Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Dấu Binh Lửa

Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn Dấu Binh Lửa (1969). Tiếp theo là các tác phẩm: Dọc Đường Số Một, Ải Trần-gian (1970), Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Dựa Lưng Nỗi Chết (1973) và Tù Binh và Hòa Bình (1974). Những tác phẩm của ông đều lấy Chiến tranh Việt Nam làm bối cảnh. Sau 1975, ông bị bắt giam vào trại tập trung cải tạo 14 năm (1975-1989). Trong nhiều lần bị biệt giam hàng năm trời trong hầm tối, ông cũng làm ra nhiều bài thơ. Tuy sau ông được thả, nhưng lại bị quản chế tại gia ở Lái Thiêu, Bình Dương. Năm 1993 ông sang Mỹ định cư và cho ra mắt những tác phẩm: Những Chuyện Cần Được Kể Lại, Đường Trường Xa-xăm (1995), Đêm Tận Thất-thanh và Mùa Đông Giữ Lửa (1997). Năm 2002 cuốn Những Chuyện Cần Được Kể Lại được phát hành với ấn bản tiếng Anh dưới tựa The Stories Must Be Told. *** Theo lời dặn của C— Anh cố vấn văn chương— Tôi phải viết một cái tựa thật hách, ngắn, cô đọng và hay ho không chịu được... Nhưng viết thế nào để có thể gọi là " hách"? Thôi, tôi mở đầu bằng cách bày tỏ nguyên do đồng thời đề biện hộ cho những dòng viết ở những trang sau. Đến cái tuổi này lẽ tất nhiên tôi chẳng hy vọng gì nơi văn chương nữa, cũng không thể ước mơ nhờ cái ngõ văn chương để kiếm một chút danh gia. Hơn nữa, danh vọng của một người viết văn ở Việt Nam cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa. Bao nhiêu năm làm văn nghệ, cũ như Lê Văn Trương, Đinh Hùng, mới như Quách Thoại, đến khi chết đi thì cũng chẳng còn gì - Thế Phong đó - anh chàng làm văn nghệ như một gã tiền phong, "Nửa đường đi xuống" phải đóng bộ ka-ki độ nhật qua ngày với tờ báo của Không Quân. Thế nên tôi chẳng hy vọng gì ở cái "nghề của chàng" nữa. Nhưng vẫn muốn viết, viết như một "nhu cầu", nói cho có vẻ thiết tha. Tôi đâu phải là hoàng tử văn chương ngoại hạng, xem chuyện viết lách như một công việc nghiêm trang giữa người và thế giới bí ẩn của chữ nghĩa, viết đối với tôi đúng ra chỉ là một cách thoát hơi— Viết để khoỉ ấm ức bực mình. Sau tám năm ở lính, thời gian thoải mái thật hiếm hoi, những phiền toái có duyên cớ hay không, chính danh hay ẩn dấu hình như chực sẵn ở trong người, có cơ hội sẽ dấy lên như giông bão. Đôi khi tôi thấy thật yêu cái nghề này, nó tạo cho con người tính kiên nhẫn, lòng vị tha, chế ngự những hèn mọn của mình. Nhưng cũng có lúc tôi thấy nó thật tệ, không có một nghề nghiệp nào ù lì, cứng đọng và thụ động bằng " đi lính ", chỉ cần thừa hành trong một giới hạn thật sít sao, thế là đủ. Có nhiều lúc tôi muốn ném tung hết tôn ti trật tự, bộ quần áo trên người để thong dong giang hồ một chuyến tự do, nhưng đồng thời cũng vừa khám phá, đang bị buộc chặt, đã quen với đời sống này. Thật khó khăn khi phải nói chuyện với một anh dân sự, hình như tôi và hắn ta ở hai thế giới thật khác xa nhau. Tôi cũng muốn viết về đời sống lính với những con người thật lạ. Năm 1966, có gã lính thật trẻ ở đại đội tôi, hắn ta thấp bé da xanh mướt ốm yếu, nhưng uống rượu kinh khiếp, hai lít rượu đế hắn uống tỉnh bơ, hình như rượu không tạo nên phản ứng nào trong người. Ngoài cuộc rượu, y bình lặng kín đáo như một con ốc. Một hôm đứng gác, sẵn súng ở tay, hắn bắn vào đầu tự vận. Tôi không biết nỗi thất vọng kinh khủng nào trong đầu một thằng bé 19 tuổi. Đức " điên " Biệt động quân, quan Ba, Tiểu đoàn phó, đi hành quân mang khẩu M.79 chạy trước hàng lính, về Sài Gòn đi chơi, mặc một chiếc áo bà ba đen, dưới quần lính, chân mang dép Nhật, trang bị thêm một con dao đi rừng. Tôi không hiểu nó nhìn đời thế nào qua cặp kính trắng dày cộm khi trên người trang bị với phụ tùng như thế. Đại khái ở lính có những loại người " bất bình thường " như vậy, và trong đám bất bình thường trên lại chen lẫn vài kẻ bình thường thật kỳ quái. Thiên, anh chàng đi theo tôi trong hai năm, một ngày chỉ nói khoảng hai mươi tiếng: dạ, vâng... Thế là hết. Nó ở xa, tôi gọi đến vỡ phổi không tiếng trả lời, lát sau lặng lẽ đi đến. " Tao kêu mày có nghe không?..". " Dạ có ". " Thế sao mày không trả lời? ". Thiên bóp bóp hai bàn tay đứng im. Thấy những người lính khác bắt gà, nó cũng bắt một con treo trên ba-lô, đi một đoạn vắng người, thả chạy, xong làm dấu Thánh giá đọc kinh. Đi lính tôi có nhiều "thế" sống thật đặc biệt. Chiều 29 Tết năm 1963 ởchân đèo Rọ Tượng, Khánh Hòa, căn cứ Lầy, trời rét như cắt ruột, mưa phùn bay mù mịt, chúng tôi đứng trong nước sình ngập đến ngực, lạnh, đói, đã gần năm ngày liên tiếp mình mẩy không bao giờ được khô. Dân