quá khứ thuộc địa của Bồ Đào Nha từ thế kỷ 17.   Là nhà văn hiến mình cho sự nghiệp giải phóng người nghèo khổ, Jorge Amado bắt đầu cuộc chiến đấu từ nghề làm báo năm 14 tuổi. 5 năm sau, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên O País do Carnaval (1931) trong khi đang học luật tại Rio. Tuy nhiên, Amado không hề hành nghề luật sư mà tự nguyện đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Brazil, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng người nghèo. Cho đến những năm 1950 của thế kỷ trước, hàng loạt tác phẩm của Amado viết về người nghèo đã ra đời như: Cacau (Cacao, 1933), Suor (1934), Jubiabá (1935), Mar Morto (Sea of Death, 1936)…   Đến cuối những năm 50, các tác phẩm của Amado có một bước ngoặt sang hướng trào lộng và phê phán mà ông tự nhận là theo chủ nghĩa hiện thực XHCN. Các cuốn tiểu thuyết Gabriela, Cravo e Canela (Gabriela, Clove and Cinnamon, 1958) hoặc Dona Flor e Seus Dois Maridos (Dona Flor and Her Two Husbands, 1966) nói lên sức sống mãnh liệt của nhân dân Brazil. Đây là 2 cuốn tiểu thuyết được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, kể cả ở Việt Nam (cuốn Dona Flor và hai người chồng do NXB Đà Nẵng ấn hành năm 1987) và được dựng thành phim năm 1977 và 1984 do các nghệ sĩ tên tuổi Marcello Mastroianni và Sonia Braga thể hiện. Đây là phim thành công nhất trong lịch sử điện ảnh Brazil, đã được các đề cử cho giải Quả cầu vàng và Giải BAFTA.   Đã nhiều lần được đề cử giải Nobel, nhưng do bị thành kiến, Amado chưa lần nào đoạt giải. Năm 1998, đất nước Brazil của Amado là khách mời danh dự tham gia Hội chợ Triển lãm sách Paris trong đó tên tuổi Amado được tôn vinh xứng đáng. Những thành công của Amado có phần đóng góp không nhỏ của bà Zélia Gattai, người bạn đời cũng là một nhà văn và nhà trí thức có tên tuổi ở Brazil.   Các tác phẩm của J. Amado đã được dịch ra 50 thứ tiếng ở 55 nước trên thế giới và được chuyển thành phim, kịch. Ở VN nhiều tiểu thuyết của J. Amado đã được dịch: Đất dữ, Miền đất quả vàng, Ca cao, Têrêza, Dona Flor và hai người chồng, Gabriela nhành quế và hoa đinh hương… Một số tác phẩm được xuất bản tại Việt Nam: Biển Chết Dona Flor Và Hai Người Chồng Hảo Hán Nơi Trảng Cát Đất Dữ Hải Trình Ven Bờ   Các tác phẩm:  - O País do Carnaval (1931)  - Cacau (Cacao, 1933)  - Suor (1934)  - Jubiabá (1935)  - Mar Morto (Sea of Death, 1936)  - Capitães da Areia (Captains of the Sand, 1937)  - Vida de Luis Carlos Prestes (The Life of Luis Carlos Prestes,1942) also published as “The Knight of Hope”  - Terras do Sem Fim (The Violent Land, 1943)  - São Jorge dos Ilhéus (1944)  - Seara Vermelha (1946)  - Os Subterrâneos da Liberdade (1954)  - Gabriela, Cravo e Canela (Gabriela, Clove and Cinnamon, 1958)  - A Morte e a Morte de Quincas Berro Dágua (The Two Deaths of Quincas Wateryell, 1959)  - Os Velhos Marinheiros ou o Capitão de Longo Curso (Home Is the Sailor, 1961)  - Os Pastores da Noite (Shepherds of the Night, 1964)  - Dona Flor e Seus Dois Maridos (Dona Flor and Her Two Husbands, 196  - Tenda dos Milagres (Tent of Miracles, 1969)  - Teresa Batista Cansada da Guerra (Tereza Batista: Home from the Wars, 1972)  - Tieta do Agreste (Tieta, the Goat Girl, 1977)  - Farda Fardão Camisola de Dormir (Pen, Sword and Camisole, 1979)  - Tocaia Grande (Showdown, 1984)  - O Sumiço da Santa (The War of the Saints, 1988)  - A Descoberta da América pelos Turcos (How the Turks Discovered America, 1994)  - Navegação de Cabotagem (1992)  - O Compadre de Ogum>(Companion of the God Ogum, 1995)  Mời các bạn đón đọc Đất Dữ của tác giả Jorge Amado.
Tôi Cần Một Cái Khuôn Khác - Méo Mó Cũng Được!
“Tôi cần một cái khuôn khác, méo mó cũng được!” là chuyến hành trình dài đi tìm bản ngã của tác giả trẻ Lê Bùi Thảo Nguyên. Với hai mạch truyện đan xen nhau, tác phẩm như một cuốn tự truyện chia sẻ những suy nghĩ, những trăn trở về ý nghĩa của bản thân đối với cuộc sống này. Cuốn sách là tác phẩm đầu tay của Lê Bùi Thảo Nguyên sau khi nghỉ việc ở một bệnh viện phụ sản lớn nhất nhì miền Nam để đi tìm cho mình một lối đi riêng. Ngay từ những dòng đầu tiên, độc giả sẽ lạc bước vào trong tâm tư của một cô gái nhìn từ bên ngoài tưởng chừng rất trưởng thành, mạnh mẽ, bình lặng nhưng ở phía sâu thẳm trong tâm hồn, trong suy nghĩ là hố sâu hun hút, gió cuộn sóng trào. Nguyên bị mắc kẹt, bị giằng xé giữa hai cái khuôn trong một con người. Một cái khuôn do người ngoài tạo nên với hình ảnh Nguyên học giỏi, Nguyên làm tốt, Nguyên có công việc ổn định cùng cơ hội thăng tiến cao. Nguyên ở bệnh viện phải học cách bỏ qua cảm xúc của bản thân, chấp nhận nỗi đau một cách bình thản, không kêu ca, không than vãn nhưng cũng không hạnh phúc. Và một cái khuôn khác, méo mó, không hoàn hảo, đang đi tìm hình dạng của chính mình, nhưng đó mới chính là con người thật của Nguyên. Một Nguyên chân thành, đầy hào hứng, đầy cảm xúc, mong mỏi được khám phá chân trời rộng lớn, tự mở lấy lối đi, dù là ốc đảo xanh tươi hay sa mạc cằn khô. “Cuộc sống có nhiều thứ không thể kiểm soát hết được, hãy cứ làm những gì mình cho là đúng, và đảm bảo rằng mình có thể ngủ ngon suốt quãng đời còn lại với những việc làm đó". Xuyên suốt cuốn sách, người đọc bước vào dòng cảm xúc được kể đan xen với nhau giữa khoảng thời gian của Nguyên trong ngành Y từ khi đi thực tập đến khi làm việc trong bệnh viện và những ngày tháng Nguyên rong ruổi khắp miền đất nước. Khi Nguyên bắt đầu những chuyến đi của mình, nhiều người nghĩ Nguyên “hư”, nổi loạn. Nhưng đó không phải sự nổi loạn trong bất chợt. Đó là chuyến hành trình dài để thành thật với bản thân. Đằng sau mỗi chuyến đi, không chỉ là sự trải nghiệm, ngắm nhìn cuộc sống mà còn sự trưởng thành hơn, chậm rãi hơn, kiên nhẫn hơn và thấu hiểu chính mình nhiều hơn cùng những kỷ niệm đầy ắp cảm xúc. Mỗi địa danh trong câu chuyện của Nguyên không hề hoa mỹ, rực rỡ, đơn giản là một cảm giác rất gần gũi, thân quen. Đó là một Hà Nội nhẹ nhàng, da diết, một Huế cổ kính, êm đềm, cơn lạnh buốt của Đà Lạt thơ mộng hay vùng núi bạt ngàn được phủ đầy sương mờ phía Bắc.  