Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trăng Lặn - John Steinbeck

John Ernst Steinbeck, Jr. (1902 – 1968) là một tiểu thuyết gia người Mỹ được biết đến như là ngòi bút đã miêu tả sự đấu tranh không ngừng nghỉ của những người phải bám trên mảnh đất của mình để sinh tồn. Tác phẩm đầu tiên gây tiếng vang của John Steinbeck là cuốn Của Chuột Và Người (Of Mice and Men) (1937), dựng nên một câu chuyện bi thảm về hai nông dân ít học thức hằng mong mỏi một mảnh đất cho riêng mình để canh tác. Tác phẩm được đánh giá cao nhất là Chùm Nho Phẫn Nộ (The Grapes of Wrath) (1939; đoạt giải Pulitzer năm 1940), dựng nên câu chuyện của gia đình Joad, bị nghèo khó ở vùng hoang hóa Dust Bowl của tiểu bang Oklahoma, phải chuyển đến California trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930. Quyển tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi, được xem không những là truyện hư cấu nhưng có tính hiện thực mà còn là lời phản kháng xã hội đầy cảm động, đã trở nên một tác phẩm kinh điển trong nền văn học Mỹ. Là một trong những "tượng đài" văn học từ thập kỷ 1930, Steinbeck lấy chủ đề trung tâm là phẩm giá trầm lặng của những người cùng khổ, những người bị áp bức. Dù những nhân vật của ông thường bị vây bọc trong thế giới thiếu công bằng, họ vẫn giữ mình như là những con người đầy cảm thông và có anh hùng tính, tuy có thể bị khuất phục. John Steinbeck nhận Giải Nobel Văn học năm 1962. Tiểu thuyết của John Steinbeck đã được dịch ra tiếng Việt gồm có: Của chuột và người (Of Mice and Men, 1937) Chùm nho nổi giận, còn được dịch Chùm nho phẫn nộ hay "Chùm nho uất hận", (The Grapes of Wrath, 1939) Đoạt Giải Pulitzer năm 1940 Phía đông vườn địa đàng (East of Eden, 1952) Đồng cỏ nhà trời (The Pastures of Heaven, 1932) Tôi, Charley và hành trình nước Mĩ (Travels with Charley in search of America, 1961) *** Tin tức được lan truyền mau chóng trong thị trấn, qua những lời thầm thì trước cửa, bằng cái liếc nhanh đầy ngụ ý― “Thị trưởng bị giam giữ”. Khắp cả thị trấn lan ra một sự rộn ràng thầm lặng, một sự rộn ràng nhỏ nhoi nhưng mãnh liệt; người ta tụm lại thầm thì trò chuyện với nhau rồi tản đi; người đi mua thực phẩm nghiêng đầu sát vào người bán hàng và trong khoảnh khắc họ trao nhau lời nói. Dân chúng đi vào đồng ruộng, vào những khu rừng, tìm kiếm chất nổ. Và những đứa trẻ chơi đùa trong tuyết cũng tìm thấy chất nổ, đến lúc này cả những đứa trẻ cũng biết đến những lời chỉ dẫn. Chúng mở gói hàng, ăn phần sô-cô-la, và sau đó chúng chôn những thanh chất nổ trong tuyết rồi nói lại cho cha mẹ chúng vị trí chôn dấu. Ở tận ngoài đồng xa một người nhặt được ống chất nổ, hắn đọc lời chỉ dẫn và tự nói với mình, “Không hiểu nó có nổ được không.” Hắn cắm ống chất nổ vào trong tuyết và châm mồi, rồi vừa chạy lui ra xa vừa đếm. Nhưng hắn đếm hơi nhanh, nó nổ khi hắn đếm được đến 68. Hắn nói, “Ðược đấy,” rồi hắn vội bỏ đi, tìm những ống chất nổ khác. Gần như là có một hiệu lệnh, dân chúng đi vào trong nhà và đóng cửa lại, đường phố lặng ngắt. Ở hầm mỏ, quân lính cẩn thận lục soát từng người thợ đi vào trong hầm, lục soát rồi lại lục soát, và quân lính trở nên