Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuộc Đời Ngắn Ngủi Và Lạ Kỳ Của Oscar Wao

Mọi chuyện chẳng bao giờ dễ dàng đối với Oscar, một anh chàng dễ thương nhưng thừa cân kinh khủng sống ở khu người Do Thái, một người New Jersey lãng mạn với giấc mơ trở thành nhà văn J.R.R Tolkien của Dominica và trên hết là giấc mơ tìm thấy tình yêu. Thế nhưng, Oscar không bao giờ nhận được điều mình mong muốn, bởi fukú chiếu vào cung tình duyên. Đó là một lời nguyền cổ xa đeo bám gia đình Oscar suốt nhiều thế hệ, khiến họ phải chịu cảnh tù tội, tra tấn, những tai ương thảm khốc và nhất là bệnh tật. Oscar, người không ngừng mơ tưởng đến nụ hôn đầu đời chỉ là nạn nhân mới nhất của lời nguyền đó - cho đến mùa hè định mệnh ấy, Oscar quyết định sẽ trở thành nạn nhân cuối cùng của lời nguyền. Với nguồn sinh lực và vốn hiểu biết đáng nể, tác giả Junot Diaz đưa chúng ta chìm đắm vào cuộc đời náo động của vị anh hùng Oscar, cô chị gái Lola, bà mẹ Belicia xinh đẹp dữ tợn của họ, đồng thời tham gia chuyến hành trình sử thi của gia đình đó từ Santo Domingo đến Washington Heights rồi tới Bergenline ở New Jersey, sau đó quay trở về. *** Review:   Cho dù những khổ đau đến cùng cực, nhưng cái còn lại trong 'Cuộc đời ngắn ngủi và lạ kỳ của Oscar Wao' vẫn là tình yêu, chỉ tình yêu. Đọc những dòng đầu tiên trong cuốn Cuộc đời ngắn ngủi và lạ kỳ của Oscar Wao, tưởng đâu một lần nữa lạc vào thế giới của Trăm năm cô đơn, khó hiểu và xáo động. Tác giả Junot Diáz đã dẫn người đọc đến thế giới của fukú, thế giới của những lời nguyền nhưng tôi thích gọi đó là định mệnh.   Bởi, con người ai sinh ra cũng có số mệnh cho mình hết, khổ đau hay sung sướng, giàu có hay nghèo hèn... và sau đó có bị vùi chết bởi tình yêu cũng là số phận. Nhưng ở đây, Junot cho ta thấy, con người có thể chiến thắng fukú và vượt lên nó bằng sức sống mãnh liệt như thế nào, chỉ bằng một thứ thôi: Tình yêu. Mở đầu với câu chuyện của một chàng Dominic tên Oscar - người đáng lẽ ra phải thật đào hoa và có hàng tá cô nàng theo bên cạnh - nhưng lại xuất hiện với bộ dạng mập, tròn ú và chẳng cô gái nào theo đuổi cả. Rồi là những chán nản đời thường, những chán nản rất trẻ thơ, chàng trai lao vào thế giới của truyện tranh và ảo tưởng, ngồi hàng giờ, hàng ngày để viết một câu chuyện không thật vào một thế giới xa xôi nào đó. Chỉ bởi, anh chàng tin chắc mình bị dính fukú truyền 3 đời. Cả bốn thế hệ từ ông ngoại - bác sĩ Abeland, mẹ - Beli, chị gái - Lola và bản thân Oscar đều có cuộc đời bất trắc và phiêu dạt. Sự mạnh mẽ và dữ dằn như những tố chất di truyền ẩn nấp sẵn trong dòng máu giúp họ chống lại số phận. Nhưng chính trong số phận của mình, họ luôn tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu. Ông ngoại che chở cho gia đình của mình bằng tình yêu của một người chồng, một người cha để cuối cùng tàn tạ nơi chốn ngục tù của tên độc tài Trujillo. Beli cho đến tận mối tình thứ ba mới thực sự tin tình yêu của cuộc đời mình không hề may mắn. Nhưng trước đó, tình yêu với Gangster mãi mãi với cô là tình yêu đẹp nhất, dù chờ đợi một cuộc giải cứu không bao giờ tới từ người tình, cô vẫn vẽ nên bức tranh tương lai rực rỡ.   