chúng đi từ Ninh Hòa về Nha Trang tưởng chúng tôi là tù binh, ném bánh ú từ trên xe xuống cho, một vài bà già chấm nước mắt khóc vì thương hại. Nhưng chúng tôi vẫn vui như tết, Năng và tôi nhặt bánh ú ngồi ăn ngon lành, cả hai đứa đều là những " Tân Sĩ Quan " vừa quỳ xuống đứng dậy cách đây một tháng để lãnh nhiệm vụ gánh vác non sông! Chúng tôi hãnh diện với nỗi cực khổ của mỗi phút chịu đựng, lòng không một chút ta thán... Nhưng lúc gặp nhau ở Sài Gòn, hai thằng đem nhà binh ra nạo đến sát ván không chút nể nang. Bình Giã đói và khát hai ngày đến nỗi lính phải hút nước ở rễ cây, có tên uống phải rễ cây độc đứng tim chết. Kéo quân ra Phù Mỹ, uống một nón sắt nước ruộng nhưng lòng không phiền hà. Mười chín tháng Ba 1965 kéo về Sài Gòn đóng ở Đài phát thanh, cô-ca lạnh mát nuốt vào khó khăn không làm dịu được nỗi oi ả ở trong lòng. Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo. Trong thời gian sau này, thường thường những giấc mơ của tôi cuối cùng dẫn đến một chủ đề - Nước. Tôi mơ thấytrời mưa, mơ thấy được tắm trong dòng suối, được vùng vẫy trong sông lớn. Kỳ cục hơn có hôm tôi mơ bị mắc cạn trong cống rãnh. Về mặt sinh lý người ta bảo đó là hiện tượng yếu thận, tâm lý bảo đấy là ý định muốn giải thoát— Có thể đúng như vậy, vì tôi đang yếu thận đồng thời luôn luôn có cảm giác "lạ" với đời sống này. Tôi không coi những ngày đang sống là sống thực. Sống bây giờ là sống gởi, cõi mơ ước nào đó mới là quê hương thật. Nhưng đúng chỉ là mơ ước, vì còn một nơi chốn nào khác ngoài cuộc đời ngặt nghèo này— Chỉ còn một cõi trong tôi. Nhưng thôi, "tác phẩm" khi đã xong có phần đời của nó - hai mươi sáu tuổi - tám năm lính để lại gia tài trăm trang giấy! Có một vị đắng ở đầu lưỡi. Nhưng nói cùng ai? Tôi cũng trốn tôi trong câu hỏi này. Tuy nhiên khi viết xong, đọc lại thấy vừa lòng nhưng đồng thời một vài ý nghĩ thật lạ xảy đến. Những ý nghĩ trong chiều mưa, mưa thật lớn trên đồi cao, gió thật mạnh, doanh trại vắng vẻ như bãi tha ma. Ngồi một mình nhìn ra khoảng không gian xám đặc... Con chim sẻ trốn mưa bay vào phòng đậu trên thành giường, sù lông rũ nước kêu lên những tiếng nhỏ thật cô đơn. Tôi cũng như con chim nhỏ trong chiều mưa này. Và từ đó thấy trong lòng những tình lạ thật thiết tha, hồn hậu như của những ngày vừa mới lớn. Tôi thấy những điều viết quá hằn học, nhiều thù hận và độc đoán. Trước tiên đối với người Mỹ. Những sự kiện gần đây, cảnh hai phi hành gia bước chập choạng trên mặt trăng. Những bước đi đầu tiên của con người trên một hành tinh khác. Lẽ tất nhiên tôi không a dua theo một phong trào để hoan nghinh sự thành công của Apollo 11, đã từ lâu tôi không xem trọng thí nghiệm này. Chỉ có cảm phục khi nghĩ đến những công tác khoa học tinh vi và chính xác để ráp nối phi thuyền mẹ với Nguyệt xa, tiếng nói của những phi hành gia được chuyền thẳng về trái đất rõ mồm một. Trước thành công như trên làm sao tôi không hoan nghênh? Nhưng tổng quát tôi vẫn không thán phục, kết quả cũng không có gì cụ thể để giúp ích cho một khối dân khốn cùng nằm dài trên hai cõi Á, Phi. Trong khổ cực của quê hương này tôi không thể nào quá ngưỡng mộ thành công ở trời xa. Nhưng tôi chịu nhất là thái độ phóng khoáng, cử chỉ hào hiệp của người Mỹ trong vụ này, họ đã hãnh diện dưới danh nghĩa — Một sự tiến bộ của nhân loại. Sự rộng rãi này làm cho tôi kính phục. Ngoài ra một hôm có việc cần phải vào bệnh viện 3 Dã chiến Hoa Kỳ, thấy một anh lính Mỹ đẩy chiếc xe trên có một anh khác bị thương ở chân, anh chàng đẩy xe cũng là thương binh, gầy ốm, tóc vàng hoe mọc dài xuống gáy, mang đôi kính cận thị dày cộm, nét mặt hồn nhiên và treœ thơ. Và tôi đã nghĩ rằng khuôn mặt trẻo thơ đó, nếu đem biến thành đối tượng cho những nhận xét hằn học đầy thù nghịch của tôi thật đáng tội nghiệp. Chiến tranh đã kéo y qua đất nước này, chịu đựng những khổ cực vượt ra ngoài ý niệm của người Mỹ, nay bị thương đôi mắt vẫn còn trong sáng và trẻ thơ — Dấu hiệu của tâm hồn chưa bị vấy bẩn bởi cuộc chiến này. Nhìn sự ngây thơ trung thực đó, nghĩ đến những phán đoán của mình quả độc đoán và quá độ. Gần hai năm nay, mỗi ngày phải uống tám viên Nevrosvitamin 4 để làm dịu xuống những bứt rứt hiện thành phản ứng không kìm hãm... Thiếu những viên thuốc đỏ đó, người tôi như nung trên một lò lửa đang đỏ, đầu óc muốn nổ tung, chân tay ít nhất phải đập phá một vật gì, tôi sợ tiếng động và chốn đông người một cách bất thường. Nhưng hai tháng sau này tôi bỏ được nhu cầu uống thuốc đó, suốt ngày đánh trần nằm trên bãi cỏ trước phòng ngủ, doanh trại