cáu kỉnh, cộc cằn, họ nói với những người thợ mỏ bằng những lời lẽ thô bạo. Những người thợ nhìn họ bằng ánh mắt lạnh căm, và đằng sau ánh mắt ấy có chút ít sôi sục rộn ràng. Trong phòng khách của dinh Thị trưởng chiếc bàn đã được dọn dẹp sạch sẽ, một người lính đứng gác ở ngay trước cửa phòng ngủ của Thị trưởng. Annie đang quì trước vỉ lò sưởi, gắp từng mẩu than bỏ vào lò. Bà ngước lên nhìn người lính gác đang đứng trước cửa phòng Thị trưởng Orden và bà nói với hắn bằng giọng gay gắt, “Này, mi làm cái gì với ông ấy đây?” Người línhh không trả lời. Cánh cửa ngoài mở ra một người lính khác bước vào, hắn nắm cánh tay của Bác sĩ Winter. Hắn đưa Bác sĩ Winter vào, đóng cánh cửa lại, đứng bên trong phòng chắn ngay trước cánh cửa. Bác sĩ Winter nói, “Chào Annie, Ðức ông khoẻ chứ?” Và Annie chỉ vào phòng ngủ nói, “Ông ấy ở trong đấy.” “Ông ấy không bệnh chứ?” Bác sĩ Winter nói. “Không, ông ấy chẳng có vẻ gì bệnh cả,” Annie nói. “Ðể tôi coi thử, có thể nói ông ấy biết là Bác sĩ ở đây.” Bà bước đến người lính gác và nói như ra lệnh. “Nói với Ðức ông là Bác sĩ Winter ở đây, mi có nghe không?” Người lính gác không trả lời và không cử động, nhưng từ phía sau, cách cửa mở và Thị trưởng Orden đứng ở ngưỡng cửa. Ông đi lướt qua, không để ý đến người lính, bước vào trong phòng. Trong thoáng chốc người lính như có ý kéo ông trở lại, nhưng rồi hắn qua lại vị trí cũ bên cạnh cửa. Orden nói, “Cám ơn, Annie. Ðừng đi xa đấy? Tôi có thể cần đến bà.” Annie nói, “Không đâu, thưa ngài. Phu nhân khoẻ chứ?” “Bà ấy đang làm tóc. Bà có muốn gặp bà ấy không, Annie?” “Vâng, thưa ngài,” Annie nói, và bà lại đi lách qua người lính gác, vào trong phòng ngủ, đóng cửa lại. Orden nói, “Ông có cần gì không Bác sĩ?” Winter nhếch môi cười mỉa mai và chỉ ra về người lính đứng phía sau lưng. “Vậy đấy, tôi đoán là tôi đã bị bắt. Ông bạn này dẫn tôi đến.” Orden nói, “ Tôi nghĩ rồi cũng đến nước này thôi. Tôi tự hỏi họ sẽ làm gì đây?” Hai người nhìn nhau một lúc lâu và người này chợt hiểu người kia đang nghĩ gì. Rồi Orden nói tiếp như ông chưa từng ngừng lời. “Ông biết không, tôi không thể ngăn được chuyện đó cho dù tôi có muốn đi nữa.” “Tôi biết,” Winter nói, “nhưng bọn họ thì không.” Ông nói tiếp điều ông đang suy nghĩ. “Một dân tộc coi trọng giờ giấc,” ông nói, “và giờ giấc đã gần điểm. Họ nghĩ rằng chỉ vì họ chỉ có một lãnh tụ và một cái đầu nên họ cho tất cả chúng ta cũng như vậy. Họ biết nếu mười cái đầu bị chặt đi họ sẽ bị tiêu diệt, nhưng chúng ta là những người tự do, chúng ta có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu cái đầu, và đến lúc cần những lãnh tụ sẽ mọc lên trong chúng ta như nấm.” Orden đặt tay lên vai của Winter và ông nói, “Cám ơn. Tôi biết điều đó, nhưng nghe ông nói thật hay. Dân chúng thấp bé kia sẽ không bị khuất phục, đúng không?” Ông bồn chồn nhìn khuôn mặt của Winter dò hỏi. Bác sĩ Winter khẳng định với ông, “Sao, không, không đâu. Sự thực là họ sẽ trở nên lớn mạnh hơn với sự giúp đỡ từ bên ngoài.” Căn phòng im lặng một lát. Người lính gác hơi chuyển thế đứng, cây súng va vào một hạt nút nghe lanh canh. Orden nói, “Tôi có dịp nói chuyện với ông, Bác