Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bão

Trong Bão, có một hòn đảo, biển và gió, cơ thể những người đàn bà, một đứa trẻ cô đơn không bố, một người đàn ông bị quá khứ gặm nhấm và cơn bão rửa sạch tất cả. Trong Bão, còn có cả Phi châu, Paris và một đứa trẻ lạc lối khác đi tìm danh tính của mình. Hai câu chuyện đầy chất thơ ấy được thổi đến bằng cơn bão của thế giới của tâm hồn. Trong Bão, những số phận kì lạ gặp đầy trắc trở của Le Clezio vẫn tìm thấy phép màu, tim thấy điều níu giữ họ lại với cuộc sống, bởi "kí ức không quan trọng,không hậu quả, duy có hiện tại mới là đáng kể". Trong Bão, độc giả vẫn tìm thấy chất thơ lãng mạn từ những câu văn giản dị nhưng đầy sức nặng của tác giả từng được nhận giải Nobel Văn chương 2008. Cuốn sách kể chuyện bằng cách đưa ra các hình ảnh, những gợi mở, niềm hy vọng ở phép màu và những điều hão huyển, và phải nhìn nó qua một tấm màn thi vị hóa. Từ đầu tới cuối, tính nhạc trong từng câu chữ giữ chân người đọc. *** Bão là tập truyện mới nhất của Le Clézio - nhà văn đoạt giải Nobel năm 2008. Tác phẩm được xuất bản tại Pháp năm 2014, vừa phát hành ở Việt Nam. Có thể ví hai truyện vừa Bão và Người đàn bà không danh tính trong cuốn sách như một file nén. Với dung lượng trang sách, số con chữ không lớn nhưng nén trong đó những câu chuyện đầy sức nặng và nhiều tầng cảm xúc, triết lý. Và bởi thế, mỗi độc giả có "mã giải nén" của riêng mình. Là hai câu chuyện độc lập song bằng những chủ đề chung, tác giả đã tạo cho nó một mạch ngầm kết nối: từ cô gái June sống ở một hòn đảo hẻo lánh của Nhật Bản đến Rachel của một vùng đất thuộc địa cũ của châu Phi, từ vùng trời nước hoang sơ đến những thành thị ngột ngạt, và từ một bé gái không cha đến một thiếu nữ không mẹ đi tìm nguồn cội của mình.  Câu chuyện của Bão đưa người đọc đến những vùng đất xa xôi, những xã hội như nằm bên kia nền văn minh, nơi con người đắm mình vào thiên nhiên hoang dã, sống trong nó và chết trong nó. Ở đó, những con người còn rất trẻ đang bước qua lằn ranh mỏng manh giữa ấu thơ và trưởng thành, tâm hồn còn trong sáng vô ngần, nhạy cảm vô ngần, hồ như căng mình ra trước mọi sóng gió cuộc đời, không có khả năng tự bảo vệ khỏi những nỗi đau. Thậm chí họ dấn mình vào nỗi đau: đi tìm nguồn cội, đi tìm danh tính. Trên hết, những cô gái luôn vươn mình tới một thứ tình yêu nguyên sơ, thánh thiện, bất chấp sự già cỗi của những thứ ranh giới, khoảng cách thường tình. Đó là thứ tình yêu từ cội nguồn sự sống có trong mỗi con người mà cô bé June cảm nhận được. Tình yêu ấy đôi khi làm thương tổn chính các cô gái. Bởi nó mạnh mẽ như bão, hủy diệt như bão, và cũng tái sinh sau bão. Hai cô gái trẻ của Bão mang trong mình một tâm hồn có thể bật lên, tự tái tạo, tự giải thoát mình khỏi nỗi đau và nỗi tuyệt vọng. Cũng nhờ sức sống tươi mới tiềm tàng ấy, Kyo - người đàn ông toan đến hòn đảo hoang vắng để kết thúc cuộc đời - được giải thoát khỏi "nhà tù" của quá khứ, khỏi sự ám ảnh của ký ức và những vết thương. Bão đã rửa sạch tất cả - "ký ức không quan trọng, không hậu quả, duy có hiện tại mới là đáng kể". Bão tiếp tục những chủ đề ưa thích của Le Clézio: những thế giới, vùng đất, con người bị bỏ quên, dường như sống bên lề thế giới và nền văn minh. Ông luôn dành một sự ưu ái, trìu mến cho người trẻ và phụ nữ. Có thể thấy trong câu chuyện của ông, họ là những đối tượng dễ dàng bị thế giới nuốt chửng hay làm tổn thương. Nhưng đó cũng chính là những tâm hồn tiềm tàng khả năng tái sinh mạnh mẽ, khơi dậy niềm thiết tha sống ở những con người khác. Bên cạnh đó, chủ đề đi tìm danh tính dường như chưa bao giờ là câu chuyện cũ trong sáng tác của Clézio, nhất là khi con người đang ngày càng đánh mất mình giữa sắt thép, bê tông, phương tiện hiện đại và những thành phố xa hoa, đồ sộ. Những câu chuyện không có những tình huống gay cấn, tình tiết hấp dẫn hay chi tiết mùi mẫn của Clézio dường như thách thức sự kiên nhẫn của độc giả. Thay vào đó, ông theo sát và xoáy sâu vào những biến động tâm lý bất ngờ của nhân vật: June (Bão) đã mạnh mẽ và quyết liệt ra sao trong niềm tin của riêng mình; Rachel (Người đàn bà không danh tính) đã để mình trôi dạt, lạc lối thế nào trong nỗi cô đơn của mình, trong những ngóc ngách thành phố. Mỗi câu chuyện đều mang đến một niềm xúc động sâu xa bằng lối văn phong giản dị, trong trẻo mà đa thanh. Những câu ngắn đầy chất thơ, chất nhạc. Và những mệnh đề, câu chữ, hình ảnh trở đi trở lại như một giai điệu ám ảnh. Song, giống như hành trình tự nhiên của một cơn bão, cấu tứ câu chuyện của Clézio nương theo đó đi về phía chân trời hừng sáng sau cơn biến động của đất trời. Ở phía đó, có sự đổi thay, sự tái sinh và có niềm tin không bao giờ lụi tắt. Đó cũng là chất thơ lãng mạn chảy len lách giữa khoảng trắng của những con chữ - là chất thơ của thiên nhiên vĩnh hằng và của từng khoảnh khắc sống. Clézio được ví như một "nhà văn đi bộ" với lối bút pháp "lãng du". Mỗi câu chuyện ông kể giống như cất lên một bản du ca u buồn, sâu lắng nhưng đẹp đẽ dành cho những nơi ông từng đi qua, những con người từng gặp gỡ. Đó còn là những lời an ủi dịu dàng, thiết tha dành cho bao tâm hồn cô độc và lạc lõng. *** Đêm buông trên đảo. Đêm lấp đầy những chỗ trũng, len lỏi giữa ruộng đồng, một đợt thủy triều bóng tối dần bao phủ vạn vật. Cũng vào thời khắc đó, đảo vắng bóng người. Sáng nào du khách cũng tới trên chuyến phà lúc tám giờ, họ làm đông đúc những không gian trống, họ lấp đầy những bãi biển, họ trôi như một thứ nước bẩn dọc theo cả những con lộ lớn lẫn những nẻo đường đất. Rồi khi đêm tới, họ lại rời khỏi những vũng vịnh, họ lùi ra xa, họ mất tăm. Những con tàu mang họ đi. Và đêm tới. Tôi tới đảo lần đầu cách đây đã ba mươi năm. Thời gian đã biến đổi mọi thứ. Tôi chỉ loáng thoáng nhận ra những nơi chốn, những ngọn đồi, những bãi biển, và dáng hình của