Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trường Ca Achilles

Lấy cảm hứng từ sử thi Iliad, tác giả Madeline Miller đã kể lại câu chuyện tình yêu đẹp đẽ nhưng bi tráng giữa hai người hùng Hy Lạp trong cuốn sách đầu tay của mình - Trường ca Achilles.   Sử thi Iliad của Homer bắt đầu vào những năm cuối của cuộc chiến thành Troy viết về cơn thịnh nộ của người anh hùng Achilles khi người cậu yêu thương nhất, Patroclus ngã xuống. Dù Homer không miêu tả Patroclus và Achilles như hai người tình thật sự nhưng ông cũng chưa bao giờ phủ nhận mối quan hệ đặc biệt của họ. Và để điền vào những chỗ còn trống trong Iliad, Madeline Miller đã viết nên Trường ca Achilles kể về mối tình cảm động giữa hai người anh hùng Hy Lạp mà từng bị nhiều người né tránh nhắc đến. Patroclus và Achilles - Một mối tình tráng lệ và bi thương Huyền thoại bắt đầu từ khi Patroclus, một hoàng tử trẻ vụng về và yếu ớt bị trục xuất khỏi chính vương quốc của mình vì vô tình mắc phải một tội lỗi nghiêm trọng. Cậu được đưa tới vương quốc Phthia, nơi vua Peleus chấp nhận hết những đứa trẻ lầm lạc và rèn luyện chúng trở thành một đội quân tinh nhuệ. Chính tại đây, Patroclus đã làm thân được với cậu con trai hoàng kim của vương quốc này, Achilles, kẻ được tiên đoán trở thành "Người Hy Lạp vĩ đại nhất", mạnh mẽ, đẹp đẽ và mang một nửa dòng máu nữ thần. Từ khi còn ở Phthia cho đến lúc được vị nhân mã Chiron nuôi dạy trên đỉnh Pelion, hai đứa trẻ có một sự gắn kết kỳ lạ. Dù trái ngược nhau hoàn toàn nhưng những gì Patroclus nghĩ đến Achilles lại không phải là sự ghen tị, đó là sự ngưỡng mộ gần như sùng bái. Theo thời gian, tình cảm của hai người càng ngày càng trở nên sâu đậm hơn, vượt lên trên cả tình bạn, tình bằng hữu hay tri kỷ, họ trở thành tất cả của nhau. Nhưng thần linh chưa bao giờ công bằng, các nữ thần Số phận có thể đưa con người đến với nhau theo cách thơ mộng nhất, và cũng có thể thử thách họ bằng những nghịch cảnh đau thương nhất. Thời niên thiếu, Achilles đã có nhận được một lời đề nghị hoặc là có một cuộc đời dài không ai biết tới hoặc một cuộc đời ngắn ngủi nhưng huy hoàng rực rỡ. Khi nàng Helen bị bắt cóc tới thành Troy, Achilles đã dong buồm tới thành Troy cùng những người Hy Lạp khác, chiến đấu lấy của cải và danh vọng. Bị giằng xé giữa tình yêu và nỗi lo sợ dành cho người bạn của mình, Patroclus ra trận theo Achilles. Và đây là khởi nguồn cho cơn thịnh nộ của Achilles trong những năm cuối cùng của cuộc chiến thành Troy với lời gào khóc vang thấu tận trời xanh. Madeline Miller để Trường ca Achilles được kể lại dưới lời của Patroclus, một chứng nhân cô đơn và đau khổ trước sự điên dại và thịnh nộ của Achilles. Nhưng Achilles hiện lên trong mắt của Patroclus không chỉ là một kẻ máu lạnh chỉ biết chém giết. Cậu cũng có cảm xúc như bao người thường khác, cậu cũng vật lộn phải trải qua những kỳ vọng lớn lao của người Hy Lạp. Dù cao ngạo và ích kỷ nhưng tình cảm Achilles dành cho Patroclus là chân thật, cậu cũng hy sinh nhiều thứ để được ở bên cạnh người tình, giống như cách Patroclus đã lùi lại phía sau để Achilles được tỏa sáng. Trường ca Achilles là một câu chuyện mà sau khi đọc xong, người đọc sẽ không bao giờ có thể đọc thần thoại Hy Lạp cũng như Iliad như cách họ từng đọc trước đây. Một kết cục ai cũng biết trước nhưng vẫn phải theo dõi đến từng câu chữ trong những trang sách cuối cùng. Dành 10 năm để kể một câu chuyện không được nhắc đến Tác giả Madeline Miller vốn là một giảng viên người Mỹ, tốt nghiệp bằng cử nhân và thạc sĩ ngành Latin học và ngành Hy Lạp cổ đại tại trường Đại học Brown. Là người yêu thích và hứng thú với các câu chuyện thần thoại Hy Lạp, cô nhận thấy nhiều bài luận văn đã chọn cách né tránh nhắc đến mối tình giữa Achilles và Patroclus, điều mà cô cảm nhận thấy chính là cốt lõi câu chuyện trong sử thi Iliad của Homer. Vậy nên lấy sử thi Iliad thành một điểm cố định trên đường chân trời và hướng về đó mà viết, Miller đã kể lại câu chuyện tình yêu đẹp đẽ nhưng bi tráng giữa hai người anh hùng, về lý do họ ra nông nỗi đó, và điều gì đã xảy ra giữa họ trong những phân cảnh mà Homer không mô tả. Một chi tiết cũng quan trọng khác chứng tỏ Miller rất trung thành với Iliad, đó là về "gót chân Achilles". Thực chất trong Iliad, Homer không hề nhắc đến điểm yếu gót chân này của Achilles, chi tiết này mãi về sau mới được thêm vào trong các phiên bản hậu Homer nhằm giải thích và thêm thắt vào việc Achilles dường như là bất bại. Theo đó, nữ thần biển Thetis đã thử nhiều cách để khiến Achilles trở nên bất tử, bao gồm nắm gót chân cậu nhúng xuống sông Styx và hơ cậu trên lửa để thiêu cháy dòng máu phàm nhân trong cậu. Đó là lý do tại sao gót chân lại trở thành điểm yếu của Achilles. Tuy nhiên, Madeline Miller vì lấy cảm hứng từ Iliad nên đã chọn cách triển khai nhân vật theo Homer. Cô cũng luôn thấy câu chuyện về "gót chân Achilles" rất không thực khi làm sao người ta có thể chết chỉ vì bị bắn vào gót chân. Hành trình 10 năm hoàn thiện cuốn sách Trường ca Achilles của Madeline Miller bằng đúng 10 năm diễn ra cuộc chiến thành Troy. Trong 5 năm đầu, cô đã viết xong bản thảo, soi xét nó thật lâu, rồi bỏ đi và viết lại từ đầu. Và phải đến 5 năm tiếp theo cuốn sách mới được hoàn thành và xuất bản. Ngay khi được ra mắt năm 2011, tác phẩm đã được công chúng đón nhận nhiệt thành. Tác phẩm sau đó được trao giải Orange năm 2012 cho hạng mục tiểu thuyết. Giải Orange, sau này đổi tên thành Women’s Prize, là một trong những giải thưởng văn học uy tín nhất của Anh, dành cho các tiểu thuyết nguyên tác được viết bằng tiếng Anh và bởi các tác giả nữ không phân biệt quốc tịch. Giống như cách Homer đã viết Odyssey để song hành cùng Iliad, năm 2018, Miller cũng viết cuốn tiểu thuyết thứ hai trong sự nghiệp của mình là Circe sau thành công của Trường ca Achilles. Circe là câu chuyện của một nữ phù thủy nguy hiểm nhưng đơn độc, đã thử thách người anh hùng Odyssey trên hành trình trở về quê hương sau cuộc chiến thành Troy. Cuốn sách sau đó được đề cử Women's Prize năm 2019, và cùng với Trường ca Achilles đã đánh dấu một sự nghiệp văn chương rực rỡ của Madeline Miller. *** Câu chuyện được kể dưới góc nhìn của Patroclus. Vậy Patroclus là ai? Cậu là hoàng tử trẻ thấp bé, nhẹ cân, không nhanh nhẹn, và có phần vụng về. Một lần mắc phải sai lầm nghiêm trọng, cậu đã bị cha mình trục xuất tới Phthia. Còn Achilles? Chàng là hoàng tử xứ Phthia, Chiến binh Hy Lạp mạnh mẽ nhất thế hệ của mình, con của vua Peleus và tiên biển Thetis. Ngay từ nhỏ, chàng đã được những cậu bé cùng tuổi vây quay với mong muốn giành được sự chú ý. Nhưng, giữa những con người ấy, cậu lại chọn Patroclus -một cậu bé cô độc và yếu đuối, một hoàng tử bị trục xuất làm người thân cận của mình. Cũng từ đó, Miller dẫn dắt người đọc say sưa theo dõi câu chuyện từ tình bạn trải những năm tháng tuổi thơ yên bình trên xứ Phthia, những giờ phút học tập vui vẻ trên núi cùng thầy nhân mã Chiron đã biến thành tình yêu lúc nào không hay. Và tình yêu ấy được thử thách bởi những lời tiên tri của thần số mệnh, bởi cuộc chiến thành Troy vĩ đại mà gian khổ, bởi sự ngăn cản của nàng tiên biển Thetis, được bảo vệ bởi lòng trung thành và sự cố gắng thay đổi bản thân từ Patroclus cùng sự vững chãi, tình yêu mãnh liệt của Achilles. Với ngôn từ đẹp đẽ, lối kể cuốn hút hấp dẫn, tác giả đã đem tới cho người đọc câu chuyện lôi cuốn, xúc động và cả bi thương diễn ra ở Hy Lạp “vào thời hoàng kim của các anh hùng”. Achilles từng hỏi Patroclus: “”Hãy kể tên một vị anh hùng được hạnh phúc đi. Tôi suy nghĩ: Heracles phát điên và giết cả gia đình; Theseus mất vợ và cha; các con bà người vợ mới của Jason bị chính vợ cũ giết chết… “Cậu không kể được à?” “Mình không kể được” “Mình sẽ là người đầu tiên được như vậy”. Cậu cầm tay tôi úp lên bàn tay cậu…. “Bởi cậu là lí do mình sẽ như vậy”…..” Tôi tin rằng, họ đã hạnh phúc- ở đâu đó- cùng nhau- trên cõi dương và cả cõi âm, trong ánh bình minh rực rỡ và trong những chiều chạng vạng, qua những ngày tháng bình yên hay trong đao gươm trận mạc. Mời các bạn đón đọc Trường Ca Achilles của tác giả Madeline Miller.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Không Số Phận
Không số phận – gần như một tự truyện. Cũng như nhân vật thiếu niên trong cuốn tiểu thuyết, Imre Kertész đã từng rơi vào trại tập trung của Hitler năm 15 tuổi. Ông đã may mắn, bởi khác với hàng triệu nạn nhân của Holocaust, Kertész vượt qua được cả Auschwitz lẫn Buchenwald, và sống sót. Tác phẩm đầy sức nặng và ám ảnh này của Kertész Imre mô tả thế giới khủng khiếp và phi lí của nhà nước toàn trị kiểu phát xít, trong đó con người bị tước đoạt số phận cá nhân, và, không chỉ kiến thức về cuộc sống thực tế và lịch sử, mà khả năng nhận biết thường nhật của cá thể cũng đã hóa đá và biến dạng. Ẩn sâu vào đó là sự phản kháng đầy cay đắng trước cái bất nhẫn phổ quát của thế giới. Một thế giới đang thể hiện dữ tợn trong những học thuyết tự cho phép đối xử với cả một dân tộc như những sinh linh hạ cấp, tước đoạt quyền sống, xua đuổi vào các trại tập trung, và hủy diệt. Không số phận trở thành một chương quan trọng trong số những truyền thống văn xuôi Hungary xuất sắc nhất: một tuyệt tác. Sự diễn tả lạnh lùng, chính xác đến tận chi tiết, sự trào lộng toát ra từ bi kịch, mang lại cho tác phẩm độ sâu triết luận, và tạo nên một phong cách không thể bắt chước. *** Kertész Imre sinh ngày 9-11-1929, tại thủ đô Budapest (Hungary). Năm 1944, khi mới 14 tuổi ông bị đưa vào trại tập trung Auschwitz, sau đó vào trại Buchenwald. Năm 1945, sau khi các trại tập trung được giải phóng, ông trở về Budapest, tiếp tục đi học, ba năm sau thì tốt nghiệp trung học. Từ năm 1948-1950, ông là cộng tác viên của các báo Vilá-gosság (Ánh sáng) và Esti Budapest (Budapest Buổi chiều); năm 1951, là công nhân nhà máy; từ năm 1951-1953, làm việc tại Phòng Tuyên truyền của Bộ Mỏ và Cơ khí; từ năm 1953 trở đi là nhà văn, dịch giả tự do. Kertész Imre sống ẩn dật nhiều năm, ít giao du với bên ngoài, miệt mài viết văn và dịch thuật. Một thời gian dài, các tác phẩm của ông không nhận được sự quan tâm của cả công chúng lẫn giới phê bình trong nước, thậm chí cả khi Không số phận xuất bản lần đầu vào năm 1975, mặc dù nhà văn nhận được nhiều giải thưởng danh giá ở nước ngoài, cho đến khi giải Nobel Văn học năm 2002 được trao cho ông “vì một sự nghiệp văn học nói lên trải nghiệm mỏng manh của cá nhân, đối lập với sự độc đoán tàn bạo của lịch sử.” Khoảng mười năm trở lại đây, ông sống tại thủ đô Berlin (Cộng hòa liên bang Đức), nhưng vẫn giữ quốc tịch Hungary. *** CÁC TÁC PHẨM CHÍNH Không số phận (1975) Người tìm dấu vết (1977) Câu chuyện thám tử (1977) Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời (1990) Lá cờ Anh (truyện ngắn, 1991) Nhật ký khổ sai (1992) Văn hóa Holocaust (1993) Khoảnh khắc tĩnh lặng thoáng qua, khi đội hành quyết nạp thêm đạn (1998) Ngôn ngữ đọa đày (2001) Thanh toán (2003) Hồ sơ K. (2006) Di sản nặng nề của châu Âu (2008)   Mời các bạn đón đọc Không Số Phận của tác giả Imre Kertész.
