Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Phía Tây Không Có Gì Lạ

Erich Maria Remarque (1898-1970) đã phục vụ trong Thế chiến thứ nhất và đã bị thương tất cả năm lần. Những hình ảnh ghê rợn của cuộc chiến trong giao thông hào đã để lại những vết sẹo không phai mờ trong tâm trí Remarque nên ông cố xua đuổi những bóng ma đó qua các sáng tác văn học. “Phía Tây không có gì lạ” là tác phẩm hay nhất của ông dù chín tác phẩm khác ông cũng viết về những đau đớn, khổ cực trong chiến tranh. “Phía Tây không có gì lạ" là câu chuyện về Pôn Baomơ, một người lính Đức trẻ, xung phong vào quân đội vì Căntôrec, vị giáo sư của anh, đã thuyết phục cả lớp tham gia quân đội để làm cho nước Đức được vẻ vang. Sau một thời kỳ huấn luyện gian khổ dưới quyền của Himmenxtôt, một phu trạm, Baomơ và các bạn ra tiền tuyến. Dù được vẽ vời trong nhà trường với những hình ảnh huy hoàng của các anh hùng, Baomơ nhanh chóng nhận thức được rằng những chiến hào đầy máu của Mặt trận phía Tây là một sa lầy của những khổ đau và chết chóc. Ngay khi những quả đạn pháo đầu tiên nổ tung trong bùn lầy, Baomơ và các bạn thấy rằng tất cả những người ở lại nhà đều dối trá: chiến tranh không phải là một thay đổi vinh quang, chiến tranh không làm cho các cậu con trai trưởng thành mà nó hủy diệt một cách có hệ thống tất cả những ai khỏe mạnh và lịch sự. Tất cả các bạn của Baomơ đều chết, bị thương, hoặc đào ngũ. Pôn Baomơ bắt đầu tự vấn về cuộc đời mình và băn khoăn không biết mình có sống sót được sau cuộc chiến hay thậm chí có sống được trong một thế giới không có chiến tranh hay không. Xuyên suốt câu chuyện, Remarque thường dùng từ “chúng tôi” để nói lên tình đồng đội - cái quý nhất mà chiến tranh tạo nên. Những người lính ấy đã trải qua những giây phút cận kề cái chết cùng nhau nên họ gắn bó với nhau, chia sẻ với nhau tất cả những gì họ có. “Chúng tôi không nói nhiều nhưng chúng tôi để ý săn sóc nhau từng ly từng tí, thiết tưởng còn hơn cả những cặp tình nhân. Chúng tôi là hai con người, hai tàn lửa sống nhỏ bé, và ngoài kia, là đêm tối, là vòng vây của thần chết.” *** húng tôi nằm sau chiến tuyến chín cây số. Đại đội vừa được thay phiên hôm qua; lúc này cả bọn vừa ăn căng rốn món đậu trắng hầm thịt bò, no nê và hài lòng. Thậm chí mỗi thằng còn được thêm một cà mèn đầy dành cho bữa tối; đã vậy còn lĩnh cả khẩu phần kép xúc xích và bánh mì - thật là quá đã. Lâu lắm rồi chẳng có bữa nào thỏa thuê như thế này: gã đầu bếp với tấm thân bò mộng và cái đầu cà chua đỏ lựng đích thân đem đồ ăn ra mời anh em; ai đi ngang qua gã cũng vẫy vẫy cái muỗng gọi lại và úp cho một muỗng đầy tú hụ. Gã đang tuyệt vọng lắm, vì không biết làm cách nào trút cho hết cái nồi quân dụng to vật này. Tjaden và Müller lôi đâu đến mấy cái chậu và để gã múc cho đầy phè đến tận miệng chậu. Tjaden làm thế vì háu ăn, còn Müller vì lo xa. Mọi người chịu không hiểu Tjaden tọng rõ lắm mà chả biết thức ăn chui đằng nào hết. Trước nay lúc nào cậu ta cũng gầy đét như con cá mắm. Nhưng quan trọng nhất là có cả khẩu phần kép thuốc hút. Mỗi người được mười điếu xì gà, hai mươi điếu thuốc lá và hai miếng thuốc lá nhai, quả là rất đàng hoàng lịch sự! Tôi đổi chỗ thuốc nhai của mình lấy thuốc lá của Katczinsky, thế là tôi có bốn mươi điếu. Đủ xài cho cả ngày. Thật ra thì tất cả những món quà bất ngờ này không dành cho chúng tôi. Người Phổ đâu có hào phóng thế. Chúng tôi vớ bở chỉ nhờ một sự nhầm lẫn. Mười bốn ngày trước chúng tôi phải lên tuyến đầu vì đến phiên giữ chốt. Khu vực chúng tôi cắm quân khá yên tĩnh, và vì vậy để chuẩn bị cho ngày chúng tôi trở về viên quản lý đã lĩnh khẩu phần ăn thông thường đủ cho cả một trăm năm mươi lính toàn đại đội. Nhưng đúng vào ngày cuối cùng, với số lượng pháo nòng dài và pháo hạng nặng nhiều đến kinh ngạc, quân Anh đã liên tục nã đạn vào vị trí của chúng tôi, khiến chúng tôi chịu tổn thất nặng nề tới mức chỉ còn tám chục mống quay về. Chúng tôi rút quân vào ban đêm và lập tức lăn ra đánh một giấc cho đã đời; vì Katczinsky nói đúng: chỉ cần lính tráng được ngủ nhiều hơn thì chiến tranh cũng chẳng đến nỗi nào. Thế nhưng ở tiền tuyến có bao giờ được ngủ cho ra giấc đâu, và mỗi phiên chốt mười lăm ngày lại quá là lâu. Khi những thằng đầu tiên trong chúng tôi bò ra khỏi các lán trú quân thì trời đã trưa. Nửa giờ sau, mọi người đều vớ lấy cà mèn, kéo nhau đến tụ trước nồi thịt hầm vừa chín tới đang tỏa mùi béo ngậy. Đứng đầu tiên cố nhiên là những thằng háu đói nhất: Albert Kropp nhỏ thó, suy nghĩ sáng suốt nhất bọn nên vừa mới được lên binh nhất; Müller V, vẫn tha theo những cuốn sách giáo khoa bên mình và mơ tới kỳ thi tranh thủ ngày về phép, dưới màn đạn lửa vẫn cày các định luật vật lý; Leer, râu quai