miệng núi lửa sạt lở phía Đông. Tôi quay lại vì lẽ gì nhỉ? Phải chăng không còn nơi nào khác cho một nhà văn đang kiếm tìm lối viết? Một chốn nương náu khác, xa sự ồn ào của thế gian, đỡ om sòm hơn, đỡ ngạo ngược hơn, một chốn khác để ngồi vào bàn làm việc và gõ lên máy những dòng chữ, đối diện với bức tường chăng? Tôi đã muốn thăm lại hòn đảo này, nơi tận cùng thế giới này, nơi không lịch sử, không ký ức này, một mỏm đá bị dập vùi bởi sóng gió đại dương, rã rời vì du khách. Ba mươi năm, tuổi đời của một con bò. Tôi từng đến vì gió, vì biển, vì lũ ngựa bán hoang dã lang thang kéo theo dây buộc, vì lũ bò cái ban đêm giữa những nẻo đường, tiếng rống thê thiết của chúng nghe như tiếng tù và báo sương mù, vì những tiếng sủa ăng ẳng của lũ chó bị xích. Cách đây ba mươi năm trên đảo không có khách sạn, chỉ có các phòng ngủ cho thuê theo tuần gần đê chắn sóng, và những lán gỗ bán đồ ăn bên bờ biển. Chúng tôi đã thuê một ngôi nhà gỗ nhỏ trên đồi, không tiện nghi, ẩm ướt và lạnh giá, nhưng vậy là lý tưởng rồi. Mary Song hơn tôi một giáp, mái tóc tuyệt đẹp đen nhánh gần như ngả biếc, đôi mắt màu lá thu, nàng hát những tình khúc buồn trong một khách sạn dành cho du khách giàu có tại Bangkok. Cớ gì nàng lại muốn cùng tôi tới hòn đảo hoang vu này? Tôi chắc đây không phải ý tưởng của mình, chính nàng đã bàn đến chuyện này trước. Hoặc nàng đã nghe ai đó nhắc đến một đảo đá hoang sơ, mỗi khi có bão là hết đường tới. “Em cần tĩnh lặng.” Hoặc giả đó là ý của tôi, chính tôi đã nghĩ tới sự tĩnh lặng. Để viết, để lại bắt đầu viết sau nhiều năm uổng phí. Sự tĩnh lặng, khoảng cách. Sự tĩnh lặng, trong gió và biển. Những đêm lạnh, những đám sao. Giờ thì toàn bộ chuyện này chỉ còn là một kỷ niệm. Ký ức không quan trọng, không hậu quả. Duy có hiện tại là đáng kể. Tôi đã học được điều ấy qua những kinh nghiệm xương máu của mình. Gió là bạn tôi. Gió thổi không ngừng trên các mỏm đá, gió đến từ chân trời phía Đông rồi vấp phải bức vách gãy vỡ của núi lửa, ập xuống những ngọn đồi rồi luồn lách giữa những bức tường nham thạch thấp, lướt trên cát san hô và vỏ sò vỏ ốc vỡ. Ban đêm, trong phòng khách sạn nơi tôi ở (Happy Day*, làm cách nào cái tên này tới được tận đây, một cái tên không trọn vẹn trên chiếc thùng gỗ mắc cạn), gió lùa qua khe cửa sổ và cửa ra vào, xuyên qua căn phòng trống nơi chiếc giường sắt han gỉ cũng y hệt một mảnh tàu đắm. Không có lý do nào khác cho chuyến biệt xứ của tôi, cho nỗi cô đơn của tôi, duy có sắc xám của trời và biển, và tiếng gọi ám ảnh của những người đàn bà mò bào ngư, tiếng kêu của họ, tiếng huýt của họ, một dạng ngôn ngữ cổ, xa lạ, ngôn ngữ của những động vật biển đã từng lui tới thế giới rất lâu trước con người... Aouah, iya, ahi, ahi!... Những thiếu nữ làng chài đã ở đó khi Mary dẫn tôi đi thăm đảo. Bấy giờ mọi chuyện khác hẳn. Những thiếu nữ mò ốc tuổi chừng đôi mươi, họ lặn không trang phục, thắt lưng buộc đá, đeo những mặt nạ dưỡng khí lấy từ xác lính Nhật. Các cô không có bao tay cũng chẳng có giày. Giờ đây họ đã già đi, họ mặc bộ đồ lặn liền thân bằng cao su đen, họ đeo bao tay dệt bằng sợi hóa học, đi giày nhựa màu sắc sặc sỡ. Kết thúc ngày làm việc, họ bước đi dọc con đường ven biển, đẩy xe nôi chở những thứ thu hoạch được. Đôi khi họ có xe máy điện, xe ba bánh chạy xăng. Họ có dao inox giắt ở thắt lưng. Họ cởi bộ đồ lặn giữa những mỏm đá, gần một túp lều gạch nén xây riêng cho họ, họ giội rửa ở vòi nước lộ thiên rồi trở về nhà bước thấp bước cao, tiều tụy vì chứng thấp khớp. Gió đã cuốn theo những năm tháng của họ, những năm tháng của tôi cũng vậy. Bầu trời xám xịt, màu của hối hận. Biển động, nổi sóng lừng, biển xô vào đá ngầm, vào những chỏm nham thạch, biển quay cuồng và vỗ bập bềnh trong những vũng lớn, nơi lối vào những vịnh hẹp. Không có những phụ nữ ngày ngày mò hải sản này, biển có lẽ sẽ thù địch, khó gần. Mỗi sáng tôi lắng nghe tiếng kêu của những người đàn bà của biển, âm thanh rè rè từ hơi thở của họ khi họ ngoi đầu khỏi mặt nước, ahouiii, iya,tôi hình dung khoảng thời gian đã qua, tôi hình dung ra Mary, đã mất tích, tôi nghĩ đến giọng hát tình ca của nàng, đến tuổi thanh xuân của nàng, đến thời trai trẻ của tôi. Chiến tranh đã xóa đi tất cả, chiến tranh đã phá tan tất cả. Thời đó tôi thấy chiến tranh đẹp, tôi muốn viết về nó, trải nghiệm nó và rồi viết về nó. Chiến tranh là một cô gái đẹp với thân hình trong mộng, mái tóc dài đen nhánh, đôi mắt sáng, giọng nói mê hoặc, rồi nàng biến thành mụ già tóc tai bù xù và nanh nọc, thành ác phụ báo oán, bất nhân, tàn nhẫn. Đây là những hình ảnh trở lại trong tâm trí tôi, chúng dâng lên từ nơi sâu thẳm nhất. Những thân thể trật trẹo, những cái đầu bị cắt rời, rải khắp các đường phố bẩn thỉu, những vũng xăng, những vũng máu. Một vị hắc trong miệng, một thứ mồ hôi nặng mùi. Trong một căn nhà không cửa sổ, chỉ có một bóng đèn điện không chao duy nhất, bốn gã đàn ông giữ chặt một người đàn bà. Hai gã ngồi lên chân cô, một gã đã trói hai cổ tay cô bằng một dây đai, gã thứ tư mải miết với một vụ cưỡng hiếp bất tận. Không có tiếng động, như trong những cơn mơ. Ngoại trừ tiếng thở khàn khàn, tiếng thở của kẻ cưỡng hiếp, và một hơi thở khác, nhanh, dữ dội, của người phụ nữ, nghẹt lại vì sợ, có lẽ thoạt đầu cô đã kêu bởi dấu vết một cú đánh vẫn còn lưu trên môi dưới của cô, nó đã rách toạc, và máu chảy tạo thành một vết loang hình sao trên cằm. Hơi thở của kẻ cưỡng hiếp dần gấp gáp, một dạng thở khò khè sâu, nghẹt lại, một âm thanh trầm và giật cục của máy móc, một âm thanh gấp gáp và dường như sẽ không bao giờ ngưng. Mary là lâu sau đó, Mary uống rượu nhiều quá mức, và biển đã mang nàng đi. “Em có thể làm điều đó,” nàng đã nói khi chúng tôi băng qua eo biển ngăn cách đảo với đất liền. Nàng đi vào lòng biển lúc hoàng hôn. Thủy triều đã làm láng mượt những con sóng, những vòng tròn chậm