Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Con Gái Của Mẹ

Con gái của mẹ là một cuốn tiểu thuyết được kết tinh bởi nước mắt, dằn vặt và một bí mật bị chôn vùi trong suốt nhiều năm. Câu chuyện xoay quanh cuộc sống khốn khổ của ba người phụ nữ vì sự trớ trêu của số phận và lời nói dối kéo dài gần bốn thập kỷ.   “Khi tôi nhìn thấy khuôn mặt bé con của mình lần đầu tiên, tôi đã cố gắng hết sức để lưu giữ hình ảnh ấy khắc sâu vào trong tim. Khi con bé bị đưa đi, tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy nó nữa…” 38 năm sau Sabina, cô gái nhỏ bé năm nào mang thai thiên thần của riêng mình và cô không hiểu sao một người mẹ lại có thể bỏ rơi đứa con của mình và tại sao bố mẹ cô lại giữ bí mật về chuyện đó. Sabina quyết tâm tìm kiếm người phụ nữ đã từng vứt bỏ mình. Nhưng những thứ cô khám phá ra lại khiến mọi thứ thay đổi, ngoại trừ việc người phụ nữ ấy vẫn đau đáu nhớ thương cô suốt những năm qua. *** Tôi vô cùng may mắn khi lại được hợp tác với đội ngũ của Bookouture để cho ra đời cuốn sách này, đặc biệt là Oliver Rhodes - tôi không biết cảm ơn sao cho đủ. Emily Ruston, cảm ơn cô rất nhiều vì đã kiên trì hỗ trợ, nhất là khi tôi bí ý tưởng. Và Jennie Ayers, cảm ơn bạn vì công tác biên tập xuất sắc. Về phần bạn bè và gia đình, những người đã đóng góp ý tưởng và phản hồi cho những bản thảo đầu tiên - Melissa, Tracy, mẹ, dì Chris và Jodie - cảm ơn mọi người. Và Sally - cảm ơn cặp mắt tinh tường của cháu! Về phần ‘Phocas phamily’ của tôi - đặc biệt là Cody, Bill và Val - cảm ơn vì sự ủng hộ của các bạn. Khi phải chịu sức ép từ một câu chuyện, tôi có thể bị ám ảnh, gắt gỏng và khó gần - vậy nên lời cảm ơn to lớn nhất xin dành cho Dan - chồng tôi, những đứa con tuyệt vời của chúng tôi, bạn bè và gia đình tôi - những người luôn kiên nhẫn - cảm ơn tất cả mọi người đã chịu đựng tôi trong suốt quá trình thực hiện cuốn sách. Và cuối cùng, xin lưu ý: mặc dù nhiều nhà hộ sinh hay nhà cho ‘mẹ và bé’ tồn tại ở Úc cho tới nửa sau thế kỷ XX, song bối cảnh của cuốn tiểu thuyết này (‘Nhà hộ sinh thành phố Orange’) chỉ là một địa điểm hư cấu. *** Trong gia đình tôi, ai cũng biết rõ một sự thật, đó là tôi không giỏi giữ bí mật. Tôi nhớ từ trước tới nay, chỉ có hai lần tôi giữ được điều gì đó thú vị cho bản thân. Lần đầu là khi tôi phải lòng người bạn thân. Chúng tôi ra ngoài ăn tối với một nhóm bạn và khi đang thưởng thức món khai vị, tôi bắt gặp anh đang nhìn tôi chăm chú với tình yêu và niềm kiêu hãnh, đến mức ánh mắt ấy có thể làm tôi tan chảy. Tôi cố gắng giữ phát hiện đáng ngạc nhiên đó cho mình trong vài giờ - nhưng ngay khi những người khác vừa về khỏi, tôi lại buột miệng kể ra trong khi đang nói về một chuyện hoàn toàn không liên quan. Ted bảo rằng suốt buổi tối, tôi đã tránh ánh mắt anh, làm anh thắc mắc mãi. Anh bảo dù tôi không nói ra những điều thầm kín, nhưng đôi mắt tôi lại không vâng lời… nếu tối hôm đó, chỉ cần tôi nhìn anh, thì tôi sẽ không cần phải nói thêm lời nào. Tôi cho rằng chính vì cái lịch sử giữ bí mật tồi tệ như vậy nên cũng thật ngạc nhiên tôi có thể giấu mẹ tròn hai ngày việc tôi mang thai. Biết tôi không giữ mồm giữ miệng, chúng tôi phải luôn đề phòng - tôi mời cha mẹ tới ăn tối và ngay khi chúng tôi thống nhất ngày giờ xong, Ted lấy di động của tôi và giấu biến đi. Kể cả không dùng tới biện pháp cực đoan như vậy, tôi cũng chắc chắn lần này, mình sẽ giữ được bí mật. Tôi muốn lời thông báo phải thật đặc biệt. Là con một, tôi vẫn luôn cảm thấy một áp lực vô hình là phải cho họ một đứa cháu. Cha mẹ chưa từng đề cập với tôi về việc lập gia đình và sinh con, nhưng ở tuổi gần 40, tôi thấy bạn bè họ đều có một đàn cháu tíu tít, ồn ào. Họ trao đổi những câu chuyện tự hào khi được làm ông bà chẳng khác nào trẻ con trao đổi thẻ trò chơi và cho đến thời điểm đó, cha mẹ tôi thì chẳng có gì để kể ngoài những câu chuyện về sự nghiệp giảng dạy không ấn tượng lắm của tôi và những chuyến du lịch với Ted. Sẽ thật tuyệt nếu cha mẹ dùng bữa với chúng tôi rồi sau đó, trong lúc uống cà phê, chúng tôi sẽ lịch sự thông báo, nhưng chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Thay vào đó, tôi đứng ở cửa chào họ với hai hộp quà được bọc kĩ càng và hẳn là kèm một nụ cười tươi khó hiểu còn mắt thì đẫm lệ. “Sabina, mọi việc đều ổn chứ con? Cái này để làm gì?” Mẹ do dự đón lấy chiếc hộp. Mẹ dùng tay kia treo túi xách lên giá áo gần cửa ra vào rồi cẩn thận tháo khăn quàng và móc lên trên cùng. Cha bước vào sau và đặt một nụ hôn phớt như thường lệ lên má tôi, sau đó nhận món quà và tò mò lắc hộp. “Cha à! Đồ dễ vỡ đấy!” Tôi bật cười, tay thiếu kiên nhẫn