Đồng thời, qua những chia sẻ chân thành của Nguyên, độc giả một phần nào đó thấu hiểu được những khó khăn, vất vả trong ngành y. Những cuộc cấp cứu khẩn giữa đêm khuya, những bệnh nhân không qua khỏi, cảm giác lạnh lẽo và u ám giữa những hành lang hun hút ở bệnh viện cùng nỗi đau tích tụ dần, đè nén, âm ỉ cháy trong lòng. Cũng như cách Nguyên lựa chọn để đối mặt với áp lực công việc, vượt qua ám ảnh nghề nghiệp, tâm lý đè nặng trên đôi bàn tay. “Nghề của tôi là ngăn chặn những cơn đau và thức canh cho người khác ngủ, nhưng chính bản thân tôi lại thao thức hằng đêm". Cuối cùng, sau những ngày tháng trôi nổi vô định giữa thế gian, khi Nguyên quyết định sống thật chính mình cũng là lúc cô tìm thấy ý nghĩa của bản thân. “Cảm giác lúc này hơi giống chuyến đi miền Trung khi vừa mới tốt nghiệp, khác chăng, mọi thứ không còn mông lung, mờ mịt, khi mà tôi biết rõ mình cần làm gì tiếp theo". Tôi cần một cái khuôn khác, méo mó cũng được! không chỉ là câu chuyện của một cô gái trong ngành Y mà còn là câu chuyện của mỗi người trẻ vừa mới chập chững bước vào xã hội này. Sự bất công, nỗi đau, cảm giác lạc lõng, cô đơn, chán nản, mong muốn được trốn chạy nhưng cuối cùng cũng phải quay về với thực tế “trần trụi”. Mỗi người chúng ta ai cũng có một cái khuôn và gói mình theo hình dáng của nó. Và không phải ai cũng đủ can đảm để bước ra khỏi khuôn đó, bước ra khỏi những định kiến, suy nghĩ của người khác gắn cho mình, bước ra khỏi vỏ bọc của bản thân để cất lên tiếng nói từ sâu thẳm. Như Nguyên nói: “Bạn chỉ sống một lần duy nhất, hãy tử tế với bản thân mình, hạnh phúc, rồi những người thật sự yêu thương bạn cũng sẽ hạnh phúc”. Cách kể chuyện nhẹ nhàng, giản dị của Nguyên sẽ khiến cho tâm hồn người đọc cảm nhận như chính mình đang trải qua những đoạn đường, những cung bậc cảm xúc lẫn lộn. Để rồi, từ đó tạo ra sự đồng điệu, gắn kết, chạm đến trái tim của người đọc, khi mà ai cũng thấy thấp thoáng hình bóng mình trong đó. *** Lúc này, có lẽ là thời điểm thích hợp nhất để sống cho trọn vẹn chữ “hư”! Tôi có nhiều hình xăm, khắp người, và chắc sẽ còn nhiều nữa. Cái đầu tiên được “tậu” vào tháng 5/2015. Những bạn nam từng uống rượu và bia với tôi đều trố mắt “Cậu uống khỏe thật!” Nhiều người, thậm chí còn rất thích ngồi uống với tôi, vì cảm thấy thoải mái, không phải giữ kẽ, vừa có gái để tâm tình, vừa có bạn nhậu, uống được từ đầu cuộc đến tàn canh. Tôi hút thuốc lá! Không nghiện, chắc chắn thế, có thể cả tháng không hút, nhưng cũng có thể, rít hết một bao, trong vòng 2 tiếng! Tôi có thể ngủ với rất nhiều đàn ông! Vâng, trên cùng một giường, theo đúng nghĩa đen, là ngủ. Với con dao nắm chặt trong tay, sẵn sàng ăn thua đủ với bất cứ ai muốn chạm vào người mình. Tôi có thể thay quần áo trong căn phòng có một nam bạn khác, chỉ với yêu cầu bạn ấy quay mặt đi. Tôi có thể ở nhờ nhà một bạn nam, rồi chui vào phòng bạn ấy, leo lên giường của bạn ấy mà ngủ, với bạn ấy, kệ gia đình bạn ấy nghĩ gì. Hẳn tôi là đứa vô duyên, nếu nhận là thứ nhì, thì không ai dám nhận thứ nhất. Và… Tôi được nuôi dạy rằng, mượn của ai cái gì, thì nhất quyết là phải trả, cho dù đó là miếng giẻ nhàu nhĩ. Thứ gì không phải của mình, tuyệt đối không được lấy. Khi đã từ chối tình cảm của ai đó, tuyệt nhiên không nhờ họ chở đi đâu chơi, đi ăn, không nhận quà từ họ. Nói chung là không khiến cho họ hy vọng, không “vờn”, không lợi dụng, không biến họ thành osin, bạn, anh trai, em trai, hay bất cứ thứ gì. Họ có quyền được tôn trọng. Tôi từng lỡ tựa đầu vào vai một người thương mình, bảo họ đừng đi, và khóc trước mặt họ, chỉ thế thôi. 5 năm trôi qua, mỗi lần nghĩ đến, tôi vẫn cảm thấy rất có lỗi với người đó. Vì rõ ràng, tôi không có tình cảm với họ. Vì suýt nữa, tôi đã gật đầu, để khỏa lấp nỗi đau, bởi một người khác, cho dù cái “suýt” ấy chỉ mới lướt qua trong suy nghĩ. Tôi cảm thấy buồn nôn, khi phải cố tỏ ra là “ngoan”, theo tiêu chuẩn của mọi người: Con gái phải nhu mì, phải yểu điệu thục nữ, phải yếu đuối, để người khác chở che thậm chí phải “thủ đoạn”, phải “diễn”, để đổi lấy sự quan tâm vụn vặt, từ người khác, từ người mình thương. Tôi sợ làm người khác tổn thương, hay là buồn, hay là lo lắng, nhất là đối với người tôi thương. Nên, mỗi lời nói hay hành động mà tôi quyết định làm họ đau, cũng chính là, tự hủy hoại mình. Tôi không nói dối được, nhất là những lời nói dối để làm lợi cho mình. Có người từng nói, “thật” quá sẽ khổ lắm. Đã rất nhiều lần, tôi muốn mình tan biến đi cho xong, chứ đi ngược dòng, va phải hết người này đến người kia, đau lắm. Dĩ nhiên đó chỉ là suy nghĩ trong vài ba phút yếu đuối, lạc lòng mà thôi. Sống mà cứ mãi làm một con số nguyên tố chẳng dễ chút nào. Nhưng, rũ bỏ hết trách nhiệm của mình với những hợp số xung quanh để trốn, lại sợ họ sẽ buồn. Tôi vẫn luôn làm tốt những điều người khác giao cho mình, tôi tự tin nói như vậy. Cho nên, chưa ai từng hỏi tôi có vui không, tôi thực sự muốn gì. Họ chỉ bảo sao, tôi làm tốt vậy, nên thực sự thấy tiếc, khi tôi dừng lại. Nếu tiếp tục, Nguyên sẽ thành công đấy, sẽ tiến xa, sẽ leo cao đấy! Nếu tiếp tục, Nguyên sẽ vỡ tan ra đấy! * Với tôi, khi mình thương một người, cho dù người ta có ghét mình đi chăng nữa, thì dù một lời buông lơi với người đàn ông khác thôi, cũng đã là phản bội, chính trái tim mình. Tôi từng cố buông thả bản thân, cố im lặng để cho một người đàn ông chạm vào mình, trần trụi, để rồi đến cuối cùng, đẩy họ ra, “Em không làm được!” Sau đó, nhốt mình rất lâu trong nhà tắm, nôn mửa, kỳ cọ, tự ghê tởm mình. Trên những cung đường, tôi hay bắt gặp những ánh mắt thảng thốt nhìn mình. Người lịch sự thì bảo em là con gái mà “gan”, dám đi một mình. Vài người khác buông một chữ “liều”, rồi tặc lưỡi lắc đầu. Có lần, đứng trong bếp nhà cậu bạn ở xa Sài Gòn gần 2000 kilômét, bác cậu ý tứ nhỏ nhẹ: “Bố mẹ trong Nam cho con gái đi như vậy chứ ngoài này không có đâu.” Trong rất nhiều cuộc nói chuyện, sau khi tìm mọi cách thuyết phục rằng cách sống của tôi là sai nhưng thất bại, người đối diện thường chốt lại bằng câu “Em đi vậy ba mẹ em không nói gì hả?” Họ nghĩ, đó sẽ là đòn cuối cùng khiến tôi không còn trụ vững. Nhưng, điều may mắn nhất của tôi từ trước đến giờ không phải là có ba mẹ hiểu mình, mà đó