Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gái Một Con

Gái Một Con - bộ truyện tâm lý xã hội đời thực hay của tác giả Nguyễn Nhật Thương.  Thùy là cô gái nhà quê thiếu hiểu biết, bị cưỡng hiếp trong một đêm mưa và từ đó mang thai không biết ai là cha đứa bé. Cuộc sống cơ cực khi cái thai ngày càng lớn dần, hàng xóm miệt thị cha mẹ ruồng bỏ, cô bỏ lên thành phố khi mang thai tháng thứ 8, chuỗi ngày đầy tủi nhục lại tiếp diễn.. *** - Kìa, con nhà bà Loan đấy, tí tuổi đầu mà bụng đã ỉnh lên rồi. - Con Thuỳ đấy hả, nghe nói nó chửa hoang mà, không biết bố đứa bé là ai luôn. - Ôi dào, bọn mới lớn bây giờ đàn đúm lắm, cứ tụ bạ với mấy thằng thanh niên làng bên rồi ỉnh ra, biết được của đứa nào. Những lời bàn tán, vài cái chỉ trỏ, ánh nhìn miệt thị đều chĩa thẳng vào tôi, một cô gái chỉ mới 17 tuổi nhưng đã chửa ở tháng thứ 8. Nghiệt ngã 1 chỗ tôi lại chẳng biết bố đứa trẻ là ai. Nhà tôi thuộc loại hộ nghèo của xã, bố mẹ tôi cũng đã có tuổi nhưng vẫn phải đi cày ruộng thuê cho người ta, ai có sai gì thì làm nấy. Dưới tôi còn 2 đứa em, 1 trai, 1 gái. Đứa em trai đã học lớp 8 hay gọi nó là Tèo, còn đứa em gái mới chỉ 5 tuổi, đứa con muộn của bố mẹ tôi nên tôi hay gọi nó là Út. Tôi lên lớp 10 đã nghỉ học để đi làm thêm, chứ nhà đã nghèo còn nuôi 5 miệng ăn thì mình bố mẹ tôi không đủ. Hoàn cảnh của nhà tôi thường xuyên phải chạy sang hàng xóm vay từng bò gạo, xin từng cọng rau. Nói thật, với độ tuổi như tôi bảo tôi đi xin xỏ như vậy cũng có chút xấu hổ. Rồi vào 1 cái đêm mưa tầm tã cách đây khoảng 8 tháng, mẹ tôi sai tôi cầm 2 bò gạo sang trả cho bà Lý ở làng bên. Tôi nói trời mưa nên để mai nhưng mẹ tôi nói bà ấy sang đòi nhiều lần rồi nên không kéo dài nữa. Tôi với tạm chiếc nón đã nát che lên đầu rồi chạy vội sang làng bên, trời mưa, đường làng lại đất bùn dễ trơn trượt, đèn thì lại yếu, tôi phải dò dẫm từng bước mới đến được cái nhà 2 tầng đang bật đèn sáng trưng mà gọi cửa: - Bà Lý ơi! Tiếng chó ở trong nhà sủa vang lên cả xóm, người phụ nữ có hình dáng mập mạp ì ạch đi ra: - Đứa nào đấy? - Cháu Thuỳ, con mẹ Loan. Mẹ cháu bảo sang trả cho bà 2 bò gạo tuần trước vay. Bà ta nghe vậy liền lấy cái ô bật lên rồi đi ra: - Cả buổi thì đéo đến, mưa gió lại mò đến. Tôi đưa 1 túi bóng đựng 2 bò gạo được buộc kỹ qua song cửa cổng cho bà. Bà Lý cầm lấy nó rồi quát lên: - Giời ạ, trời mưa thì phải cho nó vào cái gì chứ, mày để như thế này thì còn đéo gì là gạo nữa. Tôi nghe vậy liền lấy bàn tay lên vuốt gương mặt đã ướt như chuột lội rồi nói với bà: - Cháu buộc kỹ rồi, không sao đâu bà. - Thế này mà không sao à? Tao cho nhà mày mượn gạo tử tế, giờ mày trả cái đồ vứt đi như thế này à? Tôi nghe vậy cũng thấy khó chịu nhưng vẫn cố nhịn vì nhà tôi cũng thường xuyên vay mượn của bà: - Sao lại đồ vứt đi ạ? Gạo này nhà cháu vẫn nấu ăn bình thường, gạo ngon đấy ạ. - Nhà mày thì làm đéo gì có tiền mà mua gạo ngon. Nói rồi bà quăng túi gạo kia vào cái xô rác để ngay đấy rồi nói: - Thôi, về bảo với mẹ mày là tao cho. Đi về đi. Vay mượn kiểu này thì lần sau ai dám cho vay. Nói rồi bà liền đi vào nhà, còn tôi đứng đấy nhìn chằm chằm vào túi gạo đã nằm im ở trong xô rác đấy mà đôi mắt đỏ hoe. Cái cảm giác uất ức và nhục nhã sộc thẳng lên mũi, đi vay thì bị xỉ vả, đi trả thì cũng bị lăng mạ. Giữa con người với nhau, tôi tự hỏi họ có cần phải cay nghiệt đến như vậy không? Lững thững đi bộ trở về mà hai hàng nước mắt chua chát vẫn cứ chảy dài theo màn mưa. Bỗng 1 cơn gió lớn kéo đến thổi bay chiếc nón tôi đang đội, mưa trút xuống đầu làm tôi vội vã chạy đến 1 cái chòi bỏ hoang gần đấy. Cả người lúc này đã ướt nhẹp, gió thổi làm tôi lạnh mà run rẩy. Sấm chớp bắt đầu đánh ầm ầm khiến tôi khiếp sợ, cái bóng đèn vàng duy nhất thắp sáng đường đi bỗng nhiên vụt tắt, xung quanh chỉ 1 màu tối đen. Tôi run rẩy tìm chiếc điện thoại để bật đèn pin, nhưng sơ qua mới biết lúc đi không có mang theo. Đang định tính bỏ chạy 1 mạch về nhà thì từ 1 phía phát lên tiếng hát say sỉn của 1 gã nào đấy. Tôi sợ quá đứng lùi vào bên trong, gã say sỉn kia tay cầm 1 chiếc đèn pin nhỏ soi qua soi lại rồi chĩa thẳng vào người tôi làm tôi chói mắt phải đưa tay lên che: - Ế, em gái....trời mưa mà đứng đây làm gì? Đợi người yêu à? Đường thì vắng, lại tối đen, gặp một gã say ỉn thì đứa con gái nào chẳng sợ. Tôi không nhìn gã, cũng không trả lời định quay người chạy đi thì ai ngờ lão vứt chiếc đèn pin sang 1 bên rồi lao đến ôm chầm lấy tôi: - Ấy...chạy đi đâu...ở lại đây trú mưa với anh! Tôi lúc này hoảng sợ cực độ, cố gắng vùng vằng đẩy gã ra rồi la lên: - Bỏ tôi ra, đồ khốn nạn. Khi tôi đẩy được gã ra liền chạy đi, ai ngờ gã túm lấy tóc tôi giật ngược lại về sau rồi tát tôi 1 cái đau khủng khiếp: - Mẹ mày, mày nói ai là đồ khốn nạn đấy? Bố mày lại băm chết cụ mày giờ. Tôi đã bắt đầu có những tiếng khóc, trời lại tối chẳng rõ được mặt gã, 2 tay chỉ biết vung loạn xạ mà đánh trả lão rồi la lớn lên: - Cứu tôi với, làm ơn...có ai không? Gã vẫn không chịu buông tôi ra, thêm phần trời mưa to, sấm chớp đánh mạnh nên hầu hết mọi nhà đều đóng cửa không nghe thấy. Lúc này gã liền đấm mạnh vào bụng tôi, cơn đau khủng khiếp kéo đến khiến tôi không còn sức kháng cự. Gã túm đầu tôi kéo vào bên trong cái chòi, đẩy tôi ngã xuống đất. Tôi gào khóc khủng khiếp, lồm cồm ngồi dậy muốn bỏ chạy khỏi con thú hoang này nhưng gã nhanh tay túm được chân tôi kéo lại, 2 bàn tay bẩn thỉu dùng sức cởi khoá quần của tôi. Tôi kinh hãi cố gắng dẫy đạp, rồi gào lên: - Cút, thằng chó, tránh xa khỏi tao.....Có ai ngoài đó không? Cứu tôi. Lời vừa dứt, lão tát tôi thêm 1 cái nữa, sức của đàn ông làm tôi choáng váng: - Con đĩ, câm mồm cho bố mày không tao giết đấy. Tiếng sấm lớn vang trời, cơn mưa rào khủng khiếp, trời tối đen như mực, tất cả như đang hùa với gã mà chống lại tôi. Thi thoảng vài tia chớp loé lên, tôi chỉ kịp nhìn thấy đôi mắt đỏ ngàu như mãnh thú của gã, bàn tay vơ vội nắm đất ném vào mặt gã. Ông trời không có mắt, gã ra sức tát tôi rồi lại đấm vào bụng, cả người đau ê ẩm làm tôi chẳng còn sức chống cự. Chiếc áo sơ mi ướt nhẹp bị cởi phăng ra, quần bò cũng được kéo xuống đến cẳng chân, từng khấc da thịt tôi bị gão bấu xé đến đau nhức. Tôi còn chỉ biết gào khóc với trời, ai đó làm ơn giúp tôi thoát khỏi tên súc vật này. Nhưng trời cao chẳng nghe thấy, cái cảm giác đau đến xé da thịt khi gã đưa cái thứ bẩn thỉu ấy vào trong người tôi, nó thật khủng khiếp. 