sĩ, và có lẽ tôi sẽ không thể nói chuyện với ông lần nữa. Trong đầu tôi đã nghĩ đến những điều hơi hổ thẹn.” Ông ho và liếc nhìn người lính đang đứng nghiêm, nhưng người lính không có vẻ nghe thấy gì hết. “Tôi đã nghĩ đến cái chết của tôi. Nếu họ cứ theo trình tự thông tường, họ phải giết tôi, và họ sẽ phải giết ông.” Và khi thấy Winter im lặng, ông nói, “Ðúng không?” “Ðúng, tôi đoán vậy.” Winter bước đến bên một chiếc ghế bịt vàng, vừa lúc sắp ngồi xuống, để ý thấy thảm bọc ghế bị rách, ông dùng ngón tay vuốt chỗ đệm ngồi như thể làm vậy sẽ vá nó lại được. Ông se sẽ ngồi xuống vì chiếc ghế đã rách. Orden nói tiếp, “Ông cũng biết, tôi sợ, tôi đã từng nghĩ những phương cách để trốn thoát, phủi tay. Tôi đã từng nghĩ đến việc bỏ chạy. Tôi đã từng nghĩ đến việc van xin tha mạng, và chuyện ấy làm tôi hổ thẹn.” Mời các bạn đón đọc Trăng Lặn của tác giả John Steinbeck.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Cuộc Phiêu Lưu Của Asène Lupin - Maurice Leblanc
Arsène Lupin là nhân vật huyền thoại của văn học Pháp, giống như Shelock Homlk của Anh. Cuốn sách này kể về những cuộc phiêu lưu của Lupin. Anh xuất hiện ở một vùng nào đó trong vai một người bạn hào hoa, rồi khám phá ra một vụ án mạng trong quá khứ, phá âm mưu tống tiền; lần khác anh cứu một người đẹp, giúp một tên nhà giàu tìm ra tên trộm nhưng lại cuỗm của hắn vật báu, làm hắn tức nghẹn họng mà vẫn phải cám ơn anh.... Trong những tác phẩm khác, Lupin còn vào vai cảnh sát trưởng để thoát khỏi sự truy lùng; dùng những mánh khóe thông minh vượt ngục... Tôi đã được nghe Arsene Lupin kể về tám vụ phá án này từ lâu trong đó anh nhường vai trò chính cho một trong những người bạn của mình - Hoàng tử Rénine. Với tôi đó như là đưa ra một cách xử thế, phương thức, những cử chỉ đẹp cũng như tính cách của một con người không có khả năng làm tôi lẫn lộn giữa hai người bạn, người này với người kia. Arsene Lupin là một người theo chủ nghĩa tuởng tượng cũng như có khả năng chối bỏ những cuộc phiêu lưu của chính mình bằng cách nhường một vài vụ mà trong đó anh không là nhân vật chính. Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, Maurice Leblanc chú ý phân tích khía cạnh tâm lý, tình cảm dưới ánh sáng của một tư tưởng đạo đức tiến bộ. Những nhân vật giang hồ Arsène Lupin vẫn giữ được trong mình những tư tưởng tình cảm lành mạnh, vẫn giữ được tính nhân đạo và lòng căm ghét bạo lực. Và những tư tưởng tình cảm đó lại được tăng thêm giá trị bởi quan điểm đề cao óc nhận thức lý trí sâu sắc của tác giả. Nhân vật thám tử của ông ít khi phải sử dụng vũ lực mà là một chuyên gia phân tích, làm việc bằng những phương pháp khoa học chứ không phải bằng kỹ xảo của đôi tay Arsène Lupin là một nhân vật hư cấu xuất hiện trong loạt truyện thám tử, tiểu thuyết trinh thám của nhà văn Pháp Maurice Leblanc, cũng như một số phần tiếp theo và rất nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh như Night Hood, Arsène Lupin, các vở kịch và truyện tranh phỏng theo.   