là có ba mẹ chấp nhận được những suy nghĩ của mình, dù cho suy nghĩ đó có dị biệt. Hãy cứ làm những gì con muốn, miễn là cái “muốn” đó không làm hại đến ai, con vui vẻ hạnh phúc, và có thể tự nuôi sống được bản thân mình. Ba mẹ tôi là thế đấy, không ép uổng, chỉ đưa ra lời khuyên, sau đó, để con tự lựa chọn. Dĩ nhiên, tự làm tự chịu, điều đó giúp tôi chính chắn và có trách nhiệm với bản thân mình hơn. Nhờ họ, tôi chưa bao giờ thấy dằn vặt với những duy nghĩ không giống ai của mình. Và dù độc hành trên hầu hết mọi chặng đường, tôi vẫn thấy bản thân chưa bao giờ đơn độc.   Mời các bạn đón đọc Tôi Cần Một Cái Khuôn Khác - Méo Mó Cũng Được! của tác giả Lê Bùi Thảo Nguyên.
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn là sự kiện đưa đến nhiều dị biệt nhất về mặt quan điểm hay nhận thức. Nổi bật nhất là quan điểm đưa ra cách nay hơn nửa thế kỷ, coi phong trào Tây Sơn như cuộc nổi dậy của giới nông dân bị áp bức, bóc lột, chống lại nhà Nguyễn thối nát và mang lại công bằng xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân. Sự lý tưởng hóa hầu như mọi hoạt động của phong trào Tây Sơn đã dẫn đến một số nhận định chủ quan về thực chất của phong trào này và cũng từ đó, nhiều sự thật lịch sử liên quan đến phong trào chưa được làm sáng tỏ *** Phàm là một người ham mê lịch sử và văn chương, cầm cuốn sách này khó có thể dứt ra được. Rất giống cảm giác thuở học trò đọc Tam quốc diễn nghĩa hay Thủy hử, bạn sẽ bị cuốn sách lôi cuốn ngay cả khi đang ăn hay trước lúc đi ngủ. Sẽ rất nhiều người mải theo cách dẫn dắt của tác giả mà quên khuấy cả giấc ngủ trưa, thậm chí cho qua cả một đêm trắng. Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh mô phỏng cách viết chương hồi của La Quán Trung, Thi Nại Am và những tiểu thuyết gia Trung Quốc xưa, một cách kể chuyện như lùa người đọc vào hết mê hồn trận này đến những bí sử kia, mang đến cho người đọc cái không gian, thời gian, những sự kiện lịch sử, những chân dung tiêu biểu… làm nên gương mặt xã hội Việt Nam đầy biến động và bi thương, hiển hách và bi tráng suốt nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Lê Đình Danh viết về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ với một bối cảnh rộng lớn hơn, đặt các nhân vật của Tây Sơn trong mối quan hệ trực diện, đối nghịch, một mất một còn với chúa Nguyễn Đàng Trong, chúa Trịnh Đàng Ngoài và Vương quốc Đại Thanh thời vua Càn Long hùng mạnh. Tây Sơn bi hùng truyện thu hút người đọc không chỉ ở tư liệu lịch sử phong phú, kiến văn dồi dào, mà còn ở bút pháp dựng truyện, xây dựng nhân vật khá thành công. Ngoài hai nhân vật Nguyễn Huệ, Nguyễn Phúc Ánh, hàng loạt các nhân vật thuộc các phe Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn và cả các tướng Mãn Thanh đều được tác giả phác họa khi thì bằng một vài chi tiết đặc sắc, khi kỳ công dẫn dắt qua hàng loạt các sự kiện, mối quan hệ đan xen phức tạp, ví như các nhân vật Ngô Thì Nhậm, Ngọc Hân công chúa, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm, Võ Tánh, Bùi Đắc Tuyên, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Vũ Tâm Can v.v… Đọc sách, mà như được xem một cuốn phim lịch sử đầy bi thương hùng tráng, được xúc động, yêu thương với người anh hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ. Nhà văn Hoàng Minh Tường *** Tại Đàng Ngoài, Tĩnh Đô Vương lộng hành giết chết Thái tử. Ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan lập mưu đoạt quyền Đô Thống. Tại Đàng Ngoài, Tĩnh Đô Vương lộng hành giết chết Thái tử. Ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan lập mưu đoạt quyền Đô Thống. Nước Nam, người Lạc Việt, từ khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, mười năm kháng chiến đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Lê Lợi lên ngôi vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ lập nên nhà Hậu Lê đặt tên nước là Đại Việt (năm Mậu Thân - 1428). Vua Thái Tổ truyền đến đời con cháu là Thái Tông, Thánh Tông đều là những bậc anh quân vì dân vì nước. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình, muôn dân no ấm. Lúc bấy giờ người dân trong nước truyền tụng câu ca rằng: Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Lúa thóc đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn. Nhà Hậu Lê truyền ngôi được trăm năm, đến đời vua Chiêu Tông thì Mạc Đăng Dung soán ngôi vua lập nên nhà Mạc vào năm Đinh Hợi (1527). Lúc bấy giờ có quan Hữu vệ Điện tiền tướng quân An Thạch Hầu Nguyễn Kim cùng rể là Trịnh Kiểm tìm dòng dõi vua Lê Thái Tổ lập lên làm vua rồi đem quân chiếm đất Nghệ An đánh nhau với nhà Mạc. Sau Nguyễn Kim chết, binh quyền về tay Trịnh Kiểm. Kiểm sợ con Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tranh quyền với mình, bèn giết chết Nguyễn Uông. Trịnh Kiểm lại có ý xưng làm vua, nhưng thấy lòng người còn thương mến nhà Lê nên sai sứ vào Hải Dương hỏi ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình bảo: - Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt nên tìm giống cũ mà gieo mạ. Rồi Trạng sai đầy tớ quét dọn chùa rồi đốt hương khấn rằng: Giữ chùa thờ phật thì ăn oản. Kiểm hiểu ý vẫn giữ vua Lê làm hư vị, còn mình nắm giữ hết quyền hành. Nguyễn Hoàng thấy Trịnh Kiểm giết anh mình là Nguyễn Uông sợ vạ lây đến thân, bèn lén vào hỏi ý Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng chỉ tay vào Nam nói: - Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân (một dãy Hoành Sơn dung thân ngàn đời). Hoàng lấy tình thâm ruột thịt nói với chị mình là vợ Trịnh Kiểm tên là Ngọc Bảo, xin với Kiểm cho Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa (Bình Trị Thiên ngày nay). Ấy là vào năm Mậu Ngọ (1558). Sau Trịnh Kiểm chết, con là Trịnh Tùng lên thay quyền. Tùng đem quân đánh dứt được nhà Mạc. Tùng vẫn giữ vua Lê làm hư vị, còn mình tự xưng là chúa Trịnh. Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa thấy Trịnh Tùng xưng chúa ở Thăng Long, bèn tự xưng là chúa Nguyễn. Về sau Hoàng chết, con là Nguyễn Phúc Nguyên sai Đào Duy Từ đắp lũy Trường Dục ở Châu Bố Chánh (Quảng Bình ngày nay) chống nhau với quân Trịnh. Hai bên bắt đầu đánh nhau vào năm Đinh Mão 1627. Từ ấy về sau đất nước chia hai, lấy sông Linh Giang làm ranh giới. Từ sông Linh Giang trở ra tục gọi là Đàng Ngoài. Từ sông Linh Giang trở vào tục gọi là Đàng Trong. Hai Đàng đánh nhau ngót một trăm năm, tạo ra cảnh binh đao khói lửa, huynh đệ tương tàn, nhân dân ta thán! Ở Đàng Ngoài, Trịnh Tùng mượn tiếng tôn phò vua Lê nắm hết quyền hành. Thủa ấy trong nhân gian thường truyền miệng nhau câu sấm rằng: Chẳng Đế chẳng Bá, quyền nghiêng thiên hạ, Đến đời thứ tám, trong nhà dấy vạ. Họ Trịnh cha truyền con nối làm chúa ở Đàng Ngoài đến đời thứ tám là Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Lúc ấy vua nhà Lê là Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng có một người con lớn là Thái tử Lê Duy Vỹ. Duy Vỹ tư chất thông minh diện mạo khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn. Thường ngày Duy Vỹ đi ngao du sơn thủy kết giao với hào kiệt khắp vùng, ai ai cũng thương tài mến đức. Một ngày kia, trong cung điện, vua Hiển Tông đánh cờ uống rượu cùng các quan thái giám, Duy Vỹ vào trông thấy quỳ tâu: - Thưa Phụ hoàng, từ ngày nhà Lê ta trung hưng đến nay trải mười đời vua. Họ Trịnh tiếng là tôn phò nhưng thực chất là áp chế nhà Lê ta. Họ Trịnh muốn cho ai làm vua thì cho, muốn giết ai thì giết. Như hai trăm năm trước Trịnh Tùng giết chết Anh Tông Hoàng Đế. Rồi ba mươi năm sau Trịnh Tùng lại giết chết Hoàng Đế. Mới bảy mươi năm trước đây Dụ Tông Hoàng Đế bị Trịnh Cương bắt phải thoái vị nhường ngôi cho Thái tử Duy Phương. Thái tử Duy Phương làm vua được ba năm lại bị Trịnh Giang vu là thông dâm với vợ Trịnh Cương mà đem giết đi. Rồi đến lúc Phụ hoàng lên ngôi là do chính Trịnh Doanh đã buộc vua Ý Tông thoái vị nhường ngôi cho Phụ hoàng đó. Xét trong lịch sử từ trước đến nay chưa có quyền thần nào lại lộng hành tàn ác, khi quân phạm thượng như họ nhà chúa Trịnh. Vả lại xưa nay chỉ có nhà vua mới được quyền cha truyền con nối, chưa nghe nói đại thần mất thì con được lên thế chức bao giờ. Nay họ Trịnh xưng vương, cha mất thì con lên kế vị, ấy chẳng qua là vì không dám phế bỏ nhà Lê ta để làm vua mà thôi. Nay Phụ hoàng lên ngôi đã ba mươi hai năm mà mọi việc trong triều ngoài cõi Trịnh Doanh rồi đến Trịnh Sâm có cần bẩm báo gì với Phụ hoàng chăng? Sao Phụ hoàng cứ mải vui say với cầm kỳ thi hoạ mà không nghĩ đến việc lấy lại quyền hành của nhà Lê ta? Con vì giận họ Trịnh mà có đôi lời mạo phạm đến Phụ hoàng, xin Phụ hoàng thứ tội. Duy Vỹ trong lòng uất hận họ Trịnh nói luôn một hơi. Vua Hiển Tông nghe Vỹ nói xong liền quăng cờ, đuổi các thái giám ra ngoài rồi hốt hoảng nói: - Bọn nội thị này tiếng là hầu hạ cho ta, nhưng đều là tay chân của Trịnh Sâm cả. Sao con lại buông lời càn rỡ? Nếu đến tai Trịnh Sâm mạng ắt chẳng còn! Duy Vỹ nghe cha nói thế lại càng giận lắm, đứng dậy nói lớn: - Sao Phụ hoàng lại sợ thằng nghịch tặc ấy đến thế? Nếu Phụ hoàng giữ mình để mưu việc lớn thì con thật là khâm phục. Còn Phụ hoàng vì sợ như bề tôi sợ vua mà im hơi lặng tiếng thì con thật lấy làm đau lòng lắm! Mời các bạn đón đọc Tây Sơn Bi Hùng Truyện của tác giả Lê Đình Danh.