giơ lên giục họ đi vào trong để đóng cửa. Tôi thấy họ trao nhau ánh nhìn bối rối và cảm thấy đôi gò má mình căng ra vì cười nhăn nhở. “Hai người ngồi xuống và mở hộp đi ạ. Ôi, nhanh lên nào!” Ted đứng trong góc nhà quan sát - góc mà chúng tôi trưng dụng làm bếp. Anh đang kiểm tra món ăn công phu mà tôi chuẩn bị dở trước khi bị phân tâm vì loay hoay thắt ruy-băng thật chỉnh tề trên những hộp quà. Chồng tôi có những biểu hiện kỳ lạ từ sáng hôm kia, khi chúng tôi đứng trong phòng tắm chứng kiến hai vạch hiện lên trên que thử thai. Ted rất hồi hộp và phấn chấn, đúng như tôi mong đợi, nhưng tôi không ngờ anh lại vui sướng đột ngột vậy. Chúng tôi đã sẵn sàng cho chuyện này, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Khi cha mẹ đã yên vị và bắt đầu tháo ruy-băng trên hộp quà, Ted dựa vào bức tường cạnh lò nướng và khoanh tay trước ngực. Anh nhìn tôi và tôi cảm nhận được niềm vui tràn ngập giữa chúng tôi. Chúng tôi đã giữ được một bí mật trong tim đến tận phút cuối mà không ai biết. Cha mở hộp trước. “Một chiếc cốc ư?” ông bối rối nói. Ông xoay chiếc cốc trắng và thấy dòng chữ ở bên kia chiếc cốc. Ông ngoại tuyệt vời nhất thế giới. Cha choáng váng nhìn tôi, rồi suýt làm rơi cốc vì chạy như bay tới ôm tôi. “Sabina! Ôi, con yêu!” Đúng như dự đoán, tôi cười và rớt nước mắt thấm vào vai áo cha khi nghe ông phát biểu cảm tưởng về tin vui này. “Con biết tin từ khi nào?” “Mấy hôm trước ạ.” “Vậy khi nào con bé ra đời?” “Con bé?” tôi bật cười. “Nó sẽ ra đời vào tháng Mười Một ạ.” “Hai con đã nghĩ tới chuyện đầu tư vào trái phiếu giáo dục chưa? Chẳng bao giờ là quá sớm đâu. Các ưu đãi thuế cũng rất lớn đấy. Tuần tới, cha sẽ gửi ít thông tin qua mail cho các con. Sabina, ngồi xuống nào, con cần nghỉ ngơi. Có rượu sâm panh chưa? Chúng ta cần sâm panh, một dịp như thế này không thể thiếu một chút Moët* được. Cha sẽ đi mua.” Cha nhẹ nhàng dìu tôi ngồi xuống đi-văng, giờ tôi mới liếc nhìn mẹ. Bà đã mở xong món quà và đang ngồi thần người trên ghế sofa. Bà cầm chiếc cốc, khum tay lại và chống khuỷu tay lên đùi. Đôi gò má bà hồng ửng lên, đôi mắt bà ánh lên một sự căng thẳng lạ lùng. “Megan? Mẹ không sao chứ ạ?” Ted rời góc bếp và nhanh chóng đến bên sofa và ngồi cạnh mẹ. Bà hơi run rẩy rồi dành cho Ted và tôi một nụ cười rạng rỡ. “Đây đúng là một tin vui. Mẹ rất mừng cho hai con. Mẹ không… cha mẹ thậm chí còn không biết rằng hai con đã nghĩ tới việc có con.” “Mẹ à, con đã 38 tuổi rồi. Chúng con đã kết hôn, có sự nghiệp ổn định, đã đi khắp thế giới và giờ đây, chúng con đã có một tổ ấm tại Sydney… Còn chờ đợi gì nữa?” “Con nói đúng. Tất nhiên là con nói đúng.” Bà quay lại nhìn chiếc cốc và nói nhỏ, “Nhưng 38 hay 98 đi nữa, con vẫn sẽ luôn là đứa con bé bỏng của mẹ.” “Ồ, vui lên nào, Meg,” cha đứng dậy và rờ vào túi sau tìm chìa khóa. “Bà sẽ sớm có một đứa bé thực thụ để chơi đùa cùng. Tôi đi mua sâm panh đây. Đi với cha chứ, Ted?” “Em để ý rau nhé, Hạt Đậu?” Tôi vẫn đang quan sát mẹ. Mẹ lại đang nhìn chiếc cốc. Tôi gật đầu và mỉm cười với Ted, nhưng ngay sau khi cha bước ra ngoài, tôi dùng vai ra hiệu về phía mẹ. Ted nhún vai và tôi nhăn mặt đáp trả cái nhìn bối rối của anh. Khi chỉ còn hai mẹ con, tôi quyết định giải quyết dứt điểm những căng thẳng. “Mẹ, trông mẹ có vẻ không vui lắm.” “Dĩ nhiên là mẹ phải vui chứ.” Mẹ đặt chiếc cốc vào hộp và đứng dậy, bước qua căn phòng nhỏ hẹp, chỉ trong vài bước chân đã tiến vào bếp và phòng ăn của chúng tôi. Bà đặt chiếc hộp lên bàn ăn và nhìn nó đăm đăm. “Con nói con có thai bao lâu rồi?” “Tám tuần, con nghĩ vậy. Tuần tới, con sẽ siêu âm cho chắc chắn, nhưng bác sĩ nghĩ là con sẽ sinh vào tháng Mười Một.” “Con yêu!” Mẹ quay lại nhìn chằm chằm vào tôi. “Đáng lẽ con chưa nên nói cho mọi người. Giờ chỉ mới mang thai tám tuần, không có gì đảm bảo rằng sẽ mẹ tròn con vuông.” Tôi thấy toàn thân choáng váng khủng khiếp trước những lời tàn nhẫn đó. Trong giây lát, tôi không biết nên phản ứng thế nào. Những lời của mẹ thật độc ác cùng giọng điệu sắc sảo - bà đang cảnh báo tôi. Tôi chưa từng mảy may nghĩ cái thai có thể có vấn đề gì… và làm sao có thể thế được? Tôi chưa bao giờ mang thai, tại sao tôi lại nghĩ đến điều tồi tệ nhất chứ? Tôi không chắc lúc này sắc mặt tôi thế nào, nhưng tôi ngay lập tức kìm nén nước mắt. Mẹ cau mày, tôi thấy bà siết chặt nắm tay và hít một hơi thật sâu. Mời các bạn đón đọc Con Gái Của Mẹ của tác giả Kelly Rimmer.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Con Chó Nhỏ Mang Giỏ Hoa Hồng - Nguyễn Nhật Ánh