Cùng thời với Arthur Conan Doyle, Maurice Leblanc (1864-1941) đã sáng tạo ra nhân vật Arsène Lupin, một nhân vật có tầm phổ biến rộng khắp và lâu dài ở các nước nói tiếng Pháp, giống như Sherlock Holmes  ở các nước nói tiếng Anh. Serie Arsène Lupin gồm hai mươi tập truyện được viết bởi chính Leblanc cộng thêm năm phần tiếp đã được ủy quyền cho nhóm viết của Boileau-Narcejac thực hiện, cũng như nhiều tác phẩm khác phỏng theo. Nhân vật Lupin được giới thiệu lần đầu trên tạp chí Je Sais Tout qua một loạt truyện ngắn, bắt đầu từ số thứ 6, ngày 15 tháng 7 năm 1905. Ban đầu nhân vật mang tên Arsène Lopin, nhưng vấp phải sự phản đối từ một chính trị gia trùng tên, kết quả là "Lopin" đã bị đổi thành "Lupin". Arsène Lupin là một siêu đạo chích có tài hóa trang, một tên trộm quý tộc chuyên trộm đồ của nhà giàu trong khi núp bóng quý ông lịch thiệp. Nhân vật Lupin giống với Marius Jacob nên có khi được cho là dựa trên hình mẫu này.xuất hiện trong 12 tập truyện ngắn đã cho thấy đây là một nhân vật có thể sánh ngang cùng với các nhân vật khác như Holmes cua Conan Doyle, Hercule Poirot cuả Agatha. Hình tượng Lupin đã được nhiều bộ phim nổi tiếng lấy làm mẫu nhân vật như Kaito Kid trong bộ manga nổi tiếng Thám tử lừng danh Conan. Dưới đây là một số tác phẩm của Maurice Leblanc được dịch và xuất bản tại Việt Nam: - Arsène Lupin - Cái chết rình rập - Arsène Lupin đối đầu Sherlock Holmes - Arsène Lupin - Sa bẫy địa ngục - Những cú siêu lừa của Arsène Lupin - Những cuộc phiêu lưu của Arsène Lupin - Tám vụ phá án của Arsène Lupin - Ngôi nhà bí ẩn - Báo Thù - Nữ bá tước Cagliostro - Hòn Đảo 13 chiếc quan tài - Hai Nữ Tướng Cướp - Tam giác vàng ma quỷ - Arsene Lupin và Hồi Ức Bí Mật - ... *** Maurice Leblanc Émile Marie (11/11/1864 - 6/11/1941) là một tiểu thuyết gia và nhà văn viết truyện ngắn người Pháp, được người ta biết đến chủ yếu là tác giả của nhân vật hư cấu tên trộm lịch lãm và thám tử Arsène Lupin, được so sánh là đối trọng với nhân vật thám tử Sherlock Holmes của tác gia người Anh Conan Doyle. Leblanc sinh ra ở Rouen, Normandy, nơi ông đã theo học tại Lycée Pierre Corneille. Sau khi nghiên cứu ở một số nước và bỏ học luật, ông định cư tại Paris và bắt đầu sáng tác tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết phiêu lưu và khoa học huyễn tưởng. *** Một vụ trộm ký tên Arsène Lupin là một vụ trộm bậc thầy. Không kìm, không dụng cụ..., những vật cần thiết của một tay trộm bình thường ! Arsène Lupin thường thích nạn nhân chờ đón mình ! Họ là Raoul de Limésy, Raoul d' Enneris, Raoul d'Averny, bá tước d'Andrésy, đại tá Spanniento, Horace Velmont..., là một nhà quý tộc, nhà tài phiệt, một họa sĩ nổi tiếng hay người say mê nghệ thuật, họ nổi bật trong các phòng khách sang trọng khi chưa phải là nạn nhân của Arsène Lupin. Nhưng các vụ trộm đều thực hiện một cách nhẹ nhàng, thanh nhã. Tất nhiên không giấu tên. Những cách thô bạo phổ biến trong nghề trộm cướp không được Arsène Lupin áp dụng. Anh để lại tấm danh thiếp của mình và bao giờ cũng thận trọng không làm các bà lo sợ... Arsène Lupin là một trong những nhân vật xuất sắc nhất trong văn học trinh thám Pháp với những hành động mạo hiểm, độc đáo của mình...   Mời các bạn đón đọc Những Cuộc Phiêu Lưu Của Asène Lupin của tác giả Maurice Leblanc.