nón, rất thích các cô gái trong nhà thổ dành cho sĩ quan thề sống thề chết rằng theo lệnh nhà binh thì các cô có nghĩa vụ phải mặc áo sơ mi lụa và phải tắm trước nếu tiếp khách từ cấp đại úy trở lên; và người thứ tư là tôi, Paul Bäumer. Cả bốn thằng cùng mười chín tuổi, cả bốn thằng cùng từ một lớp học đi thẳng vào cuộc chiến. Ngay sau lưng bọn tôi là đám bạn thân, Tjaden, một thợ khóa gầy gò, trạc tuổi bọn tôi, chén khỏe nhất đại đội. Cậu ta ngồi xuống bàn ăn người mảnh như que tăm, nhưng khi đứng dậy thì bụng kệnh như con rệp chửa; Haie Westhus, bằng tuổi, thợ than bùn, có thể dễ dàng nắm gọn một ổ bánh mì lính trong lòng bàn tay mà đố: “Đoán xem, trong tay tớ có gì?”; Detering, nông dân, chỉ nghĩ đến nông trại và vợ của mình; và cuối cùng là Stanislaus Katczinsky, thủ lĩnh của nhóm chúng tôi, gan lì, láu lỉnh, dày dạn, tuổi đã tứ tuần, mặt nâu như đất thó, mắt xanh lơ, vai xuôi thõng và có khứu giác kỳ diệu, ngửi ra ngay những mối nguy hiểm, những món ăn ngon, những chỗ nấp tốt. Nhóm chúng tôi đứng đầu đội quân xếp hàng rồng rắn trước quầy bếp lưu động. Chúng tôi bắt đầu sốt ruột, vì gã đầu bếp thẫn thờ vẫn còn đứng ì ra đấy mà đợi. Cuối cùng Katczinsky réo về phía gã: “Mở thùng súp của cậu ra đi chứ, Heinrich! Ai cũng thấy là đậu nhừ rồi kìa.” Gã kia lắc đầu như ngái ngủ. “Các cậu phải có mặt đông đủ đã.” Tjaden nhe răng cười. “Bọn tôi đến đủ rồi.” Gã hạ sĩ quan anh nuôi vẫn chưa mảy may biết gì. “Các cậu đừng có tưởng bở! Thế còn những người khác đâu cả?” “Hôm nay họ không xơi cơm của cậu! Họ đang nằm ở quân y viện và dưới mồ chung rồi.” Con bò nấu bếp như bị một đòn chí mạng khi biết được sự thật. Gã lảo đảo. “Thế mà tôi lại nấu cho những một trăm năm mươi người.” Kropp huých vào sườn gã. “Vậy thì bọn này cuối cùng cũng được một bữa no. Thôi, bắt đầu đi!” Nhưng trong đầu Tjaden chợt lóe lên một ý nghĩ. Cái mặt chuột nhọn hoắt của cậu ta sáng rỡ lên, cặp mắt nheo lại đầy vẻ láu cá, hai gò má giật giật, cậu ta sán đến gần gã đầu bếp hơn: “Này nhóc, vậy là cậu cũng đã lĩnh cả phần bánh mì cho một trăm năm mươi người, hả?” Gã kia gật đầu trong lúc còn chưa hết choáng váng và hồn vía vẫn ở trên mây. Tjaden túm lấy áo gã. “Cả xúc xích à?” Cái đầu cà chua lại gật. Xương quai hàm Tjaden run lên. “Cả thuốc lá nữa chứ?” “Phải, tất tần tật.” Tjaden mặt mày sáng rỡ ngó ra xung quanh. “Mẹ kiếp, thế này gọi là đỏ hơn son đây! Vậy là tất cả dành cho anh em ta! Mỗi thằng sẽ được… xem nào… đúng rồi, chính xác là gấp đôi khẩu phần!” Nhưng lúc này gã cà chua đã hoàn hồn, gã tuyên bố: “Thế không được.” Giờ thì cả bọn chúng tôi cũng phấn chấn hẳn lên, xô nhau sấn gần lại. “Sao lại không được, cái đồ óc bã đậu kia?” Katczinsky vặn. “Tiêu chuẩn cho một trăm năm mươi người, không thể chia cho tám mươi người được.” “Rồi chúng tao sẽ cho mày biết,” Müller gầm gừ. “Thức ăn thì còn được, chứ những thứ khác tôi chỉ có thể phát đủ tám mươi suất,” gã cà chua khăng khăng một mực. Katczinsky nổi cáu: “Xem chừng phải thuyên chuyển mày khỏi đây, hả? Mày đã lĩnh khẩu phần không phải cho tám mươi lính, mà cho đại đội hai, vậy thôi. Giờ bỏ cả ra đây! Đại đội hai là chúng tao đây này!” Chúng tôi áp sát gã đầu bếp. Chẳng ai chịu nổi gã, đã nhiều phen do lỗi của gã mà ở ngoài chiến hào chúng tôi phải nhận bữa ăn vừa quá muộn vừa nguội ngắt, vì đạn pháo chỉ mới đùng đoàng một tí là gã đã không dám bê nồi thức ăn lại gần hơn, cho nên anh em đại đội chúng tôi đi lấy đồ ăn phải đánh đường xa hơn anh em các đại đội khác rất nhiều. Bulcke ở đại đội một chẳng hạn là một đầu bếp khá hơn hẳn. Tuy béo như con chuột đồng, nhưng khi cần, anh ta vẫn tự tay lễ mễ tha thức ăn lên tận tuyến đầu. Chúng tôi đang bức xúc ghê gớm, và nếu viên chỉ huy đại đội không xuất hiện đúng lúc thì thế nào cũng có thằng bị chẻ nhỏ như chẻ củi. Ông ta hỏi lý do cuộc cãi vã và chỉ nói: “Phải, ngày hôm qua chúng ta đã có những tổn thất nặng nề…” Rồi ông ta ngó vào chiếc nồi lớn. “Món đậu này trông có vẻ ngon đây.” Gã cà chua gật đầu. “Hầm với mỡ và thịt đấy ạ.” Viên trung úy nhìn chúng tôi. Ông ta biết chúng tôi đang nghĩ gì. Ông ta cũng biết nhiều chuyện khác nữa, vì ông ta đã trưởng thành giữa chúng tôi, khi đến đại đội ông ta mới chỉ là hạ sĩ quan. Ông ta lại nhấc vung nồi lên một lần nữa và hít hít. Trước khi bỏ đi, ông ta bảo: “Nhớ mang cả cho tôi một đĩa đầy nhé. Và chia tất cả các khẩu phần đi. Chúng ta có thể cần đến chúng.” Gã cà chua thộn mặt ra. Tjaden nhảy nhót quanh gã. “Cậu có thiệt gì đâu kia chứ! Cứ làm như cả kho lương thực là của mình không bằng… Nào thôi bắt đầu đi, đồ săn mỡ già đời, và đừng có đếm nhầm đấy…” “Treo cổ mày lên!” gã cà chua gầm gừ. Gã tức nổ mắt, chuyện như thế này đi ngược với lý trí của gã. Gã