rãi tiến lên, màu rượu vang. Những người đã nhìn thấy nàng đi vào lòng biển đều nói rằng nàng điềm tĩnh, rằng nàng mỉm cười. Nàng đã mặc đồ bơi, một bộ liền màu lam không tay, rồi nàng luồn lách giữa những mỏm đá đen, nàng bắt đầu bơi cho đến khi những con sóng, hoặc ánh mặt trời lặn che khuất nàng khỏi tầm mắt những người chứng kiến. Tôi đã không biết gì, không thấy gì, không dự đoán gì. Trong phòng ngủ ở căn lều của chúng tôi, quần áo của nàng được gấp và xếp sắp như thể nàng đi du lịch, thế thôi. Những chai rượu gạo rỗng không, những bao thuốc lá bóc dở. Một túi xách đựng vài vật dụng thân thuộc, lược và bàn chải tóc, nhíp, gương, phấn, son môi, khăn mùi soa, chìa khóa, ít tiền Mỹ và tiền Nhật, mọi thứ như thể hai tiếng nữa nàng sẽ quay lại. Viên cảnh sát duy nhất trên đảo này - một người đàn ông trẻ tuổi, tóc húi cua, trông như một thiếu niên - đã kiểm kê. Nhưng anh ta đã để lại cho tôi mọi thứ, như thể tôi là một người họ hàng, một người bạn. Tôi là người được yêu cầu tùy tâm xử lý những di vật, nếu họ tìm thấy, hỏa thiêu chúng, quăng chúng xuống biển. Nhưng không bao giờ có gì khác ngoài những đồ dùng không quan trọng kia. Bà chủ nhà trọ đã chọn trong đám quần áo, bà ta giữ lại đôi giày màu lam xinh xắn, chiếc mũ rơm, đôi tất dài, cặp kính râm, chiếc túi xách. Tôi đã mang các giấy tờ ra sân đốt. Những chiếc chìa khóa, những đồ vật riêng tư, tôi đã quăng chúng xuống biển, từ boong con tàu đưa tôi trở lại đất liền. Một ánh vàng rực lấp lánh giữa hai làn nước, tôi nghĩ một chú cá phàm ăn, một chú cá tráp hồng, một chú cá đối đã nuốt chửng chúng. Thi thể chưa bao giờ được tìm thấy. Mary, với làn da mềm mại, óng vàng sắc hổ phách, đôi chân chắc lẳn của vũ nữ, của vận động viên bơi lội, mái tóc đen dài. “Nhưng vì lý do gì?” viên cảnh sát đã hỏi. Đó là tất cả những gì anh ta đã nói. Như thể một ngày nào đó tôi có thể có câu trả lời. Như thể tôi có chìa khóa giải mã ẩn ngữ. Giờ đây khi bão nổi, khi gió thổi liên hồi từ chân trời phía Đông, Mary trở lại. Không phải tôi gặp ảo giác, cũng không phải chớm điên (nhưng tay bác sĩ của nhà tù, khi thảo báo cáo, hắn đã viết lên đầu hồ sơ của tôi chữ Y nguy hại), ngược lại là khác, mọi giác quan của tôi thành sắc bén, cảnh giác, nhạy cảm đến cực độ để thu nhận thứ mà biển và gió mang lại. Chẳng có gì rõ rệt, tuy nhiên đó là một cảm giác sống chứ không phải chết, nó tỏa vầng hào quang quanh da tôi, điều này đánh thức ký ức về những trò yêu đương của chúng tôi, của Mary và tôi, những mơn trớn dài từ dưới lên trên, trong bóng tối phòng ngủ, hơi thở, vị đôi môi, những nụ hôn sâu khiến tôi rùng mình, cho đến tận con sóng tình chậm rãi, cơ thể hai chúng tôi hòa quyện, bụng áp bụng, toàn bộ những chuyện này tôi đã bị cấm đoán từ lâu, là tôi tự cấm đoán, bởi tôi đang ở chốn ngục tù cho phần đời còn lại. Trong bão tôi nghe thấy giọng nàng, tôi cảm thấy trái tim nàng, tôi cảm thấy hơi thở nàng. Gió rít qua các khe của vách kính lớn, lùa vào qua phía mặt hẹp han gỉ, xuyên qua căn phòng và khiến cánh cửa đập đập. Bấy giờ trên đảo mọi thứ ngưng lại. Những con phà không băng qua lạch nữa, những chiếc xe máy và ô tô ngừng vũ điệu của chúng, ngày giống như đêm, âm u, có những tia chớp không kèm tiếng sấm xuyên qua. Mary đã ra đi vào một buổi chiều tĩnh mịch, trong mặt biển phẳng lặng như một tấm gương. Nàng trở về trong cơn bão, từng mảnh nhỏ li ti bị biển thẳm tống xuất. Ban đầu, tôi không muốn tin vào điều đó. Tôi từng ghê sợ, từng ép chặt thái dương giữa hai bàn tay để dập tắt những hình ảnh này. Giờ đây tôi nhớ đến một người chết đuối. Không phải một phụ nữ mà là một đứa trẻ lên bảy, một tối nọ thằng bé mất tích, Mary và tôi đã cùng dân làng tìm bé nhiều giờ trong đêm. Chúng tôi men dọc bờ biển, tay cầm đèn pin, chúng tôi gọi bé nhưng không biết tên nó, Mary hét gọi: “Này cưng ơi!” Nàng thảng thốt, nước mắt giàn giụa trên má. Bấy giờ có chính cơn gió này, những đợt sóng này, thứ mùi đáng nguyền rủa này của vực biển sâu thẳm. Rạng sáng có tin báo đã tìm thấy xác thằng bé. Trên một bãi cát lẫn sỏi giữa các mỏm đá, chúng tôi lại gần, nhờ một tiếng thở than giống như tiếng gió dẫn đường, nhưng đó là mẹ thằng bé. Chị ngồi trên cát đen, thằng bé đặt trong lòng. Thằng bé trần truồng, áo quần biển đã lột sạch, trừ chiếc áo phông bẩn tạo thành một chuỗi vòng xoắn vặn quanh thân trên. Gương mặt bé trắng bệch, nhưng điều tôi tức khắc nhìn thấy, đó là lũ cua và cá đã bắt đầu rỉa xác bé, gặm chớp mũi và cu của bé. Mary không muốn lại gần, nàng run lên vì sợ và vì lạnh, và tôi đã ôm nàng sát gần mình, chúng tôi ở lại trong phòng, nằm quấn lấy nhau trên giường, không vuốt ve nhau, chỉ miệng kề miệng thở. Giờ đây hình ảnh ấy ám ảnh tôi, thân thể người đàn bà ấy nằm dang chữ thập trong khi tụi lính hành sự, và dưới khuôn miệng bầm giập máu đã khô thành hình ngôi sao đen. Và đôi mắt cô đang nhìn tôi, trong khi tôi lùi lại gần cửa, đôi mắt cô nhìn thấy xuyên qua tôi, nhìn thấy cái chết. Tôi chưa bao giờ nói gì với Mary, vậy mà chính vì cảnh tượng tàn bạo ấy nàng đã ngụp xuống biển để không bao giờ trở lại. Biển rửa cái chết, biển gặm nhấm, phá hủy và không trả lại gì, hoặc trả một cái xác trẻ em đã bị róc rỉa. Thoạt đầu, tôi đã nghĩ rằng cả mình cũng trở lại hòn đảo này để chết. Tìm lại được dấu vết của Mary, đi vào lòng biển một tối rồi biến mất. Giờ đây trong cơn bão, nàng tới phòng tôi. Đó là một giấc mơ tỉnh thức. Tôi bị mùi thân thể nàng quyện với mùi biển thẳm đánh thức. Một mùi hương nồng và hắc, chua, gắt, u uất, xộc lên. Tôi ngửi thấy mùi rêu tảo trong tóc nàng. Tôi cảm thấy làn da nàng hết sức mịn màng, nhẵn mượt nhờ sóng bào mòn, lóng lánh ánh xà cừ vì muối. Thân hình nàng bồng bềnh trong ánh sáng lờ mờ buổi hoàng hôn, luồn vào trong chăn, và bộ phận sinh dục cương cứng của tôi đi vào nàng, tới rùng mình, quấn siết tôi