Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Manon Lescaut - Abbe Prevost

Đời văn của linh mục Prévost thật khác thường: người đương thời từng say mê chuyền tay nhau đọc những pho tiểu thuyết bề thế của Prévost, chăm chú lắng nghe những bài diễn giảng của ông. Nhưng đến đầu thế kỷ XIX, ánh hào quang của những áng văn đó đã lu mờ đi, những bài diễn giảng kia không còn hợp với khẩu vị của công chúng thời nay nữa. Và bản thân tên tuổi của Prévost chắc hẳn rồi cũng sẽ mai một, nếu ông không để lại tập Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô. Thiên truyện tuy chiếm một chỗ đứng hết sức nhỏ nhoi trong toàn bộ cái di sản văn chương khá đồ sộ của nhà văn, nhưng nó đã mang lại cho Prévost một vinh quang thực sự bất tử và đưa ông lên hàng những đại biểu lớn nhất của văn chương thế giới. Antoine Francois Prévost sinh ngày mồng 1 tháng Tư năm 1697 tại thành Eđen (tỉnh Arthur) trong một gia đình tư sản rất được trọng vọng. Hồi bé, cậu học tại quê nhà, trong một trường sơ học của dòng Jésuistes. Bước sang tuổi thiếu niên, Prévost đã được bố mẹ thu xếp để cậu con sẵn sàng dấn thân vào con đường phụng sự Chúa. Vừa chớm đến tuổi trưởng thành, năm 16 tuổi, ông đã là sinh đồ của một chủng viện dòng Jésuistes ở Paris. Tại đây, người ta đã nhanh chóng nhận ra những khả năng xuất sắc của chàng trai, nên chỉ hai năm sau (1715), Prévost đã được gửi tới thị trấn La Flèche, theo học tại một trong những cơ sở đào tạo lớn nhất thời bấy giờ – trường Henri IV. Theo chương trình học thì tại đây, Prévost sẽ phải nghiền ngẫm giáo lý, triết học và các khoa học nhân văn khác. Nhưng mới học chưa đầy một năm, chẳng rõ vì lý do gì, ông đã từ giã La Flèche, ra đi. Từ đó, Prévost bắt đầu dấn thân vào không biết cơ man nào là những cuộc phiêu lưu, để cho miệng thế đã không ngớt lời dèm pha, thêu dệt nên đủ mọi thứ chuyện trong suốt nhiều năm sau đó. Các nhà văn học sử đã phải tốn khá nhiều giấy mực mới đẩy lùi được những lời đơm đặt nhảm nhí, bôi lọ tiểu sử của Prévost. Nhưng chỉ cần tính riêng những điều không thể chối cãi được trong đời tư của nhà văn, ta cũng đủ thấy ông đã phải sống một cuộc đời hết sức phức tạp, đầy sóng gió và mâu thuẫn, nhất là trong những năm còn đang độ trẻ trung. Rời La Flèche, Prévost sung ngay vào quân đội, làm một anh lính thường. Tòng ngũ chưa đầy hai năm, ông lại muốn về lại với cuộc sống tu hành (năm 1719), nhưng đã bị cự tuyệt. Prévost tức tốc sang ngay La Mã, hy vọng rằng sẽ cạy cục được các đấng bề trên của dòng Jésuistes cho mình được quyền tái nhập, để tiếp tục học hành. Nhưng giữa đường, chẳng may ông thọ bệnh. Một viên sĩ quan đã đứng ra giúp đỡ Prévost, đưa ông vào nhà thương và lo liệu cơm nước, thuốc thang. Nhưng chẳng bao lâu sau ông mới vỡ nhẽ ra rằng viên sĩ quan nọ chẳng phải chỉ vì nhân từ mà cưu mang ông; trong thâm tâm, gã còn nuôi một ý định khác: dụ dỗ chàng trai quay lại với cuộc đời binh nghiệp. Các khoản chi phí ông ta bỏ ra cho Prévost, chẳng qua chỉ như là món tiền ứng trước để ít nữa sẽ khấu vào đồng lương chú lính trẻ. Bởi thế, gã buộc Prévost phải tiếp tục tòng ngũ như trước. Để khỏi tái đăng bất đắc đĩ, Prévost bỏ sang Hà Lan. Được ít lâu, ông lại quay về quê, sống với gia đình. Có lẽ đây chính là thời kỳ nhà văn phải nếm trải cuộc phiêu lưu, tương tự như cuộc phiêu lưu tả trong thiên truyện nổi tiếng sau này. Cũng giống như nhân vật chính cuốn truyện, Prévost đã nhất quyết đi theo người tình mình yêu say đắm, đang bị cảnh sát bắt giữ, nhưng giữa đường thì lăn ra ốm, không còn kịp theo chân đám tù nhân kia, và từ đó mãi mãi mất hút tăm tích người yêu. Đau khổ và tuyệt vọng, Prévost bèn tìm cách lánh đời, và ông lại quay về với kinh bổn, nhưng lần này không phải trong dòng tu cũ, mà của dòng Bénédictin, vốn nổi danh với những trước tác khoa học, nhất là sử học nói riêng, Sau một năm thụ huấn, Prévost làm lễ tuyên thệ (1721). Nhưng ông không sao kham nổi nếp sống câu thúc giữa bốn bức tường âm u, và lòng vẫn không nguôi nhớ nhung cảnh sống phóng khoáng ngày nào. Quan hệ giữa ông với các vị chức sắc cai quản dòng tu cứ trở nên ngày một rắc rối dần. Bởi thế, chỉ trong vòng bảy năm thôi (1721-1728), Prévost đã phải tám lần thay đổi nơi tu luyện. Đó chính là thời kỳ Prévost bắt đầu lao vào sáng tác. Tại các trai phòng của tu viện Blanc-Manto và Saint-Germain des Prés, ông đã hoàn thành bốn tập đầu bộ Ký sự của một trang quý tộc lánh đời, thiên tiểu thuyết đã được coi là tác phẩm đã làm rạng danh cho tác giả. Hai tập đầu thiên truyện ra mắt công chúng vào đầu năm 1728. Sự xuất hiện của hai tập tiếp theo, tập III và tập IV, trùng với thời kỳ xảy ra một bước ngoặt ghê gớm trong đời nhà văn: ông bí mật trốn khỏi tu viện, lên đường về Paris. Dòng tu Bénédictin mưu toan ỉm đi vụ xì-căng-đan đó, thuyết phục ông quay về, nhưng vô hiệu. Bởi thế, họ đã phải nhờ đến viên cục trưởng cảnh sát kinh thành can thiệp, yêu cầu bắt giữ vị tu sĩ bỏ trốn. Ngày 6 tháng Một năm 1728, cảnh sát kinh thành ký lệnh bắt giam. Nhưng đáng nực cười là trong đơn kiện, dòng tu Bénédictin đã ghi rõ ràng kẻ bị truy nã là tác giả bộ Ký sự của một trang quý tộc - thiên truyện đang làm xôn xao dư luận Paris lác bấy giờ. Chỉ mươi hôm sau, ngày 19 tháng Một, kiểm duyệt cũng đã ký lệnh cho phép in tập III và tập IV Ký sự của một trang quý tộc. Hay tin cửa ngục đang mở rộng để chờ mình, Prévost hối hả rời quê nhà, sang Anh. Từ đó lại bắt đầu một chặng đường luân lạc mới là đồng thời cũng là giai đoạn hoạt động sáng tác sôi nổi nhất của nhà văn. Prévost tha hương từ năm 1729 đến hết năm 1734. Có thời, ông đã phải làm gia sư cho một quý tộc Anh, nhưng phần lớn thời giờ và tâm huyết lại dành cho viết lách. Năm 1751, Prévost bỏ sang Hà Lan. Trong chuyến đi này, chắc hẳn nhà văn đã mang sẵn trong hành trang Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô, và định đưa cho các nhà in ở Amsterđam xuất bản, Tuy nhiên, ngây ngất với những thành công tuyệt đỉnh của bộ Ký sự, các nhà kinh doanh sách Hà Lan chỉ muốn nhận từ tay ông những tập tiếp theo của bộ tiểu thuyết đó. Vì túng bấn, Prévost phải bắt tay viết tiếp hai tập nữa, mặc dù Ký sự hoàn toàn chẳng cần phụ thêm một dòng tục biên nào. Do nhu cầu thương mại, bộ tiểu thuyết đã được gắn thêm hai tập mới trong đó có một tập là Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô, mặc dù chính tác giả cũng đã phải thú thực trong Lời tựa ở đầu sách rằng câu chuyện tả ở đây chẳng hề liên quan gì với những biến cố đã thuật lại trong Ký sự. Như thế là, thiên truyện nhỏ khiến cho danh tiếng của linh mục Prévost trở nên bất tử đã ra mắt độc giả lần đầu ngay từ năm 1751, với tư cách là phụ lục của bộ Ký sự của một trang quý tộc mà ngày nay đã hoàn toàn bị lãng quên. Các sáng tác của Prévost sở dĩ được nhiều người hâm mộ trước hết là do tính hấp dẫn của chúng. Các tác phẩm của ông hầu như trang nào cũng vẽ lên một biến cố rất đỗi lôi cuốn – khi thì cảnh bắt cóc hoặc giết người, khi thì một cuộc truy nã, và đâu đâu cũng đầy rẫy những sự trùng khớp hết sức tình cờ, hành động tả ở đây phần nhiều đều diễn ra tại những căn nhà ẩm thấp, những lâu đài âm u, những cánh rừng hoang vắng hoặc những xứ sở xa lạ. Trong các nhân vật chính, bao giờ cũng phải có mặt một con “quỷ dữ”, tâm địa hắc ám, hành tích đầy bí ẩn, hiện thân cho cái ác. Người đọc còn bị lôi cuốn bởi những nét mới lạ mà Prévost lồng vào tính cách các nhân vật: tiểu thuyết nào của ông cũng khắc họa những con người tâm can bị thiêu đốt bởi những khát vọng mãnh liệt, có thể nuốt chửng hết thảy mọi thứ trên đời và lí trí không sao cưỡng nổi. Và niềm khát vọng giữ vai trò chủ chốt ở đây phần nhiều đều là những mối tình say đắm. Tình yêu trong các sáng tác của linh mục Prévost là thứ khát vọng tiền định, bản năng, không sức nào kiềm chế nổi, và phần nhiều đều bi thảm – dẫn người ta đến cho tuyệt vọng, chỉ còn biết quyên sinh, lắm khi còn đẩy người ta đến chỗ lao đầu vào những tội ác rùng rợn. Đồng thời, các nhân vật của Prévost trước sau vẫn coi tình yêu là một thứ hạnh phúc cao cả, mà chỉ những ai có diễm phúc lớn may ra mới được nếm trải; và chính vì diễm phúc đó, người ta dám sẵn sàng vứt bỏ hết thảy mọi thứ. Với tư cách là nhà tâm lý học, Prévost vốn chịu ảnh hưởng của những kịch tác gia phái cổ điển là Corneille và Racine, tác giả của những vở bi kịch mà cái giữ vai trò chủ đạo bao giờ cũng là những khát vọng không sao kìm chế nổi. Nhưng nếu những tình cảm được khắc họa trong các tác phẩm đó đều là những tình cảm trừu tượng và là số phận của những đấng anh hùng huyền thoại hoặc những nhân vật lịch sử phi phàm (các bậc vua chúa, các vị tướng soái), thì trong các thiên tiểu thuyết của Prévost, những khát vọng kia đều bùng cháy lên trong tâm can những kẻ địa vị xã hội khiêm nhường hơn; và chính nhờ vậy mà phẩm giá của họ đều vượt lên trên cái mức bình thường. Bởi thế, khát vọng nào của các nhân vật do Prévost tạo dựng cũng đều xung khắc gay gắt với những nhân tố thông thường trong cuộc sống của người đời – điều kiện vật chất, nếp nghĩ và nếp sống của gia đình, những định kiến của thế tục, v.v… Năm 1734, Prévost mới được quyền về lại quê hương: Giáo hoàng gia ân cho nhà văn được tiếp tục thử thách đức tin tại các tu viện như trước. Năm 1736, một đại quý tộc có quyền hành nhất nước Pháp thời kỳ ấy là hoàng thân Conti đã mời Prévost sung vào đoàn tùy tùng của ông ta, giữ chức linh mục trong hoàng cung, Prévost nhận lời ngay, vì đây là một chức hữu