Nhím Thanh Lịch - Muriel Barbery
Câu chuyện được dẫn dắt bởi hai giọng kể. Renée, năm mươi tư tuổi, gác cổng cho một tòa nhà sang trọng tại quận VII Paris, người đã sử dụng nghề nghiệp của mình như một lớp vỏ bọc: “góa chồng, người thấp, xấu xí, béo tròn”, bà xây dựng một hình mẫu hài hước về nghề này để “gìn giữ” tốt hơn đam mê bác học của mình với phim của Ozu, những nhân vật của Tolstoi và tranh tĩnh vật Hà Lan.   Sóng đôi với bà Michel, tâm hồn đồng cảm bất ngờ với bà, đó là Paloma, một cô bé mười hai tuổi, đặc biệt thông minh và bất hạnh. Cô bé đã thấy được sự phi lý của cuộc sống, của những người thân của cô: cô chị học sư phạm, bà mẹ chuyên uống thuốc chống trầm cảm, ông bố có chút hèn nhát. Paloma đự định sẽ tự tử vào ngày sinh nhật lần thứ mười ba và trong khi chờ đợi, cô ghi lại những “suy nghĩ sâu” cũng như kiếm tìm một cái gì đó “đáng để sống”.   Tâm hồn thuần khiết nhưng đầu óc cay độc, hai con người cô đơn này tìm kiếm những khoảnh khắc của cái đẹp trong thế giới tư sản thu nhỏ nghẹt thở bởi những thành kiến.   Nhím thanh lịch giỡn chơi với những nghịch lý nhờ những nhân vật kín đáo nhưng gây ngạc nhiên. Hài hước. Sâu sắc. Nhạy cảm. Triết lý. Ngay từ phần mở đầu, chúng ta sẽ khám phá ra một trong những ý tưởng chủ đạo của tác phẩm: “ảo tưởng lớn và phổ biến cho rằng ý nghĩa của cuộc sống dễ dàng được nhận ra”. *** Lọt vào danh sách best-seller trong khi vẫn theo đuổi lối viết thanh lịch, sâu sắc và giàu tính triết lý không phải là điều nhiều nhà văn làm được. Bởi sự song hành giữa hai thuật ngữ sách bán chạy và văn phong thị trường đôi khi là một thách thức với người cầm bút trên con đường tìm kiếm một phong cách riêng. Muriel Barbery, nữ nhà văn Pháp đã phần nào đạt được điều đó với cuốn tiểu thuyết thứ hai của mình: Nhím thanh lịch. Tác phẩm đứng đầu danh sách những cuốn sách bán chạy của Pháp trong 102 tuần liên tiếp kể từ khi xuất bản hồi tháng 9.2006, sau đó giành giải thưởng của Hiệp hội các nhà sách Pháp, được dịch ra sáu thứ tiếng và hiện đang được chuyển thể thành phim. Tại Hàn Quốc và Ý, cuốn sách được độc giả chào đón nồng nhiệt và say mê. Giờ đây, với bản Anh ngữ phát hành ngày 7.9 qua, Nhím thanh lịch đang theo đuổi tham vọng vốn rất khó đạt được đối với giới tiểu thuyết gia đương đại Pháp: chinh phục độc giả Mỹ. Barbery cũng thừa nhận thách thức này, “nhưng cứ xem những gì cuốn sách gặt hái được cho tới nay, tôi nghĩ mình sẵn sàng tin mọi chuyện đều có thể”, cô cho biết.  Chỉ hai năm trước, Barbery (hiện 39 tuổi) còn là giảng viên dạy triết ở vùng Normandy thuộc miền bắc nước Pháp, người mà những trang viết hư cấu trong thời gian rảnh rỗi đã làm nên một tác phẩm khá thành công năm 2000 là  Une Gourmandise. Câu chuyện về nhà phê bình ẩm thực nổi tiếng thế giới với niềm khao khát phút lâm chung là được nếm những dư vị bị lãng quên của cuộc đời, đã mang lại cho cô giải Single Award và một vài lời khích lệ từ các nhà phê bình. Sau đó, Nhím thanh lịch, cuốn sách được tuần san L’Express tán dương vì đã ngợi ca “chút thú vị của cuộc đời… với những xúc cảm phi thời gian của một Marcel Proust”, ngay lập tức đã gặt hái được thành công trên bình diện hệ tư tưởng cũng như nghệ thuật của tác phẩm. Sức hấp dẫn của cuốn sách bắt nguồn từ giọng kể lôi cuốn của nhân vật chính, Renée Michel, người gác cổng 