trong niềm mê đắm lạnh băng của nàng, thân nàng trườn sát thân tôi, môi nàng kề trên dương vật tôi, tôi hoàn toàn quyện vào nàng, nàng quyện vào tôi, cho tới cơn cực khoái. Mary, chết từ ba mươi năm nay, chưa bao giờ tìm thấy xác. Mary trở về từ đáy đại dương, đang nói vào tai tôi bằng chất giọng hơi khàn, trở về để hát cho tôi nghe những ca khúc bị lãng quên, những ca khúc về những ngôi sao trời, mà nàng đã hát tôi nghe ở quán bar khách sạn Phương Đông, lần đầu tôi gặp nàng. Không hẳn là quán bar dành cho lính tráng, và nàng không hẳn là ca sĩ quán bar. Khi nhìn thấy nàng tôi đã không hình dung ra nàng là ai, con một lính Mỹ được một gia đình nhà quê vùng Arkansas nhận nuôi, sinh ra từ một vụ cưỡng hiếp, bị bỏ rơi và trở về để chiến thắng kẻ thù truyền kiếp của mình, để hoàn thành một cuộc báo oán, hay đơn giản chỉ do sự lại giống vốn hay xua loài người đi theo vết cũ cội nguồn một cách tất yếu. Nhưng tôi, tôi đâu phải một tên lính, nàng hiểu vậy, và chắc hẳn đó là lý do nàng chọn tôi, cái gã mặc đồ lao động và mái tóc húi cua, bám theo đám lính trong những cuộc hành quân, tay cầm máy ảnh để tường thuật mọi cuộc chiến tranh. Tôi còn nhớ lần đầu chúng tôi trò chuyện, sau lượt trình diễn của nàng, vào lúc đêm muộn, hoặc sáng sớm, trên khoảnh sân hiên nhô ra trên dòng Menam Chao Phraya, nàng đã cúi xuống để nhìn thứ gì đó trên mặt đất, một con bướm đêm màu đen đang đập cánh hấp hối, và qua phần cổ khoét của chiếc váy đỏ nàng mặc, tôi đã nhìn thấy bầu ngực nàng buông lơi, hết sức mịn màng, khêu gợi. Nàng không biết gì về tôi và tôi cũng không biết gì về nàng. Bấy giờ tôi đã mang vết thương nham nhở của tội ác, tôi cứ ngỡ chuyện đó sẽ qua đi. Tôi từng quên đi quá khứ, việc xử vụ khiếu kiện bốn tên lính đã cưỡng hiếp một phụ nữ ở Huế. Cái gã giữ tay cô gái quặt ra sau đã thụi vào môi cô để bắt cô im miệng, còn gã kia xâm nhập cô chẳng ngại ngần, thậm chí không cởi quần, và tôi nhìn, không nói gì, không làm gì hoặc gần như thế, chỉ chớm cương cứng, nhưng nhìn và làm thinh, đó là hành động. Có lẽ tôi sẽ đánh đổi bất cứ thứ gì để khi ấy đã ở nơi nào khác, để không từng chứng kiến. Trước tòa, tôi đã không tự biện hộ. Thiếu phụ có mặt tại đó, ngồi hàng ghế đầu. Tôi đã liếc trộm và không nhận ra cô. Cô có vẻ trẻ hơn, gần như một đứa trẻ. Cô ngồi trên ghế băng, bất động, gương mặt được ống đèn nê ông của phòng xử án chiếu sáng. Khuôn miệng nhỏ, mím chặt, da mặt kéo căng ra vì búi tóc đen. Ai đó đã đọc lời chứng của cô bằng tiếng Anh, còn cô vẫn không nhúc nhích. Bốn gã nhà binh ngồi trên một ghế băng khác, cách cô vài mét, và chúng cũng không nhúc nhích. Chúng không nhìn ai, chỉ nhìn bức tường đối diện, cái bục nơi thẩm phán ngồi. Chúng thì ngược lại, tôi thấy chúng già hơn, đã phị ra vì mỡ, với nước da nhợt nhạt của những kẻ tù phạm. Tôi chưa từng kể chuyện này với Mary. Khi tôi gặp nàng tại khách sạn Phương Đông ấy, nàng hỏi tôi đã làm gì lúc rời quân ngũ. Tôi trả lời: “Không làm gì hết... Anh đi đây đi đó, vậy thôi.” Nàng không căn vặn, vả chăng tôi có lẽ chẳng bao giờ đủ can đảm để nói với nàng sự thật: “Anh đã bị kết án tù vì đã chứng kiến một tội ác, và đã không làm gì để ngăn cản tội ác đó.” Tôi muốn sống cùng Mary, đi đây đi đó cùng nàng, nghe nàng hát, san sẻ tấm thân nàng và cuộc đời nàng. Nếu tôi kể với nàng toàn bộ chuyện kia, hẳn là nàng sẽ xua đuổi tôi. Tôi đã sống cùng nàng một năm, cho tới khi đến hòn đảo này. Rồi một ngày nọ nàng đã quyết định đi vào lòng biển. Tôi chưa bao giờ hiểu được. Chúng tôi ẩn mình. Không ai quen biết chúng tôi, không ai có thể kể cho nàng nghe. Có lẽ nàng điên, chỉ vậy thôi, có lẽ chẳng có lời giải thích nào cho hành động của nàng. Nàng đã tự để sóng cuốn đi. Nàng vốn là tay bơi giỏi khác thường. Ngày còn ở Mỹ, năm mười sáu tuổi, nàng được chọn đi dự Olympic Melbourne. Nàng mang họ Farrell, Mary Song Farrell. Song bởi nàng được bố mẹ nuôi nhận về dưới cái tên này. Mẹ đẻ nàng tên là Song cũng nên. Hoặc giả bà ấy hay hát*, tôi không biết nữa. Có lẽ chính tôi về sau này đã suy diễn ra toàn bộ câu chuyện đó. Tôi không suy diễn cho những người khác, họ không khiến tôi bận tâm. Tôi không phải kiểu người kể chuyện đời mình trong những quán bar. Tôi không quen những người gốc Arkansas này, những người nhà Farrell này. Những chủ trang trại. Mary học cách chăm sóc gia súc, cách sửa xe máy, cách lái máy kéo tại nhà họ. Rồi một ngày nọ, năm mười tám tuổi, nàng bay đi để tới nơi khác sống, để hát. Đó là thiên hướng của nàng. Nàng đã có một cuộc sống khác, nàng chưa bao giờ trở lại trang trại. Khi nàng mất tích trên biển, tôi đã cố gắng liên lạc với bố mẹ nàng, tôi đã viết vài lá thư gửi đến quận, để biết địa chỉ của họ. Tuyệt không thấy hồi âm. Khi tôi quen Mary, nàng gần bốn mươi, nhưng có vẻ trẻ hơn tuổi nhiều. Bấy giờ tôi hai mươi tám. Tôi vừa mãn hạn tù. Bão truyền sang tôi cơn thịnh nộ. Tôi cần những tiếng ó biển của bão, những ống bễ lò rèn của bão. Chính vì bão mà tôi quay trở lại hòn đảo này. Bấy giờ, mọi thứ khép kín, mọi người mất hút trong nhà của họ, họ đóng cửa chớp và chặn cửa ra vào, họ thu lu trong vỏ ốc, trong lớp mai của mình. Họ cũng đã biến mất, những du khách mặt bự phấn, những kiểu tạo dáng, những điệu bộ, những trò õng ẹo của họ. Những cô gái mặc quần soóc cực ngắn đạp xe, những cậu trai cưỡi mô tô địa hình, những cặp kính Polaroid, những ba lô, máy ảnh, họ đã quay về thành phố, về những tòa chung cư, về xứ sở không bao giờ có bão của họ. Người dân đảo này đã tự chôn mình. Họ chơi bài, họ ngồi bệt trong những căn hầm với cửa kính mờ hơi nước mà uống bia. Ánh điện chập chờn, chẳng mấy chốc sẽ cắt điện trên diện rộng. Tủ cấp đông của các cửa hàng sẽ rỉ thứ nước vàng như nước tiểu, những con cá ướp muối sẽ chảy nước và long mắt, những thanh sô cô la đông lạnh sẽ mềm nhũn trong bao bì. Chính vì bão mà tôi