Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ánh Sao Lấp Lánh

Ông Tuấn bảo tất cả người nhà phải chuẩn bị chu đáo cho bữa cơm chiều nay. Hôm nay, ông khó khăn lắm mới mời được Vỹ Khang đến nhà, mục đích của ông là muốn giới thiệu cô con gái của mình cho anh. Nếu thành công, công ty của ông sẽ thoát được khó khăn và ông tin con gái mình đủ khả năng để làm mềm trái tim của người đàn ông sắt đá này. Buổi chiều, Vỹ Khang đến cùng trợ lý của mình, ông Tuấn thoáng thất vọng khi ông chỉ muốn Khang đến một mình để buổi tiệc có phần thân mật hơn. Nghĩ thế, nhưng ông vẫn tươi cười bắt tay anh: - Cảm ơn cậu đã đến! Tôi đã bảo người nhà chuẩn bị cơm, coi như cảm ơn cậu đã giúp đỡ tôi thời gian qua. Vỹ Khang khẽ cười không nói gì. Khi cả ba ngồi xuống phòng khách thì Hiểu Ngọc đã xuống đến bậc thang cuối, cô cười thật đẹp. Ông Tuấn nhìn con thầm hài lòng. - Ngọc! Con lại chào anh Khang và anh Nguyên đi. Hiểu Ngọc thật quyến rũ trong bồ đồ mặc nhà, cô duyên dáng gật đầu chào rồi xin phép ra phía sau. Ông Tuấn thầm quan sát nét mặt của Khang. Đôi mắt ông thoáng thất vọng, khi vẫn là khuôn mặt lạnh lùng cố hữu. Ông nói như vô tình: - Nó đang học năm cuối khoa Quản trị. Rất ngoan và học giỏi nên tôi rất yên tâm. Nguyên mỉm cười: - Tôi có biết Hiểu Ngọc, cô ấy rất nổi tiếng. Vừa là hoa khôi của trường lại là sinh viên xuất sắc. Ông Tuấn cười thật tươi không giấu được vẻ hãnh diện về con gái mình, ông nói khiêm tốn: - Tôi chỉ mong nó ra trường phụ tôi một tay. Nó còn khờ lắm, chưa biết gì về cách làm ăn bên ngoài cả. Cả ba nói chuyện một lúc thì Hiểu Ngọc bước ra, cô lễ phép mời mọi người vào dùng cơm. Ngọc ngồi đối diện với Vỹ Khang, cử chỉ hiền ngoan đến mềm lòng. Hình như suốt bữa ăn, chỉ có Nguyên là gợi chuyện với Ngọc, cô thoáng thất vọng nhưng cũng lịch sự đáp lại Nguyên. - Anh Khang chắc khó lắm nhỉ? Vỹ Khang khẽ nhướng mày như hỏi nhưng không nói gì. Ngọc mỉm cười: - Em chỉ nói theo cảm nhận của mình. Em nói có đúng không? Nguyên khẽ cười nhún vai: - Rất chính xác. Vỹ Khang hớp một ngụm rượu rồi nhìn Ngọc, cái nhìn thẳng thắn lần đầu tiên kể từ lúc gặp cô đến giờ. Như một luồng điện chạy khắp người cô, Hiểu Ngọc chớp mắt bối rối. Cùng lúc đó bà vú từ nhà sau mang lên một mâm cơm nhỏ trên tay. Bà Tuấn chặn lại: - Nhớ pha cho con bé ly sữa, hôm qua nó không ăn gì nhiều. - Dạ. Nói rồi bà vú đi thẳng lên phòng khách để lên lầu. Bà Tuấn quay lại, thấy cái nhìn của Nguyên, bà khẽ cười: - Con bé là em của Ngọc, nó bị bệnh nên không thể xuống. Chỉ một câu giải thích rồi chấm dứt, mọi người cũng không bận tâm. Lúc sau thì bà vú hớt hải chạy xuống: - Con Hân nóng quá, hình như là sốt rất cao. Bà Tuấn đứng bật dậy: - Để tôi xem. Tất cả đều ra phòng khách, ông Tuấn cũng không giấu được vẻ lo lắng khi gọi điện cho bác sĩ. Vỹ Khang và Nguyên đều trầm ngâm nhìn. Lúc sau bà Tuấn đi xuống: - Không hiểu sao nó bị bệnh như thế. Nó đâu có đi ra ngoài. Bác sĩ đến nhưng ông đề nghị phải đưa vào bệnh viện. Cả nhà lo lắng lên phòng của Hiểu Hân. Ông Tuấn ái ngại nhìn Vỹ Khang: - Xin lỗi cậu... Vỹ Khang khoát tay. Không thể làm khác, anh và Nguyên cùng lên xem sao. Đó là một căn phòng toàn một màu vàng ngộ nghĩnh, từ drap giường đến chiếc đèn ngủ nhỏ. Bấy giờ Khang mới lên tiếng: - Cô ấy không sao chứ? Anh bước vào phòng và nhìn đăm đăm cô gái nằm bất động được ủ ấm bằng chiếc chăn thật dày trên giường. Nguyên cũng nhìn nhưng đôi mắt không giấu giếm được sự say mê. Không ngờ ông Tuấn lại có hai người con gái đẹp đến như thế, nhưng ở Hiểu Hân lại có sức quyến rũ lạ thường dù cô đang bệnh. Chưa bao giờ Nguyên gặp người đẹp nào hoàn hảo đến thế. Anh cứ đứng lặng nhìn quên mọi thứ xung quanh. Bỗng Khang lên tiếng: - Sẵn có xe, để tôi giúp mọi người đưa cô ấy vào viện. Ông Tuấn dù đang lo cũng không giấu được sự ngạc nhiên về cách quan tâm của Khang. Bà Tuấn thì ngân ngấn nước mắt lăng xăng soạn đồ cho con. Ông Tuấn định đỡ Hiểu Hân nhưng Khang đã bước đến: - Để tôi giúp ông! Nói rồi anh bồng xốc Hiểu Hân trên tay trước đôi mặt ngạc nhiên của Nguyên. Khang đi nhanh ra xe bằng những bước chân hối hả, biểu lộ một sự lo lắng thực sự chứ không phải giúp xã giao. Hiểu Hân được đưa vào phòng cấp cứu, khoảng gần một tiếng