Chúa Trời của Những Chuyện Vụn Vặt - Arundhati Roy
Chúa Trời của Những Chuyện Vụn Vặt là câu chuyện của hai anh em sinh đôi Estha và Rahel. Chỉ có sự ngây thơ tuyệt vời của con trẻ làm chúng cố rập khuôn thời thơ ấu cho phù hợp với những đổ vỡ trong gia đình. Mẹ chúng, Ammu, một phụ nữ xinh đẹp, đáng yêu, sống lẻ loi; đêm đêm chị yêu đàn ông, còn ban ngày yêu các con. Kẻ thù của chúng là Baby Kochamma, nguyên là một nữ tu sĩ phá giới. Và cả một thế giới đầy những lũ ma quỷ, hoa bướm, sâu bọ… của trẻ thơ. Chúng dần hiểu được rằng Sự Việc Có Thể Biến Đổi Chỉ Trong Một Ngày, cuộc sống có thể xoay trở thành những hình dạng quái gở, thậm chí có thể ngừng vĩnh viễn. Bằng trí thông minh và sức quyến rũ đầy ma lực, từ những sự việc trong đời thường tưởng như vụn vặt, Arundhati Roy đã viết nên một cuốn tiểu thuyết đầy những nỗi thống khổ, tuyệt hay và lạ lùng; một cuốn tiểu thuyết về tình yêu, cái chết, về phân biệt đẳng cấp và những xung đột gia đình. Ngay từ khi xuất bản lần đầu, cuốn truyện đã gây nên sóng gió trên văn đàn. Cuốn tiểu thuyết đã được tái bản đến lần thứ bảy và được dịch ra 27 thứ tiếng. Arundhati Roy là một phụ nữ nồng nhiệt, thông minh và sống hết mình. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của chị, cuốn sách đã mang lại cho chị vinh quang và tiền bạc.” *** Arundhati Roy sinh ngày 24 tháng 11 năm 1961 ở Shillong, Meghalaya thuộc vùng Kerala. Mẹ gốc dân bản xứ Syria theo Thiên chúa giáo nhưng cha lại là người gốc Bengal, theo Ấn giáo và là một chuyên viên trồng trà. Cuộc hôn nhân này đổ vỡ, cô bé Arundhati Roy phải sống với mẹ ở vùng Aymanam. Mẹ cô tuy là một giáo viên nhưng cũng là người tranh đấu xã hội nhiệt thành. Bà sáng lập một ngôi trường độc lập với chính quyền địa phương để giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần tự do, không câu nệ vào những điều cấm kỵ tôn giáo hay văn hóa truyền thống. Từ nhỏ Arundhati Roy đã được giáo dục trong môi trường độc lập tự do như vậy. Mười sáu tuổi cô bỏ nhà ra đi, sống với đám thanh thiếu niên bụi đời trong một căn nhà nhỏ mái tôn ở Dehli, đi bán ve chai kiếm sống và ghi tên theo học Trường Kiến Trúc. Chính tại trường này Arundhati Roy đã thành hôn với kiến trúc sư Gerard Da Cunha. Tuy yêu thích ngành kiến trúc nhưng bà không ở lâu với nghề này. Năm 1984 Arundhati Roy gặp nhà làm phim Pradeep Kishen, và sau lễ thành hôn bà chuyển sang điện ảnh, vừa đóng phim vừa viết và dựng truyện phim và truyền hình.Tuy Arundhati Roy khá thành công nhưng những tác phẩm của bà cũng gây ra nhiều cuộc tranh luận. Chán đời sống xô bồ của giới điện ảnh, năm 1992 Arundhati Roy rời xa giới này và bắt đầu viết The God of Small Things, đến 1996 thì viết xong. Ngay từ những tuần đầu ra mắt, quyển sách đã có số ấn bản bán ra cao ngoài dự tính. Tổng kết trong vòng không đầy 10 năm kể từ năm 1997 là năm cuốn sách được xuất bản đến nay The God of Small Things đã bán được trên 3 triệu quyển (con số ngang ngửa với quyển Trăm Năm Cô Đơn của Gabriel Garcia-Marquez) và Arundhati Roy đã được trao giải Booker Prize năm 1998.  *** Tháng Năm ở Ayemenem là một tháng nóng nực và ủ ê. Ngày thật dài và ẩm ướt. Dòng sông như co hẹp và sẫm lại vì nhũng cây xoài vui tươi trong những lùm cây xanh lặng lẽ, đầy bụi. Chuối chín vàng ruộm. Những quả mít nở tung. Lũ nhặng xanh vo ve một cách ngớ ngẩn trong không khí nồng nàn mùi trái cây. Rồi chúng đờ ra, đậu vào những tấm kính cửa sổ mà chết, béo mẫm trong ánh mặt trời.   Ban đêm trong sáng nhưng thấm đẫm một niềm mong đợi uể oải và rầu rĩ.   Nhưng đến đầu tháng Sáu, gió mùa tây nam tắt lặng, ba tháng mùa mưa và ẩm sẫm thay bằng những ngày sáng sủa, nắng lấp lánh làm bọn trẻ con sung sướng chộp lấy chơi đùa. Vùng quê biến thành một mầu xanh lả lơi. Những đường viền mờ đi vì các hàng rào sắn đã bén rễ và tươi tốt. Tường gạch xanh những rêu. Những dây nho ngoằn ngoèo quanh các cột điện. Những cây leo hoang dại bò lan trên bờ sông đá ong và tràn ra cả những con đường sũng nước. Thuyền bè tấp nập ghé vào chợ. Những chú cá nhỏ xuất hiện trong các vũng nước mưa đầy ắp trong các ổ gà trên đường cái.   Hôm Rahel trở về Ayemenem, trời mưa tầm tã. Những làn mưa trắng bạc vụt mạnh vào mặt đất xốp, cày tung lên. Một căn nhà cũ kỹ trên sườn đồi, các bậc đã mòn nhẵn, mái nhà sụp xuống đầu hồi trông như một cái mũ đội thấp. Nức tường đầy những vệt rêu trở nên mềm xốp, hơi phồng lên vì nước ẩm rỉ ra từ mặt đất. Khu vườn xanh tươi, đầy những tiếng xào xạc, rì rầm của bao sinh vật nhỏ bé. Ở nơi thưa thớt, một con chuột bò ra cọ mình vào một tảng đá sáng lấp lánh. Những con ếch đực vàng óng sục sạo trong cái ao có váng tìm con cái. Một con cầy ướt sũng chạy vụt qua con đường đầy lá.   Căn nhà trông như trống rỗng. Cửa ra vào và các cửa sổ đều đóng kín. Hiên trước trơ trụi. Không hề có một thứ đồ đạc gì. Nhưng một chiếc Plymouth mầu xanh da trời, đuôi xe mầu vàng vẫn đỗ bên ngoài, và Baby Kochamma vẫn còn sống trong nhà.   Bà là bà trẻ của Rahel, là em gái của ông ngoại cô. Tên thật của bà là Navomi, Navomi Ipe, nhưng ai cũng gọi bà là Baby. Bà trở thành Baby Kochamma lúc đủ già để làm một bà cô. Song Rahel không đến thăm bà. Chẳng có đứa cháu trai, cháu gái nào lại ảo tưởng mà làm chuyện đó. Rahel đến gặp anh trai cô là Estha. Họ là hai anh em sinh đôi. “Thụ tinh từ hai trứng”, bác sĩ gọi thế. Hai anh em sinh ra riêng rẽ, nhưng từ hai trứng cùng thụ tinh một lúc. Estha - Esthapen - ra đời trước em gái mười tám phút. ... Mời các bạn đón đọc Chúa Trời của Những Chuyện Vụn Vặt của tác giả Arundhati Roy.