Sách Nói Con Chó Nhỏ Mang Giỏ Hoa Hồng   Con Chó Nhỏ Mang Giỏ Hoa Hồng là tác phẩm mới nhất của nhà văn chuyên viết cho thanh thiếu niên Nguyễn Nhật Ánh, nối tiếp sau Bảy bước tới mùa hè, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh… gây sóng gió thị trường sách năm 2015. 5 chương sách với 86 câu chuyện cực kỳ thú vị và hài hước về 5 con chó 5 loài 5 tính cách trong 1 gia đình có 3 người đều yêu chúng nhưng theo từng cách riêng của mình. Các câu chuyện về tình bạn giữa chúng với nhau, giữa chúng với chị Ni, ba mẹ, khách đến nhà… thực sự mang lại một thế giới trong trẻo, những đoạn đời dễ thương quyến rũ tuổi mới lớn. Một quyển sách lôi cuốn viết cho tất cả chúng ta: trẻ con và người lớn. Cuộc đời của 5 con chó nhỏ: Haili, Batô, Suku, Êmê và Pig  được tái hiện như đời sống của mỗi con người: tình bạn, tình yêu, đam mê, lòng dũng cảm, sự sợ hãi, và những ước mơ... *** Suku là một thằng cún nói chung ai nhìn cũng thích. Đôi mắt tròn, đen lay láy, ngây thơ ngơ ngác, mỗi khi nhin ai là khiến người ta phải động lòng. Cún là theo thói quen hồi bé, chứ thật ra chúng tôi đã sống bên nhau nhiều năm rồi, tóm lại đã qua tuổi vị thành niên từ lâu. Dù vậy, so với thời niên thiếu bộ dạng của thằng suku không thay đổi là mấy. Nó chỉ có béo lên vì ăn nhiều quá. Suku có đôi tai dài. Lông nó màu trắng, óng ánh và xoăn từng cụm, phủ dày từ chỏm đầu đến tận các ngón chân - trông nó giống hệt một con cừu. Khi nó nằm im, rất nhiều người tưởng nó là một con chó nhồi bông. Suku xinh đẹp như thế, tiên nhiên ai cũng muốn vuốt ve. Rất nhiều người bị bề ngoài của nó đánh lừa, nhưng chuyện đó tôi kể sau. Như đã nói, thằng suku bây giờ trông bảnh bao, nhưng đã bắt đầu ục ịch. Lý do thì ai trong nhà cũng có thể chỉ ra: Suku không những ăn nhiều mà khẩu vị của nó có thể dung nạp mọi thứ thức ăn, mọi loại mùi vị. Những con chó khác, như con Haili con Pig, con Êmê và cả tôi nữa chỉ ăn những thứ gì mình thích. Suku thì khác. Nó ăn cơm, ăn xương, ăn bánh, ăn kẹo, ăn mọi thứ trái cây, nói chung thứ gì dạ dày tiêu hóa được là nó không bao giờ từ chối. Có vẻ như nó có thể nói "không" với tình yêu chứ nhất định không bao giờ nói "không" với thức ăn. Chị Ni đặt cho nó biệt danh là "cỗ máy nghiền". ... Mời các bạn đón đọc Con Chó Nhỏ Mang Giỏ Hoa Hồng của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.
Điệu Valse Giã Từ - Milan Kundera
"Điệu valse giã từ" là tác phẩm thứ ba của nhà viết tiểu thuyết trứ danh người Czech Milan Kundera, người từng được độc giả VN hâm mộ qua "Sự bất tử", "Cuộc sống không ở đây"... Một câu hỏi đi suốt cuốn sách: Phần nhân tính trong con người còn được bao nhiêu? Có những nhân vật được dựng lên như một cái cớ để cuốn các nhân vật khác vào chính tâm điểm của đời họ. Ba nhân vật chính, thương gia người Mỹ Bertlef, tay trí thức Jakub và bác sĩ Skreta xoay mòng mòng quanh cái trục cám dỗ của ba người đàn bà: Nữ y tá Ruzena, cô sinh viên Olga và cựu ca sĩ Kamila. Khi bị cuốn vào cơn mê sảng vô thức này, mỗi nhân vật chính đều lần lượt tìm ra cách thức di chuyển, dời gót hay những nhịp điệu riêng cho điệu valse tâm trạng lạ lùng của họ, một điệu valse với ma quỷ nhưng đủ sức giúp họ nhìn thấy con người thực của mình. Mỗi người tự cho mình là một vị chúa của chính bản thân họ. Cuối cùng để làm gì?  Không ai thoát khỏi định mệnh, khỏi điệu valse khắc nghiệt của cuộc đời. Khi nhảy với ma quỷ, họ ngỡ mình là Thượng đế, nhưng khi điệu valse kết thúc, họ trở lại là những con người bất hạnh, hoài nghi, bất an hoặc không kiên định. Thứ âm nhạc phát ra từ điệu valse ấy chính là tinh thần cuộc sống, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực của nó, có thể lột trái bản chất của từng con người ấy ra. Đó là thái độ thờ ơ trước cái chết của kẻ khác, những kẻ giết người trá hình, gián tiếp mà lương tâm không hề cắn rứt, là những trạng huống phi lý mà khi lạc vào đó, con người trở nên độc ác và không thoát khỏi mê lộ của sự sinh sát, huỷ diệt trong chính tâm hồn họ. Nhưng có một điều an ủi lớn lao là trước khi rời khỏi thành phố để ra nước ngoài, nhân vật nhiều chất suy tư Jakuk đã nhìn thấy cái đẹp cao quý, thánh thiện ẩn trong con người Kamila. Thế là đủ cho anh dấn bước vào một tương lai trước mặt. Có cảm giác chính Milan Kundera ưu ái chạm trổ nhân vật này, vì cuộc đời ông cũng tha hương đi tìm một chân trời khác. Tương tự như thế giới đàn ông, thế giới phụ nữ cũng có những mặt xấu, nhưng bản chất của họ dù là suối nguồn bị ô nhiễm nhưng có thể cứu vãn được. Họ vẫn còn những bản năng tốt đẹp để giúp người khác nhận ra những giá trị thực trên đời. Bản dịch của Cao Việt Dũng (cũng là người đã dịch "Cuộc sống không ở đây") khá nhuần nhuyễn, dễ hiểu, không rườm rà. Đây là