54 tuổi làm việc tại một khu căn hộ cao cấp ở Paris, người đã cố gắng che giấu học vấn uyên bác tự trau dồi của mình trước những kẻ giàu có, hợm mình sống trong tòa nhà. *** Muriel Barbery (sinh ngày 28 tháng 5 năm 1969) là một tiểu thuyết gia và giáo viên triết học người Pháp. Cuốn tiểu thuyết năm 2006 của cô The Elegance of the Hedgehog đã nhanh chóng bán được hơn một triệu bản. Barbery sinh ra ở Casablanca, Morocco nhưng cô và bố mẹ đã chuyển đi khi chỉ mới hai tháng tuổi. Cô học tại Lycée Lakanal, vào École Normale Supérieure de Fontenay-Saint-Cloud vào năm 1990 và có được sự thăng tiến trong triết học vào năm 1993. Sau đó, cô dạy triết học tại Đại học de Bourgogne, ở một lycée, và tại Saint-Lô (Trường cao đẳng đào tạo giáo viên ở Pháp). Sau khi cô nghỉ việc, cô sống 2 năm tại Nhật Bản (2008 và 2009). Cô hiện tại đang sống ở châu Âu. Cuốn tiểu thuyết L'Élégance du hérisson của cô (được dịch sang tiếng Anh bởi Alison Anderson là The Elegance of the Hedgehog) đứng đầu danh sách bán chạy nhất của Pháp trong 30 tuần liên tiếp [2] và được tái bản 50 lần. Đến tháng 5 năm 2008, nó đã bán được hơn một triệu bản.[3] Nó đã trở thành một cuốn sách bán chạy nhất ở Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và ở nhiều quốc gia khác. Câu chuyện liên quan đến các cư dân của một tầng lớp thượng lưu ở một căn hộ Paris nhỏ. Cô và Paloma, cô con gái tuổi teen có trí tuệ (thậm chí cực đoan) của một gia đình thường trú, lần lượt thuật lại cuốn sách. Renée cũng xuất hiện ngắn gọn trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Barber, Une Gourmandise, xuất hiện trong bản dịch tiếng Anh của Anderson với tên Gourmet Rhapsody vào năm 2009.[4] The Elegance of the Hedgehog cũng được chuyển thể thành phim có tên Le Hérisson (tiếng Anh là Hedgehog) Mona Achache. Nó được phát hành vào năm 2009.   Mời các bạn đón đọc Nhím Thanh Lịch của tác giả Muriel Barbery.
Mãi Mãi Tuổi Mười Chín - Grigory Baklanov
Nhà văn Nga Grigory Baklanov sinh ngày 11-9-1923. Khi ông đến tuổi nhập ngũ, trong nước tiếng súng chiến tranh đã vang lên được hơn hai tháng, cuốn theo gần như cả thế hệ của ông. Baklanov xung phong ra mặt trận, lúc đầu là một người lính, và sau khi tốt nghiệp trường quân sự là một trung đội trưởng pháo cao xạ. Mười hai năm sau chiến tranh ông in truyện vừa đầu tiên “Hướng nam mũi đột kích chính”, tiếp theo là “Tấc đất” đã được độc giả đón nhận nhiệt liệt. Ngay lập tức giới phê bình chính thống xếp chúng vào loại “sự thật chiến hào”. Hoạt động văn học của Baklanov, tác giả các truyện vừa, tiểu thuyết, kịch bản phim, hồi ký chiến tranh, vẫn gặt hái được nhiều kết quả cho đến ngày hôm nay. *** T rận chiến đấu đã diễn ra nhiều giờ trong đám khói bụi che khuất cả mặt trời. Những chiếc xe tăng sa lầy trước hào chống tăng, chúng cố vượt qua hào, và một chiếc bốc cháy giữa cánh đồng. Nghe đâu bên cánh trái, bộ binh đang tiến, họ được trang bị áo giáp, mũ sắt, lưng che mộc sắt, ngực có áo giáp, dường như họ vượt qua hào chống tăng trước cả những chiếc xe tăng. Suốt cuộc chiến tranh Trêchiakov chưa trông thấy bộ bình ta như vậy, nhưng anh nghe nói cánh bộ binh ấy ở bên trái.   