bác sĩ mới bước ra: - Cô ấy bị suy nhược lại sốt rất cao, cũng may là đưa đến kịp. Mọi người đều thở nhẹ dù chưa hết lo lắng. Hiểu Hân được đưa vào phòng riêng biệt mà ông Tuấn đã đặt sẵn, cô vẫn chưa tỉnh. Sau khi đã an tâm về con, ông Tuấn quay qua Vỹ Khang: - Cám ơn cậu! - Không có gì. Cô ấy không sao là tốt rồi. Đôi mắt Khang lại chiếu vào Hiểu Hân đang nằm thiêm thiếp, ông Tuấn cũng nhận thấy sự khác lạ đó và khẽ thở dài. Một lúc sau thì Vỹ Khang và Nguyên ra về. Suốt đoạn đường, Nguyên thầm quan sát bạn, khuôn mặt của Vỹ Khang rất trầm ngâm, anh không nói một lời nào từ lúc lên xe. - Hôm nay mày lạ quá, có thể giải thích không? Khang châm cho mình điếu thuốc: - Không có gì. Nguyên thấy mình nên dừng lại và đừng hỏi gì cả, dù là bạn nhưng Nguyên thầm nhận mình rất ngán Khang. Hiểu Hân dựa vào cạnh giường. Mẹ vừa về nên cô cũng thấy thoải mái vì nếu có bà, bà sẽ ép ăn đủ thứ, mà Hiểu Hân lại rất ngán những thứ đó. Bà vú đã ra ngoài mua cháo, chỉ có một mình cô trong phòng. Bỗng có tiếng gõ, Hiểu Hân lắng tai nghe, chắc chắn không phải người nhà, cũng không thể là Uyên khi nhỏ đã vào lúc sáng. Hân nghĩ ngay đến Bình: - Vào đi! Tiếng chân bước hoàn toàn xa lạ, Hân không nhận ra âm thanh nào quen thuộc. Cô run giọng: - Ai? Tiếng bước chân dừng lại bên cạnh rồi một giọng nói trầm ấm vang lên. - Tôi là bạn của ba cô. Lúc cô vào bệnh viện tôi cũng có mặt nên tôi đến đây xem cô thế nào. Hiểu Hân chớp mắt: - Xin lỗi, tôi không biết ông. Người đàn ông khẽ cười: - Tôi tên Vỹ Khang. Cô khỏe chưa? - Tôi đỡ nhiều rồi. Cảm ơn ông. - Cô thấy tôi già lắm sao? Hiểu Hân chớp mắt, không hiểu ông ta vô ý hay cố tình khi nói như thế. Cô có thấy gì đâu? Không lẽ ông ta không biết cô không thể nhìn thấy ánh sáng hay sao? Hân bỗng nhớ ra cặp mắt kính mình đang đeo khi ra ngoài lúc nãy. - Xin lỗi, vì tôi nghĩ ông là bạn của ba mình. Vỹ Khang khẽ nhướng mắt, anh không thấy được gì khi cô che giấu cặp mắt của mình. - Tôi có nghe mẹ kể lại, chắc ông là người đã đưa tôi vào bệnh viện, đúng không? Vỹ Khang gật đầu không trả lời. Hiểu Hân cũng ngồi im vì không biết nói gì. Cô không quen khi tiếp xúc với người lạ như thế này. Cửa phòng được đẩy nhẹ, Hân nhẹ nhõm khi nhận ra tiếng chân bà vú: - Vú về rồi à? - Ừ. Bà vú quay qua nhìn Khang, cái nhìn đầy vẻ ngạc nhiên: - Cậu Khang đến lâu chưa? - Mới đây thôi. Vỹ Khang đưa cho bà vú bọc trái cây và một bó hoa rồi đưa mặt nhìn Hân: - Chúc Hân mau bình phục! - Cảm ơn. Khang hơi nhíu mày vì vẻ thờ ơ của Hân. Bà vú hình như nhận ra, liền nói: - Tôi nhận giùm Hân được rồi. Cảm ơn cậu. Khang trao tất cả cho bà vú. Hân chỉ gật đầu không nói gì. - Chào cô. Hân khẽ gật đầu chào lại, cử chỉ như đề phòng. Đợi cánh cửa khép lại, Hân vội hỏi: - Ai thế vú? Bà vú đặt vào tay cô cà mèn cháo: - Ba con rất quý cậu ấy. Ông định gả Hiểu Ngọc cho cậu ấy đấy. Hiểu Hân gỡ chiếc kính ra: - Vậy sao? Tại ông nói là bạn của ba con nên con thấy lạ, vì có bao giờ bạn của ba đến thăm con đâu. Hiểu Hân không hỏi nữa, cô ngoan ngoãn múc từng thìa cháo trong cái nhìn thương yêu của bà vú. Đây là lấn thứ hai Vỹ Khang đến nhà theo lời mời của ông Tuấn. Đặt tách trà xuống bàn, Khang hỏi: - Tôi có thể thăm Hiểu Hân không? Ông Tuấn nhìn Khang lo ngại: - Dĩ nhiên là được. Hiểu Ngọc từ trên lầu đi xuống, cô ngạc nhiên khi thấy Khang đứng lên. - Anh Khang về hả? Vỹ Khang đưa mắt nhìn cô: - Tôi lên thăm Hiểu Hân. Hiểu Ngọc chớp mắt, cô nói bình thản: - Để em đưa anh đi. Khang không nói gì, bước theo cô lên lầu. Ông Tuấn trầm ngâm nhìn theo. Ông không hiểu Khang là người thế nào, nhưng cách quan tâm của anh đối với Hiểu Hân thì chỉ có kẻ ngốc mới không nhận ra tình ý của Khang. Hiểu Ngọc mở cửa phòng em. Hân đang nằm ôm con gấu bông trên giường. Nhận ra ngay tiếng bước chân của chị, cô khẽ cười. - Có anh Khang đến thăm em nè. Ngồi dậy đi! Hiểu Hân bối rối ngồi lên. Hiểu Ngọc quay qua Khang: - Anh Khang ngồi chơi. Khang nhìn đăm đăm gương mặt của Hiểu Hân. Bây giờ anh mới thấy đôi mắt thật đẹp của cô nhưng có nét gì đó không linh động bình thường. - Hân nhớ tôi chứ? Hiểu Hân gật đầu không nói. Hiểu Ngọc chợt hỏi: - Cái đồng hồ chị tặng cho em đâu rồi? Hiểu Hân nhíu mày, cô luôn để trên đầu giường mà. Hân