2 bàn tay tôi cào xuống mặt đất đến tứa máu, nước mắt với mưa ngoài kia phả vào làm người run rẩy và đau xót. Lần đầu tiên của tôi, cuối cùng cũng đã mất, mất bởi 1 kẻ say không rõ mặt, ở một nơi bẩn thỉu đến ngay cả chiếc giường cũng chẳng có, nó thê thảm và nhục nhã vô cùng. Con súc vật ấy ở trên người tôi mà bộc lộ thú tính, giọng nói của gã làm tôi ghê tởm, cơn đau từ phía dưới vẫn kéo đến từng đợt quặn thắt. Sau khi thoả mãn, gã mặc lại quần áo rồi bỏ đi như chưa có chuyện gì. Cả người tôi đau nhức gắng gượng ngồi dậy, giữa trời đen mà mò mẫm từng cái áo, cái quần mặc vào. Nước mắt suốt từ khi ấy đến giờ vẫn chưa ngừng lại, tôi thất thần lê từng bước dưới trời mưa giông đấy, ngửa mặt lên nhìn 1 mảng đen uất hận mà nức nở khóc. Tôi trở về nhà, cố giấu bố mẹ truyện này. Mẹ tôi thấy tôi ướt nhũn cũng lên tiếng hỏi: - Mưa sao không ở lại trú lúc rồi về? Tôi cố quay mặt mình về phía không ánh sáng mà nói: - Con thấy mưa lâu tạnh nên không trú nữa, giờ vào tắm 1 cái là được. Nói rồi tôi cũng né nhất có thể đi vào lấy quần áo rồi chạy vội vào nhà vệ sinh, đã phải dùng hết mấy chậu nước mới cảm thấy mình sạch sẽ 1 chút rồi mới trở về phòng mình. Thấy con Út đang nằm say sưa ngủ, tôi vẫn phải nhẹ nhàng trèo lên giường rồi quay lưng về phía nó, nước mắt lại chảy trào ra trong sự cố kìm nén của tôi. Tháng ngày về sau qua đi, tôi cố gắng quên cái đêm ám ảnh đấy nhưng có lẽ kiếp trước tôi gây nghiệp nên kiếp này phải gánh lấy hậu quả. Bụng tôi qua thời gian mỗi lúc 1 lớn lên, đến khi mẹ tôi sinh nghi và đưa đi khám mới biết thai đã được 6 tháng. Tôi còn nhớ cái ngày hôm ấy, bà mặc kệ tôi manh bụng chửa cầm cán chổi vụt vào người tôi rồi chửi: - Mẹ mày, đúng là con mất dạy, mày còn không nói là của đứa nào? Tôi khóc lóc đến sưng húp cả mắt, 2 tay cứ ôm lấy người minh mà nức nở nói: - Mẹ ơi, con xin lỗi, nhưng con thật sự không biết? Con là bị cưỡng bức. Bố tôi lúc này ở trong nhà ném cái ghế gỗ ra ngoài rồi quát lớn: - Mày còn già mồm à? Hay là ngủ với nhiều thằng quá nên không biết? Đúng là loại con gái hư hỏng, mày cút khỏi đây đi. Đừng bôi tro chát trấu vào mặt bố mẹ mày. Con Út thấy tôi bị đánh chạy lại ôm lấy chân mẹ tôi mà gào khóc: - Mẹ ơi, mẹ đừng đánh chị Thuỳ nữa, chị Thuỳ rất thương Út. Mẹ tôi vì giận quá cũng đẩy con Út ra làm nó ngã xuống rồ gào lên, tôi thấy vậy khóc lóc định chạy lại đỡ lấy nó thì bà lại cầm cán chổi vụt vào người tôi: - Loại mất nết, tao phải đánh chết mày! Thằng Tèo lúc này đi học về thấy vậy liền chạy lại đỡ lấy con Út rồi dỗ dành, nó đủ lớn cũng đủ sợ bởi những trần đòn từng chịu nên chẳng dám lao vào can ngăn. Bà con hàng xóm đã bắt đầu kéo sang đông rồi xúm lại, lúc này cô Hiền, nhà bên cạnh nhà tôi liền chạy đến can ngăn: - Thôi, đừng đánh nó nữa, chuyện đã lỡ rồi, giờ nó còn đang bụng mang dạ chửa, không may có như thế nào hỏng cả mẹ lẫn con thì lúc đấy hối không kịp. Bố tôi nghe vậy gương mặt tức giận rõ rệt mà quát lên: - Loại nó là phải đánh chết, sống làm gì cho xấu mặt. Tôi lúc này chỉ biết ôm cái bụng to của mình mà đứng đấy khóc. Không ai hiểu cho tôi, không ai tin tôi, tất cả chỉ trong phút chốc đều quay lưng lại, tôi đau ghê gớm, đau cả thể xác, đau lẫn tinh thần. Sau vài lời khuyên của mấy người hàng xóm, bố mẹ tôi mới dần xuôi, tôi cũng từ đấy mang thêm cái mác "con chửa hoang" ở trong cái làng này, để rồi đi đâu cũng bị mấy bà tám chuyện lôi ra bàn tán như vậy đấy. Mới đầu bị nói tôi còn tủi thân khóc, nhưng sau quen rồi nên cũng cố chai lỳ mà lờ họ đi. Giống như hôm nay, mấy bà vừa nói vừa chỉ trỏ đấy, tôi còn đi lại cười rồi chào từng người, sau đó còn thêm cho câu: "Hôm nay cháu thấy con A/thằng B nhà cô/nhà bác mới đi với ai vào nhà nghỉ ấy. Không nói khéo lại ỉnh ra thì khổ." Đấy, cứ phải đáp trả như vậy tôi mới hả dạ được. Con người mà, kẻ nào yếu thì kẻ đó thua thôi. Tôi đi trở về căn nhà mái ngói lụp xụp, con Út thấy bóng tôi từ trong nhà chạy ra ôm lấy chân tôi rồi xoa cái bụng đang lớn: - Chì Thuỳ, em bé sắp ra ngoài chưa? Tôi vòng tay xoa lấy đầu nó rồi dẫn vào trong nhà nói: - Sắp rồi, còn 1 tháng nữa là Út được bế cháu. Con bé nghe vậy thích lắm nhảy tưng tưng. Mẹ tôi lúc này từ trong bếp đi ra nói: - Làm sao rồi? Tôi nghe vậy nét mặt có chút buồn nhìn bà: - Con hỏi vài nơi nhưng không ai nhận cả. Bà lúc này cáu lên: - Ai mà nhận con chửa như mày làm. Rồi không may làm việc có sao thì họ gánh cục nợ à? Tôi nghe bà nói vậy cũng tủi thân lắm nhưng cố nhịn mà cúi mặt đi vào nhà thì bà lại lẽo đẽo theo sau: - 5 cái miệng ăn chưa đủ còn rước thêm cục nợ về nhà. Rồi đẻ đái thì bán nhà đi, con với cái, không biết kiếp trước tao gây ra nghiệp gì nữa! Tôi lúc này đã không nhịn được nữa mà ứa nước mắt ra rồi nói: - Mẹ không phải lo, con tự lo được! - Mày lo cái thân mày còn chưa xong thì mày đòi lo cái gì? Việc làm không có, rồi ôm cả cái cục nợ kia, đời chỉ có bốc cứt mà ăn. Tôi thực sự không thích bà nói đứa bé trong bụng là cục nợ. Cho dù nó không có bố, nhưng nó cũng là máu mủ của tôi, là cháu ngoại của bà, tại sao bà lại có thể cay nghiệt như vậy: - Con lo thế nào thì kệ con, mẹ không phải quan tâm. Có bốc cứt thì cũng là con chứ không phải ai cả mà mẹ phải lên tiếng. - A, con này, tao đang nuôi 2 đứa mày mà nói mày còn cãi lại à? Bố tôi lúc này từ ngoài đi vào lại quát: - Vả vào mồm nó, đúng là cái loại mất nết, loại bất hiếu. Tôi nghe đến đấy đã chẳng thể nào kìm chế nổi. Đi ra ngoài thì thiên hạ chửi bới, trở về nhà thì bố mẹ mỉa mai. Bao nhiêu uất ức tôi cố nhẫn nhịn liền bùng phát lên. Tôi gào trong nước mắt: - Bố mẹ cứ hở tí là đòi đánh con, ngày không đánh thì ngày lại chửi. Dù sao đứa bé cũng là cháu ngoại của bố mẹ mà. Ai ngờ tôi vừa dứt, bố tôi đi lại tát vào mặt tôi một cái rồi giận dữ nói: - Tao không có cái loại cháu hoang này. Gương mặt tôi đã đầm đìa nước mắt, tôi đưa tay lên ôm lấy 1 bên má đỏ rộp mà nhìn ông uất ức rồi gào lên: - Con không ở cái nhà này nữa? Con sẽ đi khỏi đây cho bố mẹ vừa lòng. Nói rồi tôi cũng bỏ chạy ra phía ngoài, bố tôi ở sau còn nói với theo: - Mày đi được thì mày đi luôn đi, đừng mò về đây nữa. Tôi khó lóc chạy ra đến phía cổng, thì con Út đang chơi bên hàng xóm chạy về thấy tôi liền túm lấy: - Chị Thuỳ, chị đi chơi à, cho Út đi với. Tôi nhìn thấy nó mà lòng đau khủng khiếp, từ từ ngồi xuống rồi đưa tay lên ôm lấy má nó, nói trong nước mắt: - Út ở nhà ngoan, nghe lời bố mẹ. Chị Thuỳ đi làm về sẽ mua nhiều đồ chơi cho Út nhé. Con bé nghe vậy lại không chịu liềm túm lấy tay tôi rôi mếu máo: - Không, Út không chịu đâu. Chị Thuỳ đừng đi. Nghe nó nói vậy mà cổ họng tôi nghẹn đắng, chậm rãi quay đầu lại phía sau nhìn căn nhà cũ kỹ đã từng là mái ấm mà chợt thấy đau lòng. Tôi quay lại hôn nhẹ vào trán con Út rồi nói: - Út ngoan, Út sẽ nghe lời chị Thuỳ nhé. Nói rồi tôi cũng đẩy con bé ra mà chạy đi, con Út thấy vậy lại khóc lóc đuổi theo 1 đoạn rồi ngồi phịch xuống đất mà gào lên. Tôi lúc này cứ phải tự nhủ lòng mình "không được quay lại, không được quay lại" mà cứ chạy thẳng về phía trước, về một tương lai mờ mịt mà tôi cũng chẳng thể nào rõ nữa.   Mời các bạn đón đọc Gái Một Con của tác giả Nguyễn Nhật Thương.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Đi Dây - Colum McCann
"Người đi dây" là cuốn tiểu thuyết cảm động, phản ánh cuộc sống người dân nước Mỹ trong thời chiến tranh với Việt Nam và những chuyển biến xã hội thập niên 70.   Người đi dây là cuốn sách viết theo thủ pháp tiểu thuyết mới của tác giả Column McCann. Tác phẩm đã nhận được giải thưởng Văn học quốc tế Impac Dublin 2011 và là cuốn sách bán chạy theo New York Times Tiểu thuyết gồm nhiều truyện dạng trọn vẹn và độc lập, nhưng các nhân vật và tình tiết đều có mối liên hệ với nhau. Tác giả mượn sự kiện có thực là nghệ sĩ đi dây qua hai tòa tháp trung tâm Thương mại thế giới tại New York để nói về những cuộc đời, phản ánh nước Mỹ thập niên 70 trong không khí xáo động vì chiến tranh Việt Nam lẫn những chuyển biến trong xã hội. Trong ánh rạng đông của một buổi sớm cuối mùa hè, người dân ở Manhattan đứng nín lặng, chằm chằm nhìn lên điều không thể tin nổi ở tòa tháp đôi. Đó là tháng 8, năm 1974, và một người biểu diễn bí ẩn hết chạy lại nhảy trên sợi dây chăng giữa những tòa tháp, lơ lửng cách mặt đất một phần tư dặm. Dưới đường phố, biết bao nhiêu những cuộc đời bình dị đã trở nên phi thường trong bức chân dung lộng lẫy về một thành phố và những con người của nó, được phác họa bởi ngòi bút tiểu thuyết gia xuất sắc Colum McCann, những con người ấy được liên hệ với nhau theo những cách mà chính họ cũng không hề hay  biết. Người đi dây đã nắm bắt được cái hồn của nước Mỹ trong buổi giao thời, với triển vọng phi thường, và ẩn sau là một sự vô tội đến xé ruột. Góc nhìn tinh tế của tác giả khai thác được những khía cạnh rất đời thường mà gây cảm động sâu sắc. *** Colum McCann sinh ngày 28/02/1965 tại Dublin, Ireland. Hiện sống cùng vợ và ba con ở New York và đang giảng dạy tại chương trình Viết Sáng tạo, trường Hunter College. McCann được xem là một người nghệ sĩ quốc tế, sinh ra tại Ireland nhưng ông đã đi du lịch hầu như khắp thế giới. Đến Hoa Kỳ năm 1986, trong hai năm trên chiếc xe đạp ông đã đi khắp nước Mỹ với quãng đường 12.000 km. Rồi cùng vợ Allison sống ở Nhật 18 tháng trước khi đến New York. Trong một bài phỏng vấn, McCann đã chia sẻ "Tôi tin vào sự bình đẳng của những câu chuyện. Tôi yêu sự thật rằng những câu chuyện của chúng ta có thể vượt qua tất cả các loại biên giới và ranh giới. Tôi cảm thấy khiêm nhường khi biết rằng mình chỉ là một phần nhỏ bé của nền tri thức văn chương. Tôi lớn lên trong một ngôi nhà, ở một thành phố, trong một quốc gia được hình thành từ những quyển sách. Tôi không biết còn có đặc ân nào lớn hơn việc được kể lại những câu chuyện hay lắng nghe chúng. Đó là điều làm cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn." Colum McCann là tác giả của 6 tiểu thuyết và 2 tập truyện. Tác phẩm của ông đã được xuất bản với hơn 35 ngôn ngữ, và đã xuất hiện trên các tờ New Yorker, Esquire, Paris Review, Granta, The Atlantic Monthly, GQ, Tin House, Bomb,... Ông là người nhận được nhiều danh hiệu quốc tế, giải thưởng Sách quốc gia Mỹ (The National Book Award) năm 2009, tiểu thuyết nước ngoài hay nhất năm 2010 ở Trung Quốc, giải Impac Dublin (2011), Hiệp sĩ Văn học Nghệ thuật từ chính phủ Pháp và một đề cử Oscar. Tiểu thuyết Let the great world spin (Người đi dây, NXB Trẻ) đã mang về cho Colum McCann rất nhiều giải thưởng lớn và dành được sự ca ngợi trên toàn thế giới. Trở thành tác giả sách bán chạy nhất trên 4 lục địa. Bản quyền phim Let the great world spin đã được mua bởi J.J Abrams đang trong quá trình bấm máy. Tiểu thuyết mới nhất của Colum McCann Transtalantic được xuất bản vào mùa hè 2013 bởi Random House (U.S), Blomsbury (U. K) và muộn hơn trên các nhà xuất bản nước ngoài khác như Belfond (Pháp) và Rowholt (Đức). Mời các bạn đón đọc Người Đi Dây của tác giả Colum McCann.
Lâu Đài Cát - Magdalena Witkiewicz
Bằng ngôn ngữ của nhà văn và sự nhạy cảm của phụ nữ, Magdalena Witkiewicz đem tới những cảm xúc hỗn độn của một người đàn bà trước vực thẳm hôn nhân. Veronika và Marek quen nhau khi còn là học sinh trung học. Sáu năm hẹn hò của họ kết thúc bằng một đám cưới hạnh phúc. Với Veronika, được kết hôn với mối tình đầu là một điều tuyệt vời. Mặc kệ những lời trêu chọc của cô bạn thân lẳng lơ Dominika: "Sẽ chán chết nếu chỉ kè kè với một người đàn ông", Veronika vẫn mỉm cười hạnh phúc, bởi người chồng Marek là quá đủ với cô. Họ luôn ở bên nhau, tận hưởng những cảm xúc ngọt ngào của tình yêu cho đến khi những bất ổn xuất hiện. Khi những cặp tình nhân xung quanh đã làm cha mẹ, Veronika và Marek vẫn là vợ chồng son. Veronika rất yêu trẻ con và luôn mơ ước sẽ sinh cho Marek những đứa con xinh xắn. Nhìn con gái đáng yêu của cô bạn thân Eva, ước mơ đó càng mãnh liệt. Cô bắt đầu bàn bạc nghiêm túc với chồng về chuyện sinh con. Cô bắt chồng ăn uống và sinh hoạt điều độ để khả năng thụ thai cao hơn. Điều này làm Marek không thoải mái và mâu thuẫn dần nảy sinh giữa hai người. Nhưng mọi thứ vẫn không như ý muốn. Cuối cùng, cả hai quyết định tìm đến bác sĩ. Kết quả kiểm tra sức khỏe như một lưỡi dao chĩa thẳng vào cuộc hôn nhân của họ. Mọi vấn đề đến từ phía Marek. Tinh trùng của anh quá yếu để thụ thai. Để tình hình được cải thiện anh buộc phải điều trị bằng thuốc. Marek bắt đầu thấy ngột ngạt khi Veronika lúc nào cũng đề cập đến vấn đề con cái. Ngược lại, Veronika bực bội khi thấy chồng hút thuốc và uống bia. Cô còn có cảm giác như chính Marek đã cướp đi cơ hội làm mẹ của mình. Đúng lúc đó Kuba xuất hiện. Bằng sự tinh tế và nhạy cảm của một người đàn ông từng trải, anh mang đến cho Veronika những lời khuyên hữu ích, làm tâm trạng của cô nhẹ nhàng hơn. Họ bắt đầu gọi điện và gửi email cho nhau. Cùng thời gian này, Veronika nghi ngờ Marek gian díu với Dominika. Cộng thêm việc anh suốt ngày vắng nhà và lấy lý do bận bịu công việc khiến khoảng cách giữa hai vợ chồng ngày một lớn. Marek quyết định ra đi để cho cả anh và Veronika có thời gian suy nghĩ thông suốt mọi chuyện. Ban đầu, tình cảm giữa Veronika và Kuba chỉ là tình bạn thuần túy. Nhưng khi Marek ra đi, họ đã trở thành bạn tình của nhau. Veronika hoàn toàn hài lòng với mối quan hệ này. Chỉ đến khi biết mình có thể đã mang thai với Kuba, cô mới nhận ra mọi khúc mắc trong lòng bấy lâu. Cô rất mong mỏi có con, nhưng khi biết mình có thể đang mang thai, Veronika lại không cảm thấy hạnh phúc như cô vẫn nghĩ. Cô nhận ra, cô yêu chồng nhiều hơn cả việc cô muốn có một đứa con. Bao lâu nay khát khao có con đã làm cô quên đi điều đó... Lần đầu tiên trong đời, Veronika cảm thấy may mắn khi mình không mang thai. Cô quyết định cắt đứt với Kuba và cho cuộc hôn nhân của mình thêm một cơ hội. Cuốn tiểu thuyết khép lại với cái kết hạnh phúc dành cho Veronika và Marek. Họ trở về bên nhau và có một cô con gái xinh xắn. "Hôn nhân không chỉ là sống cùng nhau và đeo nhẫn cưới mà là phải thấu hiểu và thông cảm cho đối phương" là ý nghĩa Veronika tìm được cũng là thông điệp của câu chuyện. Bằng bút pháp tinh tế của một nhà văn và sự từng trải của một người phụ nữ có gia đình, Magdalena Witkiewicz đã vẽ nên một bức tranh sống động và chân thực về tình yêu và hôn nhân. Tác giả không cho rằng tình yêu là vĩnh cửu. Bằng câu chuyện đầy thực tế, tác giả cho người đọc thấy, dẫu có là tình yêu đích thực vẫn luôn có một đặc tính: mong manh dễ vỡ. Giữ gìn một tình yêu cũng giống như xây một lâu đài cát, ta phải luôn để mắt đến nó để giữ không cho sóng cuốn đi. Lâu đài cát không chỉ là câu chuyện về một về một người phụ nữ đau khổ trước hôn nhân tan vỡ. Đó còn là câu chuyện của niềm khát khao làm mẹ đến vô bờ. Chính nỗi khát khao đó khiến con người ta đứng trước nhiều lựa chọn khó khăn. Magdalena Witkiewicz đã rất khéo léo khi xây dựng tính cách các nhân vật. Một Veronika với vẻ ngoài cứng cỏi nhưng bên trong lại rất yếu mềm. Cô là một người phụ nữ trưởng thành nhưng đôi lúc lại ngây thơ như một thiếu nữ.  Đó là Marek - một người chồng vừa cứng rắn, vừa cương quyết, nhưng vẫn tràn đầy yêu thương và luôn điềm tĩnh. Còn Kuba - người đàn ông tinh tế và mạnh mẽ - tưởng chừng rất tuyệt vời hóa ra lại là một người đàn ông nhu nhược và chỉ biết trốn chạy. *** Magdalena Witkiewicz là một cái tên quen thuộc trong dòng văn học lãng mạn Ba Lan. Ngoài Lâu đài cát, tác giả có một số cuốn tiểu thuyết khá nổi tiếng về đề tài phụ nữ và gia đình, đã ra mắt độc giả Việt Nam như: Trường học dành cho các bà vợ, Chuyện kể của người đàn bà không chung thủy... Lâu đài cát do Nguyễn Thị Thanh Thư chuyển ngữ, vừa được Nhà xuất bản Trẻ phát hành tại Việt Nam. *** “Lâu đài cát” – chúng tôi đã suy nghĩ rất lâu về tựa đề này. Tôi đã khăng khăng đòi cuốn sách phải có tên là “Trên khúc ngoặt”. Bởi nó nói về chuyện đó. Về những khúc ngoặt của cuộc đời, mà đôi khi chúng xảy ra hoàn toàn bất ngờ. Và đôi khi tưởng như sẽ dẫn đến một con đường thẳng. Nhưng lúc này, khi đọc lại một lần nữa toàn bộ cuốn sách, tôi hiểu rằng sự mong manh của lâu đài cát là phù hợp hơn cả... Tất nhiên là có một số người mà tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn vì sự ủng hộ trong quá trình viết. Nếu không có các bạn, thì cuốn sách sẽ không giống như cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay. Trước hết, xin cám ơn các bạn đọc nữ của tôi, nhưng người rất hiểu về chủ đề của cuốn sách và đã viết cho tôi. Tôi không thể kể hết tên các bạn ra đây được. Cám ơn Kasia