danh vô thực – không phải gánh vác một trọng trách nào, mà cũng chẳng được hưởng một thứ bổng lộc nào – nhưng lại cho phép ông được sống ở bên ngoài tu viện, danh tiếng lừng lẫy của nhà văn lớn nhất đương thời đã khiến giới thượng lưu và các xa lông văn chương mở rộng cửa đón ông, Prévost lại có thêm nhiều bạn mới là nhiều người hâm mộ mới. Tuy nhiên, cũng chính vào thời kỳ đó, Prévost đã lại phải lìa bỏ quê nhà lần nữa. Số là vào những năm đó, giới thượng lưu Pháp vốn sính một hình thức thông tin lạ đời: xuất bản các tạp chí viết tay, loan truyền đủ mọi thứ tin tức, kể cả những tin đồn thất thiệt, lẫn những chuyện đơm đặt hồ độ, chẳng đếm xỉa gì đến sự thật, của các vương tôn, công tử nhàn nhã. Đám thư lại có hoa tay phụ họa vào, ngồi nắn nót chép những trang tạp chí nọ để gửi đến đám khách hàng đặt mua. Prévost đã quá khinh suất, bằng lòng giúp đỡ việc biên tập về văn phong cho một trong những tạp chí loại đó. Một vị quý tộc có thân thế bất đồ đã bị tờ tạp chí này vu khống, ông ta bèn ra lệnh bắt giam chủ bút. Các nhà chức trách bắt đầu mở cuộc điều tra. Đến khi đó biết được rằng Prévost có nhúng tay vào việc biên tập, thì viên cục trưởng cảnh sát liền yêu cầu ông phải rời ngay nước Pháp. Prévost lại phải lưu lạc ở chốn đất khách quê người một năm rưỡi nữa, lúc ở Bỉ, lúc ở Frankfurt. Mãi đến lúc về lại Pháp, ông mới bắt đầu được hưởng một cuộc sống yên hàn, và danh tiếng ông mới đạt đến đỉnh cao chói lọi. Từ đó, Prévost mới được biết thế nào là sự thư thái tâm hồn và sự no đủ về vật chất. Prévost vẫn không rời bỏ sự nghiệp sáng tác cho đến tận giây phút trút hơi thở cuối cùng. Ông mất ngày 25 tháng Một năm 1763 vì vỡ tim trong một lần dạo chơi quanh điện Chanteille, ở ngoại ô Paris. *** Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô, như đã nói, ra mắt lần đầu vào năm 1731 ở Hà Lan với tư cách là phụ lục của tập VII bộ Ký sự của một trang quý tộc. Ở Pháp, kiệt tác này không được đánh giá cao ngay từ đầu, thành ra mãi đến năm 1733 mới được ấn hành. Tờ “Báo của cung đình và kinh thành Paris”, số ra ngày 21 tháng sáu năm 1733, đã đăng một mẩu tin như sau: “Mới đây, tập VII bộ Ký sự của một trang quý tộc đã ra mắt công chúng. Thiên truyện được viết tài tình và lôi cuốn đến mức ngay cả những kẻ bình thường cũng phải mủi lòng cho thân phận của một gã bịp bợm và một ả buôn phấn bán hương”. Nhưng chỉ ít lâu sau, các nhà chức trách kinh đô đã phải ký lệnh thu hồi và thiêu hủy quyển sách. Trong hồ sơ lưu trữ hiện còn giữ được biên bản tịch thu năm bản truyện của một chủ hiệu sách ở kinh thành và hai bản nữa của một chủ hiệu khác. Việc tịch thu sách trên thị trường dĩ nhiên không hề làm lu mờ danh tiếng của thiên truyện, và người đương thời vẫn háo hức chuyền tay nhau các ấn bản do nhiều nhà kinh doanh sách Hà Lan in ra, đang ồ ạt tràn vào đất Pháp tác bấy giờ. Việc cấm lưu hành Truyện hiệp sĩ đơ Griơ, coi đây là tác phẩm vô đạo đức, giữa lúc phong hóa suy đồi chưa từng thấy, giờ đây xem chừng rất khó hiểu. Nhưng có lẽ chính sự băng hoại đạo đức đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng không đánh giá đúng và không hiểu hết tư tưởng chính mà tác giả gửi gắm vào tác phẩm: người đương thời chỉ nhìn thấy ở đây câu chuyện về những cuộc phiêu lưu suồng sã, rẻ tiền của đôi trai gái hư thân mất nết. Đây là cách lý giải về nguyên nhân khiến người đương thời không đánh giá đúng thiên truyện của Prévost do chính A.I. Gertxen đưa ra. Sự cấm đoán đó đã thôi thúc Prévost đứng lên bảo vệ tác phẩm của chính ông trong tờ tạp chí “Đồng tình và phản đối” do bản thân nhà văn sáng lập và xuất bản từ năm 1735 – 1740. Prévost đã cố xoa dịu cái ấn tượng mạnh mẽ do tác phẩm gây ra và cải chính những lời quở trách mình là đã sáng tác ra một quyển sách “vô đạo đức”. “Công chúng đã đọc một cách say sưa tập cuối bộ Ký sự của một trang quý tộc, có in câu chuyện về cuộc phiêu lưu của hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô. Chúng tôi coi đây là một chàng trai có những thiên bẩm rực rỡ và sức lôi cuốn bất tận, say mê đến mức rồ dại một cô gái trẻ, vừa rất yêu chàng, nhưng vừa thích sống một cuộc đời phù hoa, trăng gió, hơn là đeo đuổi những hạnh phúc cao cả, có thể giúp cho người yêu bộc lộ hết những tài năng trời cho và làm rạng danh cho dòng dõi cao quý của chính chàng. Trước mắt chúng ta là một kẻ nô lệ bất hạnh của tình yêu; tuy nhìn thấy trước được mọi nỗi khốn đốn đang chờ mình, nhưng chàng trai không còn đủ sức để lẩn trốn chúng, đẩy lùi chúng; chàng đã hiên ngang đứng ra hứng chịu mọi nỗi khốn đốn ấy, mặc cho chúng giày vò mình, hoàn toàn chẳng đếm xỉa gì đến những phương sách khả dĩ giúp mình giành được một chỗ đứng dễ chịu hơn; tóm tại, đó là trang nam nhi vừa hư hỏng, vừa đạo đức, luôn đeo đuổi những ý định tốt lành, nhưng lại hành động một cách xấu xa, nếp cảm nghĩ thì rất đáng quyến rũ, nhưng hành vi thì đáng phỉ báng. Chẳng qua là một tính cách độc đáo. Tính cách của nàng Manông Lexcô lại càng độc đáo hơn. Nàng biết rõ thế nào là phải trái, thậm chí còn rất mực coi trọng lẽ phải, nhưng toàn làm những việc đáng chê trách. Nàng yêu tha thiết hiệp sĩ đơ Griơ, nhưng nỗi thèm khát cảnh giàu sang và hoa lệ đã khiến nàng phản lại những tình cảm của chính mình đối với chàng trai, chạy theo một gã tài chính lắm tiền. Phải làm chủ được một nghệ thuật thế nào mới có thể thu hút nơi cảm tình của độc giả, gợi lên nơi họ sự thông cảm đối với những bất hạnh mà cô gái hư thân mất nết này phải hứng chịu! Tuy cả hai đều là những kẻ hư hỏng, nhưng người ta vẫn thấy thương họ, vì thấy rằng sự hư hỏng ấy chung quy chỉ là hậu quả của sự yếu lòng và si mê; hơn nữa, ta cũng thấy rõ rằng trong thâm tâm, cả hai đều lên án gay gắt hành vi của chính mình và đều thừa nhận rằng cách cư xử như vậy là rất đáng chê trách. Xem thế đủ biết tuy miêu tả cái xấu, nhưng tác giả tuyệt nhiên không đem nó ra mà truyền giảng. Tác giả chỉ vẽ lên ở đây ảnh hưởng của những dục vọng cuồng si, đã khiến cho lý trí trở nên bất lực, khi mà con người bị cầm tù bởi nỗi bất hạnh là đem phó mặc lý trí của bản thân cho dục vọng thao túng…” Thiên truyện bị cấm lưu hành suốt hai chục năm dài đằng đẵng. Mãi đến năm 1735 mới lại được in ra, lần này thành hai tập mỏng, kèm theo không biết bao nhiêu sửa chữa, thậm chí còn đưa vào một tình tiết mới, tuy không hề làm thay đổi nội dung chính của câu chuyện. Từ đấy trở đi, Manông Lexcô mới giành được một chỗ đứng vững chãi trong các sáng tác xuất sắc nhất của văn chương thế giới xưa nay. *** Đề tài được Prévost luận giải trong Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô là thứ tình yêu tiền định, đủ sức nhấn chìm hết thảy mọi thứ ở đời. Đây là đề tài, như đã nói, vốn chiếm vị trí chủ chốt trong sáng tác của nhà văn. Nhưng khác với những bộ tiểu thuyết trường thiên của Prévost, cốt truyện vốn hết sức phức tạp và lắt léo, Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông là một áng văn bố cục cân đối và hài hóa khác thường. Nét đặc sắc ấy sở dĩ có được chắc hẳn, chính là do tính chất tự thuật của nó: cái bi kịch làm chất liệu của thiên truyện cũng chính là tấn bi kịch đầy xúc động mà tác giả đã nếm trải với tất cả tâm hồn mình một cách đủ sâu sắc, đến mức chẳng cần phải thêm thắt bất cứ một suy tưởng hay một biến cố hư cấu nào. Prévost đã dựng lên được một hình tượng về một “cô gái sa đọa”, có sức lôi cuốn mãnh liệt đến mức gần như lấn át hết hình ảnh của chàng hiệp sĩ chung tình của chính mình trong cảm thức của người đọc. Một chứng cứ, thoạt nhìn rất nhỏ nhặt, nhưng đầy sức thuyết phục, là: ngay từ đầu thế kỷ trước, các nhà kinh doanh sách đã tùy tiện “đổi” lại nhan đề tập sách từ Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô thành Truyện nàng Manông Lexcô và hiệp sĩ đơ Griơ; ít lâu sau, nữ nhân vật đã lấn át hẳn tên tuổi của chàng hiệp sĩ ở bìa sách: tên truyện, bây giờ chỉ còn vẻn vẹn ba chữ: Nàng Manông Lexcô. Mãi gần đây, các nhà xuất bản ở Pháp mới trở lại với cái tên cũ, do chính tác giả đặt cho quyển truyện, việc đảo ngược họ tên hai nhân vật tưởng chừng rất nhỏ nhặt, nhưng thực ra đã động chạm đến một vấn đề lớn: ai là nhân vật chính và tấn bi kịch, mà nhà văn muốn thuật lại với chúng ta trong tác phẩm, là bi kịch của người nào, và dĩ nhiên chẳng phải vô cớ mà Prévost đã để tên hiệp sĩ đơ Griơ lên ở đầu; chính chàng, hiệp sĩ đơ Griơ, chứ không phải Manông Lexcô, mới là nhân vật chính của tấn bi kịch trong truyện. Hơn nữa, mối xung đột được Prévost lồng vào các biến cố là ở đây tại chính là sự xung khắc gay gắt giữa hai tính cách: hiệp sĩ đơ Griơ và người con gái mà chàng say đắm yêu. Ví thử đơ Griơ cũng vô đạo đức như Manông thì cuộc hội ngộ giữa hai người chắc chắn sẽ chẳng kéo theo một tấn bi kịch nào: vì gắn bó số phận mình với Manông, chàng sẽ hóa thành một gã ma-cô tốt số; và với cái vẻ ngoài đầy quyến rũ của Manông, cuộc sống của họ rồi đây chắc hẳn sẽ trôi qua một cách êm ả trong no đủ, chẳng còn phải bận bịu, lo toan gì nữa… Vả chăng, cả người anh của Manông, lẫn bản thân nàng đều đã nhắc nhở hiệp sĩ nên đi theo chính con đường ấy. Nhưng toàn bộ sự tình chính là ở chỗ đơ Griơ và Manông là hai tính cách khác hẳn nhau; cả bản chất đạo đức, lẫn diện mạo tinh thần của cả hai đều rất ít có những nét chung. Bi kịch của đơ Griơ chính là ở chỗ chàng không thể chia sẻ với Manông một lý tưởng về tình yêu cao thượng, mà chỉ có nó mới đáp ứng được lòng mong mỏi của chàng; trong khi đó thì toàn bộ tấn bi kịch của Manông chung quy chỉ là sự thiếu thốn những điều kiện sinh hoạt vật chất. Nghe theo sự mách bảo của ý nguyện chính mình, Prévost đã thuật lại câu chuyện qua lời hiệp sĩ. Hình thức tự truyện cho phép nhà văn bộc lộ một cách hết sức sâu sắc và chân thực toàn bộ thế giới bên trong của nhân vật. Tấm lòng cao thượng bẩm sinh và nếp nghĩ quá thiên về lý tưởng đã không cho phép đơ Griơ nhận ra con người thực của Manông, chỉ họa hoằn lắm, và thường là vào lúc vắng bóng người yêu, đần óc chàng mới đủ sáng suốt để cảm nhận sự độc hại về đạo đức của chính mình, và càng nhận rõ được sự suy đốn đó sâu sắc bao nhiêu, chàng càng tin chắc thêm bấy nhiêu sự ươn hèn của bản thân và càng thấy rõ sẽ không còn biết lấy đâu ra sức lực nữa để mà chống trả, vì nghị lực chàng đã tiêu ma đi hết bởi lẽ vướng vào mối tình bất hạnh này. Trung thành với những lý tưởng cao cả của chính mình về tình yêu, hiệp sĩ đã cư xử với Manông như một hiện thân thuần khiết nhất của nữ tính, cần nhớ rằng trong suốt cuốn truyện, đơ Griơ đã không hề đã động lấy một lời về con người thể chất của Manông, về nét mặt của nàng. Đối với chàng, Manông là một thực thể tuyệt đối, hao hàm trong bản thân nó hết thảy mọi sự hoàn thiện. Và với tư cách một hiệp sĩ chân chính, đơ Griơ đã hiến thân cho thần tượng mình ngưỡng mộ hết thảy mọi thứ đang có – tên tuổi, địa vị xã hội, gia đình, bước đường công danh, cuộc sống sung túc; và nếu cần, sẵn sàng hiến luôn cả mạng sống của chính mình. Hình tượng của Manông, xét về các phẩm chất nghệ thuật, là một trong những hình tượng hoàn mỹ nhất của văn chương thế giới. Ở đây, nhà văn đã kết hợp được thành một thể thống nhất hai khía cạnh tương phản gay gắt – vẻ ngoài đầy sức quyến rũ và sự hạn hẹp về thế giới nội tâm của nữ nhân vật – bằng một tài nghệ phi thường đến mức người đọc luôn luôn bị quyền lực của hai tình cảm đối lập nhau chi phối: vừa thán phục và vừa căm giận. Tuy nhiên, cũng đừng quên rằng hình tượng Manông mà chúng ta cảm nhận ở đây là qua lời kể của đơ Griơ – một người thuật chuyện nhiệt thành đến mức khó có ai theo kịp. Đơ Griơ lúc nào cũng không tiếc lời biện hộ cho nàng và chỉ hãn hữu lắm mới cảm nhận được ít nhiều rõ nét những thói hư tật xấu của cô gái, Manông là một phụ nữ mất hết mọi nền nếp đạo lý, là một con người trí lực kém cỏi và tầm nhìn cực kỳ thiển cận, chật hẹp, cho nên sẽ rất lầm lạc, nếu khẳng định rằng cái ngự trị trong thiên truyện là ý niệm “tính người tối đa” (chelovecheskij maksimum). Không cần tuyên bố công khai rằng chủ nghĩa khoái lạc nhất thiết phải là bạn đồng hành cố hữu của thói xem thường các quy phạm đạo đức vẫn được xã hội chấp nhận, ta vẫn có quyền coi việc đánh đồng hình tượng Manông với ý niệm “tính người tối đa” là việc làm quá ư ngây thơ: tính người đâu phải chỉ thu gọn ở những bộ trang phục lộng lẫy, ở những bữa dạ tiệc thịnh soạn, ở những chiếc vé xem hát đắt tiền và những trò tiêu khiển miên man. Cội nguồn tạo dựng, ngay cả khi xét trong phạm vi của nữ giới đơn thuần đi nữa, cũng xa lạ đối với Manông. Ta không tài nào hình dung nổi nàng trong cương vị của một người mẹ, một người vợ, tảo tần nuôi con dạy cái và thu vén việc cửa nhà. Hơn nữa, Manông còn mang sẵn trong con người mình bản năng tàn phá – hễ tiếp cận với nàng, mọi thứ đều lập tức trở nên đồi bại. Ngay cả đám tôi tớ của Manông, do chứng kiến cảnh sống chung của nàng với đơ Griơ, cũng đã tiêm nhiễm phải những thói xấu của chủ: họ cũng lấy cắp tiền nong, tư trang của chủ, y hệt như nàng đã lấy cắp của đám khách làng chơi đến giải buồn. Manông không đủ sức mang lại hạnh phúc cho người nàng yêu: ngay cả khi đã đứng vững chân trên một mảnh đất chắc chắn như mối tình rất mực thủy chung của đơ Griơ đi nữa, nàng vẫn không sao xây dựng được một hạnh phúc lứa đôi bền chặt. Đến như tình cảm máu mủ, ruột rà, nàng cũng hoàn toàn xa lạ, Không như đơ Griơ, lúc nào cũng ngóng chờ được trở về sum họp với cha già, với người em, với người bạn thời thơ ấu, Manông không bao giờ tưởng đến gia đình và đả động đến gia đình. Ngay cả bạn gái, nàng cũng không có. Trong khi đơ Griơ bao giờ cũng canh cánh bên lòng hình ảnh người bạn Tibecgiơ, thậm chí cả khi hai người xa cách, thì Manông hoàn toàn chẳng có một ai để mà kết thân. Nàng không hề dành sẵn đất cho tình bằng hữu. Cần nhận thấy rằng trong thiên truyện của Prévost, từ phía đơ Griơ đã xuất hiện toàn những nhân vật chính diện (cha chàng, em chàng, Tibecgiơ, ông đơ T… – và thậm chí cả viên cai ngục ở nhà tù Priut nữa), thì từ phía Manông chỉ xuất hiệu toàn những nhân vật phản diện (anh nàng, đám khách làng chơi liên tục thế chân nhau). Manông tựa hồ như một thứ ma lực, chỉ lôi cuốn về phía mình toàn những cái xấu, cái ác, cũng rất đáng chú ý là hết thảy những kẻ “ngưỡng mộ” Manông, được nhà văn dựng lại trong truyện, đều chỉ đến với nàng không từ một động cơ nào khác, ngoài những dục vọng đê cấp; họ không hề ngờ vực mảy may nào sự thành công của chính họ, vì ai cũng thừa biết rằng nàng không phải là “món khó gần”. Không hề thấy một gã nào trong số họ đến với nàng là do những tình cảm chân thành thôi thúc. Nói cho công bằng, thì khi sang đến Mỹ, hành vi của Manông có phần ít đáng chê trách hơn lúc còn ở quê nhà. Nhưng vị tất đã có thể xem đây là kết quả của sự ăn năn hay sự cải hóa tự nhiên của tâm tính. Sang đất Mỹ thời ấy là cả một cuộc hành trình dài dằng dặc – hàng trăm cây số rong xé trên đất Pháp, thêm hai tháng trường lênh đênh trên thuyền buồm giữa đại đương, rồi điều kiện sống khắc nghiệt ở Tân thế giới, thân phận hèn kém của kẻ bị lưu đày, và những thiếu thốn, thua thiệt đủ mọi đường – tất cả những cái đó không thể không làm tổn hại đến sức mạnh tinh thần và thể chất của Manông. Sang đến Mỹ, nàng đã hóa thành một con người khác – đau khổ, kiệt sức, tuyệt vọng, từ bỏ hẳn lối sống buông thả và nông nổi ngày nào. Nét nổi bật của thiên truyện là Prévost đã miêu tả một cách tỉ mỉ lạ thường những đặc điểm về sinh hoạt của thời đại. Hành động tả trong truyện diễn ra đúng vào thời kỳ Trùng Hưng (1715 – 1723), khi mà xã hội Pháp say sưa lao vào một lối sống buông thả hoàn toàn, vào những năm chót cùng của triều đại Louis XIV dài lê thê. Cái ngự trị trong chốn cung đình là sự hà khắc và thói đạo đức giả. Không khí đó đã ảnh hưởng rất sâu đậm đến toàn bộ nếp sinh hoạt bên ngoài xã hội, sau ngày Louis XIV chết đi, ngôi báu đã lọt vào tay người chắt là Louis XV (vì cả con, lẫn cháu vua đều đã về chầu Chúa trước tổ phụ), bấy giờ mới chỉ là một cậu bé con thơ dại. Bởi thế, mọi quyền bính trong nước, trên thực tế, đều nằm trong tay quan nhiếp chính Philippe Orléans ham vui và nông nổi. Thần dân trong nước tức thì phản ứng ngay lại với bầu không khí tẻ nhạt, giả dối, từng chiếm địa vị thống trị dưới thời đức vua già lụ khụ ngày xưa, xã hội Pháp tức thì trút một hơi thở phào nhẹ nhõm và lao ngay vào cuộc sống ăn chơi, phè phỡn, cho bõ những ngày dài câu thúc, kiêng khem mới đây. Linh mục Prévost quả đã làm sống lại trong truyện một cách chính xác phi thường nhiều đặc điểm của nếp sống thời ấy. Các sử gia thời Trùng Hưng đều nhất trí thừa nhận rằng những tình tiết nhỏ nhặt, như thể thức lưu đày sang Mỹ những tù nhân bị khép tội phát vãng, địa điểm các sòng bạc và lề thói sát phạt của đám dân máu mê, những thể chế tồn tại trong các sở cẩm, các trại giam, cũng như các tửu điếm, v.v..., nhất nhất đều xác thực. Tác giả không tự cho phép mình bỏ qua bất cứ chi tiết nào từng được chứng kiến tận mắt. Bức tranh do nhà văn vẽ lại về cuộc sống thời bấy giờ quả chân xác đến mức khó lòng quở trách. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những xung đột được Prévost khắc họa ở đây đều chỉ tiêu biểu cho cái thời đại lịch sử ấy, bởi lẽ những trở lực ngăn cản đơ Griơ và Manông vươn đến hạnh phúc không chỉ đơn thuần là ở các thể chế xã hội thời Trùng Hưng, mà chính là ở tính cách của Manông. Nền văn chương thế kỷ XVIII vốn không thiếu gì những sáng tác miêu tả những trở lực do các thiên kiến của giai cấp quý tộc vô tư sản dựng lên trên bước đường đi đến hạnh phúc của các đôi nam thanh nữ tú, chỉ cần đơn cử ra đây một dẫn chứng: trong Nàng Héloise mới, hạnh phúc của Julie và Xanh Pré cũng đã sụp đổ, chung quy chỉ vì Xanh Pré xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tấn bi kịch của đơ Griơ có một ngọn nguồn hoàn toàn khác, và không thể đã hết trách nhiệm lên đầu hoàn cảnh xung quanh, nói riêng là người cha già của hiệp sĩ. Ông thân của đơ Griơ chống lại cuộc hôn nhân giữa con mình với Manông không phải vì nàng xuất thân từ tầng lớp dân thường, mà chính vì nàng là một nhân cách suy đốn về đạo đức, không thể mang lại hạnh phúc cho con trai của chính mình, cha của đơ Griơ là một người từng trải, và hiểu được thế nào là nhân tình thế thái. Câu chuyện trốn nhà ra đi của Manông với con trai ông, người nàng mới quen biết qua loa, rồi hoàn cảnh diễn ra cuộc hội ngộ đó, và chắc hẳn chính số phản phúc của Manông, đã tố giác người tình khi vừa hay biết được rằng chàng không lấy đâu ra tiền để chu cấp cho mình – tất cả những sự kiện ấy đã giúp ông thấu hiểu được chân tướng của Manông và có đầy đủ mọi lý lẽ để chống lại cuộc hôn nhân. Không một ông cha hay bà mẹ nào, chẳng riêng gì ở thời Trùng Hưng, mà ở bất cứ thời đại nào khác, lại có thể tán thành với dự tính của một anh con trai mười bảy, do chính mình đứt ruột đẻ ra, đem gắn bó số phận với một cô gái giang hồ, chuyên ăn cắp vặt và toàn ngấm ngâm mưu mô những chuyện làm ăn gian lận. Tìm cách biện hộ cho Manông, xuê xoa hay nhắm mắt làm ngơ với những căn nguyên sâu xa của cái nhân cách tồi tệ đó có nghĩa là hạn chế bớt mức độ gay gắt, tính độc đáo và tầm bao quát của hình tượng ấy, do đó, không đánh giá hết chiều sâu tâm lý và tài nghệ của nhà văn. Người bạn hơn tuổi của đơ Griơ, chàng Tibecgiơ, được tác giả khắc họa như một người bạn mẫu mực, trung thành. Từ lâu rồi, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy: các nhân vật chính diện, nhất là trong văn chương thế kỷ XVIII, bao giờ cũng là những nhân cách kém sắc sảo, “nghèo nàn” hơn các nhân vật phản diện, Nhưng ở Tibecgiơ, đức khôn ngoan và lòng chung thủy trong hành vi tuyệt nhiên không làm hình tượng chàng trở nên mờ nhạt và vô vị. Tibecgiơ tuy kiên định trong đức tin, nhưng vẫn tỏ ra rất mực khoan dung đối với đơ Griơ; chàng rất nghiêm khắc, nhưng đồng thời vẫn rất người, ví thử Tibecgiơ chỉ là một anh chàng cố chấp, ti tiện và thông thái rởm, chỉ biết truyền giảng những bài học luân lý tẻ nhạt đơn thuần, thì không đời nào đơ Griơ lại quý trọng chàng đến thế, Tibecgiơ là người bạn chân tình, ngay thẳng, đầy lòng bao dung, nhưng không bao giờ tha thứ cho bạn về những việc làm nông nổi. Sự trung thành, tận tụy của chàng đã đạt đến đỉnh cao của đức xả thân: để cứu bạn, chàng sẵn sàng hy sinh hết thảy, theo chân bạn sang tận đến Mỹ, mặc đã chuyến đi ấy vào thời Prévost phải kéo đài hàng mấy tháng trường và phải trải qua bao nhọc nhằn, vất vả, thậm chí có khi phải mạo hiểm đến cả tính mạng nữa. Đơ Griơ đánh giá rất cao tình bạn giữa chàng và Tibecgiơ, chàng tin chắc rằng không một thử thách nào có thể bẻ gãy được mối quan hệ thân thiết đó. Tibecgiơ là người độc nhất mà đơ Griơ có thể cởi mở hết tấm lòng, và chính nhờ những cuộc tranh cãi tay đôi với Tibécgiơ, chàng đã lần gỡ được thực chất của mối tình say đắm mình đang đeo đuổi và tìm thấy lời giải đáp cho những câu hỏi đang dằn vặt tâm can. Trong những cuộc tranh cãi ấy, quan điểm của hai người hoàn toàn khác nhau, nhưng điều đó không hề cản trở họ hiểu nhau (nhất là Tibecgiơ đối với tâm tư của đơ Griơ). Lý lẽ do Tibecgiơ đưa ra, đơ Griơ hoàn toàn không thể chấp nhận được, vì những lý lẽ ấy chẳng những bao hàm cả sự kết án cách hành động của chàng, mà còn công khai bác bỏ hoàn toàn cái ảo tưởng của chàng về cuộc sống hạnh phúc với Manông. Dẫu sao, chàng hiệp sĩ bất hạnh cũng chẳng còn ai khác nữa để mà tâm sự: chàng biết rõ rằng người bạn ấy sẽ đem đến cho mình chẳng phải chỉ có những lời chỉ trích, mà còn có cả sự cảm thông, sự nâng đỡ và sự thấu hiểu. Nhân tiện cần ghi nhận rằng chưa bao giờ đơ Griơ đã thử cố trò chuyện với Manông về những đề tài thường xuyên được đề cập đến trong những cuộc tranh luận với Tibecgiơ. Trước ngày gặp Manông, đơ Griơ chắc hẳn vẫn luôn luôn chia sẻ các quan niệm của Tibecgiơ. Sự giống nhau đó chính là nền tảng của tình bạn giữa hai người, là cội rễ của sự kính trọng lẫn nhau giữa họ. Sự bất đồng quan điểm giữa đơ Griơ và Tibecgiơ chỉ là một chuyện nhất thời, và rất có thể sự bất đồng đó, nếu không hoàn toàn mất đi, thì ít ra cũng sẽ đỡ gay gắt hơn, một khi những thế lực chia rẽ họ mất tác dụng. Theo nhận định rất sắc sảo của nhà nghiên cứu văn học Arsen Usse, Tibecgiơ là lương tâm của hiệp sĩ đơ Griơ. Tài nghệ mà nhà văn đem ra để sáng tác nên Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô đã đưa thiên truyện không bao lăm trang này vào hàng những kiệt tác vĩ đại nhất chẳng những của văn chương Pháp, mà cả của văn chương thế giới. Thiên truyện được viết bằng một bút Pháp giản dị và hài hòa lạ thường; lời văn chuẩn xác, trong sáng và đầy âm hưởng, không nhường bước trước bất cứ một áng vấn mẫu mực ưu tú nào trong văn chương Pháp thời cổ điển và thời Khai sáng. Câu chuyện của đơ Griơ về những nỗi bất hạnh và đau khổ của chính chàng được thuật lại một cách chân thật, không chút khoa trương, không chút tô vẽ cốt gây ấn tượng; nhưng đằng sau cái vẻ ngoài kìm giữ đó, người đọc vẫn luôn cầm thấy một nỗi say mê sôi sục. Cả về phương điện bố cục nữa, thiên truyện cũng thật hoàn mỹ: ngay từ mấy trang đầu, tác giả đã đưa chúng ta đi thẳng vào diễn biến câu chuyện, và hứng thú của chúng ta vẫn không hề giảm sút mảy may cho đến lúc đọc dòng chót cùng tác phẩm. Nhưng công lao chủ yếu của linh mục Prévost dĩ nhiên là ở chỗ ông đã tạo dựng được hai hình tượng văn học thực sự bất hủ. Hiệp sĩ đơ Griơ là mẫu mực của một tình yêu rất mực thủy chung, của đức hy sinh và của lòng vị tha vô bờ hến. Nhà văn đã vẽ lên trước mắt chúng ta những tâm tư đau khổ và phức tạp của chàng trai một cách đầy thuyết phục đến mức ta sẵn lòng tha thứ hết cho chàng mọi lỗi lầm chàng đã phạm phải và luôn vững tin vào sự cao thượng và sự trong sạch về đạo đức của chàng. Còn hình tượng Manông thì thật khó tìm một điển hình văn học nào sánh ngang về sự hoàn mỹ trong văn chương thế giới xưa nay. Nhà văn đã ký thác nơi cô gái đầu óc trống rỗng, tâm hồn chai sạn, tầm mắt hạn hẹp và đạo đức đốn mạt ấy một vẻ quyến rũ mãnh liệt đến mức khiến ta suýt quên đi những thói hư tật xấu của nàng và sẵn sàng hâm mộ nàng cũng chẳng kém gì đích thân hiệp sĩ đơ Griơ. Arsen Usse đã nhận xét rất đúng rằng dù nhân tình của Manông có đông đến bao nhiêu đi chăng nữa, con số đó vẫn chẳng thấm tháp vào đâu so với đám người ngưỡng mộ cô nữ nhân vật mà linh mục Prévost đã dắt đến bên chân nàng. Thật vậy, đã hai thế kỷ trôi qua, nhưng Manông vẫn đầy sức quyến rũ. Từ các trang sách của nhà văn, tiếng cười say nồng của nàng vẫn vang vọng mãi không thôi và ánh mắt huyền bí, ranh mãnh của nàng vẫn lôi cuốn chúng ta như ngày nàng mới ra mắt. E. GUNST[1] Đức Dương dịch Mời các bạn đón đọc Manon Lescaut của tác giả Abbe Prevost.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Em
Bạn sẽ làm gì khi một cô nhà văn xinh đẹp, gợi cảm bước vào hiệu sách nơi bạn làm việc? Joe Goldberg đã làm cái điều mà bất cứ ai trong tình cảnh đấy cũng sẽ làm: Google tên của cô.  Chỉ có một Guinevere Beck duy nhất ở thành phố New York này, người sở hữu một tài khoản Facebook và viết Tweet gần như mỗi ngày. Joe biết được mọi thứ mà anh cần biết về cô: bạn cô ấy chỉ gọi cô ấy là Beck, cô ấy học Đại học Brown, sống trên phố Bank và sẽ đi đến một quán bar ở Brooklyn tối nay để kiếm tìm một cuộc hẹn “ngẫu nhiên” hoàn hảo.  Từ kẻ đeo bám trở thành bạn trai, Joe biến mình thành người đàn ông hoàn hảo của Beck, đồng thời lặng lẽ dùng mọi cách – kể cả giết người - loại bỏ những chướng ngại vật, sắp xếp những sự kiện để Beck luôn “an toàn” trong vòng tay anh.  Cuốn tiểu thuyết là một cú tát giáng thẳng vào thực tế thời đại kỹ thuật số siêu kết nối; là lời cảnh tỉnh rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể dễ dàng bị theo dõi và thao túng bởi một kẻ vô hình. *** EM (YOU) là cuốn tiểu thuyết đã được chuyển thể thành phim và có thể xem trên Netflix. Nhưng ngay cả với những ai đã xem qua bộ phim này, cuốn tiểu thuyết này vẫn rất đáng đọc, vì nó một lần nữa tái hiện bầu không khí mê hoặc mà điên rồ, thậm chí còn sắc nét hơn của câu chuyện. Ngay cả khi đã biết được các tình tiết sẽ diễn ra, cuốn sách vẫn mới mẻ và hấp dẫn để đọc đến trang cuối cùng. EM bắt đầu câu chuyện của mình tại một hiệu sách, nơi Joe - nhân vật chính - làm việc, gã là một kẻ bán sách. Và rồi Beck - một cô gái tóc vàng bước vào, xinh đẹp như một quả đào chín mọng, nàng là một nhà văn trẻ. Joe đã yêu Beck ngay từ cái nhìn đầu tiên, và anh đã lên kế hoạch cưa cẩm cô như bất kỳ chàng trai nào phải lòng một cô gái. Như xem cô ấy đăng gì trên Twitter, tìm hiểu xem cô ấy nhà ở đâu, tò mò bạn trai cũ của cô ấy là ai, kết thân với các cô bạn gái thân của cô ấy… EM sẽ dễ dàng đánh lừa các độc giả ngây thơ ở những chương đầu tiên khi nghĩ rằng đây là khởi đầu của một chuyện tình lãng mạn. Một anh chàng bán sách tinh tế thật đẹp đôi với một cô nàng nhà văn trẻ ngọt ngào. Mà thực ra đúng là đã có một chuyện tình nở hoa trong cuốn sách, nồng nàn men say như rượu ủ lâu năm. Tác giả Caroline Kepnes đã dùng những lời lẽ đầy mật ngọt để kể câu chuyện của mình. Như một viên kẹo của mụ phù thuỷ, quá sặc sỡ, quá thơm tho, không thể cưỡng lại. Nhưng khi lớp bọc đường bên ngoài đã trôi đi hết, sẽ dần lộ ra lõi nhân bên trong là kịch độc. Hoá ra loài hoa ái tình ấy là hoa ăn thịt, rượu quý ấy cũng đã hoà lẫn với độc dược tự bao giờ. Joe có lẽ là mẫu bạn trai ao ước của nhiều cô gái khi tinh tế, dịu dàng, sẵn sàng làm bánh kếp bằng cái muôi đỏ vì bạn gái mình thích thế. Joe kéo Beck ra khỏi những mối quan hệ xấu như gã bạn trai tồi, cô bạn thân muốn kiểm soát. Joe thúc đẩy Beck làm việc mà cô cần phải làm - thực sự viết cho xong một cuốn sách thay vì viết Twitter mỗi giờ và email mỗi ngày cho những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Joe muốn bảo bọc Beck và làm cho cuộc sống của cô tốt hơn. Nhưng ấy là khi Joe không trộm điện thoại để đọc các email của Beck. Lẻn vào nhà cô để thó một món đồ riêng tư làm kỷ niệm. Tốt nhất là Joe đừng có một cái lồng - theo đúng nghĩa đen - dưới tiệm sách của mình, nơi gã bảo vệ những cuốn sách quý và cả người cần hắn bảo bọc. Bởi ranh giới giữa bảo bọc và giam cầm đôi khi rất mong manh. Nhẹ nhàng ở các chương đầu, nhưng nhịp điệu càng về sau càng nhanh dần, khiến người đọc khó lòng bỏ cuốn sách xuống trước khi biết được kết thúc cuối cùng. Như thể họ đang là Beck, cũng đang gấp rút bỏ chạy khỏi một bóng ma rình rập, hay vẫy vùng thoát khỏi một cái