Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Giải Khăn Sô Cho Huế - Nhã Ca

TỰA NHỎ : VIẾT ĐỂ CHỊU TỘI Tôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành, đã rời gia đình, bỏ thành phố và ra đi biền biệt. Hồi trước Tết Mậu thân, hôm 23 tháng chạp năm mùi, đang cùng chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế : về ngay, ba hấp hối. Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư hỏng của gia đình và thành phố là tôi, đã trở lại Huế để chụi tang người cha thân yêu. Và rồi như bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phố, khi biến cố tết Mậu Thân bùng nổ. Sau cả tháng dài lạn lọn trong địa ngục Huế, khi sống sót trở về Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thất một giải khăn sô cho Huế, phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huế. Nhưng thời sự những ngày sau biến cố Tế Mậu Thân ồn ào quá, bên cạnh cơn khóc than vật vã của Huế, người ta còn bận bịu với việc khai thác những chi tiết ly kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn, thật chưa phải là lúc viết ra những sót sa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng cũng lại là sâu sác nhất của một thành phố hấp hói. Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo Sông hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại. Phải ngưng lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được khỏi những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng hơn, trầm tĩnh hơn, khi viết về Huế. Cái thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua, Hai năm, hài cốt cả chục ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống đáy sông đáy suối, đã được thu nhặt dần. Những nấm mồ tập thể đã tạm thời xanh cỏ. Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại. Cơn khóc than vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, như vậy, cũng đã bớt ồn ào. Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc, để hồi tưởng về Huế. Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế. Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại chúng ta, phải chụi trách nhiệm. Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan, một cô bạn học cùng lớp với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo băng đỏ nơi tay, dát súng lục bên hong, hâng hái đi lùng người này, bắc người khác, để trở thành một nữ hung thần trên cơn hấp hối của Huế. Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc một sinh viên trẻ trung, hăng hái. Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loặt người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Đắc, tên Mậu tý, dơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc : - Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm. Nhưng mặc Mậu Tý năn nỉ, hoan hô, Đắc vẫn nhất định nổ súng vào người bạn nhỏ. Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm người, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm một lá cờ trắng để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phố đầy lửa cháy. Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần hết. Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự. Con chó thành mục tiêu đùa rỡn cho những mũi súng hờm rẵn từ bên kia sông. Họ bắn cho con vật khốn khổ sợ hãi rơi xuống sông. Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó nhỏ đang lóp ngóp bơi vào. Những phát súng đùa cợt không có tình bắn chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc cho con chó chới với giữa giòng nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa. Thành phố Huế, và có lẽ cả quê hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó nhỏ đã chới với giữa giồng nước ấy. Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải chịu tội với Huế, với quê hương nữa. Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập giải khăn sô cho Huế này như một bó nhang dèn góp giỗ. Xin mời bạn, chúng ta cùng thấp đèn, châm nhang, chịu tội với quê hương, với Huế.   