đưa tay tìm ở chỗ cũ nhưng trống không. Cô quờ quạng tìm chỗ khác, không hay có đôi mắt đang sững sờ nhìn theo từng cử chỉ của mình: - Em để ở đây mà, không biết ai lấy đi đâu mất rôi. Hiểu Ngọc bước đến nắm tay em: - Thôi đừng tìm nữa, để chị hỏi mọi người cho. - Dạ. Hiểu Hân lại ngồi im như lúc đầu. Khang như đã qua phút ngỡ ngàng, anh nhìn Hiểu Hân dịu dàng: - Tôi thấy Hân hồng hào hơn trước nhiều. Theo phản xạ, Hân đưa tay sờ lên mặt mình: - Vậy sao? Khang vẫn không rời mắt khỏi cô. Hiểu Ngọc cảm nhận được những gì Vỹ Khang đang thể hiện. Một nỗi cay đắng trào lên trong cô. - Hân có muốn hỏi gì về tôi không? Hân ngồi im, không hiểu Khang muốn nói gì, nhưng cô vẫn trả lời theo những gì mình biết: - Xin lỗi vì lần trước tôi không biết anh là ai. Nhưng giờ thì tôi biết rồi. - Biết gì? Hân ngước lên, có cái gì đó đau thắt trong Khang khi anh nhìn vào đôi mắt tuyệt đẹp của cô. Nó vẫn rất trong sáng, không ai ngờ được rằng cô không thấy được gì. - Anh là bạn của chị Ngọc. Vỹ Khang nhíu mày: - Và của Hân nữa, nếu em muốn. Hiểu Hân khẽ cười: - Tôi không vô phép thế đâu. Vỹ Khang nhìn cô không nói gì. Một lúc sau thì Khang ra về. Anh bước xuống phòng khách thì gặp ông bà Tuấn đang ngồi: - Cậu về sao? Vỹ Khang gật đầu: - Tôi có một cuộc hẹn nên phải đi. Hiểu Ngọc tiễn Khang ra cổng. Nhìn vẻ lạnh lùng cố hữu của anh, Ngọc khẽ quay đi. - Tôi về nhé! - Vỹ Khang bước đi. - Anh Khang! Vỹ Khang đứng lại chờ đợi. - Em muốn biết anh đến đây vì cái gì? Vỹ Khang quay lại nhìn cô: - Vì lời mời của ba em. - Thật không? Vỹ Khang nhướng mắt: - Nhưng bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ là vị khách không mời mà đến. Tim Hiểu Ngọc nhói đau, cô cố nói bình thản: - Nghĩa là sao? - Tôi sẽ nói chuyện với ba em về quyết định của mình. Em vào nhà đi! Hiểu Ngọc chớp mắt, cô muốn nghe Khang nói rõ ràng hơn, nhưng nhìn vẻ dứt khoát của anh, cô không dám. Tuần sau, ông Tuấn hoàn toàn kinh ngạc vì những điều Khang nói. Ông về nhà với tâm trạng vừa mừng lại vừa lo, một điều mà chưa bao giờ ông dám mơ. Hiểu Ngọc nghe với một nỗi đau không gì gượng nổi, Khang đã đánh vào lòng tự trọng của cô quá nặng nề. Anh là người đầu tiên cô đem tất cả tình cảm để yêu và hy vọng, thế mà Khang đã gạt bỏ không cần bận tâm. Ông Tuấn ngồi trầm ngâm bên tách trà, ông không biết mình phải nói gì với Hiểu Hân, con bé sẽ có thái độ gì? Vỹ Khang lại đến, bây giờ anh có thể tự do lên thăm Hiểu Hân mà không cần phải e dè. Khang gõ nhẹ cửa: - Vào đi! Sự im lặng của Hân làm Khang thấy thất vọng khi cô vẫn chưa quen được tiếng chân anh: - Em không đoán được ai à? - Xin lỗi, tôi không quen. Vỹ Khang ngồi xuống, đối diện với cô: - Nhận ra tiếng anh không? Hiểu Hân chớp mắt, cô thấy ngại vì cách nói thân mật gần như âu yếm của Khang: - Chị Ngọc không lên với anh sao? Vỹ Khang nhìn cô rồi cố ý hỏi để cho cô hiểu: - Tại sao Hiểu Ngọc phải lên với anh? Hiểu Hân chớp mắt, cô ngồi thẳng người lên, cách nói chuyện của Khang luôn làm cô bất an, luôn đề phòng. - Đừng căng thẳng như thế, anh hỏi rất nghiêm túc. Em cứ nói những gì mình nghĩ. Hiểu Hân lắc đầu: - Tôi không hiểu anh nói gì, khi tôi thấy mình không nói điều gì sai cả. Vỹ Khang khẽ cười: - Em không nói sai, nhưng anh muốn em hiểu rằng việc anh đến thăm em không liên quan gì đến Ngọc. Anh đến vì anh thích, thế thôi. Hiểu Hân ngồi im. Vỹ Khang nhìn cô đăm đăm như quan sát, cái nhìn của anh sắc đến nỗi nó lây sang cả Hân, dù không thấy nhưng cô vẫn cảm nhận được. Hân vụng về nắm chặt bàn tay mình lại, cử chỉ đó không qua mắt Khang: - Em không hiểu anh nói gì phải không? - Không và cũng không muốn hiểu. Anh đừng nói nữa. - Tại sao? Hiểu Hân chớp mắt như sắp khóc, cô thấy giận cay đắng: - Không tại sao cả. Nếu muốn lên thăm tôi, tốt nhất là anh hãy đi cùng chị Ngọc. Tôi mệt lắm, tôi muốn nghỉ. Xin lỗi anh... Vỹ Khang vẫn ngồi yên, không ngờ cách thể hiện của anh lại làm cô giận đến thế. Vỹ Khang hiểu để làm Hân chấp nhận thì là cả một quá trình, nhưng quan trọng là anh sẽ không bỏ cuộc. Vỹ Khang bước đến gần cô. Hân hơi lùi lại khi cảm nhận được sự gần gũi rất gần. Cô run giọng: - Anh muốn gì? Vỹ Khang thấy đau lòng khi nhìn vẻ sợ sệt của cô. Không ngờ có lúc anh khó diễn đạt tình cảm