quay trở lại. Tôi lại cảm thấy mình đang trong thời chiến, trong rủi may, theo cuộc bỏ chạy tán loạn của các đoàn quân, nghe những chiếc loa thét lác những mệnh lệnh khó hiểu. Tôi ngược dòng thời gian, dựng lại đời mình. Tôi những muốn quay trở lại ngưỡng cửa ngôi nhà ở Huế, nhìn, và cái nhìn của tôi sẽ ngưng thời gian lại, sẽ gieo mơ hồ lẫn lộn, sẽ giải thoát người đàn bà khỏi những kẻ hành hạ cô. Nhưng trong những điều tôi biết sẽ không có điều gì nhạt nhòa đi. Hòn đảo là sự đoan chắc về nỗi vô phương cứu chuộc. Bằng chứng của sự bất lực. Hòn đảo là ụ nổi cuối cùng, bến đỗ cuối cùng trước hư không. Chính vì điều này mà tôi trở lại. Không phải để tìm lại quá khứ, không phải để đánh hơi tìm lối như một con chó. Mà để chắc chắn rằng mình sẽ không nhận ra điều gì. Để bão xóa đi tất cả, vĩnh viễn, bởi biển là chân lý duy nhất. Mời các bạn đón đọc Bão của tác giả J. M. G. Le Clézio.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Công Chúa Của Thế Giới Đêm - Kanade Minamino
Nó: Nguyễn Thị Thùy Trâm (Wendy) Cháu gái vàng bạc châu báu của tập đoàn Đại Phong lớn nhất thế giới về mọi mặt. Cực kì xinh đẹp nhưng cũng rất lạnh lùng ngầm (một con người đa zi năng đó, lí do thì chỉ có người trong nhà và bốn đứa bạn chí cốt biết). Cao 1m75. Thích màu hồng. Sinh nhật: 2.5.1998 (Ngưu Chan ấy nhở).Cực kì ghét những tên lăng nhăng. Đai đen tất cả các ngón võ. Đã tốt nghiệp ba trường đại học hàng đầu của Mỹ về thời trang (loại xuất sắc) năm 16 tuổi. Chủ tịch tập đoàn Sanding - tập đoàn thời trang đứng đầu thế giới. Bang chủ bang A&D đứng đầu thế giới đêm (đã rớt xuống hạng 2 trong lúc tụi nó đi du học vì bị bang K&W chiếm ngôi). IQ: 300/300. Phan Anh Thảo Vân (Ji) Con gái độc nhất của tập đoàn The Rose lớn nhì thế giới về mọi mặt. Rất xinh đẹp. Biết quan tâm đến người khác nhưng cũng rất lạnh lùng khi gặp chuyện. Cao 1m74. Thích màu xanh nước biển. Sinh nhật: 22.7.2998 (Em là bé Cua). Giỏi võ giống nó. Cũng đã tốt nghiệp đại học giống nó. Phó chủ tịch Sanding. Phó bang chủ A&D. IQ: 300/300. Bạn thân của nó. Trần Ngọc Lan Như (Yun) Cháu gái út tập đoàn Trần Ngọc - tập đoàn lớn thứ năm trên thế giới. Cũng rất xinh đẹp. Ham ăn, ham ngủ, ham chơi, hồn nhiên, dễ thương nhưng khi gặp chuyện thì trở nên lanh lùng. Cao 1m76. Thích màu vàng. Sinh nhật: 17.12.1998. (Nửa người nửa ngựa). Giỏi võ giống nó, cũng đã tốt nghiệp đại học giống nó.Giám đốc Sanding và bang phó bang A&D. IQ: 300/300. Cũng là bạn thân của nó. Đặng Thị Ngọc Hân (Kull) Cháu gái duy nhất của tập đoàn Đặng Thị - Tập đoàn lớn thứ bảy trên thế giới về mọi mặt. Hiều lành, đảm đang, dịu dàng nhất trong bốn đứa tụi nó. Xinh đẹp, giỏi võ không kém gì ba tụi nó. Cũng đã tốt nghiệp đại học giống ba tụi nó. Cao 1m73. Thích màu trắng. Sinh nhật:13.9.1998 (Xử Nữ dịu dàng). Còn lại giống nó. Phó giám đốc Sanding và bang phó thứ 2 bang A&D. Hắn: Hoàng Văn Minh Tuấn (Windy) Cháu trai độc nhất của chủ tịch tập đoàn Thành Công - tập đoàn lớn nhất thế giới về mọi mặt. (ngang tầm với nhà nó). Cực kì đẹp trai nhưng cũng rất lạnh lùng. Cũng đai đen tất cả các ngón võ. Sinh nhật: 9.1.1998. Cao 1m85. Bang chủ bang A&D đứng đầu thế giới đêm (chiếm vị trí số 1 của bang K&W). Hội phó hội học sinh Star School. IQ: 300/300. Phạm Duy Hùng (Jin) Cháu trai trưởng tập đoàn Phạm Hùng - tập đoàn đứng thứ ba thế giới về mọi mặt. Lanh lùng, không thích con gái vây xung quanh. Trong tim chỉ có hình bóng của một người - cô bạn thời thơ ấu (ai thì từ từ sẽ biết - chung thủy quá!). Giỏi võ không kém gì tụi nó (cùng một lò ra mà). Sinh nhật: 3.3.1998. Cao 1m84. Hotboy no.2 của học viện Star School (tự hiểu xem Jin có đẹp trai hay không đi nha). Là bạn từ nhỏ của tụi nó và tụi hắn. Phó bang chủ bang bang K.W. là bạn thân của cả hắn và tụi nó. Đội phó đội bảo vệ học sinh Star School. IQ: 300/300. Đoàn Quang Minh (Yin) Cháu trai trưởng tập đoàn Hải Âu - tập đoàn đứng thứ tư trên thế giới về mọi mặt. Handsome nhưng không lăng nhăng. Giỏi võ giống hắn. Cao 1m86. Sinh nhật: 15.8.1998 (vua của trăm thú). Bang phó bang K&W. IQ: 300/300. Hottboy no.3 học viện Star School. Đội trưởng đội quản lý học sinh Star School. Cũng là bạn thân của hắn. Huỳnh Võ Minh Quân (Ken) Cháu trai thứ tập đoàn Huỳnh Võ - tập đoàn đứng thứ tư sáu trên thế giới. Còn lại giống hắn. Cao 1m83. Sinh nhật: 12.4.1998 (Cừu trắng đây nè). Hotboy no.4 học viện Star School. Bang phó thứ hai bang K&W. IQ: 300/300. Thành viên còn lại của 'Tứ hoàng tử' học viện Star School. Đội phó đội quản lý học sinh Star School. *** Su và SumiPhòng phục hồi chức năng bệnh viện - Từ từ thôi anh.... - Sumi dìu Su đi từng bước nhẹ - Anh phải cố gắng để đi được...... - Su cắn răng nói, mồ hôi lấm tấm trên trán - Vì sao? - Vì khi nào anh đi được, anh mới có đủ can đảm để cùng em đi trên con đường tiến vào lễ đường. - Su nắm lấy bàn tay của Sumi - Anh không muốn trở thành gánh nặng cho em với đôi chân tật nguyền này..... - Anh đừng nói vậy chứ.... - Sumi nhăn mặt giận dỗi - Anh không có tật nguyền..... Đừng nói như vậy...... Anh đã không màng đến mạng sống để cứu chị Wendy, thế đối với em là tất cả rồi...... Anh lúc nào cũng thế...... Năm xưa, hai chúng ta không hề quen biết mà khi thấy em và anh Minh cãi nhau anh liền nhảy vào cứu em dù không biết chuyện gì..... - Thì vì thế anh mới quen được một cô gái tốt như em chứ..... - Su véo nhẹ Sumi - Anh này..... - Sumi đỏ mặt mỉm cười - Cảm ơn em, vì đã ở bên anh..... - Su cúi xuống hôn Sumi - Làm vợ anh nhé..... - Em đồng ý..... - Sumi khẽ gật đầu - Dù có chuyện gì xảy ra thì em cũng mãi yêu anh..... - Anh quyết tâm rồi..... Khi nào anh đi lại được, anh sẽ mang nhẫn kim cương đến cầu hôn em..... - Su cười - Tập luyện tiếp nào..... Tiếng cười giòn tan vang vọng khắp căn phòng ... Mời các bạn đón đọc Công Chúa Của Thế Giới Đêm của tác giả Kanade Minamino.