Bọn Chiếm Đóng - Kobo Abe
Trong khi Murakami và Yoshimoto là những nhà văn đang nổi lên trên văn đàn Nhật Bản và là hai nhân vật hết sức quen thuộc ở Việt Nam hiện nay, tôi muốn lưu ý bạn đọc về một xu thế mới có lẽ tồn tại như một dòng chảy ngầm. Khi nói về xu thế này, vào năm 1990 nhà văn danh tiếng Kenzaburo Oe ( 1935 - 2007), Giải thưởng Nobel Văn chương năm 1998 có viết: “Lớp nhà văn này đã tích luỹ trong mình  cảm nghĩ về thực trạng xã hội và sức mạnh của văn học. Trong số họ nổi lên hàng đầu là Kobo Abe, một trong những gương mặt quan trọng nhất, nổi bật nhất sau chiến tranh. Ông sáng tác với ý thức tách khỏi truyền thống Nhật Bản, tuy gắn bó với việc xây dựng thế giới ảo tưởng, nhưng vẫn in đậm một lối nhìn riêng tư mà nghiêm túc về đời sống hiện đại”. Kobo Abe sinh ngày 7.3.1924 tại Tokyo. Tên thực của ông là Kimifusa (“Kobo” là cách phát âm theo Hán tự của từ “Kimifusa”). Cha ông là bác sỹ tại một bệnh viện nằm trong trường Cao đẳng Y khoa Hoàng gia ở Manchuria. Khi còn trẻ, Abe rất hứng thú với môn toán học và sưu tập côn trùng. Cũng giống nhiều nhà văn Nhật Bản hiện đại nổi tiếng thế hệ trước như Mori Ogai, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro... ông tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các nhà tư tưởng bậc thầy của phương Tây, có lẽ do nhiều năm sống ở nước ngoài và đời sống văn hoá đương đại của nó đã thôi thúc ông, nghiên cứu các nhà triết học phương Tây như Heidegger, Jaspers và Nietzsche... Năm 1941 Abe trở về Nhật Bản, năm 1943 ông thi đỗ Đại học Tokyo rồi theo học y khoa tại đây. Luôn ốm yếu do mắc bệnh đường hô hấp nên Abe được miễn quân dịch. Trong chiến tranh, ông tới sống ở Manchuria. Sau khi khỏi bệnh Abe tiếp tục việc học hành và tốt nghiệp vào năm 1948, nhưng ông tự nhủ sẽ không bao giờ hành nghề y. Từ đấy Abe đã bước vào sự nghiệp văn học. Ông tham gia nhóm văn chương do Kiyoteru Hamada dẫn dắt. Khuynh hướng sáng tác là hợp nhất các kỹ thuật của Chủ nghĩa siêu thực với tư tưởng Marxist. Ngay từ năm 1943 Abe đã cho ra đời một tác phẩm đầu tay. Bạn đọc hẳn đã nhận thấy Haruki Murakami tác giả Rừng Na-uy viết với một phong cách bộc trực, giọng điệu trung tính, lạnh lùng, câu ngắn gọn, đôi khi cộc lốc. Ông tránh lối diễn đạt uyển chuyển mà người Nhật hay dùng để câu nói mềm mại hơn khiến ngôn từ trở nên mập mờ. Còn văn  phong của Abe lại cô đọng và chuẩn mực, nó cho thấy nỗi bận tâm của ông đối với tư tưởng của tác phẩm hơn là kỹ thuật viết cốt tạo ra phong cách . Những nhà văn chủ chốt có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thẩm mỹ văn học của ông: Edgar Allan Poe, Samuel Beckett, Rainer Maria Rilke và Fyodor Dostoyevsky, và đặc biệt là Franz Kafka. Ảnh hưởng Kafka càng rõ rệt trong tác phẩm Kabe - Esu Karuma shino hanzai (Bức tường - tội lỗi của S.Karma, 1951). Tác phẩm này được Giải Akutagawa, giải thưởng văn học cao quý nhất ở Nhật, kể chuyện một người phát hiện ra rằng tấm danh thiếp của anh ta tự hoá thành người và giả dạng anh ta mà phạm tội khiến anh bị toà án lôi ra phán xử. Năm 1947 Abe cho ra mắt một tuyển tập thơ. Abe chỉ thực sự được coi là một nhà văn nổi tiếng với tiểu thuyết Owarishi michi no shirube ni (1948), kể về cuộc đời một kẻ nghiện thuốc phiện. Vào những năm 1950, Abe gia nhập Đảng Cộng sản Nhật Bản. Năm 1962 ông xin ra khỏi đảng bởi những bài báo phê phán chính sách của đảng này. Những tác phẩm mang tính cách trải nghiệm của Abe được thế hệ độc giả trẻ hết sức ngưỡng mộ. Abe đã nhận được giải thưởng cho ba truyện ngắn của ông, “Akai mayu” (1950, Cái kén đỏ), “Kabe” (1951) và “S.Karuma - Shi no hanzai” (1951). Như nhiều nghiên cứu đã đề cập tới, vấn đề chủ đề và phong cách viết thường là nỗi ám ảnh đối với nhà văn Kafka đến mức ông đã phải khai thác nhiều yếu tố qua các truyện khoa học viễn tưởng và trinh thám để xây dựng tác phẩm của mình. Còn các tiểu thuyết và vở kịch của Abe thì đặc trưng ở sự quan sát kín đáo và các kỹ thuật viết tiên phong (avant - garde techniques). Khi đã quen thuộc một số tác phẩm của Kobo Abe bạn đọc sẽ nhận thấy thông thường các cảnh ngộ hay hoàn cảnh mà các nhân vật của ông phải đối mặt, hay đương đầu, thường là kỳ quặc, không giống thực tế và thái độ cùng hành vi của họ được bộc lộ qua khái niệm tự do ý chí. Các tác phẩm sau của Abe là những minh chứng cụ thể cho nhận định này: Daiyon kampyoki  (1959), Moetsukita chizu (1967, Tấm bản đồ rách), Mikkai (1977) và Hako otoko (1974, Người đàn ông trong chiếc hộp). Ở phương Tây, Abe hết sức nổi tiếng với hai tiểu thuyết The Woman in the Dunes, (1962, Người đàn bà trong cồn cát) và The Face of Another (1964, Khuôn mặt người khác). Chủ đề trung tâm trong các tác phẩm này của Abe là nỗi lạc lõng về thân phận, mặc cảm bị xa lánh và ghét bỏ, nỗi