của mình như thế này. - Hôm nay, anh muốn em hiểu đúng những gì anh nói. Anh đến đây là vì em, Hiểu Ngọc không liên quan gì cả. Đừng suy nghĩ lung tung mà hãy đón nhận và suy nghĩ xem em có chấp nhận được anh không? Hiểu Hân im lìm. Vỹ Khang khẽ quay đi: - Em nghỉ đi. Anh về đây. Nói rồi Vỹ Khang bước ra ngoài. Anh biết cách thể hiện tình cảm của mình sẽ làm Hiểu Hân hoang mang, đề phòng nhưng Khang chấp nhận, chứ anh không bao giờ muốn Hân hiểu lầm tình cảm của mình. Ông Tuấn lên phòng Hân sau khi đã tiễn Khang về. Ông cứ ngồi trầm ngâm bên giường của con. Nhìn dáng vẻ im lìm thụ động của con, ông không khỏi đau lòng: - Con thấy Vỹ Khang thế nào Hân? - Sao ba lại hỏi thế? Ông nắm tay con khẽ cười: - Thằng Khang nó muốn cưới con. Con nghĩ sao? Hân nắm chặt tay ba mình: - Con không thể... Ông Tuấn vuốt tóc cô: - Ba hiểu con khó chấp nhận, nhưng Khang là người đáng tin cậy. Ba tin nó sẽ mang hạnh phúc đến cho con. Hiểu Hân khóc lặng lẽ, cô quá yếu đuối: - Con không muốn. Ba đừng đồng ý, sao ba không hiểu... Ông Tuấn ngắt ngang: - Ba hiểu tất cả, nhưng con đừng sống như thế nữa. Cơ hội chỉ đến một lần thôi, đó là hạnh phúc cả đời, con nên nắm lấy. Hiểu Hân im lìm, cô khẽ lắc đầu nhưng không diễn tả được suy nghĩ của mình. - Con xin lỗi. Ông Tuấn khẽ thở dài: - Ba nói thật, công ty sắp phá sản rồi mà Khang lại là người có thể cứu gia đình mình. Ba nói thế, con hiểu không Hân? Ông Tuấn gục đầu trong tay, ông không nhìn Hiểu Hân vì thấy mình không xứng đáng. Gương mặt thất thần, tuyệt vọng của con như ngọn roi quất vào lương tâm ông đau nhói: - Ba xin lỗi, nếu con không đồng ý, ba sẽ không ép. Con nghỉ đi. Nói rồi ông bước ra khỏi phòng, bỏ lại Hiểu Hân một màu đen tối cả ở ngoài lẫn trong tâm hồn. Cô không còn nhận biết được thứ ánh sáng nào có thể dìu dắt mình nữa. Vỹ Khang đưa cô vào phòng, anh để cô ngồi trên giường: - Em mệt lắm hả? Hiểu Hân im lìm, Khang khẽ nắm tay cô, Hân rút nhẹ: - Tôi muốn gặp vú. Khang vẫn dịu dàng: - Em cần gì? Hiểu Hân chớp mắt: - Xin lỗi, tôi chỉ quen với sự chăm sóc của vú. - Anh là chồng em, đó là bổn phận của anh. Hiểu Hân rụt tay lại: - Đừng làm tôi sợ, anh Khang. Vỹ Khang nhìn cô im lìm, ước gì cô đọc thấy tình yêu của anh dành cho cô: - Em nghỉ đi. Nói rồi anh bước ra ngoài, lát sau thì bà vú vào. Hiểu Hân nắm tay bà áp lên má: - Vú đừng đi đâu nhé, ở lại với con. Bà vú khẽ vuốt tóc cô: - Con nên tập làm quen với sự hiện diện của Vỹ Khang, cậu ấy mới là người con cần đấy. Hiểu Hân chớp mắt, cô hiểu chứ. Nếu được như những người bình thường khác, có lẽ cô sẽ không như thế này. Tâm trạng của cô làm sao mọi người hiểu được. Mời các bạn đón đọc Ánh Sao Lấp Lánh của tác giả Hoàng Anh.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đám Cưới Không Có Giấy Giá Thú - Ma Văn Kháng
Đám cưới không có giấy giá thú là đứa con tinh thần mới của nhà văn Ma Văn Kháng. Cũng như những tác phẩm trước, Đám cưới không có giấy giá thú nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ từ độc giả mà còn từ những nhà văn lớn khác của Việt Nam. *** Nhà văn Ma Văn Kháng (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại làng Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội) tên thật là Đinh Trọng Đoàn. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, học trường Sư phạm Hà Nội. Ông từng là giáo viên cấp hai, dạy môn Văn và là hiệu trưởng trường cấp 3 thị xã Lao Cai nay là tỉnh Lào Cai. Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 3 năm 1995 ông là Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã 8 lần đệ đơn xin thôi vị trí này. Tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979 Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983) Trăng non (tiểu thuyết 1984) Phép lạ thường ngày Thầy Thế đi chợ bán trứng Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982) Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985) Võ sỹ lên đài Thanh minh trời trong sáng Hoa gạo đỏ Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989) Đám cưới không giấy giá thú Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992) Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986) Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988) Giấy trắng (tiểu thuyết) Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988) Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992) Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994) Ngoại thành (truyện ngắn 1996) Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996) Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997) Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký 2009) Một mình một ngựa (Tiểu thuyết 2007) Một Chiều Dông Gió Một Nhan Sắc Đàn Bà Trốn Nợ *** Đám cưới không có giấy giá thú VĂN NGHỆ Số 6. 