Cái Đồ Trời Đánh, Cô Cứ Đợi Đấy!!! - Ren
Một câu chuyện viễn tưởng ??? Nhân vật chính không phải là người bình thường, vậy họ là ai? Sự thật ẩn kín sau cánh cửa quá khứ, nỗi đau vùi sâu trong nụ cười hồn nhiên và vô tư...Cô đơn tuyệt vọng và bất lực ngay cả khi xung quanh ta có rất nhiều người... - Nguyệt Hải Băng - Seny (nó) 17t một đứa không cha không mẹ. Mà chính xác hơn là cha mẹ hiện tại cũng chẳng biết làm thế nào mà có đứa con này. Trên danh nghĩa nó là tiểu thư tập đoàn lớn nhất thế giới The Flowin đứng đầu ngành đá quý và là bang chủ bang Dark Angel đứng đầu thế giới ngầm. Xinh đẹp, quyến rũ với đôi mắt xanh nước biển sâu thẳm và mái tóc cùng màu. Sở hữu 1 vẻ đẹp huyền bí kì lạ khiến người khác mê mẩn. Tính cách khá trẻ con, thích quậy, nhưng ẩn sâu trong nụ cười ấy là 1 con người lạnh lùng, đáng sợ. - Phạm Tiểu Linh:(Windy)17t con gái độc nhất của Phạm gia, tiểu thư tập đoàn P&L chuyên về thời trang. Là bạn thân của nó, và tất nhiên ba mẹ cô cũng chẳng biết cô từ đâu chui ra. Cô mang 1 vẻ đẹp cao sang, quý phái, mái tóc vàng và đôi mắt tím mê mị.Là người luôn ủng hộ những trò đùa tai quái của nó, nhưng tính cách lại vô cùng chững chạc dù không thể hiện ra. Phó bang chủ Dark Angel. - Diệp Ánh Phương: (Haray) 17t con gái cưng của họ Diệp, tiểu thư của tập đoàn Ánh Phương. Cô cũng giống như 2 người bạn của mình. Mang vẻ đẹp Á Đông, tóc và mắt cùng 1 màu đen tuyền, nhìn khá là thuần khiết, nhưng lại tỏa ra khí chất ghê rợn. Tuy luôn miệng nhắc nhở 2 con bạn không được bày trò nhưng lại ngầm đứng sau thêm dầu vào lửa. Là người biết cân nhắc mọi việc. Phó bang chủ Dark Angel. - Hoàng Minh Đức: (hắn) (Sky) 17t: Người thừa kế tập đoàn Davis ngang hàng với nhà nó. Thuộc diện đẹp trai số 1, không ai sánh bằng. Đôi mắt màu huyết và mái tóc nâu đỏ luôn làm run sợ người đối diện. Mặc dù tỏa ra sát khí ghê rợn nhưng vẫn không làm lũ con gái hám zai tránh ra được. Là người khó đoán, không quá lạnh lùng nhưng cũng không tỏ ra thân thiện. Đặc biệt ghét con gái vì cho rằng họ chỉ giỏi gây rắc rối. Nhưng 1 khi đã ra tay thì tàn bạo hơn cả nó. Bang chủ Devil Hell. - Dương Thiện Nhân (Rany) 17t Cậu ấm của tập đoàn D&N. Một playboy thứ thiệt, thay bồ như thay áo. Bạn thân của hắn, đẹp thì khỏi nói, tuy không bằng hắn nhưng đủ sức khiến con gái điêu đứng. Tính cách vui vẻ hòa đồng, nhưng lại rất giỏi nhìn thấu nội tâm người khác. Thích bày trò quậy phá. Phó bang chủ Devil Hell. Nguyệt Mạnh Phong(Kevin)17t anh trai sinh đôi của nó, gia thế như nó. Cực thương em gái. Mà đã là anh thì đương nhiên phải đẹp như em rùi, rất hiểu em nên luôn biết đường mà tránh cơn thịnh nộ của nó. Là bạn thân của hắn, là người cẩn thận, biết tìm ra phương án tốt nhất để giải quyết. Phó bang Devil Hell. *** Sau ngày đăng cơ Sky gần như không thấy mặt mũi. Mỗi ngày đều đi từ sáng sớm đến tối mịt mới thấy lết xác trở về. Nó chỉ biết vừa thương vừa giận. Không thể gặp hắn thường xuyên, nó hối hận đã để hắn lên Thiên Đình nhận chức. Ngồi ăn đào tại An Bảo điện, Seny nhàn nhã cùng mọi người thưởng trà, nói chuyện lại cẩn thận liếc qua ngón tay áp út của hai cô bạn. - Seny, cuối năm nay tao và Kevil sẽ làm đám cưới đấy, đã định ngày rồi, chỉ còn chuẩn bị nữa thôi - Ồ, vậy tao phải gọi mày là chị dâu rồi_ Ai đó đang gọt đào - Tao và Rany cũng thế, làm cũng một thể cho vui - Nghe hay đấy_ Ai đó đang ăn đào - Em cũng xin phụ hoàng rồi, nhưng người bảo em còn nhỏ, vậy thì Seny, chị và anh trai em cũng làm luôn đi chứ, đây là tam hỉ đấy - Miễn đi _ Ai đó vừa đáp hột đào Nó phủi tay áo, đứng dậy, huýt sáo, gọi phượng hoàng, linh vật của Thiên Nhi rồi bay đi mất, Bỏ lại những cái nhìn ái ngại ở đằng sau Trong khi đó, tại Linh Tiêu bảo điện, hai người đàn ông một già một trẻ đang giằng co nhau dữ dội, người này cố níu, người kia cố giằng. - Thái Thượng Lão Quân thả ta ra, ta không làm nữa, ta muốn ra ngoài_ Sky vừa giữ áo, vừa cố giằng ra khỏi Lão Quân - Trời ơi, Thái à không Ngọc Hoàng à, cha người vừa thoái vị đã dẫn Vương Mẫu nương nương đi du lịch sao Hỏa rồi, công việc triều chính người không làm, thì ai làm? - Giỏi lắm, thảo nào vội vã nhường ngôi cho ta như vậy, thì ra muốn đùn đẩy công việc để vội đi hâm nóng tình cảm với mẫu hậu, buông ra, ta sẽ cùng Seny đi sao Thủy cho biết mặt ... Mời các bạn đón đọc Cái Đồ Trời Đánh, Cô Cứ Đợi Đấy!!! của tác giả Ren.