Chiếc xe tăng ba mươi tư tấn nằm bên miệng hào chống tăng bị phá hủy, bị đạn pháo cày rộng toác ra, và xác lính bộ binh nằm la liệt khắp chiến trường. Tất cả họ hòa vào cánh đồng vàng nục, ngưòi thì đội mũ ca-lô, người thì tóc húi cao gối đầu trên cỏ khô cứng, nhưng đều mặc những chiếc áo varơi cháy xém, cuộn lại vắt vai. Và không có tiếng nói của bất cứ ai — dù của trung đội trưởng, đại đội trưởng, người chỉ huy — có thể dựng họ dậy. Từ nay trở đi họ không phụ thuộc vào ai nữa, họ nằm trong cỏ trước hào chống tăng, dường như vẫn đang tiếp tục bò lên. Nghe tiếng nổ, Trêchiakov lao xuống, suýt nữa thi xéo phải một người lính bị đất sét phủ nửa người phía dưới. Cuộn dây điện màu xanh của ai đó nằm vắt ngang qua người anh ta.   Khi Trêchiakov cùng với Kưchin bò ra khỏi hào, vừa chạy trên trận địa, vừa rải dây theo, đạn réo gần đến nỗi lúc chạy đầu Trêchiakov lắc lư, như muốn dứt ra khỏi người. Một loạt pháo bất ngờ dội vào cả hai ngưòi. Trong khoảnh khắc nào đó, ngóc đầu khỏi mặt đất, anh trông thấy ở phía trước một đám tuyết đen xém giữa ngày nóng nực. Nó dựng thành bức tường dông bão cuồn cuộn và trên bức tường ấy, đàn bồ câu trắng đang bay lượn, và bỗng nhiên anh nhìn thấy một con chim trúng đạn. Lần đầu tiên trong đời Trêchiakov nhìn thấy điều đó. Chú bồ câu bay tung lên cao hơn đàn chim, quay tròn rồi rơi xuống, trên không trung chỉ còn những chiếc lông rụng từ đôi cánh giang rộng. Thế là cái lạnh tràn qua khắp tim anh: «Hôm nay nó sẽ giết mình!» — Anh chợt nghĩ và tự thấy hoảng sợ, vì đã nghĩ vậy. Và lát sau, anh chồm dậy chạy trên trận địa, tay giữ khẩu tiểu liên. Lính bộ bình khoác áo varơi đang khom người chạy phía trước, bỗng trở nên sáng trắng trước bức thành mây đen ngòm, giống như trên phim ảnh âm bản.   Trêchiakov hụp đầu trong khói súng, khi ngã xuống anh vẫn nghe thấy tiếng đạn cối đang bay xuống thấp. Và cả tiếng rên rỉ của ai đó ở ngav bên cạnh, nghẹn ngào, rên rỉ: «Ôi! Ối Ối! Ối giời ơi! ». Đạn cối nổ dữ đội hơn, Tiếng rên rỉ càng đau đớn hơn. Và còn nghe thấy hai giọng nói gầm lên vội vã: «Này, đã bảo...Đứa đây!». «Đưa cho ngay đấy... đưa ngay đấy….   Mời các bạn đón đọc Mãi Mãi Tuổi Mười Chín của tác giả Grigory Baklanov.
Con Lắc Của Foucault - Umberto Eco
Casaubon, một chuyên gia về các hiệp sĩ dòng Đền thời trung cổ, cùng với Diotalevi và Belbo, hai biên tập viên một nhà xuất bản ở Milan, Ý, nghe kể về một thông điệp được mã hóa nói về một âm mưu bí mật của các hiệp sĩ dòng Đền. Hứng thú bởi câu chuyện, họ liền bịa ra cái họ gọi là “Kế hoạch”, một thứ mà họ nghĩ là hoang đường, một mưu đồ vĩ đại kết nối các hiệp sĩ dòng Đền với nhiều nhóm bí truyền khác ở nhiều quốc gia xuyên qua nhiều thế kỷ với mục tiêu chiếm lĩnh Thế giới! Nhưng rồi, cái âm mưu mà họ nghĩ là sản phẩm hoàn toàn do họ tưởng tượng ra ấy rốt cuộc lại dẫn tới một kết cục đáng sợ trong thế giới thực, một kết cục mà họ không ngờ nổi và không người đọc nào ngờ nổi. Nếu đã say mê Tên của đóa hồng của Umberto Eco bởi sức hấp dẫn lạ kỳ của nó, bạn sẽ khó mà cưỡng được Con lắc Foucault, một cuốn thriller khác cũng “chẳng giống ai” của ông. Có lẽ, Umberto Eco muốn trao cho độc giả một cuốn sách để họ có thể thốt lên sau khi đọc xong: “Tôi đã đi cùng khắp, kiếm sự an bình, rốt cuộc chỉ tìm thấy nó khi ngồi ở một góc phòng với một quyển sách mà thôi.” Lồng trong một cốt truyện trinh thám hấp dẫn về những tội ác khủng khiếp đầy ám ảnh diễn ra trong bóng tối nhà thờ, được dẫn dắt bằng tài kể chuyện siêu