10/2/1990 Để triển khai kết quả của Đại hội nhà văn lần thứ IV, sáng ngày 11.1.1990, Tuần báo Van nghệ tổ chức một cuộc thảo luận về cuốn tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú” của nhà văn Ma Văn Kháng. Đây là buổi họp, mở đầu cho những cuộc sinh hoạt phê bình dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ thường xuyên được tổ chức trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng trang phê bình trên mặt báo, góp phần đẩy mạnh việc đổi mới công tác lý luận phê bình chung của chúng ta. Tới dự cuộc thảo luận có các nhà văn, nhà phê bình quen biết: Xuân Cang, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Xuân Thiều, Huy Phương, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Từ Sơn, Phan Hồng Giang - Đồng chí Lê Thanh Tùng, và đồng chí Xuân Du đại diện Nhà xuất bản Lao động cùng tới dự. Ban biên tập có gửi giấy mời nhà văn Bùi Hiển, nhưng đến phút cuối vì có việc bận đột xuất, nhà văn không đến dự được. Có mặt trong buổi họp còn có nhà văn Ma Văn Kháng, tác giả cuốn tiểu thuyết. Về phía chủ nhà, ngoài anh Hữu Thỉnh, nhà thơ, Tổng biên tập báo Văn nghệ, còn có các anh chị: Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Vinh, Phạm Tiến Duật, Hoàng Minh Tường, Phạm Đình Ân, Thiếu Mai. Sau lời đề dẫn của anh Hữu Thỉnh, cuộc hội thảo bắt đầu. Sau đây là ý kiến của từng đồng chí. Xuân Cang: Tôi cùng với anh Lê Thanh Tùng và anh Xuân Du là những người chịu trách nhiệm chính trị về cuốn sách của anh Kháng. Thú thật là khi mới được đọc qua một lần, tôi hơi hoảng. Tất cả các đảng viên cộng sản trong cuốn sách là những con người tồi tệ - tồi tệ thực sự chứ không chỉ là suy thoái. Vậy có phải là cuốn sách phủ nhận những người cộng sản, phủ nhận Đảng không? Sau khi đọc kỹ hơn, bình tâm suy nghĩ, tôi khẳng định là không phải như vậy. Thái độ đối với các tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm đa dạng, đa nghĩa là một sự thử thách mới đối với người đọc. Trước đây khoảng chục năm, một cuốn sách như kiểu cuốn sách này ra đời quả là một sự gay go. Nhiều độc giả ở ngành giáo dục cũng chấp nhận tác phẩm này. Họ nói rằng cuốn sách đã nói đúng sự thật. Sự thật trong ngành giáo dục còn có những con người, những đơn vị suy thoái hơn nữa kia. Tuy vậy, họ tỏ ra băn khoăn, vì trong ngành còn có những nhân tố tích cực nữa. Miêu tả như thế này có phải là bôi bác không, có sợ người đọc hiểu nhầm ngành giáo dục Tôi nói với anh em là cuốn sách này viết về ngành giáo dục, nhưng không phải chỉ đề cập đến những vấn đề của giáo dục mà là những vấn đề nhức nhối chung của xã hội. Ở đây có cuộc hôn phối không đúng quy luật giữa chúng ta và chủ nghĩa xã hội. Các bạn ấy còn băn khoăn: Vậy vai trò giáo dục của văn học là ở đâu? Tôi nói văn học còn có chức năng cao cả là phát hiện, khám phá, dự báo, báo động nữa. Có thể khai thác vai trò giáo dục của nó ở đấy. Đọc cuốn sách của anh Kháng không thể đọc một mạch. Từng trang, từng trang, nó cho người đọc nhận thức dần những điều tác giả muốn gửi gắm. Tôi đồng ý với Phan Hồng Giang, Ngô Ngọc Bội trước đây người sáng tác còn phải che chắn, rào đón quá nhiều. Ví dụ khi muốn xây dựng một nhân vật cộng sản, nhà văn thường tự hạn chế mình nhân vật này “đại diện” cho xã hội mới, nếu có khuyết phải có ưu, ưu là cơ bản, xây dựng một nhân vật tiêu cực là chỉ dám xếp anh ta vào chức phó. Ở đây anh Kháng đã mạnh dạn đưa ra những nhân vật chịu trách nhiệm chính để người đọc phán xét một cách bình đẳng. Nếu đọc theo lối truyền thống thì khó chấp nhận. Riêng tôi, tôi tán thành sự chuyển hướng về phương pháp này, sắp tới, hội đồng văn học công nhân khi xem xét vệc tặng thưởng các tác phẩm văn học đề tài công nhân không