lồng. Họ nóng lòng muốn được biết kết thúc của chính mình trong cuộc đào thoát ấy, hay chính xác hơn là kết thúc của Beck. Và nếu trốn thoát, có lẽ họ thầm dặn lòng sẽ không bao giờ bước chân vào một cái hiệu sách nào nữa, hoặc chớ có yêu một gã bán sách. *** Em bước vào hiệu sách, một tay giữ trên cánh cửa để chắc chắn cửa không bị đóng sầm lại. Em mỉm cười, có phần ngượng nghịu vì xinh đẹp quá, móng tay em trơn nhẵn và em đang mặc một chiếc áo len cổ chữ V màu be, rất khó đoán em có đang mặc áo ngực hay không nhưng tôi nghĩ rằng em hoàn toàn không mặc gì ở bên trong cả. Em trông “ngoan” tới mức cực kỳ khêu gợi, đôi môi em khẽ lẩm bẩm với tôi “chào anh” trong khi phần lớn mọi người chỉ lướt qua, nhưng có phải thật em không, trong chiếc quần bò màu hồng trễ cạp, kiểu vải sợi gai màu hồng như trong truyện Mạng nhện của Charlotte, và em ơi em từ đâu đến? Em đơn giản và hoàn hảo, như cô nàng Natalie Portman bé bỏng của tôi trong đoạn cuối của bộ phim Closer, khi cô - với vẻ mặt ngây thơ - đi cùng thằng cha xấu tính người Anh về nhà ở Mỹ. Em “đến nhà” của tôi, cuối cùng thì em cũng đến, vào một buổi sáng thứ Ba, lúc 10:06. Mỗi ngày tôi đi từ nhà ở Bed-Stuy đến hiệu sách tại phía Đông1 thành phố này. Mỗi ngày tôi kết thúc ca làm, gói ghém đồ đi về mà chưa bao giờ thấy một ai như em. Nhìn em xem: hôm nay em bước vào thế giới của tôi. Tôi chợt thấy rùng mình và muốn uống một viên thuốc rối loạn lo âu, nhưng thuốc lại đang ở dưới tầng mà thực ra tôi cũng không muốn uống viên thuốc ấy. Tôi không muốn đi xuống. Tôi muốn ở đây để tập trung ngắm em cắn những móng tay trần, không sơn màu của mình và quay đầu sang trái; à không, em đang cắn cái mảng màu hồng kia, mở to đôi mắt, quay sang bên phải; à lại không nữa, em không thích đọc sách tiểu sử, không đọc cả sách self-help (may quá, tạ ơn Chúa), và đi chậm lại đôi chút khi tới kệ chứa tiểu thuyết.   Tuyệt. Tôi để cho em biến mất sau những kệ sách – Tiểu thuyết xếp theo vần từ F tới K. Em không phải kiểu các “nữ thần” bất an về bản thân mà phải đi tìm kiếm Faulkner vì em sẽ không bao giờ đọc hết cũng như không bao giờ nên bắt đầu đọc sách của ông; sách của Faulkner khó nhằn và có khả năng sẽ làm đông cứng đêm hứng tình của em, nếu sách cũng có thể đông cứng được. Faulkner chỉ có duy nhất một giá trị là để thuyết phục em hãy nhập vai vào cuộc tình một đêm khi em thề rằng em không bao giờ chơi kiểu qua đường ấy. Nhưng em sẽ không phải kiểu con gái như thế đâu. Em không thuộc tầng lớp sẽ đọc Faulkner và với chiếc quần bò trễ cạp kia của em thì em thừa tiệc tùng ham vui cho những cuốn sách của Stephen King nhưng lại quá thiếu thời thượng để đọc những cuốn của Heidi Julavits… cuối cùng em sẽ mua sách của tác giả nào đây? Em hắt xì hơi một cái, ầm lên, và tôi tưởng tượng ra ngay sự ồn ã của em khi em ở trên giường. “Chúa phù hộ!”2 tôi nói toáng lên.   Em khúc khích cười và quay lưng lại, cô nàng dâm đãng này. “Anh cũng thế nhé, anh bạn.” Anh bạn. Em đang thả thính tôi, và nếu tôi là cái loại mất dạy hay lên Instagram, tôi sẽ chụp lại những tấm thẻ từ F đến K, chỉnh màu thật đẹp rồi viết lên đó: “F--K3, tuyệt quá, tôi đã tìm thấy em.”   Bình tĩnh nào Joe. Bọn con gái không thích kiểu con trai táo bạo như thế đâu. Tôi phải tự nhắc bản thân mình như thế. Cảm ơn Chúa đã đưa một khách hàng khác đến và thật khó để đọc vị thằng cha này với cuốn sách chẳng có gì bất ngờ của Salinger trên tay gã – thật thế, việc này vẫn luôn luôn chẳng dễ dàng gì. Thằng cha này, gì đây nhỉ, phải đến ba mươi sáu tuổi rồi, mà chỉ đọc đến Franny và Zooey thôi sao? À không, hãy nhìn vào thực tế chút đi. Hắn ta sẽ không đọc nó. Đấy chỉ là cuốn đặt lên trên để che đi cuốn sách của Dan Brown đang nằm dưới đáy giỏ mà thôi. Thời gian làm việc ở hiệu sách đã giúp tôi hiểu rằng phần lớn mọi người trên thế giới này cảm thấy tội lỗi khi thể hiện con người thật của bản thân. Tôi lấy cuốn sách của Dan Brown cho vào túi trước, như thể nó là ấn phẩm ấu dâm và bảo thằng cha kia rằng Franny và Zooey chỉ là đồ bỏ. Hắn ta chỉ gật đầu, còn em vẫn ở trong khu vực F-K bởi vì tôi vẫn thấy chiếc áo len màu be của em thấp thoáng sau những kệ sách. Nếu em kiễng chân lên một chút, tôi sẽ có thể nhìn thấy chút bụng của em hở ra. Nhưng em lại không làm thế. Em lấy một cuốn sách và ngồi xuống ghế, xem ra em định sẽ ngồi ở đấy cả tối. Có thể như thế sẽ giống Natalie Portman trong phim Where the Heart Is, bộ phim chuyển thể không thành công từ cuốn sách của Billie Letts – thuộc chiếu trên so với thể loại phim đó – và tôi sẽ tìm thấy em ở tâm điểm của bóng đêm. Chỉ có điều, em sẽ không có bầu còn tôi thì không phải là thằng khốn kiếp trong bộ phim ấy. Tôi sẽ đến, ngả vào em và nói, “Xin lỗi làm phiền quý cô, nhưng chúng ta đang gần sát sạt vào nhau đấy,” và em sẽ ngẩng lên, mỉm cười, “Đâu có, em đâu có sát sạt gần.” Em hít một hơi và thì thào. “Em đang rất đón chờ anh mà. Anh bạn.” “Này!” Salinger-Brown càu nhàu. Hắn vẫn còn ở đây sao? Hắn vẫn còn ở đây. “Tôi lấy hóa đơn được chưa?” “À phải, xin lỗi nhé.” Hắn giật lấy hóa đơn từ tay tôi. Không phải hắn ta ghét tôi đâu. Hắn ta ghét chính bản thân hắn đó. Nếu mọi người đều có thể tự chăm sóc cảm xúc cá nhân thì phòng dịch vụ chăm sóc khách hàng sẽ vận hành dễ dàng hơn nhiều. “Mày biết không, thằng nhóc? Mày cần phải vượt qua bản thân mày. Mày chỉ làm việc ở một hiệu sách thôi. Mày không xuất bản những cuốn tiểu thuyết này. Mày không hề viết sách và nếu mày có tí ti gì gọi là khá khẩm trong việc đọc sách thì có thể mày đã chẳng làm việc ở một hiệu sách như thế này. Vì thế, hãy bỏ ngay cái thái độ đánh giá người khác ở trong mắt mày và chúc tao một ngày tốt lành đi!” Thằng cha kia có thể nghĩ ra bất cứ cái gì trên đời để nói với tôi nhưng hắn vẫn chỉ là một thằng khốn nạn không dám thừa nhận mình mua sách của Dan Brown. Em xuất hiện với nụ cười từa tựa Portman, rõ là em đã nghe thấy tiếng thằng chó chết kia vừa nói. Tôi nhìn em. Em nhìn thằng kia và hắn thì vẫn đang đợi tôi. “Chúc ông một ngày tốt lành, thưa ông.” Tôi nói và hắn biết thừa rằng tôi cũng chẳng có lòng thành gì, thái độ dành cho một người lạ thì chỉ đến thế thôi. Khi hắn đi rồi, tôi gào toáng lên với hắn nhưng thực ra là để em nghe cho rõ: “Đọc Dan Brown vui nhé ông ơi!” Em đi tới, cười ngặt nghẽo, và cảm ơn Chúa, lúc này đang là buổi sáng, chúng ta đang chết cứng trong một buổi sáng mà không có ai quanh đây làm phiền chúng ta cả. Em đặt cái giỏ đựng sách lên quầy thanh toán và hỏi khẽ: “Thế anh sẽ phán xét cả em nữa phải không?” “Anh là thằng khốn nạn phải không?” “Ừm… không sao, em đoán đó chỉ là do tâm trạng nhất thời của anh thôi.” Em thật ngọt ngào. Em biết cách nhìn thấy phần tốt đẹp nhất bên trong mỗi người. Em đang khen tôi. “Thật ra…” Tôi nói, tôi nghĩ tôi nên im lặng và tôi cũng muốn im lặng, nhưng em lại ra hiệu cho tôi, muốn tôi nói tiếp. “Thằng cha đó chính là lý do mà những con quái thú không nên biến mất.” Em chăm chú nhìn tôi. Em có vẻ tò mò khiến tôi muốn biết nhiều hơn về em, nhưng vì tôi không thể hỏi nên tôi tiếp tục nói. “Ai cũng luôn luôn muốn đấu tranh cho những điều tốt đẹp hơn, gầy đi năm cân, đọc thêm năm cuốn sách, đi đến bảo tàng, mua một đĩa nhạc cổ điển để nghe và thích thú tận hưởng nó. Nhưng thực ra những gì người ta mong muốn ở sâu thẳm bên trong là ăn bánh donut, đọc tạp chí và mua những đĩa nhạc pop. Còn sách á? Quên nó đi. Hãy mua Kindle. Em có biết tại sao Kindle lại thành công như thế không?” Em phá lên cười và lắc đầu, em đang lắng nghe tôi ở chính cái đoạn mà phần lớn mọi người khác sẽ tỏ ra chán nản và tiếp tục cúi đầu vào điện thoại. Nhìn em thật xinh đẹp khi em hỏi, “Là tại vì sao cơ?” “Anh sẽ cho em biết tại sao. Internet đã mang phim khiêu dâm đến tận nhà…” Tôi mới dùng từ phim khiêu dâm, thật là một từ ngu xuẩn, nhưng em vẫn yên lặng lắng nghe, em đúng là một cô nàng búp bê đáng yêu đấy. “Thế là em không cần ra ngoài và nỗ lực để có được nó nữa. Em sẽ không cần phải nhìn thẳng vào mắt của cậu con trai ở quầy hàng, người mà bây giờ đã biết em thích xem các cô gái bị tét mông khi ở trên giường. Nhìn thẳng vào mắt nhau là thứ khiến chúng ta trở thành con người trong xã hội văn minh.” Đôi mắt như hai hạt hạnh nhân của em nhìn tôi và tôi nói tiếp, “Em đã bị lộ tẩy rồi.” Em không đeo nhẫn cưới trên tay, còn tôi tiếp tục nói, “Con người mà.” Trông em rất kiên nhẫn, còn tôi thì lẽ ra phải im đi nhưng tôi lại không thể làm thế được. “Và Kindle ý mà, Kindle mang đến tất cả những thứ mà em cần phải nỗ lực mới có được khi em đọc, tức là làm chính xác như những gì mà Internet đã làm với phim khiêu dâm. Không cần phải gò bó hay cân đối cái gì nữa. Em có thể đọc tiểu thuyết Dan Brown cả ở nơi công cộng lẫn những chốn riêng tư. Và thế là văn minh nhân loại kết thúc. Nhưng…” “Lúc nào cũng có một chữ NHƯNG nhỉ,” em nói và tôi đoán em đến từ một gia đình giàu sang phú quý, nơi mà những con người thân thiện thường trao cho nhau những cái ôm yêu thương và nắm tay hát quanh đống lửa trại. “Nhưng khi không còn chỗ nào để mua các bộ phim hoặc mua album, tất cả sẽ quay trở lại với sách. Khi những tiệm bán băng đĩa biến mất, những thằng mọt sách đứng trông tiệm băng đĩa, đọc lại những câu thoại của Tarantino, chiến đấu vì Dario Argento và ghét những người thuê phim Meg Ryan về xem cũng sẽ không còn nữa. Loạt hành động đó, tức là sự tương tác giữa người bán và người mua, là một sự tương tác hai chiều rất quan trọng mà loài người chúng ta