cô đơn cá nhân giữa một thế giới kỳ quặc, và những con người gặp khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. Hai kiệt tác này là các tác phẩm vượt khỏi mỹ quan truyền thống Nhật Bản, sáng tạo mới mẻ, dùng nhiều ẩn dụ, nhiều hình tượng cụ thể hay siêu thực để diễn tả nội tâm và tiềm thức con người bị tha hoá, vong ngã, trong xã hội đô thị. Các quan niệm giáo điều hay thành kiến đã được ông lật ngược lại. Thông thường con người được xem là trung tâm của vũ trụ, chúa tể của muôn loài, tác phẩm của ông lại chủ trương bình đẳng giữa các loài. không những thế còn có thể biến đổi từ loài này sang loài khác, và ngược lại, con người hoá thân thành sinh vật, sinh vật lại mang nhân cách như con người. Ông đề cao ý thức, lại chủ trương nhục thể chi phối tinh thần, hoàn cảnh xã hội quy định ý thức, và tự do chỉ có thật khi cá thể thoát ra khỏi mọi tập thể như quốc gia hay cộng đồng. Kobo Abe không ngừng thử nghiệm những thủ pháp và tư tưởng mới lạ, kể cả khoa học viễn tưởng, triết lý hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Với số lượng tác phẩm to lớn và những đóng góp đặc sắc của ông cho văn học Nhật Bản, Kobo Abe  được đánh giá là một trong những tác gia quan trọng nhất của nền văn chương nước này ở thế kỷ XX. Những tác phẩm chính: Người đàn bà trong cồn cát (1963), Khuôn mặt người khác (1964), Người hộp (1973) Cái Kén Đỏ Chiếc thuyền Nô-Ê Bọn Chiếm Đóng Và một số và kịch. *** Abe Kôbô là một trong những nhà văn hậu chiến Nhật Bản thế hệ Shôwa 30 (từ năm 1955 trở đi) có khuynh hướng đi tìm một thủ pháp mới với mục đích bắt gặp con người toàn thể như một sinh vật có tính xã hội và chính trị. Nhà văn thế hệ nầy đều muốn tìm hiểu đâu là lối sống thích hợp của con người trong điều kiện của xã hội hiện tại. Abe Kôbô trên giấy tờ được gọi là Kimifusa theo cách đọc âm Nhật của hai chữ Hán Kôbô. Song thân gốc miền bắc (đảo Hokkaidô) nhưng ông sinh ra ở Tôkyô ngày 7 tháng 3 năm 1924. Cha ông, một bác sĩ y khoa tùng sự tại Mãn Châu. Do đó, ông lớn lên ở Phụng Thiên (nay là Thẩm Dương thuộc Trung Quốc) nhưng đã trở về nước để học thuốc và tốt nghiệp y khoa Đại học Đế Quốc Đông Kinh năm 1948. Sau khi Nhật bại trận và cha chết, ông sống cuộc đời nghèo túng nhưng vẫn cố gắng bỏ tiền túi in thơ (1947) và tiểu thuyết (1948). Không hành nghề y như cha, ông theo nghiệp văn như mẹ, một nhà giáo có đầu óc khuynh tả. Đầu tiên, ông sử dụng một bút pháp trừu tượng, xa rời hiện thực, nhưng sau chuyển qua văn phong tiền vệ với khuynh hướng đi tìm những ý tưởng và phương pháp biểu hiện mới mà trung tâm là những câu chuyện ngụ ngôn có tính khoa học giả tưởng. Đặc điểm của văn chương ông trước tiên là bản chất con người khoa học của ông. Thứ đến là tình cảm thiếu quê hương vì nơi ông gắn bó sâu đậm nhất là Mãn Châu, một nơi về sau đã trở thành một tỉnh của Trung Quốc. Ở Tôkyô, ông có cảm tưởng như mình sống trong một miền đất lạ. Quê hương ông là Mãn Châu có sa mạc ngút ngàn và những cơn bão cát chứ không phải là thành phố Tôkyô xô bồ, lạ mặt. Đặc điểm thứ ba là kinh nghiệm đau thương của cuộc sống khốn cùng sau những ngày Nhật Bản bại trận, lúc người di dân lập nghiệp ở thuộc địa trong số đó có gia đình ông đã phải vượt qua bao khó khăn để có thể về đến mẫu quốc. Người có ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của ông là Abe Rokurô, ông giáo dạy tiếng Đức và là nhà nghiên cứu về triết học của Nietsche [1] và Shestov [2]. Qua Abe Rokurô, ông làm quen được Haniya Yutaka [3]. Trước khi ra trường (1947), ông kết hôn với Yamada Machiko, một nữ sinh viên ngành hội họa. Họ sống đạm bạc trong một căn nhà lợp tạm và đeo đuổi hoạt động nghệ thuật. Bà Machiko đã giúp đỡ ông rất nhiều trong việc trang trí hình bìa những tác phẩm và trong việc dựng phông cảnh khi Abe chuyển qua kịch nghệ. Tài năng của Abe đa dạng. Ông không những làm thơ, viết văn, dựng kịch, vẽ tranh mà còn chen vào các lãnh vực truyền thanh, truyền hình. Ở đâu, ông cũng chứng tỏ một tài năng phi thường và thí nghiệm không mệt mỏi những thủ pháp diễn đạt mới. Vì lúc nào cũng đi trước thời đại nên không phải ai cũng yêu chuộng ông. Mumyô shishuu "Tập thơ không tên" (1947) là tác phẩm đầu tay. Akai Mayu "Cái kén đỏ" (1950) giúp ông đoạt giải thưởng văn học hậu chiến, Kabe - S. Karuma nohanzai "Bức tường. tội của S. Karma" (1951) đem giải Akutagawa về tay ông lúc mới có 27 tuổi. Sau đó là một loạt tác phẩm như Daishikan Hyôki "Thời kỳ băng hà thứ tư" (1959), Suna no Onna "Người đàn bà trong động cát" (1962), Ta.nin no kao "Gương mặt kẻ khác" (1964), tất cả đều gây nên tranh cãi. Ngoài các vở kịch như Doreigari "Săn nô lệ" (1955), Yuurei wa koko ni iru "Đây có ma" (1958), sau nầy ông còn viết Hako-otoko "Người hộp"(1973) Hakobune sakuramaru "Chiếc thuyền lợp