Thác Loạn Ở Las Vegas - Hunter S. Thompson
Người ta phải đọc Thác loạn ở Las Vegas của Hunter Thompson bởi cuốn sách này là “biên niên ký tuyệt vời nhất” về thập kỷ 70 của nước Mỹ và một thiên hài hước có một không hai trong lịch sử những cuốn sách viết về pop culture Mỹ. Ra đời năm 1972, cuốn tiểu thuyết nhiều yếu tố tự truyện này kể lại hành trình của nhà báo Raoul Duke và luật sư Gonzo từ California tới Las Vegas để tường thuật một cuộc đua xe “hoàng tráng nhất thế giới” như cách đuổi theo giấc mơ Mỹ mà thập kỷ 60 đã xác quyết. Tuy thế, với “hai túi cỏ, bảy mươi lăm viên mescaline, năm vỉ a-xít dạng viên giấy cực mạnh, một nửa lọ cocaine, và cả một thiên hà mĩ miều các loại thuốc lắc, thuốc rũ, thuốc cười, thuốc hét …”, chuyến đi của hai người đàn ông chưa già nhưng không còn trẻ nhanh chóng biến thành một triền miên mê mê tỉnh tỉnh. Khó có thể kể lại họ đã làm gì, thấy gì ở Las Vegas – và thực sự không quan trọng việc họ đã làm gì, thấy gì – bởi vì trong sự chuếnh choáng của ma túy mà đồng hành với nó luôn là sự sợ hãi cái phải thấy, phải làm khi tỉnh táo, Duke và Gonzo cho ta thấy cái thực tại đầy ảo giác và ảo thanh của ma túy với cái thực tại của tỉnh táo đều nực cười, phi lý, và xót xa ngang nhau. Chuếnh choáng, điên loạn, vì thế, có vẻ đẹp và sự hấp dẫn riêng. Tỉnh táo, trái lại, không phải luôn luôn là thứ đáng mong chờ. Đọc Thác loạn ở Las Vegas là bước vào một cơn ngật ngưỡng, siêu vẹo tuyệt mỹ của hai kẻ say lãng mạn muốn xác quyết “tất cả những gì đúng, thật, và tử tế trong tính cách của dân tộc Mỹ”. – Phan Việt   *** “Thác Loạn ở Las Vegas – Chuyến đi kinh hoàng vào lòng Giấc Mơ Mỹ” Giống một cá thể người, mỗi dân tộc cũng trải qua những giai đoạn tâm trạng khác nhau. Từng thế hệ của dân tộc do đó trở thành người mang vác, trình diễn, và bị định dạng bởi một tâm trạng dân tộc nổi trội mà họ hấp thụ vào thời thanh xuân. Những năm tháng người lớn sau này có thể làm sắc nét hay nhạt bớt nhưng thường khó có thể thay thế vai trò chủ đạo của tâm trạng thanh xuân nguyên sơ ấy. Trong nhiều trường hợp, những năm tháng người lớn trở thành sự tưởng niệm, níu kéo, hoặc phản ứng lại cảm giác chủ đạo mà tuổi thanh xuân đã kinh nghiệm. Khó có thể hiểu rõ nước Mỹ hiện tại – với công nghệ, sáng tạo, học thuật đỉnh cao đi liền thác loạn, cùng quẫn, điên rồ cũng đỉnh cao – nếu không hiểu những cơn sóng tâm trạng mà những thế hệ người Mỹ đã trải qua trong thập kỷ 60 và 70. Bùng cháy trong các phong trào nhân quyền và phản chiến liên tục, thập kỷ 60 là thập kỷ mà “vũ trụ tràn ngập một thứ cảm giác tuyệt vời rằng bất cứ thứ gì chúng tôi đang làm đều đúng, và chúng tôi […] đang thắng Cái Cũ và Cái Xấu”. Nói cách khác, nước Mỹ và phần thế giới chịu ảnh hưởng của Mỹ đã cưỡi trên đỉnh một con sóng cao và đẹp. Nhưng thập kỷ 60 rồi cũng kết thúc; con sóng đó đã chạy hết đường của nó, phải đổ bờ, tan thành bọt nước với quá nhiều tàn dư. Thập kỷ 70, do đó, là thập kỷ nhiều hoang mang, bải hoải khi một thế hệ mới lớn lên cũng như thế hệ đã đi qua những năm 60 cố gắng ngoái đầu mà cắt nghĩa xem họ đã làm gì, rồi tất cả những đấu tranh cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ đi về đâu, và làm thế nào có thể níu kéo được cái năng lượng tuyệt vời của những ngày tháng say sưa cũ. Ma túy, vốn chỉ là thứ hỗ trợ cho sự thăng hoa và chia sẻ giữa người với người trong thập kỷ 60, bỗng nhiên trở thành câu trả lời và cứu cánh để người ta chạy trốn những hoang mang, bải hoải cá nhân và thế hệ. Theo nghĩa đó, người ta phải đọc Thác loạn ở Las Vegas của Hunter Thompson bởi cuốn sách này là “biên niên ký tuyệt vời nhất” về thập kỷ 70 của nước Mỹ và một thiên hài hước có một không hai trong lịch sử những cuốn sách viết về pop culture Mỹ. Ra đời năm 1972, cuốn tiểu thuyết nhiều yếu tố tự truyện này kể lại hành trình của nhà báo Raoul Duke và luật sư Gonzo từ California tới Las Vegas để tường thuật một cuộc đua xe “hoàng tráng nhất thế giới” như cách đuổi theo giấc mơ Mỹ mà thập kỷ 60 đã xác quyết. Tuy thế, với “hai túi cỏ, bảy mươi lăm viên mescaline, năm vỉ a–xít dạng viên giấy cực mạnh, một nửa lọ cocaine, và cả một thiên hà mĩ miều các loại thuốc lắc, thuốc rũ, thuốc cười, thuốc hét ...”, chuyến đi của hai người đàn ông chưa già nhưng không còn trẻ nhanh chóng biến thành một triền miên mê mê tỉnh tỉnh. Khó có thể kể lại họ đã làm gì, thấy gì ở Las Vegas – và thực sự không quan trọng việc họ đã làm gì, thấy gì – bởi vì trong sự chuếnh choáng của ma túy mà đồng hành với nó luôn là sự sợ hãi cái phải thấy, phải làm khi tỉnh táo, Duke và Gonzo cho ta thấy cái thực tại đầy ảo giác và ảo thanh của ma túy với cái thực tại của tỉnh táo đều nực cười, phi lý, và xót xa ngang nhau. Chuếnh choáng, điên loạn, vì thế, có vẻ đẹp và sự hấp dẫn riêng. Tỉnh táo, trái lại, không phải luôn luôn là thứ đáng mong chờ. Đọc Thác loạn ở Las Vegas là bước vào một cơn ngật ngưỡng, xiêu vẹo tuyệt mỹ của hai kẻ say lãng mạn muốn xác quyết “tất cả những gì đúng, thật, và tử tế trong tính cách của dân tộc Mỹ”. Bất kể bạn nghĩ gì về ma túy, ít nhất bạn cũng sẽ phải lòng sự ngây thơ và thanh xuân này. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc tủ sách Cánh Cửa Mở Rộng tiểu thuyết Thác loạn ở Las Vegas của Hunter Thompson qua bản dịch của Phủ Quỳ. PHAN VIỆT *** CÁNH CỬA MỞ RỘNG   Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu, nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ   Tủ sách CÁNH CỬA MỞ RỘNG được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu những đầu sách có giá trị của thế giới và trong nước đến bạn đọc Việt Nam, đặc biệt là bạn đọc trẻ, góp phần thúc đẩy việc đọc sách, tinh thần hiếu học, coi trọng tri thức và những giá trị sống. Các tựa sách trong tủ do nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu. Tủ sách được phân thành ba mảng: văn học, khoa học xã hội – kinh tế, và khoa học tự nhiên; trước mắt cấu tạo tủ sách gồm 80% các sách có khả năng tiếp cận đông đảo bạn đọc và 20% cho các sách chuyên ngành.   Mời các bạn đón đọc Thác Loạn Ở Las Vegas của tác giả Hunter S. Thompson.