việt, trên nền cuốn tiểu thuyết lịch sử uyên bác, đồ sộ và đầy tính biểu tượng, chứa đựng những kiến thức văn hóa, triết học, nghệ thuật và tôn giáo sâu rộng,  Ngay từ khi xuất bản lần đầu vào năm 1980, tiểu thuyết đầu tay của triết gia mỹ học hàn lâm, nhà bác học, nhà lý luận lừng danh thế giới Umberto Eco đã lập tức thành công vang dội, trở thành “cú sốc của tiểu thuyết đương đại”, một “siêu tiểu thuyết” được cả độc giả của văn chương bình dân lẫn bác học đón nhận nồng nhiệt khắp năm châu. *** Nhận định: “Cũng kiệt xuất và khó lường như Tên của đóa hồng, cũng ma mãnh và thông kim bác cổ y như thế… Một màn trình diễn của bậc cao thủ.” - San Francisco Chronicle Chính là để cho các người, những đứa con của học thuyết và tri thức, mà bọn ta viết ra cuốn sách này. Hãy nghiên cứu nó, nghiền ngẫm ý nghĩa mà bọn ta đã gieo ở nhiều chỗ khác nhau rồi tập hợp lại: thứ bọn ta phong kín ở nơi này thì bọn ta lại hé lộ ở nơi khác, để trí tuệ của các người thấu tỏ. − Heinrich Cornelius Agrippa von Nettesheim, De occulta philosophia, 3.65 Dị đoan mang tới vận xui. − Raymond Smullyan, 5000 TCN, 1.3.8 “Lôi cuốn... Câu chuyện công phu của Eco thật tuyệt vời. Ngày giờ trôi đi theo dòng tưởng tượng.” - New York Times “Cuốn truyện của Eco như được hợp lực tạo nên bởi chính Arthur Conan Doyle và Thomas Mann. Một khi đã lật trang thứ nhất, thì nhất định không thể dừng đọc.” - Greensboro News “Tác phẩm tuyệt vời của một học giả biết cách dẫn dắt câu chuyện... Kinh ngạc ... mê đắm ... siêu việt.” - Houston Chronicle “Một loại tiểu thuyết làm đổi thay đầu óc người đọc... dẫn dắt chúng ta bước vào một thế giới kinh viện vừa thiêng liêng vừa đen tối với nhiều Giáo hoàng và những tên phản Chúa...” - Los Angeles Times “Câu chuyện đạo lý sống động về lòng cuồng tín, kinh sách và cuộc truy tầm chân lý...” -  Newsday *** Umberto Eco sinh ngày 5 tháng 1 năm 1932 tại Alessandria, Ý, hiện sống ở Milan. Thiên hướng đã thôi thúc ông làm trái ý cha, từ bỏ khoa Luật, chuyển sang nghiên cứu triết học và văn học Trung Cổ tại Đại học Turin. Trong thời gian này Umberto Eco trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin, trở thành người vô thần và từ bỏ Giáo hội Công giáo. Năm 1954, ông bảo vệ luận văn về Thomas xứ Aquino (Nhà thần học Công giáo nổi tiếng nhất thời Trung Cổ), đạt học vị tiến sĩ triết học. Umberto Eco là nhà văn, nhà lý luận, triết gia, nhà ký hiệu học lừng danh – người từng là biên tập viên các chương trình văn hóa của Đài truyền hình quốc gia Ý (RAI), là người viết bình luận của tờ báo lớn nhất nước Ý L’Espresso, là giáo sư ký hiệu học của Đại học Bologne, dạy mỹ học và văn hóa học tại các trường đại học Milan, Florence, Turin, tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học nước ngoài. Tờ Los Angeles Times đánh giá ông là "một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất trong thời đại của chúng ta." Những tiểu thuyết đã vinh danh cho tên tuổi của ông: Tên của đóa hồng (Il nome della rosa-1980); Quả lắc của Foucault (Il pendolo di Foucault - 1988); Hòn đảo ngày xưa (L'isola del giorno prima - 1994); Baudolino(2000); Ngọn lửa bí ẩn của nữ hoàng Loana (La misteriosa fiamma della regina Loana - 2004); Nghĩa địa Praha (Il cimitero di Praga - 2010); ...   Mời các bạn đón đọc Con Lắc Của Foucault của tác giả Umberto Eco.