mái tránh lụt tên gọi anh đào" (1984). Với lối viết tiền vệ, nhà văn Abe Kôbô được sắp vào số tác giả khoa học giả tưởng qua "Bức Tường - Tội của ông Karuma","Thời băng hà thứ tư"nói trên, cũng như Moetsukitachizu "Bức địa đồ cháy rụi" (1967) mà ông viết theo phong cách nhà văn Pháp Alain Robbe-Grillet. Ông đặc biệt chú trọng tới chủ đề tha hóa (alienation). Abe Kôbô còn nhảy vào sân khấu như lạc bước vào một mê cung lúc nào không hay. Năm 1955, trong một cuốn tiểu thuyết nhan đề Seifuku "Đồng Phục" ngẫu nhiên có một số đoạn, ông trình bày như đối thoại của kịch. Thế rồi, Yuurei wa koko ni iru "Đây có ma" (1958) của ông đã ra đời 3 năm sau như ta đã biết. Ông đưa lên sân khấu những ảo tưởng (phantasm) của thời mới như ảo tưởng tinh thần, tâm lý hay thương mãi và muốn bắt nọn khán giả. Ông xem sân khấu phải là một loại chất dẻo để khán giả có thể nắn theo ý mình và để lại những dấu tích sự tham dự của họ vào quá trình xây dựng chung giữa nhà viết kịch bản, diễn viên và khán giả đó. Khán giả không thể là vô can. Họ được xem như có khả năng phạm tội. Ông muốn nói như thế về vai trò của người xem kịch khi viết vở Omae ni mo tsumi ga aru "Mầy cũng có tội nữa đấy" (1965). Một ví dụ khác với vở Enomoto Takeaki (1967), trong đó ông mô tả cuộc nổi loạn để thành lập một chế độ Cộng Hòa ở Hokkaidô năm 1870 của Enomoto Takeaki nhưng không phải là không muốn chất vấn khán giả về thái độ họ phải chọn lựa trước sự kiện ấy. Từ năm 1969, Kôbô chuyển qua dàn cảnh và thành lập trung tâm nghiên cứu và thí nghiệm kịch nghệ Abe Kôbô Studio (từ 1973), thử sửa đổi và dựng lại nhiều vở cũ, chuyển một số tiểu thuyết, kịch phóng thanh, kịch bản phim đã viết thành kịch nói. Danh tiếng ông vang dội trong lẫn ngoài nước. Hầu như cứ một lần viết một tác phẩm mới, ông lại như nới rộng thêm chân trời văn học. Ông được quốc tế đánh giá cao, tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Ý, Đức. Tháng 9 năm 1992, ông được Hàn Lâm Viện Khoa Học Nghệ Thuật Hoa Kỳ trao tặng danh hiệu hội viên danh dự. Chẳng bao lâu, một ngày cuối năm, đang ngồi viết trong thư phòng, ông bị tai biến mạch máu não, mê man và được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Đầu năm sau, lại nhập viện vì vấn đề tim mạch và mất vào ngày 22 tháng giêng năm 1993, khép lại cánh cửa một cuộc đời hoạt động văn học nghệ thuật không ngừng nghĩ.   Mời các bạn đón đọc Bọn Chiếm Đóng của tác giả Kobo Abe.
Tro Tàn Sắc Đỏ
“Anh”, nhân viên một công ty hóa phẩm, bất ngờ được cử sang công ty mẹ tại nước C công tác bởi lý do hết sức lạ lùng: có khả năng bắt chuột. Tại đất nước đang chìm trong cơn khủng hoảng vì một căn bệnh lạ, vướng phải nghi án về một vụ giết người, “anh” tự trút bỏ nhân phẩm, đánh mất danh tính, để tuột quá khứ, và bị cuốn vào một cuộc trốn chạy chưa biết về đâu. Ngắn và sốc, “Tro tàn sắc đỏ” chỉ xoay quanh một nhân vật không tên, tại một thành phố chưa xác định – “anh” có thể là bất kỳ ai và thủ đô nước C có thể là bất kỳ đô thị tư bản nào đang ngập trong rác thải và các quyền lực y tế. Tàn nhẫn, độc đáo, mẫu mực, tác phẩm của Pyun Hye-Young như một lăng kính kỳ dị đã nhìn thấu suốt một thời đại, liên tiếp đưa người đọc qua những “cơn rùng mình” khi chứng kiến sự xoay vần của xã hội và con người trong vòng quay bánh xe số phận. "Các cảnh báo nguy hiểm bao giờ cũng nhiều hơn so với những nguy hiểm xảy ra trên thực tế, vậy nhưng khi mối nguy thực sự xảy đến thì thường lại chẳng có một cảnh báo nào. Cũng chính vì lẽ đó mà những tờ hướng dẫn kiểm dịch và quy định phòng chống bệnh truyền nhiễm dán đây đó khắp sân bay, anh cũng chỉ nhìn qua rồi ngó lơ như chẳng có gì quan trọng. Cứ nhìn cảnh báo nhiều thế kia thì rõ ràng là chẳng có gì nguy hiểm hết. Như thể đọc được ý nghĩ của anh, nhân viên kiểm dịch trong bộ đồ phòng dịch kín mít từ đầu đến chân, tay lăm lăm nhiệt kế, khẽ nhăn mặt. Không biết vì nhiệt kế báo sốt nhẹ, hay vì mùi rượu tỏa ra từ người anh. Anh cắn môi, đưa tay sờ lên trán. Trán anh hâm hấp sốt như nhiệt độ của nồi cơm điện đặt ở chế độ hâm nóng. Chuyến bay ngắn nhưng thật mệt mỏi. Ngay trước ngày bay anh vẫn liên tục làm việc quá sức, rồi cơn say váng vất đêm qua giờ vẫn còn nguyên vẹn. Tay anh còn nóng hơn cả trán. Cổ tay anh buốt nhói, còn lòng bàn tay thì bỏng rát như thể đã gồng hết sức nắm chặt vật gì đó quá lâu. Nhìn lại thì thấy lòng bàn tay anh đầy những vết bầm tím. Chỉ hơi gắng sức một chút là đã dội lên một cơn đau nhức nhối. Lần này, nhân viên kiểm dịch kê nhiệt kế vào tai phải anh. Tiếng nhiệt kế hoạt động bên tai nghe hệt âm thanh báo động. Như phản ứng lại âm thanh đó, anh bật ra một cơn ho ầm ĩ. Nhân viên kiểm dịch lập tức đứng lùi lại một bước. Phát sinh ra thủ tục kiểm dịch thế này là vì đang có một căn bệnh truyền nhiễm. Còn