thể không tính tới cuốn sách này. Vừa ra đời, có ý kiến này ý kiến nọ, nhưng rồi cuốn sách đã đứng được, điều đó nói lên rằng cuốn sách đáp ứng với tình hình của xã hội chúng ta trong thập kỷ này. Nhà văn đã góp những suy nghĩ nghiêm túc về những vấn đề bức thiết đang đặt ra trong xã hội hiện nay. Phan Cự Đệ: Trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, nhà văn Ma Văn Kháng đã phản ánh được cái bi kịch của một nhà giáo, một tri thức: anh ta lúc thì đóng vai một nhà hiền triết, một nhân cách cao cả và thánh thiện nhưng lại bị ném vào một môi trường mà các giá trị tinh thần đang bị đảo lộn: một môi trường bị ô nhiễm, bị băng hoại về đạo đức và nhân phẩm: lúc thì hiện ra như một con người mơ mộng và lãng mạn, hay đỏ mặt vì mặc cảm và sĩ diện nhưng lại bị nhúng chìm trong cái biển đời thường dung tục, ở đó hàng ngày diễn ra cái cảnh chen lấn, cướp đoạt một cách trâng tráo, vô sỉ: lúc là một người say mê nghề nghiệp, nhiều hoài bão và khát vọng, muốn chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học nhưng lại bị vây bủa bởi một xã hội thực dụng và cơ hội, một xã hội tiêu thụ đang lên cơn sốt với những đam mê và khoái lạc, với khát vọng làm giàu, khát vọng chiếm đoạt quyền lực bằng bất cứ giá nào! Nhân vật anh giáo Tự phảng phất một mô-típ đã quen thuộc trong văn xuôi Việt Nam và thế giới: lúc là Đôn Ki-hô-tê một mình một dáo dũng cảm xông lên đánh nhau với lũ yêu quái, lúc lại là ông giáo Thứ đang sống mòn và chết mòn trong sạch một cách thụ động ở cái trường tư ngoại ô, lúc là một Hoàng thân Mưt-skin, một Pi-e Bô-du-khốp nhưng nhuốm màu sắc triết học phương Đông. Ma Văn Kháng đã viết về cái “bi kịch vỡ mộng” của một “bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ” đó một cách rất tâm huyết, với tất cả suy nghĩ và trăn trở, niềm khát vọng và nỗi đau của một nhà văn trước thời cuộc, trước tình trạng xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số người tự cho mình là cán bộ lãnh đạo, là trí thức hoặc kỹ sư của tâm hồn. Ma Văn Kháng đã nói lên được cái tâm sự có thật của những trí thức có tâm huyết, có hoài bão. Cách lý giải có thể còn phải bàn cãi, nhưng điều đáng trân trọng là tấm lòng trung thực và trong sáng của người cầm bút, là những trang viết chân thành và xúc động. Cuốn tiểu thuyết cũng bộc lộ khá rõ một số nhược điểm. Trước đây ta hay lý tưởng hóa một chiều các nhân vật đảng viên hoặc cán bộ lãnh đạo, gần đây lại có khuynh hướng biến họ thành những con rối, thành con người máy hoặc con người của dục vọng tầm thường (Những thiên đường mù, Ly thân, Những mảnh đời đen trắng). Tác phẩm của Ma Văn Kháng không rơi vào hai thái độ cực đoan đó. Tuy nhiên, cách nhìn những “nhân vật tiêu cực” trong hàng ngũ lãnh đạo ở đây có lúc còn đơn giản và phiến diện, đôi khi biến họ thành nhân vật của hài kịch, thành những tính cách bị phóng đại trong nghệ thuật biếm họa. Tính khái quát của loại nhân vật này chưa cao. Trong số này ngoài đời tôi thấy có những người xấu nhưng biết ngụy trang một cách thâm hiểm hơn hoặc có người tốt, chân thành, ngay cả trong sự ấu trĩ, máy móc của họ. Tác phẩm có nhiều trang sinh động, hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận hoặc dựng người, dựng cảnh nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách nặng nề vào những suy tư, vào những lời biện giải mang màu sắc duy lý của tiểu thuyết luận đề. Xuân Thiều: Nghe đồn cuốn sách “có vấn đề” tôi liền đọc ngay, hai đêm thì đọc xong. Và bây giờ, tôi sẵn sàng tranh luận với những ý kiến cho rằng cuốn sách “có vấn đề chính trị”, thậm chí tôi còn nghe có ý kiến nói cuốn sách “đi ngược lại nghị quyết 7” nữa kia. Theo tôi thì cuốn sách đã thể hiện được tâm huyết của tác giả, ấy là lòng tha thiết mong mỏi được sống trong một xã hội tốt đẹp lý tưởng. Thấy rõ nỗi đau đớn của tác giả: mình yêu chủ nghĩa xã hội như vậy mà sao trong thực tế xã hội lại có chiều ngược với suy nghĩ, mong ước của mình. Tôi khẳng định là tính tư tưởng của tác phẩm rất cao. Tính hiện thực cũng rất cao, vì tác giả đã mạnh dạn phơi bày không né tránh những vấn đề gay cấn nóng bỏng của xã hội. Trước đây dăm bảy năm, người viết chúng ta phải né tránh nhiều vấn đề, nhiều sự việc. Có muốn xây dựng nhân vật