giai đoạn đầu trong quá trình đổi mới cách thức viết tiểu thuyết, mang lại cho tiểu thuyết một sức sống mới trong bút pháp của Kundera, nên chưa đến nỗi phức tạp. Song chính bậc thầy tiểu thuyết hiện đại này đã nói: "Tinh thần tiểu thuyết là tinh thần của sự phức tạp. Mỗi tiểu thuyết nói với độc giả: Sự đời phức tạp hơn là anh tưởng". *** Bắt đầu mùa thu, cây cối khoác màu vàng, đỏ, nâu; trong thung lũng xinhđẹp, thành phố nước nóng dường như đang chịu một trận cháy. Dưới những mái vòm, nhiều phụ nữ đến và đi, tập trung bên những dòng suối. Đó là những người phụ nữ không thể có con, hy vọng nước nóng sẽ ban cho mình khả năng sinh đẻ. Trong số những người dưỡng bệnh tại đây có ít đàn ông hơn nhiều, nhưng dẫu sao vẫn có, vì hình như nước nóng ngoài công dụng phụ khoa còn tốt cho tim mạch. Dù thế, cứ chín phụ nữ một có một đàn ông, tỉ lệ này gây ra nỗi lo sợ lớn lao cho cổ gái trẻ độc thân làm y tá ở đây, những người trông coi bể bơi dành cho phụ nữa đến chữa bệnh hiếm muộn! Ruzena sinh ra ở đây, ở đây cô có bố mẹ. Liệu có bao giờ cô thoát khỏi được nơi đây, cái nơi nhung nhúc toàn phụ nữ này không? Đang là thứ hai và ngày làm việc sắp kết thúc. Chỉ còn lại vài bà béo quấn mình trong khăn tắm, duỗi dài trên giường trị liệu, công việc là lau mặt và mỉm cười với họ. - Thế nào, cô sẽ gọi điện chứ? – Các đồng nghiệp hỏi Ruzena, một trong số đó là một phụ nữ phì nhiêu tuổi trạc bốn mươi, người còn lại trẻ hơn và gầy gò. - Tại sao không nhỉ? – Ruzena đáp. - Thế thì gọi đi! – Người phụ nữ tứ tuần nói, và dẫn cô ra sau dãy phòng thay áo, tại đó các y tá có tủ, bàn và điện thoại. - Gọi thẳng đến nhà ông ta ấy – người gầy gò lưu ý một cách độc ác, và cả ba người phì cười. - Em chỉ biết số nhà hát thôi – Ruzena nói khi tiếng cười đã lắng xuống. Đó là một cuộc nói chuyện khủng khiếp. Ngay khi nghe giọng Ruzena trong máy, anh đã cảm thấy lo sợ. Phụ nữ thường xuyên làm anh sợ, tuy nhiên không cô nào chịu tin vào điều dó, nếu anh cứ khăng khăng thì họ sẽ coi đó là một sự giận hờn vớ vẩn. - Em thế nào? – anh hỏi. - Không khoẻ lắm – cô đáp. ... Mời các bạn đón đọc Điệu Valse Giã Từ của tác giả Milan Kundera.
Người Phàm - Philip Roth
Tên của cuốn tiểu thuyết mỏng viết bởi một trong những nhà văn đương đại vĩ đại nhất nước Mỹ này được đặt theo tên một vở kịch dụ ngôn khuyết danh từ thế kỷ mười lăm. Nhưng không hẳn như vở kịch ấy, Người phàm của thời hiện đại này là một nghệ sĩ thị trường làm việc cho một hãng quảng cáo ở New York, với ba cuộc hôn nhân thất bại, ba người vợ hoàn toàn khác nhau, hai đứa con trai căm ghét ông, một cô con gái yêu thương ông hết mực, một tuổi trẻ sống động theo sau đó là cuộc vật lộn dai dẳng với bệnh tật và tuổi già dưới hình hài vô số lần phẫu thuật, sáu ống stent và máy khử rung tim. Philip Roth đã lần theo số phận của Người phàm này từ lần chạm trán choáng váng với cái chết trên bờ biển New Jersey êm đềm thời thơ ấu tới những năm tháng sau này, khi ông chứng kiến sự lụi tàn của sinh mệnh ở những người cùng thời mình, sự hủy hoại của sức khỏe bản thân, và cả lòng tự tin cùng niềm hy vọng vẫn thường đi kèm sức khỏe ấy. Thông qua người đàn ông không mang tên này, Philip Roth đã kể một câu chuyện vừa riêng tư vừa phổ quát về đời người, về mất mát, về tội lỗi, về ân hận, về nỗi sợ hãi, về lòng ham sống và can đảm vô song của con người trong hành trình đi tới đích cuối của số phận.   ***   Nhận định   “Cuốn sách nhỏ tinh tế này lấp lánh những bí ẩn và hối tiếc của cả một đời người…” - Lionel Shriver, Daily Telegraph   "Nếu ta tìm chỉ một nhà văn xuất sắc nhất trong vòng hai mươi lăm năm qua, [Roth] sẽ là người chiến thắng.” - Nhà phê bình A.O. Scott, New York Times   “Rất hiếm nhà văn có thể viết sống động như Roth về sức tàn phá của các cuộc hôn nhân thất bại và thuyết phục như Roth về sự bất khả của lòng chung thủy hay tình yêu.” - Tim Adams, Obserbver   “Văn phong của Roth có vẻ thẳng thắn không thỏa hiệp, nhưng thực ra tinh tế và khéo léo… Một câu chuyện nhân bản dành cho thời đại chúng ta.” - A.S. Byatt, New Statesman   “Thiên tài của cuốn tiểu thuyết ngắn ảm đạm nhưng xuất sắc này đến từ cái cách Roth chuyển những nhận định u sầu của mình về cái chết thành một điều mang lại sức mạnh: sự chấp nhận đầy giận dữ rằng đạo đức là cái giá ta cần trả để có được cái kỳ quan tối thượng mang tên cuộc sống ấy.” - Douglas Kennedy, Times *** Philip Milton Roth (sinh ngày 19/3/1933) tại New Jersey, Mỹ trong một gia đình Do Thái nhập cư. Ông tốt nghiệp ngành Ngữ Văn tại Đại học Bucknell, tiếp đó học cao học Văn chương Anh tại Đại học Chicago. Roth dạy sáng tác tại