hậu cứ hoang vắng một cách dễ chịu, phía xa những ngọn đồi Tăng Nhơn Phú chạy dài bình yên. Trong sự bình yên này, đọc lại những điều đã viết quá trớn, thấy ân oán giang hồ, đụng chạm đến nhiều giới. Tôi muốn đưa cuốn sách cho những người nhỏ tuổi đọc, để dò xem phản ứng của những người chưa bị ảnh hửơng cuả chiến tranh, nhưng ngần ngại vì thấy những điều mình viết không trong sáng. Lẽ tất nhiên một cuốn bút ký không thể nào nằm dưới kìm kẹp của ý thức luân lý bình thường được, hơn nữa bút ký về cuộc chiến tranh nhọc nhằn. Nhưng nhìn thấy toàn bộ những điều đã viết chỉ có một nỗi hằn học, uất hận nên tự hỏi rằng có quá đáng hay không? Thấy đàn trẻ đi thi tú tài, nhớ lại mười năm trước cũng ở trong nguồn trong sáng đó, thế tại sao có những đổi thay tàn bạo và quá đáng như kia? Tôi lại gặp Banh, người bạn cũ ở Đà Nẵng, gặp Banh để nhớ lại một cái Tết thật tang thương, hai mươi chín Tết không thức ăn - hai mươi chín tết - thời gian thật khó thể đi kiếm một bữa cơm. Banh đạp xe trên hai mươi cây số về làng quê Quảng Nam xin mươi quả trứng vịt, và hai đứa đã đón xuân bằng những quả trứng trong suốt ba ngày Tết. Gặp Banh để nhớ rằng trong những ngày khốn khó đó, tôi vẫn luôn luôn thắp sáng cho mình ngọn lửa hy vọng và những tình cảm tốt đẹp. Những sự kiện kể trên gây cho tôi cảm giác ngại ngùng khi đọc lại những điều ghi được của tám năm binh lửa. Không lẽ suốt đoạn đời này tôi chỉ có khốn khó và thù hận thôi sao? Từ đó phát sinh ra những ý hướng chối bỏ, như dấu chàm của một niềm tuỉ hổ, và ao ước được thấy điều mình viết mang niềm vui hồn nhiên trong sáng. Nhưng tám năm lính của tôi niềm vui quả thật ít, ít đến tội nghiệp khi đem so sánh với nhọc nhằn đằng đẵng. Tám năm, thời gian gần bằng đoạn đời của gã nông phu Johann Moritz lang thang qua các trại tù của giai đoạn Âu Châu máu lửa, nhưng trước và sau tám năm đó, anh bạn Lỗ còn có những ngày vui hy vọng. Tôi có gì vui trước tám năm này và hy vọng nào về một Việt Nam hậu chiến. Nhưng thôi, có nói hoài thì cũng chỉ kéo dài thêm lời than thở hèn mọn. Điều mong ước là được xóa đi những hằn học và thù hận. Sự đụng chạm nếu có ở một vài đối tượng nào đó thì xin nghĩ rằng đây chỉ là những ý nghĩ của một người muốn chân thật với mình trong hoàn cảnh khắt khe. Lỗi không phải là ở sự thành thật đó. Đây là lỗi của một cảnh đời. Tội của những người trong chúng ta đã bất lực trước định mệnh, để bị cuốn trôi hết tình người — Thôi, đây là tội trong mỗi chúng ta. 10 tháng 9 năm 1969 Long Bình Việt Nam *** Tiếng Việt qủa thần diệu, có những chữ thật đơn sơ cũng đủ sức để tạo thành hình ảnh linh động. Những chữ với âm thanh tầm thường khô cứng như tiếng gõ vô nghĩa trên mặt bàn của một bàn tay nhàn rỗi, trong giây phút trống rỗng. "ở lính" nghe buồn buồn, nhạt nhạt, vô nghĩa nhưng chất chứa chịu đựng ngặt nghèo lặng lẽ. Tôi đã ở lính tám năm, sau thời gian đằng đẵng đó những danh từ to lớn như đầu quân, gia nhập quân đội, người chiến binh, đời quân ngũ hay thời thượng vụng về như tuổi lính, tuổi chiến trường đối với tôi vô duyên như sau lần ân ái ngượng ngùng. Tôi ở lính tám năm, năm nay hai mươi sáu, đi lính năm mười tám. Suốt tám năm của thời lớn lên tôi đem tặng hết cho quân đội, và không phaỉ đến bây giờ vì thất vọng, chán nản do công danh không toại ý, cuộc sống bị ép buộc không đúng như mơ ước nên cay cú hằn học với nhà binh. Không như vậy, tôi đi lính năm mười tám tuổi vào học trường tình nguyện ra làm ông quan Một. Chẳng có ai lôi kéo tôi vào trường ấy, tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừng thông, hương nhựa thông toả đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng... Chuyển quân đi trong sương đêm, giữa mây mù, ánh lửa mục tiêu đêm đông trong hốc núi hoang vắng, thế giới mạo hiểm giang hồ của Jack London phảng phất đâu đây. Tôi say mê, thích thú với những khám phá mới mẻ đó. Nắng cao nguyên những ngày cuối năm vàng tươi rực rỡ, đứng ở đồi nhìn xuống hồ suối Vàng trong vắt yên lặng... Người như muốn tan vỡ thành muôn ngàn mảnh nhỏ theo cơn gió bay chập chờn qua vùng đồi trùng điệp và loãng tan đi cùng nước hồ xanh ngắt. Cũng phảii nói thật những ngày đầu đời lính của tôi đầy trong sáng và đẹp đẽ. Trong sáng như giấc mơ của tuổi mười chín, giấc mơ mù mờ giăng cánh chim trắng bay chậm rãi qua rừng thông... Nhưng đời sống nhà binh không hẳn chỉ vậy, nó còn có sĩ quan cán bộ, nghi lễ, có đủ những phiền toái hỗn độn mà đời sống dân sự không ai nghĩ ra được; nên khung trời đầy sương mù bí ẩn ngoài khung của sổ hiện ra như một thách thức đối với đời sống kìm kẹp của tôi hiện tại. Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về phía thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tươœng như có một tiếng gọi cuœa đời sống ơœ bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhơœ thúc giục, một đời sống thực sự tôi không có. Từ khung cửa sổ nhìn những giàn đồi im lặng thấp thoáng giữa thung lũng sương mù và đằng xa ánh đèn xanh vườn Bích Câu ma quái, diễm ảo, tôi thấy rõ trong tôi nỗi cô đơn khủng khiếp hiện hình sừng sững. Những lúc ấy tôi thấy được con người thật của mình, một gã trai trẻ, vô định hướng. Những cười đùa ban ngày, những buổi học, bữa ăn tập thể không ảnh hưởng gì đến con người trong tôi. Không thể có được một ý niệm về chuyên môn quân sự mà bằng tất cả mọi cách nhà trường cố nhét vào trong đầu óc. Đội hình tác chiến, cung cách chỉ huy, chi tiết kỹ thuật về vũ khí trôi qua trí não mơ hồ như một cơn gió nhẹ. Hai năm sống ở mái trường đó như một cơn phiếm du. Chỉ thật thắm thiết rung động khi nửa đêm về sáng dưới ánh đèn pha vọng gác kho đạn tôi khám phá được thế giới của cây cỏ đang thở, đang lớn lên. Những giây phút khoảng năm giờ sáng, sau phiên gác, nhìn xuống phòng sĩ quan trực, người lính kèn im lặng đưa lên môi thổi hồi kèn báo thức. Và không gì hơn suốt ngày chủ nhật một mình một ngựa chạy như bay vào hướng đồn Daksard. Con đường đỏ còn ướt sương đêm, trời chưa tan hẳn mù, ngựa phi như gió cuốn, ngựa đi vào trong một vùng mù đặc, rừng thông chuyển động ào ào, cả trời cao nguyên tan biến chập chờn theo vó ngựa. Kết quả sau hai năm ăn nhờ chánh phủ tôi được trở thành ông quan một, ra trường đi binh chủng hung hãn nhất. Tôi biến thành một người lính thực thụ, trận lớn, trận nhỏ, chiến dịch hai tháng, ba tháng, dài ngắn, từ Sài Gòn ra Bến Hải, tôi đi đủ. Những địa danh xa xôi bất kỳ một xó xỉnh hẻm hóc nào của miền Nam này tôi cũng có thể biết rõ một cách tường tận. Từ những miền nổi tiếng như Khe Sanh, Cồn Tiên đến những làng nhỏ từ cửa Việt đi ra - Diêm Hà Trung, Diêm Hà Nam - cái làng nhỏ cuối thung lũng sông Kim Sơn, làng Hà Tây, đèo ông Hổ đổ xuống Phù Củ ra Phù Ly, Phù Cát thẳng đến biển là núi Lồi, đầm Trà Ổ, xuống phía Nam, đầm Nước Ngọt. Lên đến Pleiku, trực thăng vận xuống phía Nam biên giới Lào-Việt, đầu ngọn sông Ia-Drang... Đâu đâu tôi cũng đến. Năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc, góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu là không ở ngoài, không chạy trốn trong khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự, đang ngã chết. Dù chết bên này hay bên kia, chết trong thù hận hay chết tình cờ. Những người đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này làm tôi yên ổn. Cũng trong những tháng năm đằng đẵng gian khổ ấy, tôi khám phá ra được hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc thật sự không có, chỉ có những hạnh phúc tương đối và giản dị. Hạnh phúc là bếp lửa thật nóng, bữa cơm có canh, một mái lều tranh không dột, căng được chiếc võng, uống ly cà phê, đọc tờ báo, sau năm ngày vượt ba mươi cây số đường rừng, rừng thật dầy không thấy trời, trong rét cóng của miền Trung vào những ngày cuối năm. Hạnh phúc nồng nhiệt khi trở về nhà trong đêm khuya gõ cửa, vợ ra đón với con nhỏ ba tháng, kể từ ngày sinh chưa được nhìn bố. Hạnh phúc là cái gì chắc chắn, nắm được ở trong tay khi cánh cửa chiếc phi cơ đóng lại và thân thể được nhấc lên trong độ cao, nhìn lại thành phố Huế đang âm ỉ cháy. Đấy - đời lính - đã dạy cho tôi biết được giá trị của những sung sướng tầm thường đó. Chỉ có thế mà tôi phải trả giá trong tám năm thật dài với tận cùng của khổ cực và căng thẳng. Nhưng đến hôm nay, bước vào năm thứ mười hai đời lính tôi lại rơi vào sự khủng hoảng của những năm đầu tiên. Nỗi khủng hỏang tàn tệ tội nghiệp gấp vạn lần trước. Thời gian ở quân trường, tôi còn có thế giới kỳ ảo thiên nhiên, những ngày mới ra đơn vị, tôi tham dự để biện minh thái độ dấn thân, lao vào lửa đạn không thắc mắc, không ngần ngại — Tôi dấn thân để tìm kiếm niềm an ủi do tham dự hết lòng, đồng thời còn có điều khôn ngoan đã tìm ra những hạnh phúc tương đối — Loại thực phẩm trần gian hợp với khẩu vị. Nhưng đến những tháng ngày hôm nay thì qủa thực tôi bất lực. Bất lực để giaœi thích cho chính bản thân, sự có mặt tham dự trong dòng đời hỗn loạn và mệt nhọc này. Những chốn trú ẩn xưa bị phá vỡ tan hoang, nếu không nói đến những phản ứng trái ngược đã xảy ra. Trên đường đi đến Lái Thiêu, vườn dừa xanh ngắt, hoa huệ trắng tỏa hương thơm ngát