không còn hiểu cái thế giới này nữa. Và để tỏ ra giờ đây gã cũng bất cần tất cả, gã còn tự động chia thêm cho mỗi người hai lạng rưỡi mật ong nhân tạo. Hôm nay quả là một ngày đẹp. Lại có cả quà của quân bưu, hầu như ai cũng nhận được vài lá thư và báo. Lúc này chúng tôi thong thả đi về phía đồng cỏ sau lán trú quân. Kropp cắp dưới nách cái nắp tròn của thùng bơ thực vật. Người ta đã xây bên rìa phải đồng cỏ một chuồng xí công cộng to đoành - một ngôi nhà chắc chắn, lợp mái đàng hoàng. Nhưng chỗ ấy chỉ dành cho bọn lính mới tò te chưa học được cách rút tỉa những điều hay ho từ mỗi việc dù nhỏ nhất. Bọn tôi tìm cái gì khác thú vị hơn kia. Số là nơi đây rải rác những cái thùng nho nhỏ với cùng một mục đích sử dụng - hình vuông, sạch sẽ, đóng toàn bằng gỗ, bốn bề bịt kín, bên trên là bệ ngồi thuận tiện, không chê vào đâu được. Hai bên thùng gắn quai xách, nên có thể dịch chuyển thoải mái. Bọn tôi kê ba cái thùng châu vào nhau và khoan khoái ngồi xuống. Bét ra phải hai tiếng nữa cả bọn mới chịu đứng lên. Tôi vẫn nhớ hồi còn là tân binh vừa chân ướt chân ráo đến doanh trại, cả bọn đã xấu hổ như thế nào khi lần đầu tiên phải dùng chuồng xí công cộng. Chẳng có cửa nẻo gì cả, hai chục thằng ngồi kề bên nhau như trong toa tàu. Chỉ lướt mắt một phát là bao quát cả lũ… thì lính tráng cần được giám sát thường xuyên mà. Từ bấy đến nay chúng tôi đã học được cách vượt qua nhiều thứ hơn là vượt qua chỉ một nỗi xấu hổ cỏn con đó. Thời gian trôi đi, chúng tôi đã quen với những điều còn đáng xấu hổ hơn. Nhưng làm chuyện này giữa trời đất quả thật là quá sướng. Tôi không còn nhớ tại sao trước kia lúc nào bọn tôi cũng ngại ngùng khi đi ngang qua những cái thùng này, vì chúng cũng tự nhiên như ăn uống thôi mà. Và có lẽ cũng không cần phải nhiều lời về chúng, nếu như chúng không đóng một vai trò quan trọng với bọn tôi, và nếu chúng chẳng mới lạ ngay với chính bọn tôi như thế… vì thực ra từ lâu chúng đã quá đương nhiên. Tiêu hóa và bài tiết là những vấn đề thiết thân với người lính hơn với bất cứ người nào khác. Ba phần tư từ vựng của người lính từ đó mà ra, và khi thể hiện niềm vui sướng cực độ hay nỗi căm giận sâu sắc nhất thì từ ngữ anh ta dùng đều bắt nguồn từ chỗ này. Quả là không có cách nào khác để biểu lộ cảm xúc một cách ngắn gọn và rõ ràng đến thế. Cha mẹ và các thầy cô giáo hẳn sẽ lạ lùng lắm khi chúng tôi trở về nhà với lời ăn tiếng nói như vậy, nhưng ở ngoài mặt trận thì nó quá là quen tai. Đối với chúng tôi, toàn bộ những tiến trình này đã lấy lại được đặc tính ngây thơ, vì chúng bắt buộc phải diễn ra giữa chốn công cộng. Hơn thế nữa: chúng tôi xem chúng đương nhiên đến nỗi việc hoàn thành chúng cũng khoan khoái ngang với thắng một ván bài ở mức đặt cược cao nhất. Không phải tự nhiên lại sinh ra cái từ “khẩu ngữ cầu tiêu” để chỉ đủ loại chuyện tán nhảm. Những chỗ giải quyết “nỗi buồn” là góc buôn chuyện, là nơi tụ bạ quen thuộc của lính. Khoảnh khắc này đây bọn tôi đang cảm thấy thoải mái hơn là ngồi trong buồng vệ sinh sang trọng lát gạch men trắng. Nơi đó chỉ có thể sạch sẽ, chứ ở đây mới khoan khoái dễ chịu. Đó là những thời khắc vô tư lự tuyệt vời. Bên trên chúng tôi bầu trời xanh biếc. Xa xa phía chân trời lơ lửng những quả khinh khí cầu màu vàng rực sáng trong nắng và những vệt khói nhỏ màu trắng của những viên đạn cao xạ. Đôi khi chúng vọt lên thành chùm để rượt theo một phi cơ. Tiếng gầm của đạn pháo vẳng về đây chỉ ì ầm tựa một cơn dông từ nơi xa lắm. Những con ong đất vo ve bay ngang cũng đủ át hết cả. Và bao quanh chúng tôi là cánh đồng cỏ đầy hoa. Những ngọn cỏ non đu đưa, những cánh bướm trắng rập rờn đến gần, chúng chao liệng trong làn gió êm ái, ấm áp cuối hạ; còn chúng tôi đọc thư, đọc báo và hút thuốc, chúng tôi bỏ mũ ca lô đặt xuống bên cạnh mình, làn gió đùa trên mái tóc chúng tôi, đùa với những lời nói, những ý nghĩ của chúng tôi. Ba cái thùng của ba thằng đứng giữa đám hoa anh túc đỏ rực… Mời các bạn đón đọc Phía Tây Không Có Gì Lạ của tác giả Erich Maria Remarque.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ông Già và Biển Cả