Sàigon, năm Dậu. NHã CA ***   Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (sinh 1939), là một nữ văn sĩ người Việt với nhiều tác phẩm viết thời Việt Nam Cộng hoà, hiện định cư ở Hoa Kỳ. Nhã Ca sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960 - 1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết. Một số tác phẩm của bà lấy xứ Huế làm trọng điểm. Theo lời kể của ông Nguyễn Đắc Xuân (nhà văn) thì bà vốn là một nữ sinh Huế (cùng thế hệ với Nguyễn Đắc Xuân), bỏ học Trung học vào Sài Gòn đi theo Trần Dạ Từ - một người Bắc di cư. Trần Dạ Từ viết báo chống các Phong trào tranh đấu chống Mỹ, hai vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca là hai cây viết tâm lý chiến của Đài Tự do của Mỹ (Đài có nhiệm vụ tuyên truyền chiêu hồi và viết bài tấn công về tư tưởng đối với binh lính đối phương) Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền giam hai năm vì tội "biệt kích văn hóa" (có cuốn sách mang tên là ‘Biệt Kích Văn Hoá’ do các học giả, nhà văn ủng hộ Mặt trận giải phóng như Trần Văn Giàu, Lữ Phương, Vũ Hạnh... viết về 10 tác giả miền Nam. Trong sách này, ngoài bà có Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến...). Trong tù, bà bị biệt giam và chính quyền tiến hành chính sách "khoan hồng, nhân đạo của Đảng" nhằm hạ gục uy tín của bà. Chính cuốn Giải khăn sô cho Huế bị liệt vào hạng tối kỵ, trưng bày trong "Nhà Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy" là chứng tích kết tội bà. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, thì bị giam 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống Việt Báo Daily News tại Quận Cam. Theo nhà văn Nguyễn Đắc Xuân thì cặp vợ chồng Trần Dạ Từ - Nhã Ca còn từng phụ trách nguyên cả một chương trình của đài Á Châu Tự do (RFA) của Mỹ. Tác phẩm: Nhã Ca mới (1965) Đêm nghe tiếng đại bác (1966) Bóng tối thời con gái (1967) Khi bước xưống (1967) Người tình ngoài mặt trận (1967) Sống một ngày (1967) Xuân thì (1967) Những giọt nắng vàng (1968) Đoàn nữ binh mùa thu (1969) Giải khăn sô cho Huế (1969) đoạt Giải Văn chương Quốc gia Việt Nam Cộng hòa năm 1970[4] (tái bản ở Hoa Kỳ năm 2008) Một mai khi hòa bình (1969) Mưa trên cây sầu đông (1969) Phượng hoàng (1969) Tình ca cho Huế đổ nát (1969) Dạ khúc bên kia phố (1970) Tình ca trong lửa đỏ (1970) Đời ca hát (1971) Lặn về phía mặt trời (1971) Trưa áo trắng (1972) Tòa bin-đing bỏ không (1973) Bước khẽ tới người thương (1974) v.v... Phim Đất khổ do Hà Thúc Cần sản xuất và hoàn tất năm 1973, đã một phần dựa theo cuốn Giải khăn sô cho Huế và Đêm nghe tiếng đại bác, do Nhã Ca viết đối thoại. Tại hải ngoại, bà tiếp tục sáng tác, như: Hồi ký một người mất ngày tháng Đường Tự Do Sài Gòn (2006). Mời các bạn đón đọc Giải Khăn Sô Cho Huế của tác giả Nhã Ca.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bể Dâu Quyển 2: Mùa Rừng Động - Bờ Dâu - Nam Dao
Sư trụ trì răng đen, mi bạc phếch, hé lên nhìn người lạ rồi lại khép mắt. Mở mắt lần thứ hai, sư thủng thỉnh, miệng nhếch lên cười, niệm A di dà Phật…Người khách hai tay dâng lên một phong thư. Sư hấp háy đọc, giọng ê a: - Ông muốn tá túc thì chùa lúc nào cửa cũng mở, chỉ sợ ông chê nghèo hèn mà thôi! Dứt lời, Sư đứng lên, tay quơ cây gậy bên cạnh. Hai người bước ra sân chùa. Sư chỉ tay: - Phía bên này là phủ Lâm Thao. Còn bên kia, là những đồi chè Phú Thọ. Con đường ngoằn ngoèo phía dưới là đường từ Lâm Thao đến Hưng Hóa. Lên chùa này thì chỉ một lối độc đạo. Chính nhìn những ngọn cây xanh trùng điệp vây quanh. Sương bốc lên lưng chừng đồi giăng ngang tầm mắt những giải lụa mơ hồ lơ lửng xô dạt cuối trời. Sư giơ tay vẫy một chú tiểu áo nâu sồng đang thơ thẩn cuối vườn. Bước lên vài bước, Sư thì thào vào tai chú tiểu. Nhìn bóng áo chú biến sau hàng cây, Sư bấy giờ quay lại nắm lấy khuỷu tay Chính, hỏi: - Giáo Bằng ở Sơn Dương cách chùa hai giờ đường cũng đã báo tôi ông sẽ đến. Tin tức ở dưới xuôi thế nào? Chính thưa: - Bạch thầy, sau vụ ám sát Bazin thì mật thám lùng khắp nơi. Nhiều cơ sở vỡ, có nơi tan ra, số bị bắt, số đào tẩu… Kiểm điểm vào tháng năm vừa rồi, số bị bắt lên đến gần một ngàn. Tháng sáu, thực dân Pháp giải ra tòa hai trăm hai mươi bảy người, kết tội tám mươi người tù từ hai đến hai mươi năm! *** Nam