không gợi nên một thiên nhiên an lành mơ mộng nhưng trái lại như một đối tượng đang phải chịu sự tàn phá sắp tới của chiến tranh; một đối tượng đau đớn của thiên nhiên không được thụ hửơng sắp sửa bị tiêu hủy. Những ngày dài hành quân không gây chịu thích thú, không tạo mới lạ, chỉ còn lại chịu đựng... Chịu đựng im lìm trong một niềm bất mãn đến ngộp thở. Tám năm lính, tôi hai mươi sáu tuổi, số tuổi gần ba mươi, không bạn bè, xa bằng hữu, số tuổi cuả nỗi cô đơn kinh khiếp biến con người hững hờ, tàn ác như một lát dao. Tôi hai mươi sáu tuổi để thấy rõ cái mặc cảm phạm tội trước kia chỉ là một ảo tưởng xa xỉ của tuổi mới lớn, ảo tưởng về trách nhiệm con người đối với nhau. Tôi hai mươi sáu tuổi đủ để nhận rõ rằng: Hạnh phúc quả là một vật ít ỏi tương đối, nhưng nếu mua bằng giá của đời sống mình thì thật vô lý. Đành rằng sống chẳng là một cái gì rực rỡ nhưng nếu đánh giá đời sống bằng khổ cực và cái chết thì thật là một việc rồ dại và ngu xuẩn. Như vậy tôi hai mươi sáu tuổi có được gì? Tôi có được một cái nhìn thông suốt hết cả. Nói như thế có vẻ tự kiêu và lố bịch. Nhưng nếu trung thực hơn: Sau tám năm ở lính, tôi hết còn là vùng đất để nghiệm và chịu ảnh hưởng. Tám năm ở lính để biết mình là một cánh chim tự do nhưng đã bị chặt cánh. Chính thương tích này làm sáng tỏ khả năng tự do bi đát của đời người. Gần đây báo Sống tục bản dưới hình thức báo Công Chúng có đặt câu hỏi: Người thời đại nghĩ gì? Trong đó có nêu lên chi tiết ai là thần tượng cho tuổi trẻ hôm nay? Tôi hai mươi sáu không trẻ lắm nhưng chưa già, cố tìm cho mình một thần tượng? Không có, làm gì có thần tượng cho tuổi trẻ khốn khổ của tôi. Làm sao tôi có được một thần tượng sau tám năm đằng đẵng đầy thù nghịch và ngặt nghèo. Người ta chỉ tìm được thần tượng khi lòng còn rung động. Bây giờ tôi có rung động nào trong tâm hồn? Năm vừa rồi đi đưa đám tang những thằng bạn thân, chỉ thấy trong lòng một thoáng bâng khuâng, chả bù trước đây tôi ôm xác của Phương, của Dũng chạy như điên trên sườn đồi nước mắt chảy dài trên má. Chiều trở về chỗ đóng quân nhìn chiếc võng của người chết tưởng chừng như thân thể sụp xuống tan đi trong vũng phiền buồn. Bây giờ tôi làm sao khóc được, làm sao để phẫn nộ, để nhớ thương, để mong ước. Thần tượng bây giờ là gì? Lãnh tụ? Lãnh tụ cỡ nào? Nhìn ảnh phó Tổng Thống Humphrey trong báo US News & Report cùng những câu trả lời của ông ta trong thời kỳ tranh cử Tổng Thống. Cái mồm nhỏ, trán hói, vẻ trai trẻ gỉa vờ khi xắn quần chạy trên bãi biển thấy ngượng ngùng đến khó chịu. Hay loại chính khách local?! Ô thần tượng cái khổ nào ở thứ lãnh tụ và chính khách hạng nhì này... Hay là Mao Trạch Đông? Không được nốt, cái mặt ị, đôi mắt ti hí, cuốn sách nhỏ chỉ hú hồn được thanh niên ở các nước Tây phương. Tôi cố tìm suốt một dãy các danh nhân còn sống hay đã chết để tìm cho được một người để ngưỡng mộ. Churchill? Cũng không được, đọc Mémoire của ông ta, cuốn L’Étau se referme không chịu được thái độ bất nhân đối với Nam Tư. Đến Exodux thì người Anh, ôi cũng là lũ thực dân. Nhớ đến lần hành quân ở Long Khánh thì Úc hay Anh cũng vậy, cũng là God save our King. Chả ra cái thống thế gì. Thế thì hết. Hết tiệt cái thế kỷ thần tượng, vì nếu qủa thật còn một chút thần tượng nào vất tưởng ở trên hành tinh này thì Jackie đã không xóa tan hình ảnh ông chồng rực rỡ để đi theo ông thương gia có phòng tắm lót vàng. Sống bên cạnh một thần tượng còn cho thần tượng đó "de" thì huống gì tôi, một kẻ da vàng xa xứ của ông thì ngưỡng mộ gì ông được, hở ông Kennedy. Đó là chưa kể đến nỗi hằn học mà ông Bob Kennedy để lại trong lòng những người lính Việt Nam. Hay thần tượng ỏ một anh nhược tiểu? Ché Guévara cũng không được. Đây chỉ là một loại James Bond cộng với Trần Độ mà thôi. Tóm lại thần tượng tất cả đều bị chôn chặt, bị cuốn hút, bị xóa tên, chỉ còn lại một vài thần tượng què quặt trên óc não bệnh hoạn, yếu đuối của một số người chưa sống đủ, thần tượng của những kẻ nổi loạn thành phố, những kẻ mang tâm trạng "bão tố trong cốc nước" những gã Mỹ con tóc dài, hippy, biểu tình chống đối trước trường Sĩ Quan Trừ Bị Hoa Kỳ. Sau tám năm ở lính, tôi mệt mỏi vô ngần. Mời các bạn đón đọc Dấu Binh Lửa của tác giả2 Phan Nhật Nam.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Con Đường Nước Mắt