Đại học Iowa và Đại học Princeton. Sự nghiệp học thuật của ông tiếp tục tại Đại học Pennsylvania cho tới khi về hưu vào năm 1991. Trong khi ở Chicago, Roth đã gặp Saul Bellow và Margaret Martinson Williams, người sau này trở thành vợ ông. Cuộc chia tay với Margaret năm 1963, cùng cái chết của bà năm 1968 đã để lại rất nhiều dấu ấn trong các tác phẩm của Roth, đặc biệt là trong When She Was Good và My Life As a Man. Trước khi được xuất bản cuốn sách đầu tiên vào năm 1959, Roth có hai năm phục vụ trong quân đội và từng viết nhiều truyện ngắn, phê bình cho tạp chí. Mãi đến năm 1990, ông mới tái hôn với người bạn lâu năm, Claire Bloom, một diễn viên người Anh. Năm 1994 họ chia tay và hai năm sau Bloom xuất bản một cuốn hồi ký miêu tả chi tiết cuộc hôn nhân ấy. Nhiều nhà phê bình cho rằng một vài chi tiết trong I Married a Communist đã được viết để phản đối những lời buộc tội đưa ra trong hồi ký của Bloom. Philip Roth là nhà văn đương đại lớn của Mỹ với hai lần được tặng giải thưởng National Book Award, hai lần nhận giải National Book Critics Circle Award (do giới phê bình trao), và ba lần nhận giải PEN/Faulkner Award. Năm 1998, ông nhận giải Pulitzer cho tiểu thuyết American Pastor, khắc họa nhân vật nổi tiếng nhất của ông: Nathan Zuckerman. Cùng năm đó, Philip Roth lại được vinh danh bằng Huân chương Nghệ thuật Quốc gia cao quý tại ngay Nhà Trắng. Năm 2001, The Human stain, một tiểu thuyết nữa về Zuckerman, đã giành được giải WH Smith Literary Award của Anh. Sau đó một năm, ông nhận được giải thưởng cao nhất của Viện hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Mỹ - Huân chương Vàng Tiểu thuyết - giải từng được trao cho John Dos Passos, William Faulkner và Saul Bellow. Năm 2005, The Plot Against America nhận được giải của Hội sử gia Mỹ cho "cuốn tiểu thuyết lịch sử xuất sắc có chủ đề nước Mỹ năm 2003-2004", đồng thời được hơn một tờ báo lớn bình chọn là tiểu thuyết xuất sắc nhất năm. Tại Anh, The Plot Against America cũng giành giải WH Smith Literary Award, biến Roth trở thành nhà văn đầu tiên hai lần đoạt giải trong suốt bốn mươi sáu năm lịch sử giải này. Năm 2005, Philip Roth trở thành nhà văn Mỹ thứ ba được Library of America xuất bản toàn tập ngay từ khi còn sống. Tập thứ tám dự kiến sẽ ra đời vào năm 2013. Đây, nơi con người ngồi nghe tiếng nhau than thở; Nơi sự tê liệt làm run rẩy nhúm tóc bạc buồn bã cuối cùng, Nơi tuổi trẻ úa tàn, mong manh như bóng ma rồi lụi tắt; Nơi chẳng thể nghĩ gì ngoài nỗi sầu muộn chứa chan... - JOHN KEATS, "Tụng ca một chú Sơn ca" Mời các bạn đón đọc Người Phàm của tác giả Philip Roth
Những Đốm Lửa Lưu Lạc
"Đôi khi người ta cần phải cắt đứt quan hệ với những nơi họ sinh ra, với quá khứ của chính họ và bắt đầu lại từ đầu. Giống như những ngọn lửa thảo nguyên. Sau khi lửa thiêu rụi, đất sẽ màu mỡ hơn và những thứ mới mẻ có thể sinh sôi." Ở Shaker Heights, một vùng ngoại ô cấp tiến và yên bình, mọi thứ đều tuân theo trật tự định sẵn - từ cách bố trí các con đường quanh co, màu sắc của những ngôi nhà, đến sự sung túc, thịnh vượng của cư dân trong vùng. Không ai hiểu rõ điều ấy như Elena Richardson. Thế nhưng, sự xuất hiện của người mẹ đơn thân Mia Warren cùng cô con gái tuổi teen Pearl đã làm thay đổi cuộc sống của gia đình Richardson, gây xáo trộn cộng đồng vốn nề nếp đến từng chi tiết này. Một câu chuyện xúc động về sự gắn kết mãnh liệt của tình mẫu tử, sức nặng của những bí mật, bản chất của nghệ thuật và tính đồng nhất trong một cộng đồng, như những ngọn lửa âm ỉ ủ trong vẻ ngoài tĩnh lặng, cứ chực chờ bùng cháy. "Dí dỏm, thông minh và êm ái. Thật là một điều kỳ diệu." - Paula Hawkins "Phi thường! Những quyển sách thế này không thường xuất hiện." - John Green *** Có quá nhiều câu hỏi về hạnh phúc trong tiểu thuyết “Những đốm lửa lưu lạc” của tác giả người Mỹ gốc Hoa Celeste Ng. Ðây là tác phẩm day dứt về gia đình và cả bản ngã của mỗi người. Sách do NXB Phụ nữ phối hợp với Phương Nam Book phát hành năm 2019. Mở đầu câu chuyện là vụ hỏa hoạn thiêu rụi căn nhà của gia đình Richardson, may mắn không ai thiệt mạng hay bị thương. Từ đây, những chuyện xảy ra trước đó được kể lại. Lần lượt từng gia đình, nhân vật được khắc họa, mở ra nhiều bí mật, bất ngờ. Hai mẹ con Mia Warren và Pear đi khắp nơi bằng chiếc xe tải chất đầy đồ đạc và đổi chỗ ở liên tục. Nhưng đến vùng ngoại ô Shaker Heights, thuê được căn hộ tốt của ông bà Richardson với giá bình dân, cuộc sống của họ ổn định hơn. Khi thấy con gái Pear gắn bó và vui vẻ khi ở cạnh gia đình Richardson, người mẹ đơn thân Mia quyết định sẽ ở hẳn nơi này. Thế nhưng, mối quan hệ giữa những đứa con vị thành niên của hai nhà, rồi việc ông bà McCullough, một gia đình hàng xóm hiếm muộn, nhận con nuôi, bị vướng vào kiện tụng với mẹ ruột đứa trẻ; đã khiến mọi chuyện phức tạp, dẫn đến kết cục không ngờ. Tác phẩm có nhiều nhân vật, nhiều chi tiết, nhưng tác giả đã khéo léo khắc họa rõ nét tính cách và tâm lý, vừa dẫn dắt câu chuyện khúc chiết. Ấn tượng nhất là những người mẹ và tình mẫu tử. Mia Warren, một tài năng nhiếp ảnh đã từ bỏ tương lai, trốn gia đình mà cô ký hợp đồng mang thai hộ, để được sống bên cạnh con. Bà Richardson nghiêm khắc với con gái út khiến cô bé luôn chống đối, nhưng cũng vì bà lo lắng cho đứa con sinh non, ốm yếu này. Hai người phụ nữ ấy đối lập trong tính cách, hoàn cảnh sống và cả cách nuôi dạy con cái. Nếu Mia phóng khoáng, cảm xúc và đeo đuổi nghệ thuật; thì Richardson gò mình trong khuôn khổ và kế hoạch cuộc đời. Cuối cùng, họ đối đầu vì những đứa con. Ở một hoàn cảnh khác là cuộc tranh chấp của 2 người phụ nữ giành quyền nuôi con. BeBe Châu, cô gái Trung Quốc, trong lúc túng quẫn, trầm cảm đã bỏ rơi đứa con mới sinh khi người yêu bỏ rơi. Sau những tháng ngày dằn vặt, cô đòi lại con từ gia đình nhận nuôi đứa trẻ. Trong khi đó, bà McCullough quyết liệt giữ đứa bé đến cùng, khiến người đọc xót xa trước những đau khổ của cả hai người mẹ. Tình mẫu tử là chủ đề của tác phẩm, nhưng có lẽ bản ngã và sự cố chấp của mỗi người, từ các bà mẹ đến những đứa con, mới là mấu chốt làm nên câu chuyện hấp dẫn, giúp “Những đốm lửa lưu lạc” là một trong những tác phẩm bán chạy nhất do New York Times bình chọn. Cát Ðằng *** Ở Shaker Heights mọi người vẫn đang bàn tán về chuyện xảy ra vào mùa hè năm ấy: tại sao mà con bé Isabelle, đứa con út của gia đình Richardson, lại có thể phát điên mà châm lửa đốt nhà. Suốt mùa xuân, chuyện về bé Mirabelle McCullough trở thành chủ đề buôn chuyện - hoặc, tùy bạn đứng về phía nào, mà có thể gọi bé là Châu Mai Linh - còn bây giờ, rốt cuộc cũng có chuyện mới, một đề tài hấp dẫn để bàn luận. Một sáng thứ Bảy của tháng Năm, vừa non trưa, nhiều khách đang đẩy xe hàng mua sắm trong siêu thị Heinen’s đã nghe tiếng xe cứu hỏa inh ỏi chạy loạn xạ, hướng thẳng về phía hồ vịt. Khoảng 12 giờ 15 phút, bốn chiếc xe cứu hỏa đỗ thành một dãy đỏ lộn xộn dọc đường Parkland Drive, nơi cả sáu phòng ngủ của gia đình Richardson đang ngùn ngụt cháy, ai nấy trong vòng nửa dặm đều thấy khói bốc lên từ những ngọn cây giống như đám mây giông đen ngòm dày đặc. Sau đó, người ta đồn rằng từ lâu đã xuất hiện nhiều dấu hiệu rõ ràng: rằng Izzy là con nhỏ điên loạn, rằng gia đình Richardson lúc nào cũng có gì đó kỳ lạ, rằng vừa nghe tiếng còi báo động vào sáng hôm ấy thì họ biết chắc có chuyện khủng khiếp đã xảy ra rồi. Dĩ nhiên, lúc bấy giờ Izzy vẫn mất tích, không ai biện hộ cho cô và thiên hạ có thể - hoặc đã - đồn đoán bất cứ thứ gì mà họ thích. Dù khi xe cứu hỏa đến, và rồi sau đó một lúc, cũng không ai biết được chuyện gì đã xảy ra. Những người hàng xóm nép sát hết mức vào rào chắn tạm thời - chiếc xe tuần dương của cảnh sát, đỗ chắn ngang cách xa vài trăm mét - để quan sát đội cứu hỏa tháo các cuộn ống trong nét mặt khắc nghiệt của người đã nhận ra sự vô vọng. Bên kia đường, đàn ngỗng trong hồ vẫn ngụp đầu xuống nước lặn tìm rong, hoàn toàn không chút xáo trộn trước sự hỗn loạn này. Bà Richardson đứng trên bờ cỏ, tay túm chặt cổ áo choàng màu xanh nhạt. Dù trời đã sang chiều, bà vẫn còn đang ngủ khi đầu báo khói rú lên. Bà đã đi ngủ muộn, cố vào giấc, tự nhủ thầm phải gắng nghỉ ngơi sau một ngày dài khó nhọc. Tối hôm qua, từ cửa sổ tầng trên, bà nhác thấy một chiếc xe hơi cố đậu lại trước nhà. Lối lái xe vào nhà vừa xa vừa vòng, hình cung trũng kiểu móng ngựa uốn cong từ lề đường đến trước cửa rồi trở ra - vì vậy con đường chính chỉ cách cỡ trăm bước, nhưng với bà nó xa đến mức bà khó lòng nhìn rõ, dù bây giờ vẫn đang là tháng Năm , huống hồ lúc đó là chín giờ rưỡi đêm, trời đã sầm tối. Tuy vậy bà nhận ra chiếc Volkswagen cỡ nhỏ màu nâu vàng nhạt của vị khách thuê nhà, cô Mia, với chiếc đèn pha sáng rực. Cửa phụ mở ra, một dáng người mảnh mai xuất hiện, khép hờ cánh cửa: đứa con gái tuổi teen của Mia, là Pearl. Đèn dưới mui chiếu sáng bên trong khiến chiếc xe giống như một hộp trưng bày, nhưng chiếc xe xếp đầy nào hộp, nào túi đến gần chạm trần và bà Richardson chỉ có thể nhận ra chiếc bóng mờ nhạt tạo ra từ đầu cô Mia với búi tóc rối bù ngự trên đỉnh đầu. Pearl cúi xuống hộp thư, và bà Richardson chỉ có thể hình dung được tiếng cót két yếu ớt phát ra khi cửa hộp thư mở ra, rồi đóng lại. Sau đó Pearl nhảy lò cò trở vào xe và