chưa xác định được con đường lây truyền, căn bệnh đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia đầu tiên phát hiện mầm bệnh, lan nhanh và bùng phát ở hầu khắp các nước trên thế giới, hệt như một cái đệm rơm bắt lửa. Con đường lây nhiễm chưa rõ, thuốc điều trị còn đang trong giai đoạn nghiên cứu, mức độ lây lan cao, thêm vào đó, để đảm bảo nguồn vắc xin còn khan hiếm, một cuộc đấu đá ngấm ngầm giữa các nước đã nổ ra và đang trong hồi quyết liệt... vậy nhưng cũng may là tỷ lệ tử vong không cao lắm. Theo như thời sự trong nước đưa tin, anh thấy dù cho căn bệnh đó có nguy hiểm đến đâu đi nữa, chỉ cần giữ gìn vệ sinh cá nhân thật tốt thì cũng chẳng có gì đáng lo cả. Vị khách trước đó ngồi kế bên anh trên máy bay đang đứng xếp hàng ở lối bên cạnh, vẫn cứ ho liên tục không ngừng suốt từ lúc ở trên máy bay đến tận bây giờ. Người này mặc áo khoác vải tuýt kiểu cũ, dày quá mức so với thời tiết hiện tại, trên chuyến bay kéo dài năm giờ đồng hồ đến nước C đã phải uống tới bốn viên aspirin vì có triệu chứng ớn lạnh và đau đầu nghiêm trọng. Tiếp viên nói chắc là do máy lạnh, rồi mang tới hai cái chăn tự tay đắp cho vị khách đó. Có vẻ như đã uống thuốc mà cơn sốt vẫn không hạ, vị khách bên cạnh mặt đỏ gay. Nếu biết thủ tục kiểm dịch gắt gao thế này, chắc anh đã uống trước một viên aspirin, và nếu biết mức độ lây lan cao như vậy thì anh đã sớm đề nghị đổi chỗ ngồi rồi. Nhân viên kiểm dịch khẽ liếc nhìn anh một cái rồi đưa máy bộ đàm lên miệng nói gì đó. Lẫn trong tạp âm, giọng trả lời của ai đó vang lên rồi tắt phụt, ngay sau đó, từ bên cạnh khu vực chốt kiểm tra, hai người đàn ông bước lại. Hai người này mặc bộ đồ phòng dịch to phồng, lại đeo mặt nạ kín mít, trông như mấy chiếc xuồng cao su hay cưỡi dòng nước bập bềnh trồi lên ngụp xuống. Trước ngực bộ đồ phòng dịch in khá rõ dòng chữ “Trung tâm kiểm soát bệnh dịch”. Có vẻ là nhân viên bên y tế công cộng của sân bay. Hai người đó không những phục trang giống nhau mà ngay cả chiều cao, khổ người cũng tương tự, chẳng có điểm gì khác biệt. Mặt nạ che kín không nhìn thấy mắt, nhưng chắc chắn là họ đang chú mục vào anh. Tim anh bắt đầu đập loạn nhịp. Chẳng biết vì sao nhưng tự nhiên anh có ý nghĩ không thể đứng yên chịu trói thế này được. Anh vội vàng đưa mắt nhìn quanh. Trong chớp mắt, nhân viên kiểm dịch túm lấy cánh tay anh. Bất ngờ bị nhân viên kiểm dịch giữ chặt một cách đáng ngờ như vậy, anh đành bất lực đứng im. Hai nhân viên y tế công cộng vừa tiến đến áp sát hai bên, nhân viên kiểm dịch liền buông tay anh ra. Tuy không bị túm tay nữa nhưng giờ lại bị kẹp cứng giữa hai gã cao lớn, anh toát mồ hôi, trông không khác gì bị bắt. Những người đang đứng chờ kiểm dịch và làm thủ tục nhập cảnh nhìn anh chằm chằm. Có lẽ vì cảm nhận được những ánh nhìn đó mà anh toát mồ hôi lạnh, hốt hoảng nuốt khan đến phát sặc, cơn ho khiến máu dồn lên làm mặt anh nóng bừng. Sau khi đi dọc theo một hành lang kéo dài chẳng có gì đặc biệt, anh được đưa tới một căn phòng trông như thể vừa bị nhúng vào thùng sơn trắng rồi nhấc ra. Sàn nhà lát gạch trắng, bốn vách tường và trần đều sơn một màu trắng. Chăn đệm phủ trên cái giường thấp cũng một màu trắng, bên cạnh giường, đặt chơ vơ một bộ bàn ghế cũng màu trắng nốt. Tất cả mọi thứ trong phòng đều tỏa ra thứ ánh sáng giống một cái bồn rửa vừa được tẩy trắng và sát khuẩn. Vì vậy căn phòng trông thật lạnh lẽo, mà thực tế là ở đây cũng đang bật điều hòa ở nhiệt độ thấp nhất tới mức có thể cảm nhận rõ cái lạnh, khiến anh mấy lần phải xoa xoa bắp tay đang nổi da gà mà bật ho một tràng. Một trong hai nhân viên y tế công cộng bảo anh ngồi xuống ghế, rồi cũng chậm rãi ngồi xuống ghế đối diện. Giọng anh ta nhẹ nhàng, lịch sự nên anh cũng thấy yên tâm phần nào. Anh đã tưởng vừa bước vào phòng là sẽ bị vật ra ngay. Nhân viên y tế công cộng cho biết thân nhiệt của anh cao hơn bình thường nên cần kiểm tra kỹ hơn, vì thế buộc phải đưa ra biện pháp là giữ anh lại như thế này, mong anh thông cảm. Câu nói chẳng có gì khó, vậy mà anh nghe không hiểu họ đang nói gì. Anh chưa thạo tiếng nước C, lại đang trong lúc hoang mang, rối trí nên ngay cả những từ đã biết, anh cũng không nghe ra được. Nhân viên y tế công cộng lặp lại lần nữa, nhưng anh cứ đờ ra nhìn như thể đã biến thành con cá trong bể cá cảnh, nhân viên còn lại có vẻ sốt ruột nên đã kiếm đâu ra ngay một cái từ điển điện tử. Với sự trợ giúp của từ điển, hai bên vừa nói vừa viết mà trao đổi câu chuyện... " *** Các cảnh báo nguy hiểm bao giờ cũng nhiều hơn so khi mối nguy thực sự xảy đến thì thường lại chẳng có một cảnh báo nào. Cũng chính vì lẽ đó mà những tờ hướng dẫn kiểm dịch và quy định phòng chống bệnh truyền nhiễm dán đây đó khắp sân bay, anh cũng chỉ nhìn qua rồi ngó lơ như chẳng có gì quan trọng. Cứ nhìn cảnh báo nhiều thế kia thì rõ ràng là chẳng có gì nguy hiểm hết. Như thể đọc được ý nghĩ của anh, nhân viên kiểm dịch trong bộ đồ phòng dịch kín mít từ đầu đến chân, tay lăm lăm nhiệt kế, khẽ nhăn mặt. Không biết vì nhiệt kế báo sốt nhẹ, hay vì mùi rượu tỏa ra từ người anh. Anh cắn môi, đưa tay sờ lên trán. Trán anh hâm hấp sốt như nhiệt độ của nồi cơm điện đặt ở chế độ hâm nóng. Chuyến bay ngắn nhưng thật mệt mỏi. Ngay trước ngày bay anh vẫn liên tục làm việc quá sức, rồi cơn say váng vất đêm qua giờ vẫn còn nguyên vẹn. Tay anh còn nóng hơn cả trán. Cổ tay anh buốt nhói, còn lòng bàn tay thì bỏng rát như thể đã gồng hết sức nắm chặt vật gì đó quá lâu. Nhìn lại thì thấy lòng bàn tay anh đầy những vết bầm tím. Chỉ hơi gắng sức một chút là đã dội lên một cơn đau nhức nhối. Lần này, nhân viên kiểm dịch kê nhiệt kế vào tai phải anh. Tiếng nhiệt kế hoạt động bên tai nghe hệt âm thanh báo động. Như phản ứng lại âm thanh đó, anh bật ra một con ho ầm ĩ. Nhân viên kiểm dịch lập tức đứng lùi lại một bước. Phát sinh ra thủ tục kiểm dịch thế này là vì đang có một căn bệnh truyền nhiễm. Còn chưa xác định được con đường lây truyền, căn bệnh đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia đầu tiên phát hiện mầm bệnh, lan nhanh và bùng phát hầu khắp các nước trên thế giới, hệt như một cái đệm rơm bắt lửa. Con đường lây nhiễm chưa rõ, thuốc điều trị còn đang trong giai đoạn nghiên cứu, mức độ lây lan cao, thêm vào đó, để đảm bảo nguồn vắc xin còn khan hiếm, một cuộc đấu đá ngấm ngầm giữa các nước đã nổ ra và đang trong hồi quyết liệt... vậy nhưng cũng may là tỷ lệ tử vong không cao lắm. Theo như thời sự trong nước đưa tin, anh thấy dù cho căn bệnh đó có nguy hiểm đến đâu đi nữa, chỉ cần giữ gìn vệ sinh cá nhân thật tốt thì cũng chẳng có gì đáng lo cả. Vị khách trước đó ngồi kế bên anh trên máy bay đang đứng xếp hàng ở lối bên cạnh, vẫn cứ ho liên tục không ngừng suốt từ lúc ở trên máy bay đến tận bây giờ. Người này mặc áo khoác vải tuýt kiểu cũ, dày quá mức so với thời tiết hiện tại, trên chuyến bay kéo dài năm giờ đồng hồ đến nước C đã phải uống tới bốn viên aspirin vì có triệu chứng ớn lạnh và đau đầu nghiêm trọng. Tiếp viên nói chắc là do máy lạnh, rồi mang tới hai cái chăn tự tay đắp cho vị khách đó. Có vẻ như đã uống thuốc mà cơn sốt vẫn không hạ, vị khách bên cạnh mặt đỏ gay. Nếu biết thủ tục kiểm dịch gắt gao thế này, chắc anh đã uống trước một viên aspirin, và nếu biết mức độ lây lan cao như vậy thì anh đã sớm đề nghị đổi chỗ ngồi rồi. Nhân viên kiểm dịch khẽ liếc nhìn anh một cái rồi đưa máy bộ đàm lên miệng nói gì đó. Lẫn trong tạp âm, giọng trả lời của ai đó vang lên rồi tắt phụt, ngay sau đó, từ bên cạnh khu vực chốt kiểm tra, hai người đàn ông bước lại. Hai người này mặc bộ đồ phòng dịch to phồng, lại đeo mặt nạ kín mít, trông như mấy chiếc xuồng cao su hay cưỡi dòng nước bập bềnh trồi lên ngụp xuống. Trước ngực bộ đồ phòng dịch in khá rõ dòng chữ “Trung tâm kiểm soát bệnh dịch”. Có vẻ là nhân viên bên y tế công cộng của sân bay. Hai người đó không những phục trang giống nhau mà ngay cả chiều cao, khổ người cũng tương tự, chẳng có điểm gì khác biệt. Mặt nạ che kín không nhìn thấy mắt, nhưng chắc chắn là họ đang chú mục vào anh. Tim anh bắt đầu đập loạn nhịp. Chẳng biết vì sao nhưng tự nhiên anh có ý nghĩ không thể đứng yên chịu trói thế này được. Anh vội vàng đưa mắt nhìn quanh. Trong chớp mắt, nhân viên kiểm dịch túm lấy cánh tay anh. Bất ngờ bị nhân viên kiểm dịch giữ chặt một cách đáng ngờ như vậy, anh đành bất lực đứng im. Hai nhân viên y tế công cộng vừa tiến đến áp sát hai bên, nhân viên kiểm dịch liền buông tay anh ra. Tuy không bị túm tay nữa nhưng giờ lại bị kẹp cứng giữa hai gã cao lớn, anh toát mồ hôi, trông không khác gì bị bắt. Những người đang đứng chờ kiểm dịch và làm thủ tục nhập cảnh nhìn anh chằm chằm. Có lẽ vì cảm nhận được những ánh nhìn đó mà anh toát mồ hôi lạnh, hốt hoảng nuốt khan đến phát sặc, cơn ho khiến máu dồn lên làm mặt anh nóng bừng. Sau khi đi dọc theo một hành lang kéo dài chẳng có gì đặc biệt, anh được đưa tới một căn phòng trông như thể vừa bị nhúng vào thùng sơn trắng rồi nhấc ra. Sàn nhà lát gạch trắng, bốn vách tường và trần đều sơn một màu trắng. Chăn đệm phủ trên cái giường thấp cũng một màu trắng, bên cạnh giường, đặt chơ vơ một bộ bàn ghế cũng màu trắng nốt. Tất cả mọi thứ trong phòng đều tỏa ra thứ ánh sáng giống một cái bồn rửa vừa được tẩy trắng và sát khuẩn. Vì vậy căn phòng trông thật lạnh lẽo, mà thực tế là đây cũng đang bật điều hòa ở nhiệt độ thấp nhất tới mức có thể cảm nhận rõ cái lạnh, khiến anh mấy lần phải xoa xoa bắp tay đang nổi da gà mà bật ho một tràng. Mời các bạn mượn đọc sách Tro Tàn Sắc Đỏ của tác giả Pyun Hye Young & Kim Ngân (dịch).