Tên eBook: Con Đường Nước Mắt (full prc, pdf, epub) Tác giả: Mạc Ngôn  Thể loại: Tiểu thuyết, Tình cảm, Văn học phương Đông Công ty phát hành: Phương Nam Nhà xuất bản: NXB Văn Học Trọng lượng vận chuyển (gram): 220 Kích thước: 13x21 cm Dịch Giả: Trần Trung Hỷ Số trang: 200 Ngày xuất bản: 01-2009 Hình thức: Bìa mềm Giá bìa: 35.000 ₫ Nguồn: e-thuvien.com Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu: Con Đường Nước Mắt là một tập hợp những bộn bề đời thường, dục vọng, sống chết được miêu tả tinh tế và trào phúng chỉ với cái “cớ” là việc xây dựng một con đường. Con đường chỉ là tượng trưng. Không thể biết điểm dừng của nó là ở đâu, nhưng chắc chắn là nó luôn vươn về phía trước, ẩn hiện trong con đường là những bộn bề đời thường về dục vọng và tử vong.  *** Quần áo Bạch Kiều Mạch xộc xệch, chiếc áo trên người cài lệch cúc nên một mảng da bụng trắng hếu lộ ra trước mắt mọi người, chiếc quần ống trước mắt mọi người, chiếc quần ống cao ống thấp. Đôi mắt bà ta trợn tròn xoe, chiếc cổ như dài hơn bình thường vươn lên rất cao chẳng khác nào cổ một con ngựa. Mang theo một cơn gió xoáy, bà ta bổ nhào đến trước mặt Dương Lục Cửu cào mạnh, động tác rất giống xé một tờ báo dán trên tường từ cao xuống thập. Mặt Dương Lục Cửu lập tức xuất hiện bốn năm đường màu trắng, lại tiếp tục cào, mặt Dương Lục Cửu xuất hiện thêm mấy đường màu trắng nữa. Lại muốn cào tiếp. Dương Lục Cửu thối lui mấy bước, bà ta đuổi theo. Dương Lục Cửu đến sát chảo nhựa đường đang sôi cùng sục, quát to: - Con mẹ điên này! Bà định làm gì thế? - Trả chó cho tôi! Bà đến chỗ nào mà tìm chó thế? - Vừa nói, lão vừa đưa tay vuốt mặt, lúc này lão mới thấy bàn tay mình dâm dấp máu tươi - Đồ thối tha, bà đã quên là lão đây đã bao toàn bộ nửa tháng đậu phụ của bà hay sao? - Ông đừng có mà lấp liếm! Mau trả chó cho tôi! - Ai lấy chó của bà? Chó của bà không phải là đang ở nhà giữ cửa đấy sao? - Cả thị trấn này chẳng ai dám động đến chó của tôi, chỉ có loại cải tạo lao động các người mới có gan làm chuyện ấy, mới có khả năng bắt được chó của tôi. - Chúng tôi không hề biết chó của bà ra sao. - Ông đã trèo lên làm vỡ bức tường rào nhà tôi, té ra ông đã để ý con chó nhà tôi lâu lắm rồi. - Tôi nhớ bà mà tới thôi! Mời các bạn đón đọc Con đường nước mắt của tác giả Mạc Ngôn.
Nhật ký Bí mật của Chúa
Tên eBook: Nhật ký Bí mật của Chúa Tác giả: Raymond Khoury Thể loại: Best seller, Tiểu thuyết, Trinh thám, Văn học phương Tây Nguyên tác: The last Templar Dịch giả: Lê Trọng Nghĩa Nhà xuất bản liên kết: Văn hóa Sài Gòn Số trang: 504 Kích thước: 16 x 24 cm Giá bìa: 90 000 VND Chụp ảnh: hai an Đánh máy: May&nui, Iris, ndviet, Polo pala, Biurua, hai an, thuy_trang89, minh_trang2905, phượng xồ, Smilehd, Nerissa, Trang Phan, Kaim184, apple-socola, Thuy Le Linh, Duyen Vo, Wannabe, Nguyen Ngoc Van Khanh, Linh Nguyen, Aivy007,  nguyen_ly, shinigami82, Bim_hulis, quekhanh14 Soát lỗi văn bản: May&nui Tạo prc: hai an Nguồn: VH-ebook Project - fb.com/vhproject Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Bìa sách Nhật ký Bí mật của Chúa Giới thiệu: Được ví như một tiểu thuyết trinh thám lịch sử hấp dẫn có thể thay thế Mật mã Da Vinci (tải eBook), Nhật ký bí mật của Chúa kể một câu chuyện cổ kính, bí ẩn kết hợp với tri thức khoa học mới nhất, đậm phong cách điện ảnh. Đặc vụ FBI Sean Reilly và nữ khảo cổ gia Tess Chaykin rơi vào cuộc đua vượt qua ba châu lục nhằm truy tìm kẻ giết người máu lạnh và bí ẩn đã bị chôn vùi hàng chục thế kỷ... Nhận định - “Nếu bạn thích Mật mã Da Vinci, bạn sẽ say mê Nhật kí bí mật của chúa. Nếu bạn ghét Mật mã Da Vinci, bạn sẽ vẫn say mê Nhật Kí bí mật của Chúa” - Lire Magazine - “Câu chuyện cổ kính, bí ẩn, được kết hợp nhuần nhị với tri thúc khoa học mới nhất trong cuốn tiểu thuyết trinh thám mang đậm phong cách điện ảnh này. Nhịp điệu gấp gáp, đối thoại sắc bén, nhân vật sống động chân thực” – Glasgow Evening Times - “… Ly cocktail tuyệt hảo, hoà trộn giữa chất trinh thám, sự lãng mạn cùng những nghiên cứu tôn giáo lịch sử…” – Politiken - “khó tránh khỏi bị so sánh với Dan Brown, nhưng, thực sự, Khoury là nhà văn “cao tay” hơn nhiều. Trên hết, cuốn sách là cả một chuyến du lượn trên chiếc rollercoaster căng thẳng, kích động và phấn khích” – The Lrish Mail on Sunday - “Các fan hâm mộ Mật mã Da Vinci của Dan Brown đang lùng kiếm một tiểu thuyết trinh thám lịch sử tuyệt vời nữa sẽ không cần phải tìm đâu xa hơn, đã có tuyệt phẩm mới xuất bản của Raymond Khoury… Cuốn tiểu thuyết ly kỳ có nhịp điệu nhanh đến chóng mặt, mỗi trang đều như sẵn sàng một bước ngoặt khiến người đọc phải nín thở sững sờ” – Allen Barnes & Noble Editor’s Review - “Kế tiếp Mật mã Da Vinci sẽ là gì đây? Để thoả mãn bạn với những tác phẩm trinh thám lịch sử cho tới khi cuốn tiểu thuyết kế tiếp của Dan Brown ra đời, hãy đọc Nhật kí bí mật của Chúa của Raymond Khoury!” – Glamour Magazine. Tác giả Raymond Khoury: Tác giả Raymond Khoury Raymond Khoury là người gốc Li băng, theo gia đình chuyển sang sinh sống tại New York, Hoa Kỳ, từ năm 1975. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông trở về Li băng sinh sống. Ông từng theo học ngành kiến trúc tại Đại học Hoa Kỳ ở Beirut (Li băng). Tháng Hai năm 1984, chiến sự xảy ra ở Li băng, ông lại quay trở về Mỹ. Sau một thời gian làm kiến trúc sư ở Mỹ, ông sang Pháp và giành được học bổng MBA của Học viện Quản trị Kinh doanh châu Âu. Sau khi tốt nghiệp ông sang Luân Đôn và làm trong ngành ngân hàng. Raymond Khoury bắt đầu chính thức đến với nghiệp viết lách từ năm 1996, khi ông bắt tay viết kịch bản phim chuyển thể từ tiểu thuyết The Maid of Buttermere của Melvyn Bragg. Khoury cũng viết kịch bản cho show truyền hình Spooks của BBC. Cuốn tiểu thuyết đầu tay Nhật ký bí mật của Chúa (The Last Templar) được hình thành dựa trên kịch bản cùng tên Nhật ký bí mật của Chúa. Tiểu thuyết này được phát hành đầu tiên ở Anh năm 2005, rồi nhanh chóng trở thành New York Times bestseller suốt 11 tuần liên tiếp và bestseller trên thị trường thế giới. Hiện nó đã được dịch sang 38 thứ tiếng và xuất bản tại hơn 40 quốc gia. Mời các bạn đón đọc Nhật ký Bí mật của Chúa của tác giả Raymond Khoury.
Hoàng Cung Kỳ Ngộ
Tên eBook: Hoàng Cung Kỳ Ngộ (full prc, pdf, epub) Tác giả: Bí Ngô Thể loại: Xuyên Không, Cổ đại, Tiểu thuyết, Văn học Việt nam Nguồn: bingothanhthien.wordpress.com Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu:  Truyện Hoàng Cung Kỳ Ngộ là một truyện khá hấp dẫn, truyện dẫn dắt bạn đọc vào không gian cổ xưa đầy những bất ngờ. Trong phút chốc, Hạ Vy cảm thấy như mình đang biến thành một con ngốc. Bị người ta lôi khỏi giường, bị người ta lột sạch quần áo, rồi bị người ta quẳng lên người bao nhiêu thứ kì dị khác người. Nàng đảo mắt một vòng quanh phòng, càng lúc càng không lý giải nổi những điều đang xảy ra trước mắt mình.  “Nương nương, xin người giơ tay cao lên một chút để Trường Xuân giúp người thay y phục.” Cô gái nọ vừa nói với nàng xong, liền xoay sang một cô gái khác đứng cách đó không xa. “Trường Hạ, chọn trâm cài cho nương nương, phải hợp với màu áo đỏ và hoa văn thêu trên yếm.”  Họ gọi nàng là ‘nương nương’ ư? Đây không phải là cách xưng hô đối với phi tần thời phong kiến sao?  Cách họ ăn mặc, cách họ ứng xử, cả cách bày trí trong phòng đều rất giống hoàng cung cổ đại phương Đông. Phải chăng đây lại là một giấc mơ khác của nàng? Sau khi mơ thấy Vampire, liền chuyển sang mơ thấy mình vượt thời gian trở thành phi tần, giống như trong những quyển tiểu thuyết xuyên không nàng vừa đọc? Phải đây chính là truyện xuyên không của chính nàng, truyện làm người ta phải bật cười lẫn thán phục.  Chuyện xưa kể rằng... Một ngày nọ, có một con chim sẻ bảy màu bị cơn gió to hất xuống vùng đất xa xôi, nơi có ba chàng trai đẹp đang huýt sáo để giải toả nỗi sầu đời. Vừa thấy loài chim lạ lăn lóc nằm trên bãi cỏ, cả ba liền nảy sinh một cảm xúc dào dạt khó nói nên lời, nhào tới tranh nhau mang về tiêu khiển.  Lê Ứng Thiên thích thú đeo cho con chim sẻ ấy đủ loại trang sức, khiến cái cổ nó bị trẹo một bên. Hắn lại còn âm mưu cho nó ăn nhiều để nó béo phì không cất nổi cánh mà bay. Đi đâu hắn cũng bỏ nó vào tay áo. Tối tối, hắn thường ôm chặt nó vào lòng, thỏ thẻ: “Chim nhỏ, ta rất yêu ngươi, ngươi không được phép rời khỏi ta.”  Lê Nguyên Phong bứt một sợi lông chim ngắm nghía một hồi, sau đó bỏ đi như chưa từng nhìn thấy. Con chim sẻ hớn hở tung cánh bay cao. Nào ngờ, càng bay cao, nó lại càng thấy mình… đang lao dần xuống đất. Thật là quái lạ! Đến khi cảnh vật dưới đất thu vào tầm mắt, con chim nhỏ mới chợt nhận ra chân mình từ sớm đã bị buộc vào một sợi chỉ dài. Cái tên vừa bỏ đi bên dưới đang giật giật đầu kia sợi chỉ, thích thú chơi thả diều, và nó chính là con diều xấu số.  Lý Thiệu Minh dành ra nhiều ngày để băng bó và chăm sóc cho con chim nhỏ. Cử chỉ ân cần dịu dàng của hắn khiến nó vô cùng cảm động. Thế nhưng, nó lại khao khát trời xanh và tỏ ý muốn rời đi. Hắn vuốt nhẹ vòm lông trên cổ nó, âu yếm nói: “Ta yêu ngươi, nhưng ta tôn trọng ước nguyện của ngươi.” Chim nhỏ rơi nước mắt vì xúc động, không hề biết rằng phía sau câu nói ngọt ngào ấy còn ẩn chứa một lời cảnh báo đầy chết chóc: “Miễn là ngươi tránh được hàng rào lưới điện của ta.” Số phận con chim sẻ đáng thương và ham hố ấy rồi sẽ ra sao?  Mời bạn đọc truyện để biết được số phận ấy ???