đóng cửa. Đèn phanh xe lóe lên đỏ rực sau đó chớp tắt, chiếc xe tất tả lao vào màn đêm đang buông đầy. Lòng thấy nhẹ nhõm, bà Richardson xuống chỗ hộp thư và nhìn thấy bộ chìa khóa đặt trên một chiếc nhẫn trơn, không một lời nhắn. Bà định sáng mai sẽ xem xét kỹ lưỡng cũng như kiểm tra căn hộ ở đường Winslow, dù bà biết rõ hai mẹ con họ đã đi rồi. Nhờ biết chuyện này nên bà mới chịu đi ngủ, và bây giờ là mười hai giờ rưỡi, bà đang đứng trên bờ cỏ trong chiếc áo choàng tắm, chân xỏ đôi giày tennis của cậu con trai Trip, nhìn căn nhà của gia đình đang cháy thành tro bụi. Khi bị đánh thức bởi tiếng rít ầm ĩ từ đầu báo khói, bà chạy hết phòng này đến phòng khác tìm cậu, tìm Lexie, tìm Moody. Thật ngạc nhiên khi bà không tìm Izzy, có vẻ như bà đã đinh ninh rằng Izzy là đứa gây nên tội. Phòng nào cũng trống trơn nhưng lại nồng nặc mùi xăng cùng ngọn lửa nhỏ đang cháy tanh tách ngay giữa mỗi chiếc giường, y như có con điên đang cắm trại trên đó. Đến khi bà kiểm tra phòng khách, phòng sinh hoạt gia đình, phòng giải trí và phòng bếp thì khói đã bắt đầu lan rộng bao phủ hoàn toàn, cuối cùng bà tháo chạy ra ngoài, nghe tiếng còi báo động, tín hiệu phát ra từ hệ thống an toàn của căn nhà. Ngoài ngõ vào, bà thấy chiếc Jeep của Trip không còn, cả chiếc Explorer của Lexie, xe đạp của Moody cũng vậy và dĩ nhiên chiếc ô-tô mui kín của chồng bà cũng vắng mặt. Người ta phải gọi cho ông từ sở làm. Sau đó bà sực nhớ Lexie, ơn trời, tối qua con nhỏ qua đêm ở nhà Serena Vương. Bà tự hỏi liệu Izzy đã đi đâu. Bà tự hỏi liệu mấy đứa con trai của bà đang ở đâu, và làm cách nào tìm được chúng để báo chúng biết chuyện gì đã xảy ra. Khi ngọn lửa được dập tắt, ngôi nhà chưa đến mức bị thiêu rụi hoàn toàn nhưng bà Richardson vẫn còn rất sợ hãi. Tất cả cửa sổ đều cháy rụi nhưng khung gạch của ngôi nhà vẫn còn, ẩm ướt, đen nhẹm đi và bốc đầy hơi nước, phần lớn mái nhà, các tấm bảng màu đen bóng bẩy lấp lánh giống như những chiếc vảy cá họ mới vừa ngâm tẩm. Trong vài ngày tới, gia đình Richardson không được vào nhà cho đến khi các kỹ sư của sở cứu hỏa kiểm tra xong tất cả những thanh xà còn trụ lại, tuy vậy, chỉ cần đứng từ bờ cỏ - nơi gần nhất với bảng CẢNH BÁO màu vàng mà họ được phép đến - họ vẫn nhìn thấy chút gì đó còn sót lại trong căn nhà đổ nát. “Trời ơi,” Lexie sửng sốt. Cô ngồi ngay mép mui xe của mình, chiếc xe đang đỗ bên kia đường, trên bãi cỏ giáp cái hồ vịt. Cô và Serena vẫn đang say ngủ, lưng đâu lưng cuộn tròn trong chiếc chăn cỡ queen của Selena thì bác sĩ Vương lay vai cô, nói nhỏ, “Lexie. Cục cưng Lexie. Dậy nào. Mẹ con vừa gọi đấy.” Họ đã thức đến hơn hai giờ sáng, nói chuyện - như họ đã làm suốt mùa xuân - về bé Mirabelle McCullough, tranh luận về việc quyết định của quan tòa là đúng hay sai, liệu bố mẹ nuôi của con bé có nên nhận được quyền giám hộ hoặc liệu có nên trả nó về với mẹ ruột. Cuối cùng Serena nói “Thậm chí Mirabelle McCullough cũng không phải tên thật của con nhỏ, ôi trời,” và Lexie đáp lại, “Mẹ nó đã từ bỏ nó, đồng nghĩa cô ta từ bỏ luôn quyền đặt tên cho nó,” rồi họ rơi vào không khí tĩnh lặng ảm đạm cho đến khi cả hai ngủ thiếp đi. Bây giờ Lexie nhìn đám khói cuồn cuộn bốc ra từ cửa sổ phòng ngủ của cô, cái cửa sổ hướng ra bãi cỏ, và nghĩ đến mớ đồ đạc trong phòng chẳng còn gì. Mỗi chiếc áo phông trong ngăn tủ kéo, mỗi cái quần jean trong tủ quần áo. Mớ ghi chú mà Serena đã viết cho cô từ hồi lớp Sáu hãy còn xếp lại thành các quả banh giấy, chúng được cất giữ trong một hộp giày đặt dưới giường; cả cái giường, các tấm ga trải giường và chiếc chăn bông đều cháy rụi thành than. Đóa hồng cài áo mà bạn trai Brian đã tặng trong chuyến hành hương được treo trên bàn trang điểm đến khô đi, những cánh hồng đỏ thắm, sẫm lại hóa đỏ bầm. Giờ chẳng còn gì ngoài tro tàn. Đột nhiên Lexie nhận ra rằng, trong bộ đồ vừa thay mà cô mang đến nhà Serena, thì cô còn khá khẩm hơn các thành viên còn lại trong nhà: trên ghế sau cô có cái túi du lịch, cái quần jean và bàn chải đánh răng. Bộ đồ ngủ. Cô liếc vội mấy đứa em, nhìn qua mẹ, mẹ hãy còn mặc áo choàng tắm đứng nơi bờ cỏ, và cô nghĩ, Thật luôn, mọi người chẳng còn gì ngoài bộ đồ dính trên người. “Thật luôn” là một trong những từ cửa miệng của Lexie, thậm chí cô gán nó vào những tình huống chẳng thật chút nào. Trong trường hợp này, chí ít một lần, không ít thì nhiều cô cũng dùng chính xác. Ngay cạnh cô, Trip thất thần đưa tay xước tóc. Lúc này mặt trời đang đứng bóng, mồ hôi làm cho những lọn tóc quăn của cậu cứ ngang tàng dựng ngược. Cậu đang chơi bóng rổ tại trung tâm cộng đồng thì nghe tiếng xe cứu hỏa rền rĩ, nhưng cậu chẳng