Drywa vì sự giúp đỡ và Cô gái trên chiếc tàu xoáy cao tốc (có thể cuối cùng thì bạn ấy đã rời khỏi chiếc tàu cao tốc) vì cuốn nhật ký. Cám ơn cô bạn gái thân thiết của tôi, Gosia Lorek vì sự ủng hộ không ngừng nghỉ trong tất cả các giai đoạn hình thành nên tiểu thuyết này. Vì điều đó, tôi cũng cám ơn Ola Kucewicz-Nastaly – nhờ bạn mà những cái thai trong sách không đến nỗi quá hiển nhiên... Và như vậy sẽ hay hơn. Và nhờ bạn mà những calo được sử dụng trong phạm vi sáng tạo đã không bị phí phạm... Xin cám ơn! Cám ơn Ania Jarmolovska và Monika Borovska vì cuộc nói chuyện của chúng ta ở khu vui chơi. Nhờ các bạn mà tôi đã nảy ra những ý tưởng rất rối rắm... Và còn nữa Ania – cám ơn vì những tư vấn về tâm lý đối với các nhân vật của tôi. Tôi cũng xin cám ơn chuyên gia lớn nhất trong lĩnh vực thần thoại – cô gái hai mươi tuổi Sonia Domaradzka, người mà khi nghe tôi hỏi rằng, trong thần thoại Hy Lạp có nhân vật nào muốn có con nhưng không thể, đã suy nghĩ chỉ trong ba giây và trầm ngâm trả lời: “trong thần thoại Hy Lạp thì em không biết, nhưng trong thần thoại Ai Cập thì có Neftyda, người...” – và ở đây tôi đã biết đến mọi mối liên kết giữa Neftyda với các vị thần Hy Lạp... Cám ơn em, Sonia!!! Michalina Malczewska, xin cám ơn vì phần âm nhạc tuyệt vời và sự thể hiện ca khúc do tôi viết lời cho riêng tiểu thuyết này. Michalina đã đưa vào âm nhạc chính xác cái không khí của cuốn sách. Mời các bạn nghe ca khúc này trên trang web của tôi www.magdalenawitkiewicz.pl. Cám ơn Ania Grzyb vì sự ủng hộ trong từng giai đoạn viết cuốn sách này; Slawek – vì những tư vấn liên quan đến xe máy và không chỉ có vậy. Cám ơn Ivona Grodzka-Górnik, vì điều này: trên bảng của chị ấy tôi đã nhìn thấy sơ đồ cuốn sách của chị được viết ra rất tuyệt vời và tôi đã bỏ qua ý tưởng ấy. Cám ơn Kasia Bondz vì đã dạy Ivonka lập bảng kế hoạch. Các bạn có biết rằng đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi được viết theo sơ đồ dựng sẵn? Cám ơn mẹ tôi vì đã quán xuyến mọi việc (nhất là các con tôi), khi deadline hối thúc. Và Mai Witkiewicz, người đã trông nom các con tôi một cách kiên cường khi tôi ở Amalka để viết cuốn sách này. Kamilia Wyroślak, vì những bức ảnh đẹp, như mọi lần! Cám ơn ông xã tôi vì hình như anh đã nhất trí với việc tôi sẽ là nhà văn. Và cám ơn các con tôi – đơn giản vì sự hiện hữu. Vô cùng cám ơn Olga và Marysia. Vì sự tận tâm và vì các bạn yêu những gì mình làm. Hay ít ra cũng có vẻ như vậy. Và các bạn, NHỮNG BẠN ĐỌC YÊU QUÍ CỦA TÔI! Không có các bạn chắc sẽ không có tôi. Như thường lệ, tôi hết sức muốn biết nhận xét của các bạn về cuốn sách của tôi, về đứa con tinh thần thứ bảy này. Tôi chờ mail của các bạn ([email protected]) và xin mời các bạn đến với những cập nhật mới nhất trên Facebook www.facebook.com/witkiewicz. Magdalena Witkiewicz Mời các bạn đón đọc Lâu Đài Cát của tác giả Magdalena Witkiewicz.
Đói - Knut Hamsun
Harald Hjärne, Chủ tịch Uỷ ban Nobel Viện Hàn lâm Thụy Điển Căn cứ vào các qui chế của Quĩ Nobel, Viện Hàn lâm Thuỵ Điển đã trao giải Nobel văn chương năm 1920 cho nhà tiểu thuyết người Na Uy - Knut Hamsun, với tác phẩm Nhựa của đất (1917) (Markens grøde). Sẽ là thừa nếu đưa ra một tuờng trình chi tiết về quyển sách mà chỉ trong một thời gian ngắn đã được phổ biến rộng rãi khắp mọi nơi, cả bằng nguyên tác và bản dịch. Qua sự độc đáo về cốt truyện và phong cách, cuốn tiểu thuyết đã dấy nên sự quan tâm vô cùng sống động ở nhiều nước và được tiếp nhận nồng nhiệt bởi nhiều tầng lớp độc giả khác nhau. Mới đây, một nhà điểm sách hàng đầu và bảo thủ người Anh đã viết rằng quyển sách này chỉ mới xuất hiện ở Anh năm nay nhưng đã được dư luận ngợi khen là một kiệt tác. Lí do của thành công không thể phủ nhận này chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của giới phê bình văn học trong một thời gian dài, nhưng ngay từ bây giờ, với những ấn tượng đầu tiên, thiết tuởng cần chỉ ra những lí do ấy, ít nhất là những nét chính. Bất chấp những ý kiến hiện nay về thời đại chúng ta, những ai cho rằng trong văn học, cái cao hơn tất cả là sự tái hiện trung thành hiện thực thì sẽ thấy trong Nhựa của đất , sự tái hiện một cuộc sống là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của bất cứ xã hội nào nơi con người sinh sống và tạo dựng. Những miêu tả này không bị bóp méo bởi bất cứ hoài niệm nào về một quá khứ văn minh lâu dài. Hiệu quả tức thì ở chỗ khơi lên cuộc đấu tranh gay gắt ngay từ đầu giữa con người tích cực (dĩ nhiên trong những điều kiện bên ngoài khác nhau) bền bỉ chống lại một thiên nhiên bất phục và khắc nghiệt. Khó lòng hình dung sự đối lập nào choáng ngợp hơn giữa cuốn sách này với những tác phẩm thường được gọi là "cổ điển". Tuy nhiên, ta vẫn có thể gọi tác phẩm này một cách chính tắc là cổ điển, nhưng theo nghĩa sâu xa hơn, nếu ta dùng tính ngữ này thể hiện một điều gì đó khác hơn và nhiều hơn một lời ngợi khen mơ hồ. Cái cổ điển, trong nền văn hóa mà chúng ta thừa kế từ xa xưa, chỉ phần nào là cái hoàn thiện buộc ta bắt chước, còn phần nhiều là những gì có ý nghĩa, được rút ra trực tiếp từ đời sống và tái hiện dưới dạng một giá trị bền vững với cả các thời đại sau. Theo ý niệm này, những gì không có ý nghĩa, những gì tự chúng không quan trọng, chỉ có thể xem như cùng một loại với những gì được chính thức coi là tạm bợ hay khiếm khuyết. Nhưng ngoài ra, bất cứ điều gì quí giá trong cuộc sống con người, dù có vẻ bình thường, đều có thể xếp vào cùng một phạm trù với cái khác thường và cái sáng láng, với một ý nghĩa và dạng thức giá trị tương