Lola sống đầy mâu thuẫn và dằn vặt. Còn Oscar, cuộc sống dù không may mắn nhưng cuối cùng cũng thấy tình yêu đích thực của bản thân mình, để rồi sau đó bị trả bằng cái giá quá đắt. Có thể, ngoài tình yêu và sức mạnh của nó, bạn sẽ bắt gặp mình trong chính những con người, nhân vật ấy ở một thời điểm nào đó. Một Beli và Lola nổi loạn, dám làm mọi thứ khi bị cha mẹ gò ép, một Oscar sống khép mình với thế giới xung quanh nhưng lại đắm mình trong những thứ gần như ảo tưởng, một nhân vật "tôi" yêu thiết tha một người con gái nhưng lại có sự lựa chọn làm tổn thương người con gái ấy. Những cảm xúc và cung bậc của tuổi mới lớn được Junot thổi hồn vào, đem đến những tiếng nói của teen rất thực. Càng đọc càng thấy hút sâu vào thế giới của những con người khác nhau. Giọng kể của từng người, theo thời gian quá khứ - hiện tại đan xen vào nhau làm nên cách nói đa dạng, bộc lộ cá tính của từng nhân vật. Cuộc đời ngắn ngủi và kỳ lạ của Oscar Wao được tạp chí Time bầu chọn là tiểu thuyết hay nhất năm 2007 và nhận được Pulitzer năm 2008 là minh chứng rõ ràng nhất cho tiếng nói của thế hệ trẻ ngày hôm nay. Nhưng trước hết, thực sự, vẫn là tình yêu, hy sinh vì tình yêu, chờ đợi cũng bởi hai chữ tình yêu. *** Oscar, nhân vật chính, không phải là một người Dominic danh tiếng chúng ta thường nghe nhắc đến, hắn không phải là một người có biệt tài về thể thao hay khiêu vũ bay bướm, cũng không phải là một anh chàng nổi tiếng đào hoa.   Ngoại trừ một khoảng thời gian rất ngắn trong đời, hắn chẳng bao giờ có may mắn với phụ nữ, và chuyện này thật trái ngược với bản chất của đàn ông Dominic.   Năm ấy hắn lên bảy tuổi.   Trong những ngày thơ ấu hạnh phúc, Oscar có đôi chút giống một nhân vật trong phim Casanova. Từ khi còn học mẫu giáo chú bé này luôn tìm cách hôn các cô bạn học, luôn lén đến phía sau các cô lúc nhảy điệu merengue để ngoáy mông mình đụng vào mông các cô bé, là người đầu tiên học perrito và nhảy điệu này bất cứ cơ hội nào hắn vớ được. Bởi vì những ngày ấy, hắn là một chú bé Dominic “bình thường” được nuôi lớn trong một gia đình Dominic bình thường như mọi gia đình Dominic khác, bản tính “si tình” của hắn đang thời kỳ phát triển, lại được gia đình và bạn bè khuyến khích. Mỗi khi có tiệc - và có rất nhiều tiệc tùng - trong những năm bảy mươi, trước khi Washington Heights là Washington Heights, trước khi tuyến đường xe lửa Bergen với chiều dài chừng trăm con phố, chỉ toàn dân Spanish cư ngụ - một vài thân nhân trong lúc ngà ngà say đã đẩy Oscar vào một cô bé nào đó rồi cả đám cười phá lên, như thể một bé trai và một bé gái là đại diện tiêu biểu cho chân lý yêu đương, chuyện chung đụng xác thịt của người lớn.   Giá mà quý vị có thể gặp cháu lúc ấy, mẹ hắn đã thở dài trong những ngày cuối đời của bà. Cháu là Porfirio Rubirosa của chúng tôi.   Các bé trai cùng tuổi hắn trốn tránh bọn con gái như thể các cô bé là một thứ vi khuẩn độc hại có tên là Đại Úy Trips. Nhưng Oscar thì không. Chú bé này rất si tình và có rất nhiều “người yêu”. (Hắn khá bụ bẫm, trong tương lai sẽ trở nên béo phì, nhưng mẹ hắn giúp hắn có được vẻ xinh xắn nhờ mái tóc cắt khéo và quần áo tươm tất. Trước khi cái đầu hắn thay đổi hình dáng mất đi vẻ cân đối, hắn có cặp mắt sáng lấp lánh và đôi má tròn phúng phính thật đáng... yêu. Điều này rất hiển nhiên trong tất cả hình ảnh của hắn). Đám con gái - bạn của chị Lola, bạn của mẹ, ngay cả