tiêu cực để phê phán thì cũng chỉ dám đưa ra anh “phó”: phó chủ tịch, phó chính ủy, phó bí thư huyện ủy... Tóm lại, anh phó lãnh đủ những đòn phê phán trong lúc anh chính bao giờ cũng nghiêm túc, sáng suốt, đúng đắn. Bởi vì nếu phê phán anh chính thị sợ bị hiểu lầm là nói xấu Đảng, thì chính mình sẽ bị đánh! Ở đây anh Ma Vãn Kháng đã gọi thẳng những người chịu trách nhiệm chính ở môi trường mà anh miêu tả: hiệu trưởng, bí thư chi bộ nhà trường, bí thư thị ủy. Tác giả đã nói thẳng sự thật mà không sợ bị hiểu là nói xấu Đảng. Dựng lên những nhân vật lãnh đạo dốt nát, thô thiển như vậy, anh tha thiết mong muốn những người lãnh đạo ở các ngành, các cấp có văn hóa hơn, trí tuệ hơn, sáng suốt, thông minh hơn. Đọc xong, ngẫm nghĩ về các nhân vật Dương, Cẩm, Lại, tôi lấy làm tiếc là các nhân vật này của anh còn giản đơn, chưa có chiều sâu. Chưa thấy bóng dáng của những nhân vật sai một cách chân thành, có ý đồ tốt, tưởng là đúng, là trung thành với lý tưởng cộng sản hóa ra lại sai lầm và mang lại những tác hại lớn cho xã hội. Nhân vật Tự là một người tri thức đầy bi kịch, suốt đời thất bại. Đáng buồn là nhân vật nàyquá yếu đuối, quá bất lực, suốt đời chịu đựng. Người như anh mà không tự sát là lạ! Đoạn viết về bộ đội có lẽ là chỗ yếu nhất, và hơi suy diễn đôi chút, chứng tỏ vốn hiểu biết về đời sống bộ đội của tác giả chưa nhiều và chưa sâu. Nói chung tôi thích cuốn sách này, một cuốn sách nhiều trăn trở ... Mời các bạn đón đọc Đám Cưới Không Có Giấy Giá Thú của tác giả Ma Văn Kháng.
Theo Đuổi - Phạm Thanh Thuý
Phạm Thanh Thúy là cây bút nữ có lối viết già dặn, không xa lạ với độc giả yêu văn chương. Tác phẩm của cô thường đăng trên các báo, tạp chí văn uy tín trong nước. Nhân vật chính của Theo đuổi là Hàm Yên - một nhà văn trẻ. Suốt thời thanh xuân, Hàm Yên ôm ấp mối tình từ thuở thơ bé với người bạn thiếu thời tên Phố. Tình cảm đó trở thành một nỗi nhức nhối, ám ảnh cô trên mỗi bước đường đời. Duyên phận đưa Hàm Yên và Phố đến những cuộc gặp gỡ tình cờ. Hết lần này đến lần khác, họ để lỡ nhau. Hàm Yên luôn muốn gợi cho Phố nhớ về những ký ức thời thơ bé, trong đó có cả ký ức đau buồn về cái chết của bố mẹ anh. Ngược lại, Phố tìm cách quên đi. Họ cứ thế đi tìm bóng hình nhau. Khi đã ở bên nhau, họ lại làm tổn thương nhau bằng ký ức. *** Tôi đến Cẩm Xuyên vào giữa mùa mưa. Mưa suốt ngày suốt đêm, mưa gối ngày này sang ngày khác. Bầu trời gần như lúc nào cũng sũng nước. Vào những khi mưa ngớt, từ trên cung đường quanh co uốn lượn theo dáng núi, thấy phía xa xa những thác nước huyền ảo như những áng tóc buông dài của nữ chúa thượng ngàn. Rồi thình lình, hàng trăm con thác ấy đột ngột băng qua đường, tuyệt đẹp và hung hãn, dường như muốn ngốn ngấu lấy tất cả những vật thể bé nhỏ đang trườn trên lằn chỉ vắt ngang núi kia. Con đường nhỏ chìm lút trong làn mưa trắng xóa. Vượt qua hàng trăm con thác trữ tình ấy thì đến Cẩm Xuyên. Cẩm Xuyên nằm trên độ cao 1500 mét so với mực nước biển. Cảm nhận đầu tiên chính là lạnh. Cái lạnh của gió, của hơi nước khi những đám mây trườn trên những ngọn núi, luồn sâu vào từng kẽ lá, băng qua những cây cầu treo chênh chao bắc ngang lòng những con suối mùa mưa sục sôi gầm gào bất tận. Ở xứ này, lúc nào người ta cũng có thể nghe thấy tiếng thác nước tuôn ở đâu đó. Khu nhà cũ, tường vôi trắng loang lổ tróc từng mảng thảm hại, rêu xanh phủ dày trên mái ngói. Và căn phòng, vì lâu không có người ở, toát lên một mùi đặc trưng ẩm mốc, sự cô đơn, lạnh lẽo và nỗi buồn. Nỗi buồn dường như trú ngụ ở đó từ rất lâu, thấm vào từng mi-li-mét không khí. Có hai cửa sổ, tất cả đều sơn xanh, có sẵn một số đồ đạc thiết yếu, hẳn nhiều người đã từng sống ở đó. Phía sau là một đồi thông. Tôi nhận lời viết tự truyện cho một cựu quan chức. Một người đàn bà quyền lực, nay đã nghỉ hưu và hưởng thụ cuộc sống nhàn nhã sau cả một đời lăn lộn với chính trường. Tài liệu đã thu thập đầy đủ từ một năm trước, giờ tôi chỉ cần tìm một nơi gợi cảm xúc để viết thành một cuốn sách. Một thời gian dài chìm trong nỗi buồn sâu thẳm, tôi muốn đến Cẩm Xuyên. Và tôi đã đến, giữa mùa mưa, sẽ ở lại một thời gian nào đó, tùy thuộc vào tôi quyết định. ... Mời các bạn đón đọc Theo Đuổi của tác giả Phạm Thanh Thuý.