có được. Tất nhiên em không thể giao tiếp hai chiều như thế mà lại không bao giờ hiểu nhầm, em hiểu ý anh chứ?” Tôi cũng không biết liệu em có hiểu được ý tôi không nhưng em đã không bảo tôi ngừng lại giống như tất cả mọi người vẫn làm, em chỉ gật đầu. “Hừm.” “Đấy thấy không, tiệm băng đĩa thực sự là một nơi rất công bằng. Nó mang đến sức mạnh cho mấy thằng mọt sách – Người ta thực sự mua Taylor Swift sao? – mặc dù sự thật là mấy thằng đó sẽ “xóc lọ” với hình Taylor Swift khi về nhà.” Đừng nói đến Taylor Swift nữa. Chẳng biết em đang cười với tôi hay đang cười vào mặt tôi nữa? “Dù sao thì...” Tôi nói, và tôi định sẽ im lặng nếu em bảo tôi làm thế. “Dù sao thì?” Em hỏi, và em muốn tôi nói tiếp. “Vấn đề là thế này, mua một vật dụng gì đó là một trong những điều cực kỳ cơ bản mà chúng ta làm. Thằng cha lúc nãy không đến đây để mua Dan Brown hay Salinger. Thằng cha đó tới đây để thú tội.” “Thế anh là linh mục à?” “Không. Anh là nhà thờ.” “Amen.” Em nhìn xuống giỏ sách của em và tôi như một kẻ cô độc loạn trí khi cũng nhìn vào chiếc giỏ. Điện thoại của em. Em không nhìn thấy, nhưng tôi nhìn thấy. Tôi như vỡ lẽ ra. Chiếc điện thoại có ốp bảo vệ màu vàng. Điều này chứng tỏ em chỉ tự chăm sóc bản thân khi mọi thứ bắt đầu đi quá giới hạn. Tôi cược là em chỉ uống thuốc khi cơn cảm lạnh kéo dài tới ngày thứ ba. Tôi cầm điện thoại của em lên và giả vờ đùa. “Em lấy trộm cái này của gã kia phải không?” Em lấy lại điện thoại của mình và cẩn trọng nói. “Em và chiếc điện thoại này…” Em nói. “Em là một người mẹ tồi.” Mẹ. Em thật sự là gái hư, đúng thế đấy. “Ừ.” Em mỉm cười và bây giờ tôi có thể chắc chắn em không mặc áo lót bên trong. Em lấy những cuốn sách ra khỏi giỏ, đặt giỏ lên sàn nhà và nhìn tôi như thể tôi không có khả năng đánh giá bất cứ điều gì mà em làm từ khoảng cách xa như thế. Núm vú của em nổi lên trên áo. Em đã không che chắn chúng lại cẩn thận. Em thấy đám kẹo dẻo xoắn mà tôi để ở quầy thanh toán. Em chỉ tay vào đó như thể em đang đói lắm. “Em lấy một cái được không?” “Được.” Tôi nói, và tôi có cảm giác như mình đã bón cho em ăn vậy. Tôi cầm cuốn sách đầu tiên của em lên, Kỳ nghỉ không thể tin được4 của tác giả Spalding Gray5. “Thú vị đấy!” Tôi nói. “Phần lớn mọi người đều hiểu được những đoạn độc thoại của ông ấy. Đây là một cuốn sách tuyệt hay, nhưng không phải là kiểu sách mà mọi người đi loanh quanh xem xét và mua, đặc biệt là một phụ nữ trẻ không có ý định tự sát giống như số phận của tác giả.” “Ồ, đôi khi chúng ta sẽ có cảm giác muốn vùi mình ở một nơi nào đó tăm tối, anh hiểu cảm giác đó chứ?” “Ừ.” Tôi nói. “Anh hiểu chứ.” Nếu chúng tôi còn ở thời thiếu niên, hẳn là tôi sẽ hôn em mất. Nhưng hiện tại, tôi đang trong bộ dạng của một nhân viên bán hàng, đeo một cái bảng tên trên ngực và chúng ta đã đi quá thời điểm vàng của thanh xuân rồi. Những bước đi trong đêm không phù hợp với lúc ban ngày, khi ánh nắng vẫn đang chảy trên cửa sổ. Chứ chẳng nhẽ tiệm sách lại phải tăm tối mới đúng ư? Tự chú thích với bản thân: Cần bảo ông Mooney làm chỗ này tối om lại. Bằng rèm cửa. Hoặc bất cứ cái gì. Tôi cầm cuốn sách thứ hai của em lên, Những Nhân Vật Tuyệt Vọng6, tác phẩm của một trong những tác giả yêu thích nhất của tôi, Paula Fox. Đây là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng có thể em mua nó bởi em đọc được trên một trang blog ngu xuẩn nào đấy rằng tác giả là bà ngoại của Courtney Love. Tôi không dám chắc chắn rằng em mua Paula Fox bởi vì em thật sự phù hợp với tác giả này, hay là bị ảnh hưởng từ khẳng định trong bài luận của Jonathan Franzen.   Em sờ tay vào ví tiền. “Bà ấy là một tác giả tuyệt vời đúng không? Nếu bảo bà ấy không xứng đáng thì giết em đi còn hơn, bất kể bài luận của Franzen có viết gì về bà ấy đi nữa, anh công nhận không?” Cảm ơn Chúa. Tôi mỉm cười. “Bờ biển phía Tây7.”   Em quay mặt nhìn đi hướng khác. “Em chưa có dịp đến đó.” Tôi nhìn em và em giơ hai tay lên trời như đầu hàng. “Đừng bắn em nhé.” Em khúc khích cười và tôi mong rằng em cũng đang ham muốn. “Khi nào có dịp em sẽ đọc Bờ biển phía Tây, còn Những Nhân Vật Tuyệt Vọng thì em đã đọc cả tỉ lần rồi. Cuốn này em mua cho một người bạn.” “Ừ.” Tôi đáp, và những chiếc đèn đỏ nhấp nháy tín hiệu nguy hiểm trong lòng tôi. Cho một người bạn. “Có thể việc này sẽ chỉ lãng phí thời gian thôi. Anh ấy sẽ chẳng đọc đâu. Nhưng ít ra thì tác giả cũng đã bán được thêm một cuốn sách rồi, phải không ạ?” “Phải.” Có thể anh ta là anh trai, hoặc bố hay gã hàng xóm đồng tính của em, nhưng tôi biết anh ta là bạn của em. Tôi quệt ngón tay vào máy tính. “Tổng cộng là ba mươi mốt đô-la lẻ năm mươi mốt.” “Ôi trời ơi, nhiều thế cơ. Đó, đấy chính là lý do Kindle thống trị thế giới đấy.” Em nói trong khi mở chiếc ví màu hồng da lợn hiệu Zuckerman ra và đưa tôi chiếc thẻ thanh toán, mặc dù em có đủ tiền mặt trong ví để trả cho chỗ này. Em muốn tôi biết tên của em và tôi thì không ngốc đến nỗi không đoán được ý đó, nên tôi quẹt thẻ của em và để cho sự yên lặng giữa hai chúng tôi tự dưng trở nên ầm ĩ - đó là lý do hôm nay tôi đã không bật nhạc và tôi cũng không thể nghĩ ra bất cứ thứ gì để nói. “Xong rồi đây.” Tôi đưa cho em tờ hóa đơn. “Cảm ơn anh.” Em khẽ lẩm nhẩm trong miệng. “Hiệu sách này thật tuyệt.” Em ký vào hóa đơn với cái tên Guinevere Beck. Tên em như một bài thơ và bố mẹ em có lẽ là những kẻ ngớ ngẩn, giống phần lớn những cặp bố mẹ khác trên đời này. Guinevere? Làm ơn đi. “Cảm ơn, Guinevere.” “Anh gọi em là Beck được rồi. Guinevere nghe hơi dài và tức cười lắm, anh có thấy thế không?” “Beck à, em không giống cái tên của em chút nào. Mà này, album Midnite Vultures8 tuyệt thật đấy.”   Em cầm lấy túi đựng sách của mình lên, mắt vẫn không rời khỏi tôi bởi vì em muốn tôi biết em đang nhìn tôi đắm đuối. “Chắc chắn rồi, Goldberg.” “Đừng, gọi anh là Joe được rồi. Goldberg nghe hơi dài và tức cười lắm, em có thấy thế không?” Chúng tôi phá lên cười và dường như em cũng muốn biết tên tôi y như cách tôi muốn biết tên em vậy, hoặc là em chẳng buồn để ý đến cái thẻ tên gắn trên áo tôi. “Em có chắc là em không muốn lấy cuốn Bờ biển phía Tây luôn bây giờ không?” “Nghe có vẻ điên rồ nhưng quả thực là em đang tiết kiệm. Em sẽ để nó vào danh sách đọc lúc dưỡng già.” “Ý em là danh sách những việc nhất định phải làm?” “Không không, không phải. Hai cái này là hoàn toàn khác nhau. Danh sách đọc lúc dưỡng già là một danh sách những thứ anh dự định đọc và xem khi anh vào ở trong viện dưỡng lão ấy. Danh sách việc nhất định phải làm giống như là… như là đến thăm Nigeria hay nhảy khỏi máy bay vậy. Còn danh sách đọc lúc dưỡng già giống kiểu đọc cuốn Bờ biển phía Tây, xem Pulp Fiction và nghe album mới nhất của Daft Punk cơ.” “Anh không thể tưởng tượng ra được lúc em ở trong viện dưỡng lão.” Em đỏ mặt. Em như Charlotte trong truyện Mạng nhện của Charlotte vậy, còn tôi thì thật sự muốn được yêu em. “Anh không định chúc em một ngày tốt lành sao?” “Chúc em ngày tốt lành, Beck.” Em mỉm cười. “Cảm ơn anh, Joe.” Em đã không đến đây vì những cuốn sách, Beck ạ. Em không cần thiết phải gọi tên tôi. Em cũng không cần phải mỉm cười, hay lắng nghe hay đối xử tử tế gì với tôi cả. Nhưng em đã làm như thế. Chữ ký của em còn ở trên tờ hóa đơn đây. Đây không phải một giao dịch chuyển khoản và cũng không phải là một mã số ghi nợ. Cái này hoàn toàn thật. Tôi ấn ngón tay cái vào đoạn mực còn tươi trên tờ hóa đơn và dấu mực từ chữ ký Guinevere Beck của em in hằn trên ngón tay tôi rồi. Mời các bạn đón đọc Em của tác giả Caroline Kepnes & Hoài Anh (dịch) & Trà Fiew (dịch).
Hannibal Và Những Ngày Run Rẩy Bắt Đầu
Được xem là một trong những sự kiện văn chương được chờ đợi nhất, Hannibal và những ngày run rẩy bắt đầu mang người đọc vào cung điện ký ức của một kẻ ăn thịt người, tạo dựng nên một bức chân dung ớn lạnh của tội ác đang âm thầm sinh sôi – một thành công của thể loại kinh dị tâm lý. Với Mason Verger, nạn nhân đã bịHannibal biến thành kẻ người không ra người,Hannibal là mối hận thù nhức nhối da thịt. Với đặc vụ Clarice Starling của FBI, người từng thẩm vấnHannibal trong trại tâm thần, giọng kim ken két của hắn vẫn vang vọng trong giấc mơ cô. Với cảnh sát Rinaldo Pazzi đang thất thế, Lecter hứa hẹn mang tới một khoản tiền béo bở để đổi vận. Và những cuộc săn lùng Hannibal Lecter bắt đầu, kéo theo đó là những chuỗi ngày run rẩy hòng chấm dứt bảy năm tự do của hắn. Nhưng trong ba kẻ đi săn, chỉ một kẻ có bản lĩnh sống trụ lại để hưởng thành quả của mình. Nhận định “Độc giả đang mong ngóng Hannibal và những ngày run rẩy bắt đầu vì tò mò không biết nó có tuyệt như Red Dragon (Rồng đỏ) và  The Silence of the Lambs (Sự im lặng của bầy cừu) không… Thật may mắn khi có thể trả lời bằng một câu phủ định. Không. Không tuyệt như thế. Mà tuyệt hơn.” - Stephen King, New York Times Book Review   “Phải chăng cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất năm nay là cuốn này?.. một kiệt tác… hấp dẫn đến lạnh người… Hannibal và những ngày run rẩy bắt đầu cuốn hút từ phần mở đầu chân thực tuyệt vời đến cái kết đáng sợ và dị thường một cách thú vị… Mỗi dòng trong sách đều ngập không khí của cuộc chiến đấu với cái ác ở bản thể đen tối nhất của nó… Tôi chuẩn bị đặt cược rằng năm nay độc giả Observer sẽ không tìm được cuốn nào lôi cuốn hơn.” - Robert McCrum, Observer     “[Thomas Harris là] Edgar Allan Poe thời nay.”   - Evening Standard Mời các bạn đón đọc Hannibal - Kẻ Ăn Thịt Người của tác giả Thomas Harris & Thu Lê (dịch).