Dao tên thật là Nguyễn Mạnh Hùng. Hiện ông là giáo sư Kinh tế của trường Đại học Toronto, Canada. Ông tham gia giảng dạy tại nhiều trường Đại học danh tiếng trên thế giới như: Havard, Paris – Sorbonne, Toulouse, Montpellier, Paris10, CEPREMAP, National Australian University, University of New Southwales... Ông cũng là tác giả của nhiều nghiên cứu đã in trong những tờ báo tiếng tăm nhất trong ngành. Từng được giải có bài nghiên cứu kiệt xuất nhất của tờ Asian Pacific Economic Review năm 1999. Ông là thành viên của Hội Đồng Nghiên cứu Khoa Học Nhân Văn của Canada về Kinh Tế Học và nhiều Trung tâm Nghiên Cứu Kinh Tế tại Canada và Pháp, Úc. Không dừng lại ở đó, trong lĩnh vực văn học Nguyễn Mạnh Hùng còn là cây bút sáng tác rất sung sức và nổi bật trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, thơ, kịch, tiểu luận, phê bình. Các tác phẩm của ông chủ yếu được xuất bản ở nước ngoài dưới 2 bút hiệu Nam Dao & Dã Tượng. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Cõi tình (tiểu thuyết), Trăng nguyên sơ (tiểu thuyết), Bể dâu (tiểu thuyết lịch sử), Khoảng chơi vơi(truyện và ký), Tiếng cồng, Trong buốt pha lê (tập truyện), Gió lửa (tiểu thuyết lịch sử), Dấu vết ngậm ngùi(Thơ), Tình phụ, Sân đền, Ta xô biển lại (kịch bản)… cùng rất nhiều tác phẩm khác. Mời các bạn đón đọc Bể Dâu Quyển 2: Chớp Bể - Ba Đào của tác giả Nam Dao.
Bể Dâu Quyển 1: Chớp Bể - Ba Đào - Nam Dao
Trước mặt căn nhà ẩn trong lõm đất bờ tây kênh Sắt, chiếc quan tài bằng gỗ thô nằm trơ trọi. Mặt đất khô cằn nứt toạc vết chân những con ó thuở lập địa khai thiên. Mặt trời trên đỉnh ngọn tre đổ một chảo lửa xuống đầu thế gian. Cạnh gốc cây sung, hai con chó thè lưỡi thở hồng hộc. Đàn gà chúi vào hàng dậu cạnh giàn mướp, thỉnh thoảng kêu chiêm chiếp. Dưới nắng chang chang, hai người đàn bà ngồi bất động, bóng đổ như ngã chúi xuống. Người có tuổi, mắt sưng vù, miệng thỉnh thoảng lẩm bẩm một điều gì. Người kia còn trẻ, đâu khoảng mười sáu mười bảy, mặt căng cứng, môi mím lại. Chỉ có tiếng đập cánh vo ve của ruồi, của nhặng. Những con ruồi trâu trùi trũi to bằng đầu ngón tay chúc đầu lao vào nắp quan còn đậy hờ. Nhặng xanh, bụng chấm trắng, sà xuống những vũng nước vàng nhợt rỉ ra từ khe gỗ, mùi thối hoắc thốc lên đâm xộc vào mũi. Đồ Cửu từ trong nhà bước ra. Đi về phía quan tài, Cửu chợt khựng lại, đưa tay bịt miệng. Ruồi, nhặng vù vù bay tóe lên. Đồ Cửu phẩy tay xua, hấp tấp đi vào, gọi con. Lát sau, Cửu cùng hai đứa trẻ tuổi chạc lên chín lên mười mang ra một chiếc màn tuyn màu cháo lòng. Lầm lì đóng bốn cái cọc, ba cha con buông màn phủ chiếc quan tài. Đến bên hai người đàn bà, Đồ Cửu trầm giọng: - Mẹ nó với cháu vào nhà đi. Ngồi nắng thế này thì ốm mất! *** Nam Dao tên thật là Nguyễn Mạnh Hùng. Hiện ông là giáo sư Kinh tế của trường Đại học Toronto, Canada. Ông tham gia giảng dạy tại nhiều trường Đại học danh tiếng trên thế giới như: Havard, Paris – Sorbonne, Toulouse, Montpellier, Paris10, CEPREMAP, National Australian University, University of New Southwales... Ông cũng là tác giả của nhiều nghiên cứu đã in trong những tờ báo tiếng tăm nhất trong ngành. Từng được giải có bài nghiên cứu kiệt xuất nhất của tờ Asian Pacific Economic Review năm 1999. Ông là thành viên của Hội Đồng Nghiên cứu Khoa Học Nhân Văn của Canada về Kinh Tế Học và nhiều Trung tâm Nghiên Cứu Kinh Tế tại Canada và Pháp, Úc. Không dừng lại ở đó, trong lĩnh vực văn học Nguyễn Mạnh Hùng còn là cây bút sáng tác rất sung sức và nổi bật trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, thơ, kịch, tiểu luận, phê bình. Các tác phẩm của ông chủ yếu được xuất bản ở nước ngoài dưới 2 bút hiệu Nam Dao & Dã Tượng. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Cõi tình (tiểu thuyết), Trăng nguyên sơ (tiểu thuyết), Bể dâu (tiểu thuyết lịch sử), Khoảng chơi vơi(truyện và ký), Tiếng cồng, Trong buốt pha lê (tập truyện), Gió lửa (tiểu thuyết lịch sử), Dấu vết ngậm ngùi(Thơ), Tình phụ, Sân đền, Ta xô biển lại (kịch bản)… cùng rất nhiều tác phẩm khác. Mời các bạn đón đọc Bể Dâu Quyển 1: Chớp Bể - Ba Đào của tác giả Nam Dao.