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Ông Già và Biển Cả của tác giả Ernest Hemingway & Mặc Đỗ (dịch). VỀ NHỮNG NHÂN DANH, ĐỊA DANH TRONG SÁCH NÀY Để văn dịch được thật sự phổ cập và những bản dịch được hoàn toàn quốc ngữ hóa như của Trung Hoa, Nhật Bản, dịch giả đề nghị áp dụng trong bản dịch này việc phiên âm những nhân danh, địa danh. Phương pháp đề ra chưa chắc đã hoàn hảo; dù sao ta cứ bước một bước đầu. NGUYÊN TẮC CHUNG Nhân danh, địa danh của nước nào thì phải cố gắng phiên âm theo đúng âm của nước đó. Những danh từ đã quá quen thuộc nên giữ lại. Thí dụ: Anh, Pháp, Nga, Mỹ… Nhưng nếu phiên âm đúng hơn và sẽ tiện dụng hơn thì nên đổi: Pari hơn Balê. PHƯƠNG PHÁP Viết dính các âm. Viết rời nếu danh từ gốc viết rời. Cố giữ để khỏi xa với cách viết (theo mẫu tự latinh) của danh từ gốc. Thí dụ: không thay S bằng X (Sanhtơny chớ không Xanhtơny). Không phân biệt cách đọc S và X, nhưng để phiên âm vần CH (Pháp) hay SH (Anh) dùng vần SH. Thí dụ: Shinông. Chấp nhận âm S câm. Thí dụ: Côngstăngtanh, Stăngbun. Chấp nhận thêm những vần không dùng trong Việt ngữ nhưng người Việt phát âm được: Bl, Br, Cl, Cr, Đr, (đơrơ), F (phơ), F1 (phơlơ), Fr (phơrơ), J (thay cho vần GI để khi đọc khỏi lẫn, thí dụ: Anjêri dễ đọc hơn Angiêri vì có thể lầm thành Angi-êri), Kl (Cơlơ), Kr (cơrơ), Z. Cố gắng phiên âm đầy đủ các âm của danh từ gốc, nhưng tránh dùng dấu Việt ngữ để nhấn mạnh nếu không cần thiết lắm, tuy gặp danh từ gốc cố ý nhấn mạnh vẫn cần giữ cho đúng với nguyên tắc chung. Thí dụ: Odessa có thể viết Ôđesa, nhưng Madagascar phải viết Mađagátca. *** LỜI NGƯỜI DỊCH Đem kinh nghiệm bản thân gửi vào tác phẩm, chủ đích nghệ thuật đó Ernest Hemingway đã giải bày trong cuốn The Snows of Kilimanjaro: một nhà văn khi hấp hối nhớ lại những mẩu đời của mình đã toan để dành đưa vào trong truyện. Toàn thể những tác phẩm đã xuất bản của Hemingway đều là những vang bóng của những quảng thời gian mà chính tác giả đã từng sống. Thời thơ ấu ở Michigan (In Our Time), kỳ đại chiến thứ nhất trong quân đội Ý (A Farewell to Arms), huấn luyện viên võ thuật (Fifty Grend), dự đấu bò tại Tây Ban Nha (The Undefeated), sáu năm sống cuộc đời ly hương tại Montparnasse, Paris (The Sun Also Rises), tham gia nội chiến Tây Ban Nha trong hàng ngũ dân chủ (For Whom The Bells Toll), Cuốn Ông già và Biển cả (The Old Man and the Sea) chúng tôi trình bày cùng độc giả, rút ở những nhận xét tại chỗ hồi ông ở Key West, tận cùng mỏm Florida, thường đi theo dân chài ra khơi. Bằng chứng vào cuộc đời và những tác phẩm của Hemingway ta có thể nói không ngoa rằng nếu ông ở yên một chỗ ông sẽ không thể viết được. Trong một cuộc du lịch tại Phi-châu, ông và bà vợ cùng đi trên một chiếc máy bay riêng và mất tích giữa rừng rậm, báo chí thế giới đã sửa soạn bài ai điếu thì hai vợ chồng ông lại tìm về được không một chút thương tích. Tuy Hemingway sống rất nhiều, nhân vật trong tiểu thuyết của ông thường biểu lộ tâm trạng trơ trọi của con người bất phùng thời. Trơ trọi vì kiêu hãnh từ chối đầu hàng, không chịu phó mặc cho số phận. Ông lão đánh cá trong thiên truyện này là một thể hiện đặc sắc của sự trơ trọi kiểu Hemingway. Bị người đời rẻ rúng ông lão vẫn cương quyết đi con đường của mình cho trọn, chống trả kịch liệt cho đến thành công, rồi lại đem hết sức tàn ra đương đầu với Định Mệnh, không một lời ta oán, tin ở mình cho đến cùng. *** Tóm tắt Câu chuyện kể về Santiago, một ông già đánh cá già nua và nghèo khó, đã 84 ngày liền không bắt được con cá nào. Những người bạn đánh cá khác đã bỏ đi, chỉ còn lại Santiago tiếp tục ra biển một mình. Một ngày nọ, ông già đã câu được một con cá kiếm khổng lồ. Con cá quá lớn đến nỗi thuyền của ông già bị kéo ra xa bờ hàng trăm dặm. Santiago đã phải chiến đấu với con cá suốt ba ngày ba đêm, và cuối cùng ông đã bắt được nó. Tuy nhiên, khi con cá bị kéo lên thuyền, những con cá mập đã đến và ăn thịt nó. Khi Santiago trở về bờ, ông chỉ còn lại bộ xương của con cá. Review "Ông già và biển cả" là một câu chuyện về lòng can đảm, sự kiên trì và ý chí chiến thắng. Santiago là một người đàn ông kiên cường và bất khuất, không bao giờ bỏ cuộc trước khó khăn. Ông đã chiến đấu với con cá kiếm suốt ba ngày ba đêm, và cuối cùng đã bắt được nó. Câu chuyện cũng là một bài thơ về vẻ đẹp của biển cả và thiên nhiên. Hemingway đã miêu tả biển cả một cách sống động và chân thực, thể hiện sự tôn trọng và ngưỡng mộ của ông đối với thiên nhiên. "Ông già và biển cả" là một tác phẩm kinh điển của văn học Mỹ. Câu chuyện đã được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ và được chuyển thể thành phim nhiều lần. Đánh giá chung "Ông già và biển cả" là một tác phẩm văn học xuất sắc, mang đến cho người đọc những cảm xúc sâu sắc và những bài học ý nghĩa. Câu chuyện là một bức tranh tuyệt đẹp về cuộc sống và sự đấu tranh của con người, và là một lời ca ngợi cho tinh thần kiên cường và ý chí chiến thắng. Những điểm nổi bật Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Nhân vật Santiago được xây dựng thành công Miêu tả thiên nhiên sống động và chân thực Mang đến những cảm xúc sâu sắc và những bài học ý nghĩa Kết luận "Ông già và biển cả" là một tác phẩm văn học đáng đọc, mang đến cho người đọc những trải nghiệm tuyệt vời. Mời các bạn mượn đọc sách Ông Già và Biển Cả của tác giả Ernest Hemingway & Mặc Đỗ (dịch).