Nơi Dòng Sông Chảy Qua - Norman Maclean
Như Norman Maclean viết ở cuối truyện Nơi dòng sông chảy qua rằng ông “bị ám bởi những con nước”, độc giả cũng bị ám bởi tiểu thuyết ngắn của ông. Là một giáo sư ngôn ngữ Anh nghỉ hưu, bắt đầu viết khi đã bảy mươi, Maclean đã viết nên tác phẩm giờ đây được nhìn nhận là một trong những tác phẩm kinh điển Mỹ của thế kỷ hai mươi. Được xuất bản lần đầu vào năm 1976, Nơi dòng sông chảy qua và các truyện khác kỷ niệm năm thứ hai mươi lăm, được đánh dấu bằng phiên bản mới có lời nói đầu của Annie Proulx. Là một giáo sư ngôn ngữ Anh nghỉ hưu, bắt đầu viết khi đã bảy mươi, Maclean đã viết nên tác phẩm giờ đây được nhìn nhận là một trong những tác phẩm kinh điển Mỹ của thế kỷ hai mươi. Được xuất bản lần đầu vào năm 1976, Nơi dòng sông chảy qua và các truyện khác, được đánh dấu bằng phiên bản mới có lời nói đầu của Annie Proulx. Lúc sexy, lúc sầu thảm, lúc chua cay, những câu chuyện tuyệt vời thể hiện “một phần tình yêu tôi dành cho thiên nhiên”, theo lời của chính Maclean. Trong lời nói đầu của bà, Proulx nhắc chúng ta về sức mạnh của quyển sách này khi viết, “Norman Maclean mất năm 1990, nhưng trong lòng hàng trăm ngàn độc giả, ông vẫn còn sống mãi chừng nào cá vẫn còn bơi và sách vẫn còn được in”. *** Norman Maclean (1902-1990) là giáo sư vinh danh William Rainey Harper về ngôn ngữ Anh tại Đại học Chicago. Cuốn sách của ông về đám cháy rừng ở Mann Gulch, bang Montana vào năm 1949, Những người trẻ tuổi và đám cháy, cũng được Nhà xuất bản Đại học Chicago xuất bản. Annie Proulx là tác giả của nhiều quyển sách, bao gồm Cận cảnh: Những câu chuyện Wyoming, Vụ án phong cầm, và Bưu thiếp. Tiểu thuyết Tin tức tàu biển đoạt cả Giải thưởng sách quốc gia và giải Pulitzer. *** “Một câu chuyện kể đầy mê hoặc... Đến giờ, tôi đã đọc truyện ba lần, và mỗi lần lại cảm thấy trọn vẹn hơn”. ROGER SALE New York Review of Books “Đẹp từ đầu đến cuối ở sức mạnh truyền cảm... Đẹp như bất cứ tác phẩm nào của Thoreau hay Hemingway”. ALFRED KAZIN Chicago Tribune Book World “Quyển sách của Maclean - gay gắt, súc tích, quyết liệt - vang vọng một âm hưởng truyền thống phong phú của văn học Mỹ, gồm Mark Twain, Kin Hubbard, Richard Bissell, Jean Shepherd và Nelson Algren. Tôi yêu âm hưởng của quyển sách”. JAMES R. FRAKES New York Times Book Reviews *** Một trong những mục đích của chúng tôi khi tạo nên tủ sách Cánh cửa mở rộng là giới thiệu với bạn đọc Việt Nam về cuộc sống và con người ở những miền đất khác - theo nghĩa cuộc sống và con người như được trải nghiệm bởi những con người thật, chứ không phải qua những phóng chiếu và ước lệ của điện ảnh, sách du lịch thương mại hoặc các thể loại hư cấu khác. Chúng tôi cũng mong muốn mang lại cho bạn đọc những câu chuyện được kể thật giản dị và chân thành, như một tiếng nói thầm trung thực đưa bạn đọc vào một không gian sống, mà ở đó, tất cả chúng ta ngang bằng nhau và buộc phải độ lượng, nhân hậu với nhau khi đối mặt với những khác biệt, khó khăn, mất mát, đau khổ, và hạnh phúc của đời sống con người. Với hai mục đích trên, khi nghĩ đến những cuốn sách về đời sống gia đình Mỹ, Nơi dòng sông chảy qua của Norman Maclean là một lựa chọn dễ dàng. Cuốn sách được viết bằng một sự dịu dàng và thương mến tinh tế về tuổi thơ của mình khi Maclean lớn lên ở “vùng hợp lưu của các con sông đầy cá hồi ở miền Tây bang Montana”, trong một gia đình có cha là một mục sư nghiêm khắc, mẹ là một người phụ nữ kiên nhẫn, em trai Paul ngang tàng, nổi loạn, trong khi bản thân Maclean là một đứa trẻ thâm trầm. Họ là một gia đình Mỹ điển hình ở một thị trấn nhỏ điển hình vào cái thời mà nước Mỹ vẫn còn coi các thị trấn nhỏ (small town) cùng với các quan hệ thân thiết giữa những người sống trong thị trấn như nền tảng của văn hóa Mỹ: một thứ văn hóa dựa trên sự cần mẫn làm việc, kính Chúa, nương tựa lẫn nhau, và trung thực. Maclean viết như thể ông đang kể lại cho các con của mình nghe về thời thơ ấu ở Montana, về những biến đổi của gia đình mình theo thời gian khi những đứa trẻ lớn lên, ra đi, trở lại, nổi loạn, yêu, chết, và cái còn lại. Ở tâm điểm của các biến đổi ấy là ký ức ngọt ngào về một dòng sông, những bài học câu cá trên sông, và những cuộc đời liên quan tới con sông. Nơi dòng sông chảy qua là một câu chuyện của một gia đình Mỹ vào nửa đầu thế kỷ 20, nhưng cũng là câu chuyện của hàng triệu gia đình Mỹ, của nước Mỹ, khi nó chuyển mình sang một xã hội công nghiệp và hiện đại. Cái còn lại sau những chuyển mình đó là những ký ức và những giá trị mà Norman Maclean đã bắt lại và khiến cho Nơi dòng sông chảy qua trở thành một trong những cuốn hồi ký được yêu mến nhất về “cuộc sống Mỹ”, về “giá trị Mỹ”. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn Nơi dòng sông chảy qua của Norman Maclean, qua bản dịch của dịch giả Nam An. NGÔ BẢO CHÂU và PHAN VIỆT Mời các bạn đón đọc Nơi Dòng Sông Chảy Qua của tác giả Norman Maclean.