Phúc Lành Của Đất
Phúc lành của đất đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Tác phẩm đồ sộ này viết về những người nông dân Na Uy gắn bó hàng đời với đất đai, trung thành với những truyền thống cổ xưa. Tác giả kêu gọi con người trở về với đất. Con người cá nhân chủ nghĩa kiêu hãnh trước kia tưởng có thể "làm rung chuyển thế giới bằng sự va chạm của vài tư tưởng phi lý" đã kết thúc đời mình trong chủ nghĩa bi quan và bị cái chết ám ảnh. Với văn phong trong sáng, cách diễn đạt gây bất ngờ, Knut Hamsun được coi là một trong những người cách tân văn xuôi Na Uy. Trong bài phát biểu tại lễ trao giải, đại diện Viện Hàn Lâm Thụy Điển nói: "Những ai muốn tìm trong văn học sự mô tả chân thật hiện thực đều tìm thấy trong Phúc lành của đất câu chuyện về cuộc đời của mỗi một con người, dù anh ta ở nơi đâu, lao động ở nơi đâu". *** Nhà văn Knut Hamsun (4/81859 – 19/2/1952) tên thật là Knud Pederson. Ông chào đời tại xã Lom, huyện Gudbrandsdalen, (nay thuộc tỉnh Oppland) miền Nam Na Uy; là con thứ tư trong một gia đình nghèo đông con (bảy người con). Năm ông lên bốn, cả gia đình chuyển tới sinh sống tại quận Hamarøy, tỉnh Nordland, miền Bắc Na Uy. Từ năm lên chín, ông phải tới giúp việc cho ông chú đang làm việc tại một bưu cục, thường xuyên bị đánh và bỏ đói. Những chấn thương tinh thần và thể xác này đã khắc sâu dấu ấn trong ông và là nguyên nhân của những di chứng thần kinh mãn tính về sau. Năm 1874, ông bỏ trốn trở về Lom, và từ đó bắt đầu một cuộc sống lang thang phiêu bạt khắp đó đây, hai lần sang Mỹ (1882-1884 và 1886-1888); nếm trải đủ mùi khổ ải, làm đủ mọi thứ nghề ngỗng trên đời: thư ký tiệm tạp hóa, bán hàng rong, phụ chữa giày, phụ tá cho quan chức hành chánh xã, giáo viên tiểu học, và hàng chục thứ nghề không tên khác. Từ năm mười bảy tuổi, ông cũng bắt đầu tập tành viết lách. Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Tổng cộng ông đã viết trên ba mươi cuốn tiểu thuyết và nhiều tác phẩm kịch, thơ… Trong đó nổi bật nhất là: Đói (Sult-1890); Những điều bí ẩn (Mysterier-1892); Pan (Pan-1894); Victoria (Victoria -1898); Dưới ánh sao thu (Under Høststjærnen -1906); Gã lang thang chơi đàn không dây (En Vandrer spiller med Sordin-1909) ; Niềm vui cuối cùng (Den sidste Glæde-1912); Phúc lành của đất (Markens Grøde-1917); Trên lối mòn hoang (Paa gjengrodde Stier-1949)… Năm 1917, ông mua một điền trang ở Nørholm, miền Nam Na Uy, lui về đó sống một cuộc đời ẩn dật, viết văn và làm việc nông điền. Năm 1920, ông đoạt giải Nobel văn chương nhờ bộ tiểu thuyết Phúc lành của đất . Xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, sự oán ghét chủ nghĩa tư bản hiện đại của bản thân và do hâm mộ truyền thống tư tưởng Nietzche trong chủ nghĩa Phát xít cũng như đã có sẵn cảm tình với Đức do chính nghĩa của nước này trong Thế chiến I, trong lúc đó công luận tại Na Uy lại nghiêng về Anh và Pháp, dần dần trong ông đã hình thành một cảm tình sai lệch với chủ nghĩa xấu xa này. Năm 1932, ông gặp Hitler và Joseph Goebbels – Bộ Trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã. Dù không bao giờ gia nhập Đảng Phát xít, ông đã có những hành động và phát ngôn bày tỏ rõ rệt thái độ ủng hộ Đức của mình, chẳng hạn như tuyên bố với những người đồng bào rằng: “Tất cả chúng ta đều là người Đức” trong thời gian Đức chiếm đóng Na Uy, hoặc công khai viết lời ca tụng Hitler khi nghe tin ông này chết rằng: “Ông ấy là một chiến binh, một chiến binh của nhân loại, và một nhà tiên tri của nền công lý đối với mọi quốc gia.” Sau Thế chiến II, ông bị công chúng ghét bỏ; do được coi là bị bệnh tâm thần nên ông không phải ngồi tù mà chỉ bị phạt tiền 80.000 đô la Mỹ (1947). Kể từ đó cho tới khi lìa đời, ông sống trong cảnh lẻ loi nghèo khổ, bị mọi người xung quanh xa lánh. Ngày 19-2-1952, Knut Hamsun qua đời ở thị trấn Grimstad, miền Nam Na Uy, hưởng thọ 92 tuổi. Hồi đầu năm 2009, khi Na Uy phát hành đồng tiền mệnh giá 200 Kroner (khoảng 500.000 đồng VN) in hình ông và tiếp sau đó là những hoạt động trọng thể tưởng niệm 150 năm ngày sinh của Hamsun, đã có nhiều quan điểm gay gắt phản đối từ nhiều nước trên thế giới. Dĩ nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều ý kiến đồng tình, biện minh cho những hoạt động nói trên. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Sài Gòn, 3-2010 Nguyễn Thành Nhân Mời các bạn đón đọc Phúc Lành Của Đất của tác giả Knut Hamsun.