đương, chừng nào nó được hiển bày lần đầu tiên trong ánh sáng đích thực của nó. Với ý nghĩa này, không hề nói quá nếu cho rằng trong Nhựa của đất , Hamsun đã mang đến cho thời đại chúng ta cái cổ điển có thể so với cái đẹp nhất mà chúng ta từng có. Trong khía cạnh này, cái cổ xưa không có đặc quyền bất khả xâm phạm đối với các thế hệ sau, vì cuộc sống luôn luôn mới và phong phú vô tận, và có thể được tái hiện dưới những hình thức mới bởi những thiên tài mới. Tác phẩm của Hamsun là một bản hùng ca về lao động, trong đó tác giả nói về lao động bằng những áng thơ hoành tráng. Đây không phải là chuyện phân công lao động vốn chia rẽ những con người mà là chuyện lao động cần cù, tập trung, thứ lao động mà trong hình thức thuần khiết nhất của mình tạo nên toàn bộ con người, xoa dịu và mang lại gần nhau những tâm hồn chia cách, bảo vệ và gia tăng thành quả của mình trong một quá trình đều đặn và liên tục. Sức lao động của người tiên phong và người nông dân đầu tiên, với tất cả những khó khăn, dưới ngòi bút của nhà thơ, mang tính cách một cuộc đấu tranh anh hùng không hề thua kém chút nào so với cái vĩ đại của sự hi sinh lẫm liệt cho tổ quốc và chiến hữu. Cũng như nhà thơ nông dân Hesiod miêu tả lao động trên đồng ruộng, Hamsun đặt lên hàng đầu trong tác phẩm người lao động lí tưởng, người hiến trọn cuộc đời và sức lực mình cho việc vỡ đất và vượt qua những trở ngại mà con người và thiên nhiên dựng lên để chống lại anh. Nếu Hamsun đã vứt bỏ sau lưng mọi hoài niệm nặng nề về văn minh, thì tác phẩm của ông cống hiến một cách hiểu chính xác về nền văn hóa mới mà kỉ nguyên chúng ta đang chờ đợi sẽ nảy sinh từ tiến trình lao động chân tay như một sự tiếp nối nền văn minh cổ xưa. Hamsun không đưa ra cái gọi là "loại hình nhân vật" trên sân khấu của ông. Các nhân vật nam và nữ của ông đều sống động, ngay cả trong những tình huống khiêm nhường nhất. Vài người trong số họ, những người tốt nhất, có những mục tiêu và tư tưởng mà chúng ta không thể hình dung, ví dụ nổi bật là nhân vật chính, người nông dân trầm lặng và lao động không mệt mỏi. Những người khác thì buông xuôi phó mặc, bất an và thậm chí hoang mang bởi những khát vọng ích kỉ và ý nghĩ xuẩn ngốc. Tất cả họ đều mang dấu ấn của dòng máu Na Uy, tất cả đều bị nhào nặn bởi những "quả của đất". Một trong những đặc tính của các ngôn ngữ cùng gia đình Scandinavie chúng ta, đó là cùng một từ biểu thị những sắc thái ý nghĩa rất khác nhau thông qua những hình ảnh mà chúng gợi nên. Khi người Thụy Điển chúng ta nói "quả của đất", ta nghĩ ngay đến một thứ gì đó màu mỡ, dồi dào, ngon lành, nhất là ở một vùng nông nghiệp nào đó đã được canh tác lâu đời. Tư duy trong tác phẩm của Hamsun không đi theo chiều hướng này. "Đất" ở đây là một vùng đất hoang sơ hung hiểm, gồ ghề sỏi đá. Trái quả của nó không tự rơi xuống như là lộc của trời, trái quả của nó là tất cả những gì có thể nảy mầm và lớn lên trên một mảnh đất khô cằn, dù tốt hay dở, đẹp hay xấu, giữa con người hay động vật cũng như trong rừng hay trên đồng ruộng. Đây là những loại quả mà tác phẩm của Hamsun mang lại cho mùa gặt của chúng ta. Tuy nhiên, người Thuỵ Điển chúng ta, hay ít nhất là nhiều người Thuỵ Điển, không cảm thấy xa lạ về những phong tục, tập quán được miêu tả ở đây. Ta phát hiện nơi đây, bầu không khí miền Bắc với một phần hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, với nhiều điểm tương đồng hai phía biên giới (giữa Na Uy và Thuỵ Điển, ND). Hơn nữa, Hamsun cũng miêu tả những người Thụy Điển bị lôi cuốn đến vùng đất mới khai phá và hầu hết bọn họ, không nghi ngờ gì nữa, đều bị hấp dẫn bởi ảo ảnh về thành công kinh tế, bởi những thành phố dọc theo bờ biển Na Uy xuất hiện nơi chân trời như cám dỗ về cuộc sống trần thế huy hoàng, nó quyến rũ những trái tim dễ xiêu lòng muốn thoát khỏi cảnh lao động nặng nhọc của vùng đất này. Những tái hiện tâm lí đó, cũng như nhiều tái hiện khác, đầy tính người, hoàn toàn không làm giảm mà càng củng cố thêm ấn tuợng nhờ nội dung mang tính cổ điển của câu chuyện. Chúng xua đi nỗi sợ có thể nảy sinh trong ta khi nhìn thấy ánh sáng chân lí với cái giá phải trả là sự thật. Chúng đảm bảo tính chân thực trong từng chi tiết, của hình ảnh và nhân vật. Tính toàn nhân loại của chúng không bỏ sót một ai. Bằng chứng là tác phẩm đã được đón nhận bởi những người có tính cách, ngôn ngữ và phong tục khác nhau. Hơn nữa, bằng nụ cười hài hước nhẹ nhàng khi tái hiện những sự việc đau buồn nhất, tác giả chứng tỏ lòng cảm thông đối với số phận con người và bản tính con người. Nhưng trong câu chuyện, ông không bao giờ xa rời sự trong sáng nghệ thuật toàn bích nhất. Phong cách của ông loại bỏ mọi trang trí màu mè, chỉ tập trung vào tính chân thực và sự rõ ràng, và người đọc có thể phát hiện trong đó, dưới một hình thức độc đáo và mạnh mẽ, tất cả sự phong phú về sắc thái trong ngôn ngữ mẹ đẻ của nhà văn. Thưa Ngài Knut Hamsun! Khi đương đầu với thời tiết khắc nghiệt cũng như nỗi mệt mỏi sau chuyến đi dài - mà trong thời gian này lại càng thêm bội phần cực nhọc - để đến nhận giải thuởng trao tặng cho Ngài, Ngài đã mang lại niềm vui lớn cho Viện Hàn lâm Thuỵ Điển, niềm vui nhất định sẽ được chia sẻ bởi tất cả mọi người có mặt trong buổi lễ trọng đại này. Thay mặt Viện Hàn lâm, trong khoảng thời gian ngắn ngủi cho phép, tôi đã cố gắng trình bày ít nhất những lí do chính tại sao chúng tôi đánh giá cao tác phẩm vừa được đăng quang của Ngài như vậy. Vì vậy, giờ đây, với tư cách cá nhân, tôi không muốn nhắc lại với Ngài những gì tôi đã nói. Tôi chỉ còn mỗi việc thay mặt Viện Hàn lâm chúc mừng Ngài và hi vọng Ngài sẽ giữ mãi những kỉ niệm về cuộc gặp gỡ của chúng ta, và đó sẽ là mối dây thắt chặt mối quan hệ giữa Ngài với chúng tôi trong tương lai. Trần Tiễn Cao Đăng và Tân Đôn dịch (Theo VietNamNet) *** Knut Hamsun tên thật là Rnud Pedersen, (04.8.1859 - 19.02.1952) nhà văn Na Uy đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Ông là nhà văn làm đổi mới văn xuôi Na Uy và là người luôn cố gắng thể hiện đời sống tâm hồn vô thức.   Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Một số tác phẩm: - Den Gaadefulde. En kjærlighedshistorie fra Nordland (Con người bí ẩn, dưới tên Knud Pedersen, 1877), tiểu thuyết - Bjørger (dưới tên Knud Pedersen Hamsund, 1878), tiểu thuyết  - Fra det moderne Amerikas Aandsliv (Cuộc sống tinh thần của xã hội Mỹ hiện đại, 1889), tiểu luận  - Sult (Đói, 1890), tiểu thuyết  - Fra det ubevidste sjaceleliv (Từ cuộc sống vô thức của tâm hồn, 1890), tiểu luận  - Mysterier (Những điều bí ẩn, 1892), tiểu thuyết  - Redaktør Linge (Biên tập viên Linge, 1893)  - Ny Jord (Đất mới, hoàn tất năm 1893)  - Pan (Quý ngài, 1894), tiểu thuyết  - Ved Rigets Port (Nơi cổng vương quốc, 1895), kịch  - Livets Spil (Trò đời, 1896)  - Aftenrøde. Slutningspil (Hoàng hôn, 1898), kịch  - Victoria. En kjærlighedshistorie (Victoria, 1898), tiểu thuyết  - Munken Vendt. Brigantines saga I (1902), kịch thơ  - Det vilde Kor (Bản hợp xướng hoang dã, 1904), thơ  - Under Høststjærnen. En Vandrers Fortælling (Dưới ngôi sao mùa thu, 1906), tiểu thuyết  - Benoni (1908), tiểu thuyết  - En Vandrer spiller med Sordin (Kẻ lang thang chơi đàn không dây, 1909), tiểu thuyết  - Den sidste Glæde (Niềm vui cuối cùng, 1912), tiểu thuyết  - Børn av Tiden (Những đứa con của thế kỉ, 1913), tiểu thuyết  - Segelfoss By (Thị trấn Segelfoss, 2 tập, 1915), tiểu thuyết  - Markens Grøde (Nhựa của đất, 2 tập, 1917), tiểu thuyết  - Konerne ved Vandposten (Những người đàn bà bên giếng, 2 tập, 1920), tiểu thuyết  - Siste Kapitel (Chương cuối, 2 tập, 1923), tiểu thuyết  - Landstrykere (Những kẻ lang thang, 2 tập, 1927), tiểu thuyết  - August (Tháng Tám, 2 tập, 1930), tiểu thuyết  - Ringen sluttet (Vòng vây đã khép, 1936), tiểu thuyết  - Paa gjengrodde Stier (Theo lối mòn hoang, 1949) *** Ha, ha, với lũ chó ấy thì phải thế mới được! Ðồ vô lương tâm! Ðó là cách dạy cho chúng kính trọng người khác, bắt chúng phải run sợ... Tôi rất hài lòng với mình và lại bắt đầu khe khẽ hát. Trong trạng thái bị kích thích mạnh, quên cả đau, thậm chí không cảm thấy khó chịu chút nào và với lòng lâng lâng, tôi đi hết quảng trường đến chợ, rẽ sang nhà thờ Ðấng cứu thế và ngồi xuống một chiếc ghế dài ở đó. Suy cho cùng thì trả lại mười curon kia hay không cũng đều thế cả. Người ta gửi cho tôi, có nghĩa chúng là của tôi, ai gửi hoàn toàn không quan trọng. Người đưa thư được lệnh đưa cho tôi, vậy thì tôi phải nhận. Chẳng nhẽ lại cho anh ta? Và quả là ngu ngốc nếu bây giờ tôi hoàn lại cho người gửi mười đồng curon khác chứ không phải mười đồng tôi đã nhận. Nếu vậy thì chẳng còn biết làm gì nữa. Tôi cố gắng tập trung nhìn quảng trường sôi động đầy những người là người và nghĩ về những việc không liên quan gì đến tôi, nhưng điều này không mang lại mấy kết quả - mười đồng curon kia vẫn chẳng chịu chui ra khỏi đầu. Cuối cùng tôi bừng bừng tức giận, bóp chặt nắm đấm. "Nếu ta trả lại số tiền đó, nàng sẽ cảm thấy bị xúc phạm, - tôi tự bảo mình. - Thế thì còn gì nữa phải suy nghĩ?" Bao giờ tôi cũng rất cao đạo, không chịu nhận quà cáp. Trong những trường hợp ấy, tôi chỉ kiêu hãnh lắc đầu và nói: "ồ không, cảm ơn, rất cảm ơn". Và kết quả là gì? Tôi lại lang thang ngoài phố. Tôi không ở lại căn phòng ấm cúng của mình, mặc dù tôi có đầy đủ khả năng làm điều ấy. Tôi là người tự trọng, nên chỉ cần nghe một câu nào đấy khiếm nhã, là không chịu nổi và sẽ quẳng ngay những đồng mười curon vào mặt người nói rồi bỏ đi hẳn... Tôi tự trừng phạt mình, tự rời bỏ căn phòng của mình và lại lần nữa rơi vào tình cảnh khó khăn này. Nhưng thôi, quỷ tha ma bắt chúng đi! Tôi không ngửa tay xin những đồng curon ấy, và chúng cũng chẳng ở trong tay tôi lâu. Liền sau đó tôi đưa chúng cho người khác, tôi trả tiền nhà cho những người xa lạ mà tôi sẽ chẳng bao giờ thấy lại. Tôi là người thế đấy, khi cần, có thể cho tới đồng xu cuối cùng. Nếu Ilaialy đúng là người như tôi tưởng, nàng sẽ không hối hận rằng đã gửi tiền cho tôi. Thế thì còn băn khoăn gì nữa? Ðiều ít nhất nàng có thể làm được là thỉnh thoảng gửi cho tôi mười curon. Vì cô gái tội nghiệp này yêu tôi mà, thậm chí yêu một cách tuyệt vọng. Hồi lâu tôi tự an ủi mình bằng ý nghĩ này. Không nghi ngờ gì nữa - nàng yêu tôi, tội nghiệp... Năm giờ. Cơn kích thích thần kinh đã lắng, đầu tôi lại bắt đầu trống rỗng, chỉ còn tiếng ù ù trong đó. Tôi nhìn vào khoảng không bằng đôi mắt đờ đẫn và không hiểu sao lại nhìn thấy một hiệu thuốc trước mặt. Cơn đói tiếp tục cấu xé, làm tôi vô cùng khổ sở. Tôi cứ ngồi như thế, trân trân nhìn phía trước. Dần dần tôi nhìn thấy một hình người. Hình người ấy cứ rõ dần và cuối cùng tôi nhận ra đó là người đàn bà bán bánh rán bên hiệu thuốc. Tôi hít thở thật sâu, ưỡn thẳng lưng trên ghế và bắt đầu nhớ lại. Vâng, tất nhiên đó chính là bà bán bánh rán lần trước, với cái bàn bánh ấy và vẫn ngồi ở chỗ ấy. Tôi huýt sáo mấy lần, bật ngón tay rồi đứng dậy khỏi ghế, đi về phía hiệu thuốc. Khi lại gần, tôi nhìn bà ta một chốc rồi ngồi xuống cạnh. Tôi mỉm cười, gật đầu với bà ta như người quen. ... Mời các bạn đón đọc Đói của tác giả Knut Hamsun.