Đi Tìm Gobi
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Đi Tìm Gobi của tác giả Dion Leonard & Nguyễn Thu Thảo (dịch). Giống như một điều kì diệu, “Đi tìm Gobi” kể về câu chuyện gặp gỡ thần kỳ giữa Dion - vận động viên điền kinh người Scotland và người bạn chó đặc biệt khi anh tham gia chạy đua quãng đường 250 km trên sa mạc Gobi (Trung Quốc). Không giống Sahara ở châu Phi, sa mạc Gobi có nhiều cồn cát, đồng bằng sỏi và núi đá hùng vĩ, gió ở đây có thể thổi mạnh lên đến 140 km/giờ. Nhưng Dion đã không hề cô đơn trong cuộc hành trình khó khăn khi một chú chó nhỏ đã chạy theo anh suốt đường đua và dính lấy anh như hình với bóng. "Tôi biết nếu nó chạy theo tôi sẽ ảnh hưởng đến cuộc đua của tôi, nhưng tôi không biết tại sao mình không thể từ bỏ nó được" – Dion chia sẻ. Tuy chỉ về thứ hai, nhưng với Dion, anh đã tìm thấy một món quà quý giá hơn cả, đó là chú chó Gobi - một người bạn đường đáng yêu và trung thành. Cuốn sách tập trung miêu tả những khó khăn, khắc nghiệt mà vận động viên chạy bộ gặp phải trên hành trình của mình, và hơn hết là ý chí bền bỉ, nhẫn nại để từng bước chinh phục hành trình ấy. Không đi sâu vào cách thức tập luyện, không đưa ra bất kì lời khuyên về chuyên môn nào, Finding Gobi chinh phục trái tim độc giả bởi câu chuyện nhân văn đan xen trong đó. *** ĐÊM QUA, Ê KÍP LÀM PHIM ĐÃ ĐÓNG MÁY. Ngày mai đại diện nhà xuất bản sẽ đến. Cả người tôi vẫn còn ê ẩm do dư âm của chuyến hành trình dài bốn mươi mốt giờ qua. Cho nên tôi và Lucja đã quyết định chuyến chạy bộ đầu tiên của năm sẽ chỉ chạy nhẹ nhàng thôi. Với lại, chuyến này không chỉ dành riêng cho hai chúng tôi thôi đâu. Còn cả Gobi nữa. Chúng tôi thong thả chạy qua quán bar, phi xuống con đường ngay bên cạnh Cung điện Holyrood. Dưới nền trời trong xanh, đồi cỏ mọc trên đường chân trời Edinburg hiện ra trước mắt. Đó là đồi Arthur’s Seat - Ngai vàng của vua Authur. Đến tôi còn chẳng nhớ nổi mình đã chạy lên ngọn đồi này bao nhiêu lần, mặc dù bạn biết đấy, ngọn đồi luôn tỏ ra hung bạo. Nào là những cơn gió táp vào mặt, buộc anh phải lùi bước. Nào là mưa đá sắc như dao cứa vào da thịt anh. Những ngày như thế, tôi lại thèm cái nóng 49 độ của sa mạc. Nhưng hôm nay, trời không gió cũng chẳng mưa đá. Khi chúng tôi leo lên, ngọn đồi cũng chẳng cau có khó chịu như mọi khi, như thể đang muốn khoe mình dưới bầu trời quang mây hiếm hoi. Gobi như biến thành một cô chó khác khi chúng tôi giẫm lên cỏ. Cô nhóc vốn nhỏ con đến mức tôi có thể dễ dàng cắp bên nách, nay lại lồng lộn như sư tử, kéo tôi chạy phăng phăng lên sườn đồi. “ Wow !” Lucja trầm trồ. “Coi nó tràn đầy năng lượng chưa kìa!” Không chờ tôi đáp, Gobi đã quay lại, thè lưỡi, hai mắt sáng bừng , tai vểnh, ngực ưỡn ra. Ái chà, chừng như nó hoàn toàn hiểu lời Lucja vậy. “Em chưa biết đó thôi,” tôi đáp, tăng tốc lên một chút để nới lỏng dây xích. “Chỉ khi về núi rừng nó mới như vậy.” Chúng tôi chạy ngày một xa, sắp đến đỉnh đồi rồi. Sao tôi lại đặt tên cho Gobi theo tên một sa mạc ấy nhỉ ? Sườn núi Thiên Sơn hiểm trở, lạnh lẽo mới là nơi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên cơ mà. Gobi quả là một nhà leo núi thực thụ. Càng đi, trông cô nhóc càng lí lắc hơn. Chẳng mấy chốc, cái đuôi ngắn ngủn của Gobi vẫy nhanh như chớp, nó lắc lư thân mình vì một niềm vui đơn thuần. Khi Gobi quay đầu lại lần nữa, tôi thề là tôi đã thấy nụ cười toe toét của nó. Nhanh lên nào! Cô nhóc giục. Tiến lên! Từ trên đỉnh đồi, tôi đắm mình trong những khung cảnh quen thuộc. Cả Edinburgh trải rộng dưới chân chúng tôi; xa hơn là Cầu Forth, những quả đồi ở Lomond, rồi từng dặm đường mòn West Highland Way dài chín mươi sáu dặm tôi từng chinh phục. Tôi còn trông thấy