Siêu Lầy, Siêu Nai Và Điện Giật - Huyền Lê
Ở một thành phố nào đó, trong một khu nhà nào đó trên đất nước Việt Nam tươi đẹp, có ba đứa con gái độ tuổi ba mươi, xinh bình thường, ngoan bình thường, giỏi bình thường, thu nhập bình thường chơi thân với nhau như keo dính chuột. Mà bộ ba bình thường ấy, cứ dính lấy nhau là lại xẩy ra những chuyện… bất bình thường khác khiến “nhân loại” vừa cười đau mồm, vừa nghĩ đau đầu, vừa nghe rất rát tai. Tất nhiên, bất chấp những khó chịu của “nhân loại”, ba cô gái ấy vẫn “ngang nhiên” tồn tại, sống phất phơ giữa đời. Ba cô ấy là ai? Tạm thời có một màn lí lịch trích ngang như sau.  Siêu Lầy – tên thật là Huyền Lê, ba mươi tuổi, dốt toán, nhiều chữ, lầy lội vô số tội! Lầy tôn thờ chủ nghĩa độc thân và không phân vân trước những giành giật, tham vọng ở đời cuộc đời. Siêu Nai – tên thật Ngọc Mai, siêu điệu đà và vô cùng thảo mai, cũng ba mươi tuổi, giỏi toán, làm kế toán cho một công ty xây dựng, tính toán rất nhanh nhưng nói chuyện cực chậm. Điện Giật – tên thật là Mai Ly, ba mươi tuổi, là đứa duy nhất có chồng trong bộ ba “hàng lỗi của nhân loại”, Điện Giật bán mỹ phẩm online, có một cửa hàng mỹ phẩm trên phố, nhanh nhẹn và bao đồng, rất hâm nhưng lại tốt tâm, luôn làm hộ người khác, nếu người ta nhờ, kiểu như đi chợ hộ, trông trẻ hộ, đánh ghen hộ… “Bộ ba hàng lỗi” đã tạo nên vô số phen hài đến chảy nước mắt, nhưng cũng khiến người ta ngẫm ra những bài học sâu sắc về cuộc sống từ những trải nghiệm phong phú của nhân vật. *** Ở  một thành phố nào đó, trong một khu nhà nào đó trên đất nước Việt Nam tươi đẹp, có ba đứa con gái ở độ tuổi ba mươi, xinh bình thường, ngoan bình thường, giỏi bình thường, thu nhập bình thường, chơi thân với nhau như keo dính chuột. Mà bộ ba bình thường ấy cứ dính lấy nhau là lại xảy ra những chuyện… bất bình thường khác khiến “nhân loại” vừa cười đau mồm, vừa nghĩ đau đầu, vừa nghe rất rát tai. Tất nhiên, bất chấp những khó chịu của “nhân loại”, ba cô gái ấy vẫn “ngang nhiên” tồn tại, sống phất phơ giữa đời. Ba cô ấy là ai? Tạm thời có một màn lí lịch trích ngang như sau. Siêu Lầy - tên thật là Huyền Lê, ba mươi tuổi, dốt Toán, nhiều chữ, lầy lội vô số tội! Siêu Lầy làm biên tập viên trong một công ty Truyền thông có tiếng, tôn thờ chủ nghĩa độc thân và không phân vân trước những giành giật, tham vọng ở cuộc đời. Với Siêu Lầy, chỗ nào vui thì đến, buồn thì chuồn, chán thì bỏ, thích thì nhích, lầy thì bầy hầy luôn! Chả cần gì! Siêu Nai - tên thật Ngọc Mai, siêu điệu đà và vô cùng thảo mai, cũng ba mươi tuổi, giỏi Toán, làm kế toán cho một công ty xây dựng, tính toán rất nhanh nhưng nói chuyện cực chậm. Cứ tưởng tượng, mỗi lần Siêu Nai mở miệng nói từ đầu tiên, đến khi kết thúc từ cuối cùng của một