Đẹp Và Buồn
Kawabata viết tiểu thuyết cuối cùng mang tên Đẹp và buồn như để thêm một lần nữa khẳng định quan niệm mỹ học truyền thống lâu đời của Nhật Bản, và cũng là đúc kết lại toàn bộ tư tưởng sáng tác xuyên suốt trong sự nghiệp văn chương của ông. Câu chuyện chính của Đẹp và buồn kể về mối quan hệ tình yêu tay ba đầy bi kịch và tuyệt vọng của Oki với tình nhân Otoko, và người vợ Fumiko. Những nỗi đam mê, nhục cảm trong mỗi cõi đẹp đẽ đến điên rồ. Cái đẹp nằm trong tình yêu, sự ham muốn, và lòng hận thù, để rồi miên viễn trong một cuộc truy lùng, đeo đuổi, đi đến cái đích tận cùng của chiêm nghiệm, ấy là cái chết. "Chết là vĩnh viễn từ chối mọi lý giải của người khác. Không ai biết lý do hành động tự hủy của một người, cũng không ai có quyền phán đoán người đi tìm cái chết". Câu chuyện đầy trầm mặc được đặt trong bối cảnh chính là cố đô Kyoto, với tiếng chuông chùa cuối năm tĩnh lặng, với ngọn đồi êm ả dưới ánh trăng... Kawabata đã thả bút mà vẽ nên những nét đẹp thuần khiết nhất, nhưng cũng ẩn giấu những bất an nhất, thầm kín nhất của cái đẹp. Độc giả say đắm Kawabata, đi xuống từng tầng sâu cùng cõi đẹp Kawabata, đều sẽ luôn nhận ra rằng, Kawabata giữ gìn khoái cảm về cái đẹp ấy, miên viễn ngay trong sự tàn lụi. Đẹp và buồn chính là một lời tuyên ngôn cuối cùng của Kawabata. Đó là cuốn tiểu thuyết mang đầy dự cảm về một chuyến đi cuối cùng của đời người. Mặc dù trong diễn văn đọc tại buổi lễ nhận giải Nobel, Yasunari đã lên án cách kết thúc cuộc đời con người bằng cách tự vẫn, một cách chết "rất Nhật Bản" đã cướp đi nhiều người thân của ông. Năm 1972, Kawabata đã tự tử bằng khí đốt trong một căn phòng tại Hayama. Vì không để lại thư tuyệt mệnh, nên cái chết của ông vẫn đặt ra rất nhiều nghi vấn và tranh cãi cho những nhà nghiên cứu sau này. *** Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ngày 14.6.1899, là tiểu thuyết gia người Nhật Bản đầu tiên và là người châu Á thứ đoạt giải Nobel Văn chương. Những sáng tác văn chương, những tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata Yasunari, qua thời gian vẫn luôn đem lại hấp lực mạnh mẽ đối với nhiều nhà phương Đông học trên khắp các châu lục, có sức lôi cuốn rộng rãi độc giả trên thế giới, phản ảnh nhiều phương diện của văn hóa cũng như những rung cảm đầy đam mê mà tinh tế của tâm hồn Nhật Bản. Mồ côi từ năm mới có hai tuổi, Kawabata và chị gái sống cùng ông bà ngoại. Khi ông lên bảy thì bà ngoại qua đời, lên chín thì mất chị, mười bốn tuổi thì mất cả ông ngoại, ông phải về sống với gia đình người dì. Ở tuổi đôi mươi, Kawabata lại đánh mất một người mà ông hết lòng yêu thương, ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi mọi việc chuẩn bị xong, nàng bất ngờ từ hôn, không một lời giải thích. Kawabata chỉ còn biết tựa mình vào năng lực sáng tạo, phong kín vết thương tâm hồn bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời. Cảm thức cô đơn trong văn phẩm Kawabata thường phản ánh từ chính cuộc sống thời thơ ấu và tuổi trẻ của ông. Cái cô đơn ấy bắt đầu với tập Nhật ký tuổi mười sáu, được xuất bản năm 1925, tác phẩm đầu tay này có lẽ đã được viết lại dù trong đó, ấn tượng của một thiếu niên trước cái chết của người thân (ông ngoại) vẫn còn rõ nét. Những ngày cuối cùng khốn khổ của một người già yếu mù lòa, cuộc sống cô độc của một thiếu niên nhỏ bé đối diện với sinh ly tử biệt được thể hiện chân thực. Bên cạnh viết văn, Kawabata còn làm phóng viên cho một số tờ báo. Mặc dù đã từ chối tham gia vào sự hăng hái quân phiệt trong Thế chiến II, ông cũng thờ ơ với những cải cách chính trị của Nhật Bản sau chiến tranh, nhưng rõ ràng chiến tranh có ảnh hưởng lớn lao đối với ông (cùng với cái chết của cả gia đình khi ông còn trẻ). Sau đó, ông nói rằng kể từ đó ông chỉ còn khả năng viết những tác phẩm bi ca mà thôi. Năm 1972, Kawabata tự tử bằng khí đốt. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra: sức khoẻ kém, cuộc tình bị cấm đoán, sốc do vụ tự tử của người bạn văn năm 1970. Kawabata không để lại thư tuyệt mệnh, các tác phẩm của ông cũng không có manh mối gì, nên đến nay không ai biết được nguyên nhân thật sự của cái chết đó. Trong diễn văn của Viện Hàn lâm Thụy Điển khi trao giải Nobel Văn chương cho ông vào năm 1968, đã tôn vinh Kawabata: “Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người.” *** Keiko tới trà thất Kiyamachi thấy Taichiro đã quần áo chỉnh tề đứng đợi ngoài sân thượng. “Em chào anh ạ. Anh ngủ có ngon không?” Keiko bước lại bên anh. Tựa lan can, cô gái hỏi tiếp: “Anh đợi em?” Taichiro nói: “Tôi dậy từ sớm. Tiếng sông làm tôi thức giấc. Tôi ra đây ngắm mặt trời mọc trên dẫy đồi đông.” “Anh dậy sớm thế à...?” “Đúng vậy. Nhưng dẫy đồi gần quá, nên rạng đông mà không có cảm tường là mặt trời đang mọc. Chỉ khi mặt trời đã lên cao, dẫy đồi mới đột ngột hiện rõ ra màu lục, và nắng mới làm sông sáng lên như bạc...” “Anh ngắm cảnh lâu nhỉ...” “Coi mấy xóm bên kia sông thức giấc và sinh hoạt náo nhiệt trở lại, cũng thú vị lắm.” “Vậy thì anh ngủ đâu có được nhiều. Khách sạn thiếu tiện nghi phải không?” Rồi cô gái thầm thì: “Anh mà bảo tại nhớ em mà mất ngủ thì em sướng lắm...” Taichiro yên lặng. Keiko năn nỉ: “Anh không chịu nói cho em câu đó sao?” “Có chứ. Keiko, tôi ngủ không được là vì nhớ cô.” “Anh nói chỉ vì em van xin anh.” “Nhưng Keiko, đêm qua cô ngủ ngon phải không?” Keiko lắc đầu: “Anh đoán sai rồi.” “Tôi đoán vậy tại mắt cô tươi rói.” “Tại vì tim em tươi rói. Mà tim em tươi rói là tại vì anh. Còn mắt em thì sợ gì một hai đêm không ngủ.” Keiko nhìn Taichiro chằm chặp, đôi mắt ướt long lanh. Anh nắm lấy tay cô gái. Keiko nói: “Sao mà tay anh lạnh thế.” “Còn tay cô thì ấm quá.” ... Mời các bạn đón đọc Đẹp Và Buồn của tác giả Yasunari Kawabata.