cả bắc Berwick nữa, trọn một đường chạy marathon chuẩn1* đây. Tôi mê cảm giác chạy dọc bờ biển, kể cả vào những ngày phải đánh vật với gió từng dặm đường một. 1* Đường chạy marathon chuẩn có cự li 26,2 dặm Anh, tức là khoảng 42,2 kilômét. Tôi đã ở đây được hơn bốn tháng rồi. Dù đã quen, nhưng ở đâu đó vẫn có chút khang khác. Phải chăng vì có Gobi. Cô nhóc quả quyết đã đến lúc xuống núi, rồi lôi tôi xềnh xệch xuống sườn đồi. Không phải bằng đường mòn chúng tôi đã đi lên mà lao thẳng xuống. Tôi nhảy qua những bụi cỏ và tảng đá to cỡ chiếc vali. Lucja vẫn duy trì tốc độ chạy kế bên tôi. Gobi dẫn đường đầy điêu luyện. Tôi và Lucja nhìn nhau rồi cùng bật cười, tận hưởng khoảnh khắc chúng tôi hằng mong mỏi. Khoảnh khắc cả gia đình chạy cùng nhau. Chạy không phải lúc nào cũng vui. Với tôi mà nói, chạy chưa bao giờ vui. Có lẽ sẽ có khen thưởng và thỏa mãn, nhưng không phải là thứ niềm vui có thể bật cười thành tiếng như giờ khắc này. Gobi muốn chạy tiếp, vì vậy chúng tôi để nhóc ta kéo đi. Nhóc ta dẫn chúng tôi đến bất cứ nơi nào nhóc ta muốn, lúc quay lên đồi, lúc chạy xuống đồi. Không theo kế hoạch huấn luyện hay lộ trình định trước nào. Không lo âu. Không câu nệ. Chỉ là một giây phút vô tư lự, và cũng vì thế mà tôi vô cùng thấy cảm kích. Sáu tháng đã qua, tôi thấy mình cần điều đó lúc này. Tôi đã đối mặt với những thứ tôi chưa từng dám nghĩ tới chỉ bởi vì cô cún Gobi này, nhúm lông nâu bé tí tẹo đang chạy phăng phăng, làm bả vai tôi như muốn trật đến nơi. Tôi từng đối mặt với nỗi sợ hãi chưa từng biết đến. Tôi từng tuyệt vọng, loại tuyệt vọng có thể biến bầu không khí xung quanh bạn trở nên ảm đạm và mất đi sức sống. Tôi từng đối mặt với cái chết nữa. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Còn rất nhiều chuyện tôi muốn kể cho bạn nghe. Về một cô chó nhỏ đã thay đổi chính tôi theo cái cách mà đến giờ tôi mới chớm hiểu. Mà có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu thấu được. Tuy vậy, tôi vẫn biết: Đi tìm Gobi là một trong những thử thách khó khăn nhất đời tôi. Và được Gobi chọn là một trong những hạnh phúc lớn nhất. *** Tóm tắt Câu chuyện kể về chuyến đi của Dion Leonard, một người đàn ông Scotland, đến Trung Quốc để chạy marathon. Trong chuyến đi này, anh đã gặp gỡ một chú chó con lạc đàn tên Gobi và quyết định nhận nuôi nó. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành marathon, Dion phải trở về Scotland, còn Gobi vẫn ở lại Trung Quốc. Dion không thể quên Gobi, vì vậy anh đã quyết định quay trở lại Trung Quốc để tìm kiếm chú chó. Chuyến đi của anh gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng cuối cùng anh cũng tìm thấy Gobi. Review "Đi tìm Gobi" là một câu chuyện cảm động về tình bạn giữa người và động vật. Dion Leonard là một người đàn ông mạnh mẽ và kiên cường, nhưng anh cũng có những lúc yếu lòng và cô đơn. Gobi đã mang đến cho anh sự yêu thương và động viên, giúp anh vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Câu chuyện cũng là một lời ca ngợi sức mạnh của tình yêu thương. Tình yêu thương giữa Dion và Gobi đã vượt qua mọi trở ngại, giúp họ tìm thấy nhau và cùng nhau vượt qua những thử thách. Một số điểm nổi bật trong cuốn sách Câu chuyện cảm động về tình bạn giữa người và động vật. Lời ca ngợi sức mạnh của tình yêu thương. Cốt truyện hấp dẫn và lôi cuốn. Lối viết chân thực và giàu cảm xúc. Kết luận "Đi tìm Gobi" là một cuốn sách đáng đọc cho những ai yêu thích thể loại hồi ký và câu chuyện về động vật. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những phút giây xúc động và suy ngẫm về ý nghĩa của tình yêu thương. Mời các bạn mượn đọc sách Đi Tìm Gobi của tác giả Dion Leonard & Nguyễn Thu Thảo (dịch).
Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tập Truyện Ngắn Khoa Học Viễn Tưởng Thế Giới: Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian của Nhiều Tác Giả. CHUYẾN DU HÀNH NGƯỢC THỜI GIAN, tập truyện ngắn khoa học viễn tưởng thế giới, nhiều người dịch. Tập sách gồm 14 truyện ngắn của các nhà khoa học viễn tưởng Liên Xô, Mỹ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tiệp khắc, Anh, Nhật về các lĩnh vực khác nhau của khoa học: vũ trụ, sinh vật, y học, người máy v.v... *** Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật bùng nổ của thế kỷ XX, truyện khoa học viễn tưởng - một khu vực đề tài văn học đang còn rất mới và đầy sức sống - được bạn đọc đặc biệt ưa thích và càng ngày càng hứa hẹn một tương lai phát triển rực rỡ. Ở nhiều nước, bên cạnh Hội nhà văn còn có Hội các nhà khoa học viễn tưởng, hàng năm có các giải thưởng khoa học viễn tưởng quốc tế và khu vực, các tác phẩm khoa học viễn tưởng được nhiều nhà xuất bản in hàng loạt thành những tủ sách riêng. Ở Việt Nam, cùng với bước tiến của khoa học kỹ thuật và trình độ văn hóa, giáo dục của nhân dân lao động được nâng cao, đọc sách khoa học viễn tưởng ngày càng trở thành một nhu cầu, một hứng thú đối với đông đảo bạn đọc, nhất là thanh niên và trí thức. Để đáp ứng nhu cầu đó, tiếp theo các cuốn “Trinh vân tiên nữ”, “Bóng dáng thời xưa”, “Gió vĩnh cửu” v.v... Nhà xuất bản Lao động lần này cho ra mắt tập sách Khoa học viễn tưởng mới: “Chuyến du hành ngược thời gian”. Đây là một trong những cố gắng đầu tiên giới thiệu với bạn đọc Việt Nam thế giới Khoa học viễn tưởng thông qua một thể loại văn học nhỏ về số trang nhưng hấp dẫn: truyện ngắn. Tập sách bao gồm 14 truyện ngắn của các nước có truyền thống khoa học viễn tưởng rất mạnh hiện nay, như Liên Xô, Mỹ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tiệp Khắc, Anh, Nhật Bản, với những tác giả nổi tiếng mà tên tuổi đã trở nên quen thuộc trong bạn đọc khoa học viễn tưởng thế giới, như Rư-bin (Liên Xô), A-di-mốp (Mỹ), Nhe-xơ-vát-ba (Tiệp Khắc) v.v... Nội dung tập truyện đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học: vũ trụ, sinh vật, y học, người máy v.v... nhưng không quá đi sâu vào các chi tiết kỹ thuật nặng nề. Truyện khoa học viễn tưởng không chỉ mang đến cho người đọc những hiểu biết về khoa học hiện đại và những dự kiến của nó trong tương lai (viễn tưởng). Dù viết về người máy hoặc những chuyến du hành lên các hành tinh khác hay xuôi ngược trong thời gian đằng sau các chi tiết ly kỳ hấp dẫn, vẫn nổi lên cái chủ yếu: con người. Con người của thời đại chúng ta, của thế kỷ XX sôi động với những suy tư, ước mơ, lo âu, hy vọng với những vấn đề đạo đức và thời sự rất hiện thực và gần gũi. Qua lăng kính phóng đại của trí tưởng tượng của các nhà viễn tưởng, chúng ta vẫn thấy rất rõ tinh thần lạc quan, nhân đạo, lòng tin vào khoa học, vào tương lai tiến hóa nhân loại trong tác phẩm của các nhà văn các nước xã hội chủ nghĩa (“Trái đất gọi”, “Giáo sư Béc-nơ thức giấc”...) và tính ích kỷ, vô nhân đạo, lợi dụng khoa học phục vụ mục đích lợi nhuận trong xã hội tư bản (“Những kẻ buôn đau đớn”, “Lịch sử một tai họa”, v.v...). Đề tài bạo loạn, chiến tranh và hòa bình cũng được trăn trở qua nhiều tác phẩm. Truyện khoa học viễn tưởng, vì vậy, ngoài giá trị nhận thức khoa học, còn có giá trị giáo dục rất lớn mà người đọc có thể ngẫm nghĩ thật sâu và tiếp nhận. Nhà xuất bản Lao động xin giới thiệu với bạn đọc “Chuyến du hành ngược thời gian”, và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp phê bình của bạn đọc để có thể làm tốt hơn những tập sách sau.   NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG *** Tóm tắt Tập truyện ngắn khoa học viễn tưởng thế giới "Chuyến du hành ngược thời gian" gồm 14 truyện ngắn của các nhà văn nổi tiếng đến từ nhiều quốc gia khác nhau, như Liên Xô, Mỹ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tiệp khắc, Anh, Nhật Bản. Các truyện trong tập sách đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, từ vũ trụ, sinh vật, y học, người máy đến các vấn đề xã hội và triết học. Review Tập truyện là một bức tranh phong phú và đa dạng về khoa học viễn tưởng thế giới. Các truyện trong tập sách được viết theo nhiều phong cách khác nhau, từ hiện thực đến kỳ ảo, từ hài hước đến nghiêm túc. Một số truyện trong tập sách được đánh giá cao bởi tính sáng tạo và độc đáo, như "Chuyến du hành ngược thời gian" của Rư-bin (Liên Xô), "Người đàn ông từ tương lai" của A-di-mốp (Mỹ), "Chuyến bay đến quá khứ" của Nhe-xơ-vát-ba (Tiệp khắc), "Người máy" của Rô-bốt-xki (Liên Xô). Một số truyện khác lại mang tính triết lý sâu sắc, như "Chuyến đi của một người đàn ông" của Xta-ni-sláv-ski (Liên Xô), "Người máy và con người" của Ha-ri-son (Mỹ), "Thế giới của người máy" của Đô-mốt-xki (Liên Xô). Một số điểm nổi bật trong tập sách Sự đa dạng về chủ đề và phong cách Tính sáng tạo và độc đáo Tính triết lý sâu sắc Một số nhận xét về tập sách "Tập truyện là một món ăn tinh thần bổ ích cho những ai yêu thích khoa học viễn tưởng." - Một độc giả "Tập truyện là một bức tranh phong phú và đa dạng về khoa học viễn tưởng thế giới." - Một nhà phê bình văn học Kết luận Tập truyện "Chuyến du hành ngược thời gian" là một tuyển tập truyện ngắn khoa học viễn tưởng đáng đọc cho những ai yêu thích thể loại này. Tập sách mang đến cho độc giả những câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn và giàu ý nghĩa.   Mời các bạn mượn đọc sách Tập Truyện Ngắn Khoa Học Viễn Tưởng Thế Giới: Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian của Nhiều Tác Giả.