câu thì Siêu Lầy đã kịp bóc và xơi xong chục quả trứng cút lộn, và Điện Giật còn kinh hơn, nó có thể kịp xơi chục quả trứng cút lộn và thêm mười cái nem rán. Ăn xong, chúng ngồi thở chờ Siêu Nai nói chốt câu là vừa. Mà khổ, Siêu Nai là người miền Trung nên nó nói giọng miền Trung. Hồi đầu, vì mọi người không nghe rõ nó nói gì, nên nó quyết định nói chậm để đỡ bị hỏi đi hỏi lại nhiều lần, từ đó thành thói quen, nói chậm cũng trở thành kiểu làm điệu của nó. Siêu Nai có câu cửa miệng luôn thốt ra trong tình huống nguy cấp là “Chừ mần răng chừ?”, mà thường thì nó chưa nói xong, các bạn của nó đã giải quyết xong rồi. Điện Giật - tên thật là Mai Ly, ba mươi tuổi, là đứa duy nhất có chồng trong bộ ba “hàng lỗi của nhân loại”. Điện Giật bán mỹ phẩm online, có một cửa hàng mỹ phẩm trên phố, nhanh nhẹn và bao đồng, rất hâm nhưng lại tốt tâm, luôn làm hộ người khác, nếu người ta nhờ, kiểu như đi chợ hộ, trông trẻ hộ, đánh ghen hộ… Điện Giật nghĩ sao nói vậy, nói rất nhanh và làm cũng rất nhanh! Thông thường, nó làm trước khi nghĩ và hậu quả thì sau khi nghĩ xong mọi thứ đã đi tong. Điện Giật là “từ điển bách khoa” sống động nhất về mọi chuyện giật gân trên mạng, anh kia cặp với chị nào, chị nào bồ với anh kia… cứ như thể nó chui trong gậm giường người ta ra vậy. Bộ ba Siêu Lầy, Siêu Nai và Điện Giật chơi thân từ hồi học cấp ba, dù chẳng đứa nào hợp với đứa nào. Có một điểm chung duy nhất giữa bộ ba ấy, đó là yêu cái đẹp! Cái đẹp ở đây bao gồm trai đẹp, quần áo đẹp, phong cảnh đẹp, trang sức đẹp… Mà nói tóm lại, cả thế giới phụ nữ đều có điểm chung giống họ, ờ thì cuối cùng chúng nó cũng có điểm chung với “một nửa nhân loại” cho giống người chứ không lại tưởng hội này bị tai nạn đĩa bay nên lưu lạc đến đây. Mời các bạn đón đọc Siêu Lầy, Siêu Nai Và Điện Giật của tác giả Huyền Lê.
Phỏng Vấn Con Bò - Lê Hoàng
Vẫn ngòi bút hài hước, chua ngoa, thâm thúy, lạnh tanh ấy - từ chuyện hồ gươm, cụ Rùa, điện ảnh, minh tinh, nhà văn, nhà báo, nhà giáo... cho đến con bò, con mèo... Lê Hoàng tiếp tục đem đến cho độc giả những phút thư giãn, sảng khoái, hả hê rồi suy ngẫm. Và độc giả sẽ được cười đủ kiểu với loạt bài dí dỏm đầy bất ngờ mà Lê Hoàng viết về những nhân vật nổi tiếng. Qua lăng kính Lê Hoàng, chân dung nghệ sĩ được phác họa từ một góc nhìn rất riêng và ngộ nghĩnh. *** Tốt nghiệp ngành xây dựng và quay phim nhưng Lê Hoàng lại là một đạo diễn nổi tiếng, cả trong những phim truyền thống lẫn những phim nhựa giải trí. Ông còn là một nhà viết kịch, với nhiều vở kịch diễn trên các sân khấu thử nghiệm. Nhưng dưới một cái tên khác - Lê Thị Liên Hoan - ông còn là người phụ trách chuyên mục tiểu phẩm cho nhiều tờ báo lớn. Mời các bạn đón đọc Phỏng Vấn Con Bò của tác giả Lê Hoàng.