Xa Đám Đông Điên Loạn
Tên eBook: Xa Đám Đông Điên Loạn (full prc, pdf, epub) Tác giả: Thomas Hardy Thể loại: Tiểu thuyết, Tình cảm, Văn học phương Tây Dịch giả: Hà Linh Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa - Thông Tin Trọng lượng (gr): 520 Tạo prc: Hoa Quân Tử - fb.com/nhut.huynhminh.129 Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu: Một câu chuyện tình yêu đã khiến độc giả của biết bao nhiêu thế hệ phải thổn thức, phải đắm say. Xa Đám Đông Điên Loạn đã trả lại cho trái tim tôi những xúc cảm đẹp nhất của tình yêu, trong một cơn hoang mang buồn bã vì những phũ phàng và cay đắng của một mối tình dang dở. Câu chuyện tình yêu của cô gái Bathsheba Everdene xinh đẹp, thông minh cùng với ba người đàn ông trong cuộc đời cô thực sự là một cuộc hành trình dài tìm kiếm hạnh phúc. Cuộc hành trình ấy là một cuộc hành trình đủ đầy cảm xúc, dư vị của cuộc sống và tình yêu với những thương nhớ, những giận hờn, si mê, và cả sự trả thù, sự chét chóc, đau đớn... Để rồi sau biết bao nhiêu sóng gió, trôi nổi, Bathshebe Everdene mới có thể tìm thấy được một người đàn ông thực sự dành cho cô và chỉ thuộc về cô mà thôi. Một người đàn ông đã đem đến cho cô trọn vẹn sự chân thành trong tình yêu. Ba người đàn ông bên cạnh cô đều yêu cô bằng một tình yêu si mê và điên dại... Chàng chăn cừu Gabriel là người đàn ông đã gặp Everdene đầu tiên, và ngay lần gặp gỡ đầu tiên, chàng đã đem lòng yêu thương cô gái này. Chàng ngỏ lời cầu hôn cô, nhưng cái chàng nhận lại là một lời từ chối phũ phàng. Cô gái rời bỏ chàng để trở về với cuộc sống của mình. Cứ tưởng rằng họ sẽ chẳng còn cơ hội nào để có thể gặp gỡ nhau nữa, nhưng chính định mệnh đã đưa họ đến bên nhau, gặp gỡ nhau trong một hoàn cảnh khác, khi nàng đã trở thành một cô chủ giàu có, còn chàng lại là người cần thiết cho công việc của nàng. Chàng trai chăn cừu nghèo khổ ấy vẫn còn giữ trong lòng mình tình yêu với cô gái xinh đẹp ấy, nhưng chàng không dám thổ lộ nữa vì bên cạnh nàng đã có biết bao nhiêu chàng trai hào hoa và giàu có khác săn đón. Chàng cứ ngày ngày ở bên âm thầm bảo vệ nàng, và chứng kiến nàng hạnh phúc bên cạnh những người đàn ông khác. Chàng đã từng căm ghét nàng vì điều đó, nhưng chàng không bao giờ có ý định rời bỏ nàng, dù trong mắt nàng, chàng chỉ là một kẻ làm công nghèo khổ. Cái cách mà chàng yêu và ở bên cạnh nàng đã khiến trái tim yếu đuối của một người con gái như tôi phải bật khóc. Tôi đã tự hỏi mình rằng, nếu là tôi ở vị trí của cô gái ấy liệu rằng tôi có thể gạt bỏ được những phù phiếm chớp nhoáng kia để mà nhận ra được điều thực sự ý nghĩa trong cuộc sống của mình không? Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy, nhưng tôi tin rằng cô gái Bathseba xinh đẹp rồi cũng sẽ có một cơ hội để nhìn thấy tâm chân tình của người đàn ông duy nhất yêu nàng chân thành. Đó là khi nàng bị vướng vào rắc rối vì những cuộc tình phù phiếm của mình, nàng sợ hãi nhận ra rằng nàng đang đem hạnh phúc của mình ra để đánh cược như một trò chơi vô bổ. Lúc đó, nàng mới bắt đầu cảm nhận được sự có mặt của một người đàn ông thực sự luôn bên cạnh mình. Người đàn ông không mang lại cho nàng nhiều của cải. Người đàn ông không ru ngủ nàng bằng những lời ngọt ngào có cánh. Nhưng chính người đàn ông trầm mặc ấy lại luôn bên cạnh  nàng, bảo vệ và che chở cho nàng. Cho đến tận giây phút cuối cùng… Tôi đã chăm chú theo dõi từng giây từng phút của câu chuyện để biết chắc chắn rằng liệu cuối cuộc hành trình của mình Bathseba có thể may mắn mà tìm thấy tình yêu và hạnh phúc đích thực của mình hay không? Và quả thật, kết thúc của câu chuyện đã không làm tôi phải thất vọng. Câu chuyện khép lại cũng là khi một tình yêu thực sự trong cuộc đời này được thổi bùng cháy lên, cũng là thắp lên trong tâm hồn tôi một hi vọng mãnh liệt về tình yêu chân thành và can đảm vượt qua được mọi thử thách của cuộc sống. Mời các bạn đón đọc Xa Đám Đông Điên Loạn của tác giả Thomas Hardy.