mấy để ý. Ngay sau đó, mọi người đói bụng và quyết định nghỉ chơi, cậu lập tức lái xe về nhà. Đúng kiểu Trip, thậm chí cửa xe có đang hạ xuống thì cậu cũng không bận tâm đến đám khói khổng lồ phảng phất bay về phía mình mà chỉ bắt đầu nhận ra chuyện không ổn khi thấy xe cảnh sát phong tỏa con đường. Sau mười phút giải thích, cuối cùng cậu cũng được phép đỗ chiếc Jeep của mình ở phía bên kia ngôi nhà, nơi Lexie và Moody đang ngồi đợi từ lúc nào. Ba chị em ngồi trên mui xe theo thứ tự, như thứ tự trong các bức ảnh chân dung gia đình từng treo chỗ cầu thang, những bức ảnh giờ đã thành tro bụi. Lexie, đến Trip, Moody: học sinh năm cuối, năm ba, năm hai. Cạnh bên, mấy chị em nhận ra chỗ trống mà Izzy, học sinh năm nhất, “con cừu đen” trong nhà, một đứa bất định, đã để lại. “Rồi chúng ta sẽ ở đâu?” Trip hỏi. Phút lặng thinh bỗng chốc vây lấy ba chị em khi họ nhìn lại tình cảnh của nhà mình. “Chúng ta sẽ đến khách sạn hoặc nơi nào đó đại loại thế,” cuối cùng Lexie trả lời. “Chị nghĩ trước đây gia đình Josh Trammell cũng làm vậy.” Ai cũng biết chuyện này: vài năm trước, Josh Trammell, một học sinh năm hai đã ngủ quên khi đèn cầy còn cháy làm căn nhà của bố mẹ cậu bị thiêu rụi. Nhiều năm qua, ở trường trung học vẫn đồn rằng nguyên nhân không phải cây đèn cầy mà vì hút cần sa, nhưng bên trong ngôi nhà đã bị hủy hoại hoàn toàn nên chẳng thể nào biết được, và Josh mắc kẹt trong chuyện cây đèn cầy của chính mình. Người ta vẫn xem cậu là thằng đầu đất đốt nhà, dù chuyện này đã trôi qua nhiều năm, và mới đây Josh đã tốt nghiệp Đại học Ohio State với tấm bằng danh dự. Giờ đây, dĩ nhiên, đám cháy của Josh Trammell không còn là vụ hỏa hoạn lừng danh nhất ở Shaker Heights này nữa. “Một phòng khách sạn? Cho cả bọn?” “Sao cũng được. Thì hai phòng. Hoặc chúng ta sẽ đến khách sạn Embassy Suites. Chị không biết.” Lexie nhịp mấy ngón tay lên đầu gối. Cô muốn làm một điếu, nhưng sau những gì vừa xảy ra - và trước mắt mẹ với mười người lính cứu hỏa - cô không dám châm điếu. “Bố mẹ sẽ tính toán thiệt hại. Và phía bảo hiểm sẽ bồi thường cho nhà mình.” Mặc dù chỉ hiểu biết mơ hồ về thủ tục bảo hiểm, thì suy nghĩ này của cô nghe có vẻ hợp lý. Dù sao đi nữa, đây là chuyện của người lớn, không phải của bọn trẻ. Những lính cứu hỏa cuối cùng đang từ nhà bước ra, kéo chiếc mặt nạ bảo hộ ra khỏi mặt. Khói từ đám cháy hầu như đã không còn, nhưng cảm giác oi bức vẫn bao phủ khắp nơi rất giống bầu không khí phòng tắm sau khi tắm nước nóng. Mui xe nóng dần lên và Trip duỗi chân xuống kính chắn gió, di mũi dép tông đẩy đẩy vào cần gạt nước. Rồi cậu phì cười. “Gì mà vui vậy?” Lexie hỏi. “Chỉ đang tưởng tượng cảnh con Izzy chạy loanh quanh để đánh diêm khắp nhà.” Cậu khịt mũi. “Cái con điên.” Moody đang ngồi vắt chéo chân trên bãi cỏ cạnh chiếc xe đạp của mình. “Sao ai cũng khẳng định là nó?” “Thôi đi.” Trip nhảy khỏi xe. “Là Izzy chứ ai. Chúng ta đều ở đây. Mẹ cũng ở đây. Bố thì trên đường về. Còn thiếu ai nữa?” “Vì Izzy không có ở đây. Nên nó là đứa duy nhất có khả năng gây ra hay sao?” “Thủ phạm?” Lexie cắt ngang. “Izzy á?” “Bố đang ở sở làm,” Trip nói tiếp. “Chị Lexie ở nhà Serena. Em thì đang chơi bóng bên đường Sussex. Còn em, Moody?” Moody ngập ngừng. “Em đạp xe đến thư viện.” “Đó. Chị thấy chưa?” Với Trip, đáp án quá hiển nhiên. “Kẻ tình nghi duy nhất chỉ còn Izzy và mẹ. Mà mẹ thì đang ngủ.” “Biết đâu đường điện nhà mình bị chập. Hoặc giả có người quên tắt lò nướng thì sao.” “Đội cứu hỏa nói có nhiều mồi lửa rải khắp nhà,” Lexie nói. “Rất nhiều điểm phát lửa. Khả năng có cả chất xúc tác. Không phải sự cố.” “Chúng ta đều biết con nhỏ đó thần kinh mà.” Trip ngả người tựa vào cửa xe. Bên kia đường, xe cứu hỏa bắt đầu cuộn ống vào guồng. Ba đứa trẻ còn lại của nhà Richardson dõi theo đội cứu hỏa buông rìu xuống và cởi bỏ những lớp áo khoác vàng ám đầy mùi khói. “Đứa nào qua đó ngồi với mẹ đi,” Lexie bảo, nhưng chẳng ai nhúc nhích. Sau một phút, Trip tuyên bố, “Khi bố mẹ tìm thấy Iz, họ sẽ nhốt nó vào bệnh viện tâm thần đến hết đời.” Không ai bận tâm đến việc cô Mia và Pearl vừa rời khỏi căn hộ ở đường Winslow. Bà Richardson, đang quan sát đội trưởng đội cứu hỏa tỉ mỉ ghi chép vào hồ sơ tạm nên đã hoàn toàn quên mất hai vị khách thuê cũ của mình. Bà còn chưa báo với chồng hay bọn trẻ về chuyện đó; nhưng sáng sớm hôm ấy, Moody đã phát hiện sự vắng mặt của họ và cậu vẫn không chắc mình nên làm gì. Phía cuối đường Parkland Drive, đốm xanh nhỏ - chiếc BMW của bố chúng - đang tiến lại gần. “Sao anh biết chắc họ sẽ tìm ra nó?” Moody hỏi. Mời các bạn đón đọc Những Đốm Lửa Lưu Lạc của tác giả Celeste Ng.