Tổ Ấm Gia Đình
Những kỷ niệm thời thơ ấu không như những kỷ niệm thời đã đứng tuổi, chúng không được sắp xếp trong khung cảnh thời gian. Đó chỉ là những hình ảnh rời rạc, bị sao lãng mọi bề và những nhân vật đại diện cho chúng ta lại rất khác biệt với bản thân chúng ta đến nỗi có rất nhiều hình ảnh như xa lạ hẳn với chúng ta. Nhưng những hình ảnh khác để lại trong tính tình chúng ta những dấu vết khó mà phai nhòa đến mức ngày nay, do những hậu quả mạnh mẽ của chúng, ta nhận ra đó là những thực tế đã qua. Tựa như khi nghiên cứu lịch sử một xứ sở, chúng ta không thể cảm thông thế nào là kiếp sống nô lệ của người nông dân đứng giữa tầng lớp Giáo hội và quý tộc, mà chỉ hình dung ra kiếp ấy qua quan sát ở trong làng xóm chúng ta những nỗi hận thù không sao giải thích nổi còn rơi rớt lại. Vậy nên trong tình cảm chúng ta hiện nay những nỗi chán chường điên cuồng cùng những sở thích đáng lên án mà chúng ta nhận ra những dư ba yếu ớt của sự rung chuyền từ ba mươi năm trước đã từng xáo động những nhóm tế bào mà nay chúng ta là những người nối dõi. Ký niệm xa xưa nhất của Đơnidơ Herpanh là kỷ niệm về một ngày trên bờ biển. Lâu nay, hè nào bà Herpanh cũng thuê một biệt thự ở Bơdơvan bên bờ biển Noocmăngởđi. “Tôi thuê trước hết là cho lũ trẻ”, bà nói. Ngôi nhà mang tên “biệt thự Côlibri”. Hai mươi năm rồi mà Đơnidơ vẫn hình dung lại được cái mái ngói có đường diễu bằng gỗ cắt theo hình những trái tìm cùng các đường xoắn trang trí, những thanh dầm gỗ xiên xiên hay thắng đứng giữa những hàng gạch, hàng hiên có cửa kính, cánh cửa ra vườn mỗi khi mở làm rung cái chuông nhỏ và các bồn sắt to trên cửa số với những cây phong lữ thảo sống lay lắt, ở đó bốc lên mùi đất và mùi lá ủng. Đơnidơ mặc tắm áo may ô đỏ đang đứng chống xẻng bên lũy một cái pháo đài em vừa đào đắp. Em nhìn ra biển. Những mảng bóng đen to lớn, gió cuốn chạy lô xô trên mặt nước xanh khi đỗ đến gần bờ lại trở thành màu cát. Nước triều đã rạc. Phía trước pháo đài trải dài một dải những hòn cuội nhỏ và mảnh sò vỏ ốc vụn, đi đất có thể bị đứt chân. Xa hơn nữa là những cồn cát mịn màng và chắc với những dòng sông uốn khúc quanh co trông đẹp mắt. Dưới đáy những ngòi ấy, cát đóng chắc thành hình sóng lượn. Đơnidơ bỗng thèm được cảm thấy độ bền của lớp cát ấy đưới chân mình, em buông xẻng, chạy về phía các vũng nước. Có tiếng quát: “Đơnidơ...”. Em dừng phắt ngay lại và chậm chạp quay về. Nơtx Kêrinhtơn, cô có những bực dọc trong lòng. Có trời biết tại sao cô lại làm cho cái gia đình Herpanh này, vốn chỉ là dân tiểu tư sản tỉnh lẻ, thậm chí xe riêng cũng chẳng có. Trước đó, cô đã từng dạy dỗ con cái của bá tước Thiănggiơ có cả một tòa lâu đài và con cái gia đình Oetbergiê mỗi năm đến ở Biaritz hàng bốn tháng trời. Nơtx Kêrinhtơn là con gái một người buôn bán tạp hóa ở Phânkớtxtơn. Cô có tham vọng trở về nước Anh khi tuổi chừng năm mươi để mở một ngôi nhà trọ, khách vừa ăn vừa ở. Ở Pháp, cô mong muốn được sống lẫn với các gia đình giầu có hay quyền quý. Trên cái bãi biển còn quê kệch vào những năm 1900 này, cô không thấy có những nữ gia sư người Anh nào khác. Buộc lòng phải ngồi với các chị vú sữa, cô đồ trách nhiệm cho cả vũ trụ về sự sa sút này. Phòng riêng của bọn trẻ bé quá. Nhà chỉ có một buồng tắm. Tính nết Đơnidơ quá tệ không chịu cho hai em là Lôlôtơ' và Bêbê mượn đồ chơi. Yow are a very naughty lile girl...I']I telÏ your mother about you...” Nơtx nói: Đơniđơ hờn dỗi ngồi tách ra một chỗ. Cái xẻng của em tên là Olali, nó cũng là người hẳn hoi thì cho Lôlôttơ mượn làm sao được cơ chứ! Mỗi đồ chơi đều có một cái tên bí mật cắm được nói ra. Cái gối tên là Sêbatchiêng, cái xô đựng nước là ông Ghibôren, như ông cụ làm vườn ở Pông đờ Lorơ vẫn thường đem đến hàng trăm chậu nhỏ đề trồng thu hải đường và hương nhật quỳ. Ngồi bên miệng hố em đã đào làm nơi ấn nấp, em vục đầy tay cát mịn và ấm cho chảy lọt qua kẽ các ngón tay, một viên sỏi hay mảnh vỏ ốc lẫn trong cát mắc lại ở kẽ các ngón tay sít nhau. Nước triều lên. Đơnidơ ngắm nhìn những làn sóng nhỏ từ xa dồn đến tung bọt trắng xóa trải dài trên cát, sóng rút, sau khi được tắm thứ nước ấy, cát trơ ra, bóng loáng như hải cầu. Ở bên trái, về phía Đivơ và Cabua những chiếc thuyền nhỏ đang đánh cá trên mặt biển sáng long lanh. Đơnidơ nghĩ giá được đi trên những con thuyền ấy hẳn là thích lắm và “người lớn thực là bất công và độc ác”. *** André Maurois (1885 - 1967) là nhà văn lớn Pháp, tên thật là Emile Herzog. Viện sĩ trong Viện Hàn lâm Pháp. Ông xuất thân trong một gia đình công nghiệp ở Alsaca. Khi còn ở ghế nhà trường ông là một cao đệ của giáo sư kiêm triết gia Alaine (1868 - 1951), tốt nghiệp Đại học, ông làm giáo sư triết học. Một thời gian sau ông từ chức về quản lí nhà máy dệt của gia đình và bắt đầu viết từ đó. Trong thế chiến thứ nhất (1914 - 1918) , ông làm thông dịch viên trong quân đội Hoàng gia Anh, chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), ông sống ở Anh quốc và Hoa Kỳ. André Maurois chuyên về tiểu thuyết, luận văn, sử, phê bình, khảo luận, tùy bút... Với hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại mà có người cho "toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt" đã được các thế hệ trẻ ngưỡng mộ, tin cậy và xem ông như bậc thầy. Hồi André Maurois mất, cuối năm 1967, thọ 82 tuổi, một bạn đồng viện của ông khen ông đại ý như sau : "André Maurois phân biệt ba hạng tác phẩm : trác tuyệt, lớn và hữu ích. Không một tác phẩm nào của ông vào hàng trác tuyệt nhưng toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt". Ông nổi tiếng là nhà luân lí có khuynh hướng tình cảm, lãnh nhiệm vụ hướng dẫn thanh niên trong thời đại nhiều biến chuyển nhất của Pháp (từ Thế chiến thứ nhất tới nay), và ông đã được ba thế hệ trẻ tin cậy, coi như bậc thầy. Sự nghiệp trác tuyệt của ông ở đó. "Người đàn bà không quen biết" mà ông tưởng tượng là một thiếu phụ khoảng ba mươi, đẹp, thông minh, có óc phán đoán, suy xét, thực ra tượng trưng tất cả những phụ nữ thắc mắc về đời sống. Liên tiếp trong sáu chục tuần, ông viết cho họ mỗi tuần một bức thư từ hai tới bốn trang. Trong sáu chục bức thư đó, ông giải đáp tất cả những câu họ có thể hỏi ông về những nỗi vui, buồn và ưu tư của họ, về ái tình, hôn nhân, hạnh phúc, nghề nghiệp, về tâm lí đàn ông, tâm lí đàn bà, về y phục, nhan sắc, cách lấy lòng người, cách xử trí khi chồng có ngoại tình, về quyền lợi và bổn phận của đàn bà, như dạy con, chiều chuộng v.v... Ông lại chỉ cho họ cách bồi dưỡng tinh thần và trí tuệ : đọc sách ra sao, tiêu khiển ra sao. Đôi khi ông cao hứng, nhân một lúc vui hay một lúc bực mình, giới thiệu một tác phẩm, một khúc nhạc, một cảnh đẹp hoặc mạt sát bọn giết thì giờ của ông, mỉa mai bọn làm áp phe, suốt đời chỉ lo kiếm tiền... Tóm lại, ông gặp chuyện gì nói chuyện đó, không sắp đặt trước, lan man y như trong một cuộc đàm thoại. Triết lý của ông là một triết lý lạc quan, khoan hoà, thực tế mà chân chính. Giọng của ông nghiêm trang, thanh nhã mà thân mật, dí dỏm không ra vẻ dạy đời. Ông già tâm lí, giàu kinh nghiệm ; đọc ông ta thấy thích hơn là đọc tác phẩm khô khan của các triết gia, thích hơn cả là những trang tuy sâu sắc, nhưng cô đọng gần như châm ngôn của Alain, sư phụ của ông nữa. Vì ông gần chúng ta hơn.   Mời các bạn đón đọc Tổ Ấm Gia Đình của tác giả André Maurois & Vương Hữu Khôi (dịch).
Bụi Sao
Đến tuổi cập kê, Tristran Thorn đem lòng si mê một thiếu nữ xinh đẹp trong ngôi làng Bức Tường nơi anh lớn lên. Vì lời hứa sẽ cùng cô sánh vai trong thánh đường, chàng trai trẻ khăn gói lên đường tiến vào Xứ Tiên để tìm một ngôi sao băng từ trên trời rơi xuống. Chuyến phiêu lưu ở xứ sở kỳ lạ, rùng rợn mà đầy nhiệm màu đã xoay chuyển con người và thế giới quan của Tristran theo những cách anh chưa từng ngờ đến, biến anh thành một người hùng chân chính trong câu chuyện của mình. Cổ quái và nhân văn, đen tối và giàu cảm xúc, Bụi sao đem đến vô khối những câu chuyện chưa kể đằng sau cuộc hành trình tầm mộng của một vị anh hùng trẻ tuổi, cốt để chứng tỏ rằng chuyện thần tiên thực chất cũng dành cho người lớn. *** Richard Neil Gaiman (sinh ngày 10 tháng Mười Một, năm 1960) là một tác giả gốc Anh chuyên viết thể loại khoa học giả tưởng, huyền ảo, truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện tranh, và kịch bản điện ảnh. Tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm loạt truyện tranh Sandman, Stardust (Bụi Sao), và American Gods (Các Thần Hoa Kỳ). Gaiman đoạt giải 2009 Newbery cho Graveyard Book. Một số người nhiệt tình đã gọi ông là một "ngôi sao nhạc rock" của văn học thế giới. Ông hiện đang ngụ cư gần thành phố Minneapolis, bang Minnesota, Hoa Kỳ, trong một ngôi nhà kiểu "gia đình Addams". Ông có một gia đình hạnh phúc với cô Mary T. McGrath và có ba người con: Michael, Holly và Madeleine. Tác phẩm: Coraline - Neil Gaiman Câu Chuyện Nghĩa Địa - Neil Gaiman Truy Mộng - Neil Gaiman & Yoshitaka Amano Đại Dương cuối Đường Làng Thần Thoại Bắc Âu Còn Sữa Là Còn Hy Vọng Bụi Sao Người Đẹp Ngủ Và Con Thoi Ma Thuật ... *** Có vô số những đứa trẻ mà trong tuổi thơ của chúng luôn đầy ắp hình ảnh những chú lính chì, nàng bạch tuyết, cô bé bán diêm và nàng tiên cá… Từ lâu rồi, tập truyện của Andersen và truyện cổ Grim được công chúng, kể cả trẻ con và người lớn, đón nhận nồng nhiệt. Dần dần, khi người ta đã khai thác hết màu nhiệm của cổ tích, họ chuyển sang một phiên bản khác lạ lẫm hơn, mới hơn và kén độc giả hơn. Đó là những câu chuyện cổ tích được viết dưới quan điểm cá nhân. Trong số đó, nổi bật nhất chính là những bộ truyện thần kỳ, những bộ phim giả tưởng được tái hiện với quan điểm của người trưởng thành chứ không còn đứng từ góc quay của một đứa trẻ. Trong Bụi sao, Gaiman đã vận dụng tối ưu trí tưởng tượng của mình để tạo ra một câu chuyện cũng từ góc nhìn của người lớn nhưng giàu cảm xúc và đặc biệt hơn. VỀ TÁC GIẢ Những câu chuyện cổ tích có khi còn hơn cả sự thật. Không chỉ vì nó nói cho chúng ta biết loài rồng có tồn tại mà còn bởi chính những con rồng đó cũng có thể bại trận. (Fairy tales are more than true: not because they tell us that dragons exist, but because they tell us that dragons can be beaten.) Neil Gaiman, tên thật là Neil Richard Gaiman, sinh ra tại Porchester, Anh vào năm 1960 nhưng hiện đang sống ở Mỹ. Ông là một tác giả đa tài, được mệnh danh là “ngôi sao nhạc rock” của văn học thiếu nhi thế giới và là tác giả ăn khách của các tác phẩm truyện ngắn, truyện tranh và tiểu thuyết giả tưởng. Sách của Gaiman đã được dịch ra hai mươi tám thứ tiếng và mang về cho ông nhiều giải thưởng văn học danh giá. Ông là nhà văn đầu tiên giành được đồng thời cả huân chương Newbery và Carneige cho cùng một tác phẩm. Người đọc thường thấy Neil Gaiman mang một phong cách rất đặc trưng. Đó là những màu nhiệm, kỳ diệu, niềm vui và cả sự nghiêm túc trong Bụi sao, cuốn sách sắp được nói tới đây, nói riêng và các tác phẩm văn học khác nói chung. Ông chia sẻ:  Những ý tưởng đến từ sự tuyệt vọng, ngay khi ông bị hạn chót thúc giục. Những ý tưởng cứ đến bất ngờ khi ông đang làm điều gì đó khác.  Có lẽ Bụi sao cũng được viết ra như vậy.   