Bán Mạng
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Bán Mạng của tác giả Yukio Mishima.   Tóm tắt Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết hài hước đen, châm biếm kể về hành trình đi tìm cái chết của Yamada Hanio, một người viết quảng cáo cho Tokyo Ad. Nhìn bề ngoài, Hanio có cuộc sống đáng ngưỡng mộ: trẻ trung, đẹp trai và công việc ổn định, lương cao. Thế nhưng thực tế trong nội tâm của Hanio là sự choáng ngợp bởi viễn cảnh vô nghĩa của cuộc đời, anh cố gắng tự tử để cầu mong được thấy một thế giới trải rộng và tự do, tuyệt vời phía trước nhưng bất thành. Vẫn ôm khát khao về một cái chết ngọt ngào, thoát khỏi thực tại, Hanio nghỉ việc và đăng tin rao bán mạng sống của mình trên mục rao vặt của một tờ báo. Từ đó cuộc sống Hanio bị đảo lộn và xoay chuyển, khi anh bắt đầu chấp thuận các lời đề nghị ngày càng kỳ quái của những người có nhu cầu mua mạng sống, mặc cho mục đích của họ lố bịch cỡ nào. Review Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết độc đáo và gây tranh cãi, được viết theo phong cách hài hước đen, châm biếm. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được coi là một trong những tác phẩm kinh điển của văn học Nhật Bản hiện đại. Cốt truyện của cuốn sách khá đơn giản, xoay quanh hành trình đi tìm cái chết của nhân vật chính, Yamada Hanio. Tuy nhiên, thông điệp mà tác giả muốn truyền tải lại vô cùng sâu sắc và ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. **Thứ nhất, Bán Mạng là một lời phản ánh về sự vô nghĩa của cuộc sống hiện đại. Hanio, một người đàn ông trẻ tuổi, có tất cả những thứ mà xã hội coi là thành công: công việc tốt, thu nhập cao, ngoại hình đẹp trai. Thế nhưng, anh vẫn cảm thấy cuộc sống của mình vô nghĩa và trống rỗng. Anh không tìm thấy niềm vui hay ý nghĩa trong bất cứ điều gì. **Thứ hai, Bán Mạng là một lời châm biếm về chủ nghĩa tư bản hiện đại. Hanio, một người đàn ông bình thường, đã bị cuốn vào vòng xoáy của chủ nghĩa tiêu dùng và vật chất. Anh trở nên phụ thuộc vào những thứ vật chất bên ngoài để tìm kiếm niềm vui và ý nghĩa cho cuộc sống. **Cuối cùng, Bán Mạng là một câu chuyện về sự giải thoát. Hanio, sau khi trải qua những cuộc phiêu lưu kỳ lạ và gặp gỡ những người kỳ lạ, cuối cùng đã tìm được sự giải thoát cho bản thân. Anh chấp nhận cái chết như một thực tế nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, và khi làm vậy, anh tìm thấy sự bình yên và hạnh phúc. Cuốn sách được viết với một giọng văn hài hước và châm biếm, nhưng cũng không kém phần sâu sắc. Tác giả đã sử dụng những tình huống và nhân vật kỳ lạ để phản ánh những vấn đề thực tế của xã hội. Đánh giá chung Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc đối với những người yêu thích văn học Nhật Bản và những người muốn tìm hiểu về những vấn đề sâu sắc của cuộc sống. Cuốn sách sẽ khiến bạn phải suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc sống, sự vô nghĩa của chủ nghĩa tư bản hiện đại và sự giải thoát khỏi những thứ vật chất bên ngoài. Một số điểm cộng của cuốn sách: Cốt truyện độc đáo và gây tranh cãi. Thông điệp sâu sắc và ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. Giọng văn hài hước và châm biếm. Một số điểm trừ của cuốn sách: Một số chi tiết có thể khiến người đọc khó chấp nhận. Kết thúc của cuốn sách có thể gây thất vọng cho một số người. Kết luận Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết độc đáo và đáng đọc. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút giải trí thú vị và những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống. *** ĐƯỢC VIẾT THEO thể loại hài hước đen, châm biếm, Bán Mạng kể về hành trình đi tìm cái chết của Yamada Hanio, một người viết quảng cáo cho Tokyo Ad. Nhìn bề ngoài, Hanio có cuộc sống đáng ngưỡng mộ: trẻ trung, đẹp trai và công việc ổn định, lương cao. Thế nhưng thực tế trong nội tâm của Hanio là sự choáng ngợp bởi viễn cảnh vô nghĩa của cuộc đời, anh cố gắng tự tử để cầu mong được thấy một thế giới trải rộng và tự do, tuyệt vời phía trước nhưng bất thành. Vẫn ôm khát khao về một cái chết ngọt ngào, thoát khỏi thực tại, Hanio nghỉ việc và đăng tin rao bán mạng sống của mình trên mục rao vặt của một tờ báo. Từ đó cuộc sống Hanio bị đảo lộn và xoay chuyển, khi anh bắt đầu chấp thuận các lời đề nghị ngày càng kỳ quái của những người có nhu cầu mua mạng sống, mặc cho mục đích của họ lố bịch cỡ nào. Hình ảnh Hanio rao bán cuộc đời mình là sự phản kháng cuối cùng của một người đàn ông dưới chủ nghĩa tư bản hiện đại, không sợ cái chết, chấp nhận cái chết như một thực tế nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, và khi làm như vậy, anh tìm được sự giải thoát khỏi sự vô nghĩa của cuộc sống đời thường. *** YUKIO MISHIMA (1925-1970) Tên thật là Hiraoka Kimitake. Thuở nhỏ, Mishima được dạy dỗ theo truyền thống khắc kỷ như quân đội. Sau khi tốt nghiệp đại học, dầu đỗ vào ngạch công chức cao cấp Bộ Tài chính, ông đã từ chức sau một năm sống đời “sáng vác ô đi tối vác về” để chọn con đường viết văn gian nan gai góc hơn. Là người có lý tưởng tôn quân bảo hoàng, ông đã cùng các bạn đồng chí hướng đánh chiếm doanh trại của quân đội Nhật ở Ichigaya ngày 25/11/1970 nhằm kêu gọi binh lính ở đó hành động, gây áp lực lên dư luận để sửa đổi hiến pháp cho phép Nhật Bản tái vũ trang. Giữa sự thờ ơ của mọi người, Mishima đã mổ bụng tự sát. Mời các bạn mượn đọc sách Bán Mạng của tác giả Yukio Mishima.