BỤI SAO Bụi sao được xuất bản lần đầu vào năm 1999. So với những tác phẩm trước đó và cho đến nay, Bụi sao luôn được coi là cuốn tiểu thuyết giả tưởng mang màu sắc khác biệt nhất trong suốt sự nghiệp văn học của Gaiman. Có lẽ bạn đọc từng nghe một Coraline thơ mộng, bí ẩn và ám ảnh; một Đại dương cuối đường làng thuần túy là những suy diễn và dự đoán; một thế giới nguyên sơ và nguyên bản hơn với các vị thần Bắc Âu, cùng Odin, Thor và Loki, cây tần bì Yggdrasil nối liền cửu giới, những người khổng lồ, những người lùn trong Thần thoại Bắc Âu. Cả ba đều khác nhau, nhưng cả ba đều là Neil Gaiman. Tất nhiên, đến cả Bụi sao, cùng là thể loại giả tưởng nhưng vẫn mang một phong cách khác không nhàm chán và cũng không thể bị nhầm lẫn với những nhà văn khác. Chưa bao giờ ranh giới cổ tích và thực tại mong manh đến vậy. Sự kỳ quặc và đen tối của Xứ Tiên chỉ cách con người một bức tường thành. Cổ quái và nhân văn, đen tối và giàu cảm xúc, Bụi sao ẩn chứa những câu chuyện lạ lùng đằng sau hành trình của người hùng trẻ tuổi để rồi chứng minh điều đã nói trên, rằng cổ tích còn thật hơn cả những gì chúng ta cảm nhận.    VŨ KHÍ CỦA NHÀ VĂN Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có “chất liệu” làm từ “ngôn từ”. Với khả năng gợi những hình tượng nghệ thuật, đưa ta thâm nhập vào thế giới của cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng mà ngôn ngữ thông thường ít khi đạt được. Ngôn từ trong văn chương giúp cho tác phẩm bộc lộ những bản chất sâu kín của đời sống. Cứ đi đi, và bắt lấy một vì sao băng, Làm cho một rễ cây khoai ma có bầu, Nói tôi nghe đâu là nơi cư ngụ của hết thảy những năm quá khứ, Hay ai là người đã chẻ bàn chân quỷ, Hãy dạy tôi biết nghe tiếng hát nàng tiên cá, Hoặc dạy tôi biết tránh xa cú chích của lòng ghen tị, Và tìm ra Cơn gió nào Lay chuyển được một tâm hồn trung thực. Trong Bụi sao, ta có thể tìm được hàng tá những câu văn tưởng chừng chẳng hề mang bất kỳ ý nghĩa đặc biệt nào, hoặc hơn nữa, chúng dường như vô nghĩa.  Nữ hoàng Victoria đang ngự trên ngai vàng nước Anh, nhưng Người vẫn chưa trở thành góa phụ áo đen của Windsor. Ngài Charles Dickens đang trích đăng từng kỳ tiểu thuyết của Oliver Twist. Bông hoa tuyết điểm ngân rung trong lòng bàn tay anh. Nhưng cách mà Neil Gaiman viết một cuốn sách thật sự khiến bạn đọc bất ngờ. Ở chương trước đây thôi, lời ra tiếng vào của cư dân Bức Tường có vẻ thừa thãi, cái vỗ vai của người cha dành cho đứa con trai muốn lên đường ra khỏi những hạn định mà cậu phải tuân theo từ khi còn nhỏ chỉ đơn giản là một lời khích lệ động viên. Về sau, những chi tiết vụn vặt ấy hiện lại trong suy nghĩ của người đọc một cách bất ngờ, thình lình vụt qua trí óc rồi biến mất. Bằng một cách thần kỳ, người ta tìm ra được chân tướng của sự thật mà tác giả chẳng cần nói trực tiếp. Như đã hiểu nhau từ lâu, độc giả và nhà văn đi qua tất cả chi tiết trong truyện một cách dễ dàng. Phong cách viết của Neil Gaiman kỳ thực rất đơn giản. Càng đi sâu càng thấm thía. Nó khiến cho người ta cảm giác như được biến thành đứa trẻ trốn trong tủ quần áo và đột nhiên lạc đến một thế giới thần tiên xa lạ.    SỰ GIAO THOA CỦA THẾ GIỚI CỔ TÍCH Thế giới thần tiên mà Neil Gaiman hiện ra thật quá đỗi mơ mộng và đẹp đẽ. Cuộc hành trình của Tristran đầy rẫy bao nhiêu khó khăn nguy hiểm nhưng cũng không kém phần lãng mạn.  Anh bước thêm bước nữa, nhưng anh vẫn đang ở giữa thung lũng hẹp. Dương xỉ cao, cây du và mao địa hoàng mọc khắp thung lũng, và vầng trăng đang treo giữa trời. Anh giơ cây nến lên cao, tìm kiếm một ngôi sao băng, có lẽ là một tảng đá hay một viên ngọc quý, nhưng anh chẳng thấy gì hết. Cốt truyện bắt đầu từ ngôi làng Bức Tường, nơi giáp ranh với thế giới phép thuật, nơi chàng trai trẻ Tristran bắt đầu hành trình đi tìm ngôi sao thất lạc để đổi lấy một nụ hôn của Victoria. Vì lời hứa ngây thơ, anh bí mật thâm nhập vào thế giới của nàng tiên và các pháp sư. Ai biết rằng ngôi sao không phải là đá cuội mà là một thiếu nữ và liều thuốc của sự xinh đẹp, bất tử.  Mạch truyện bất ngờ xoắn nút khiến cho độc giả bị cuốn vào bên trong thế giới cổ tích thần kỳ. Ngoài những hoàng tử tranh giành ngôi vương, người đọc còn thấy những nàng tiên, kỳ lân, sư tử; có những hồn ma, người khổng lồ, phù thủy và cả cướp biển. Từng lớp nhân vật được chồng lên nhau. Nhưng đằng sau sự giao thoa màu nhiệm ấy cũng ẩn chứa đầy những câu chuyện châm biếm con người trong thực tại. Ngôi vương để trống vì ông vua đã chết trong sự vô tâm và âm mưu của bảy người con trai. Những nàng tiên đã không còn thơ mộng mà ném những tiếng cười cợt vào đam mê của người khác. Sư Tử đập Kỳ Lân vòng quanh thị trấn. Y đập một lần Y đập hai lần Dốc hết sức lực Y đập ba lần cho chắc Sư Tử giữ vững quyền năng của mình   NHỮNG VỊ KHÁCH ĐẶC BIỆT CỦA NEIL GAIMAN Chúng ta có Tristran, chàng thiếu niên lang thang với đôi mắt mơ hồ. Anh đắm chìm trong cơn say mê tuổi trẻ và giữ cho mình một lời hứa ngây thơ với cô gái được nhiều chàng trai để ý nhất trong làng.  Victoria, tình yêu của Tristran Thorn. Người đã trao cho anh một lời hứa về tình yêu tuổi trẻ và là nguyên nhân cho cuộc hành trình ra phía ngoài của Bức Tường. Cuối cùng là một ngôi sao. Ngôi sao ấy là một hòn đá? Hay một dải Ngân Hà? Không một ai biết. Chỉ mãi cho đến khi cuộc hành trình của Tristran bắt đầu. Nhưng thật không may, không chỉ mình anh tìm kiếm ngôi sao rơi về phía Tây ngôi làng Bức Tường - nơi dẫn đến cổng ra, cánh cổng luôn có người canh gác và chỉ được mở bảy năm một lần - mà còn có cả ba mụ phù thủy và những chàng hoàng tử của Stormhold. Tạm gọi họ là những vị khách đặc biệt của Gaiman. Trải qua những gian nan và thử thách, tâm lý của nhân vật đã thay đổi và phát triển rất rõ ràng. Khác với Tristran của lúc đầu: Anh rụt rè đến mức khổ sở, và như thường thấy trong thái độ của những người rụt rè đến mức khổ sở, anh cố gắng sửa chữa điểm này một cách quá lố khi cứ nhằm vào những thời điểm không phù hợp mà tỏ ra sôi nổi quá mức Mọi kẻ đang yêu đều có trái tim của một người điên và đầu óc của một nghệ sĩ hát rong Sau khi gặp những vị khách đặc biệt của Neil Gaiman, tâm lý anh đã phát triển thành một con người hoàn toàn khác: trưởng thành hơn và không còn hy vọng nhiều vào những phép màu.  Đó là anh, người chạy theo ước mơ viển vông vì tình yêu. Nhưng đó cũng là anh, người trở về và lựa chọn từ bỏ tình yêu của mình. Dẫu vậy, cái kết tốt đẹp vẫn mở ra cho anh chàng Tristran Thorn dũng cảm, nghĩa hiệp. Tristran Thorn cuối cùng đã thực hiện việc anh hằng khao khát đó là đặt chân tới những vùng đất mới và khám phá bao điều khác lạ. Quan trọng hơn cả, một lần nữa anh lại tìm thấy tình yêu.   CỔ TÍCH VÀ NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH Không ai có thể sống mãi trừ phi họ có được trái tim của một ngôi sao Khi nào ta sẽ thắp lên ngọn nến Babylon?   Càng đọc văn của Gaiman, người ta càng dễ bị cuốn vào những ma thuật mà ông đã sử dụng. Bởi nói một cách đơn giản, Gaiman ở đây không còn là một nhà văn. Ông hóa thân thành ảo thuật gia đại tài, vẽ nên những bức tranh phép thuật về cuộc sống kỳ diệu, phong phú và náo nhiệt. Những câu văn có vẻ khó hiểu lại trở nên sáng tỏ sau mỗi lần độc giả phát hiện ra một câu chuyện mới.   Bụi sao còn được biết tới là một tác phẩm có nhiều cảnh bạo lực và không hoàn toàn phù hợp với mọi lứa tuổi. Nữ hoàng Phù Thủy máu lạnh với những trò giết người kinh dị, các chàng Hoàng Tử xứ Stormhold độc ác, vì tham lam vương quyền mà ra tay với anh em ruột, những cảnh tượng ghê rợn, hãi hùng của khu rừng ăn thịt. Tất cả đan xen lại với nhau và ẩn sâu đằng sau những huyền ảo.    Cuối cùng, cổ tích vẫn chiến thắng. Tình yêu được nuôi dưỡng trong con người Tristran Thorn trở thành điểm sáng của câu chuyện. Dù cho chàng trai trẻ này có thay đổi, không còn mang dáng vẻ đơn giản và ngốc nghếch nhưng khao khát đặt chân tới những vùng đất mới và hy vọng được khám phá vẫn còn đó, mãnh liệt giống như tuổi trẻ của chúng ta. LỜI KẾT Bụi sao mang màu sắc kỳ diệu nhưng cũng ảm đạm. Một cuốn truyện cổ tích nhân văn và đen tối. Giọng văn trầm trước hết là rong ruổi theo sau những câu văn xuôi đậm chất thơ, sau mang theo ước mơ không hạn định của những thiếu niên hoặc cũng có thể là người lớn mang trái tim của thiếu niên. Tác phẩm vốn không phải sinh ra để lên tiếng cho những suy nghĩ cao cả hay chạy trốn khỏi sự sụp đổ của thế giới. Có lẽ, đây chỉ cách thể hiện quan điểm cá nhân của Neil Gaiman về thế giới thực tại thông qua những câu chuyện cổ tích. Bởi dù sao, chính ông là người tin rằng: Loài rồng có tồn tại và cũng có thể gục ngã. Bụi sao hết sức sáng tạo và thực tế.   Review chi tiết bởi: Ánh Dương - Bookademy *** BOOK REVIEW “BỤI SAO” Thời gian quả là một guồng quay nghiệt ngã. Thấm thoắt một năm trôi qua thật nhanh, Tết Nguyên đán Kỷ Hợi lại đang gần kề. Trong những ngày cuối năm này, ai ai cũng cảm thấy cuộc sống sao mà tất bật, hối hả; dường như có chút gì đó nóng hổi trong tim, hối thúc con người chuẩn bị đón một năm mới sang. Dẫu vậy, thật quý giá biết bao nếu các bạn dành cho mình một khoảng lặng, nhâm nhi một tách trà bên một cuốn sách; tạm gác lại lo toan bộn bề để thả hồn phiêu lãng với câu chuyện cổ tích dành cho người lớn - Stardust của Neil Gaiman. Nếu là một mọt của những tác phẩm kì ảo- giả tưởng (fantasy), bạn chắc hẳn không thể nào không nghe tới những tác gia lừng danh như J.R.R Tolkien với những sáng tác về thế giới Trung Đại rộng lớn, hay là J.K Rowling với series Harry Potter đã góp 1 phần không hề nhỏ vào thế giới tâm hồn của bao thế hệ trẻ trên khắp thế giới. Vậy, liệu các bạn đã từng nghe tới cái tên Neil Gaiman – người đã gây dựng nên một thế giới đan xen giữa hiện thực và huyền ảo, mang đậm dấu ấn sáng tạo của mình? Neil dẫn dắt người đọc hết từ bất ngờ này đến bất ngờ khác và cuối cùng là một cái kết khiến ta phải băn khoăn suy nghĩ vương vấn kể cả khi đã đóng lại cuốn sách. Câu chuyện mở đầu với chàng thanh niên Tristran Thorn- một chàng trai trẻ tới từ ngôi làng cổ tích Bức Tường tọa lạc giữa thế giới thực. Anh đem lòng si mê 1 thiếu nữ trong làng. Vì lời hứa sẽ cho cô tất cả, anh bắt đầu lên đường tiến vào Xứ Tiên đi tìm 1 ngôi sao băng rơi xuống từ trên trời. Anh nào ngờ rằng ngôi sao băng ấy đâu phải là một ngôi sao bình thường. Cuộc kiếm tìm đưa anh giáp mặt với 3 vị hoàng tử khao khát quyền lực của vương quốc Stormhold cùng giành giật ngai vàng còn trống, với nữ hoàng phù thủy ngàn tuổi đầy thâm hiểm và quyền năng và tất cả đều có chung mục tiêu với chàng Tristran. Và cuộc hành trình kì lạ của Tristran sẽ không chỉ vén màn bí mật về quá khứ của anh mà còn là cuộc hành trình sẽ thay đổi cuộc đời anh mãi mãi… Lần theo từng bước chân của Tristran, nhà văn Neil Gaiman đã vẽ nên cả một thế giới cổ tích nhiệm màu với những lâu đài tráng lệ, cánh rừng thần tiên với những vị hoàng tử và những mụ phù thủy nhưng đây không phải là câu chuyện cổ tích mà bạn hay nghe từ thời thơ ấu. Đây là câu chuyện của hiện thực, của những gian khổ khắc nghiệt, của ánh sáng và bóng đêm mà Tristran đã phải vượt qua trên hành trình của mình , để bản thân có thể trở thành một anh hùng đúng nghĩa, một người anh hùng của những khát vọng say mê và tình yêu vượt qua mọi trở ngại để rồi nhận ra nó chưa bao giờ là thứ gì đó xa xôi như những ngôi sao băng kia… “Bụi sao” chắc chắn sẽ khiến cho bạn suy nghĩ và băn khoăn về tình yêu, niềm hạnh phúc cũng như cuộc đời con người. Liệu bạn có thể đặt cuốn sách xuống sau khi đã mở ra và bắt đầu câu chuyện của Tristran ? Mời các bạn đón đọc Bụi Sao của tác giả Neil Gaiman & Huyền Vũ (dịch).