người hàng xóm, Mari Colón, nhân viên bưu điện chừng ba mươi tuổi, tô môi son đỏ choét và dáng đi ngúng nguẩy như thể cô ta đeo dây nịt ngang mông - đều yêu hắn, hắn tin như thế. Thằng bé đó trông hay lắm![12] (Hắn rất thật thà và thèm được chú ý, như thế, có hại gì cho hắn không? Chắc chắn là không!) Ở Dominic, những ngày hè được đến thăm Baní, nơi ngày xưa gia đình hắn cư ngụ, hắn làm rất nhiều trò quái đản, thí dụ như đứng trước cửa nhà của Nena Inca và nói to với những phụ nữ đi ngang nhà: Cô đẹp quá! Cô đẹp quá! cho đến khi một người nghiêm trang ngoan đạo than phiền với bà của hắn và bà dập tắt cuộc tán gái lộ liễu này. Thằng quỷ nhỏ! Đây không phải là nhà hàng hay quán rượu!   Lúc ấy thật sự là thời kỳ vàng son của Oscar, cao điểm là mùa thu năm hắn lên bảy tuổi, khi hắn có hai cô bồ xinh xắn cùng một lúc, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời hắn tham dự một cuộc tình tay ba. Với Maritza Chacón và Olga Polanco.   Maritza là bạn của Lola. Tóc dài, rất đỏm dáng và đẹp đến mức con bé có thể đóng vai Dejah Thoris[13]. Olga, thì khác, nó không phải là bạn của gia đình. Nó sống trong một căn nhà ở cuối phố chỗ mà mẹ Oscar hay chê bai, vì rất nhiều người Puerto Rico thường hay tụ tập, ngồi ngoài hiên nhà uống bia. (Cái gì, bọn chúng không thể nhậu nhẹt ở Cuamo hay sao chứ? Mẹ của Oscar hỏi một cách hằn học.) Olga có đâu chừng chín chục người là anh em họ, hình như hầu hết họ đều có cùng tên Hector, Luis, hay Wanda. Và bởi vì mẹ của Olga là một mụ nghiện rượu hay say bí tỉ không săn sóc con cái kỹ lưỡng (theo lời mẹ của Oscar), có lắm khi con bé có mùi khai ngấy, vì thế bọn trẻ con đặt cho nó cái tên Bà Khai.   Olga có là Bà Khai hay không thì Oscar vẫn thích cái tính im lặng của nó, và bởi vì nó chịu để cho hắn vật lộn, và còn chú ý khen mấy tượng đồ chơi Star Trek của hắn. Maritza thì quá đẹp, nên không cần phải có lý do, và cô cũng luôn luôn ở bên cạnh hắn. Rất khôn ngoan, hắn tìm cách bắt cá hai tay. Đầu tiên hắn giả vờ là có một nhân vật quan trọng mà hắn rất ngưỡng mộ tên là Shazam[14], muốn được làm quen với hai cô bé này. Nhưng đó không phải là Shazam, mà là Oscar.   Ngày ấy chúng rất ngây thơ, vì thế “tình yêu” của chúng chỉ đến mức độ đứng gần nhau ở trạm đón xe buýt, lén lút nắm tay nhau, và hai lần được hôn lên má một cách long trọng, trước là Maritza, xong rồi đến Olga, khi chúng khuất sau những bụi cây trên đường phố. (Nhìn cái thằng bé đầy nam tính kìa, bạn của mẹ hắn nói. Thật đúng là đàn ông.)   Cuộc tình tay ba này kéo dài được một tuần tuyệt đẹp. Một hôm sau khi tan học, Maritza chặn hắn lại ở đằng sau bộ ghế xích đu rồi ra điều kiện, hoặc là nó hoặc là em. Oscar nắm tay Maritza thuyết phục thật nghiêm trang tình yêu của hắn dành cho cô bé, cố nhắc cô bé là chúng nó đã đồng ý chia sẻ với nhau, nhưng cô bé chẳng chịu nghe. Maritza có ba người chị và vì thế cô bé biết rất rõ chuyện chia sẻ. Đừng có nói chuyện với tôi trừ khi anh đã bỏ con nhỏ kia! Maritza, với làn da màu sôcôla và đôi mắt hẹp, đã toát ra phép thuật của Ogún và cô bé có thể suốt đời dùng quyền phép này để giam cầm tất cả mọi người. Oscar buồn bã về nhà với bộ phim hoạt hình của hắn, bộ phim Herculoids and Space Ghost (Herculoids và Ma không gian), có trước khi những bộ phim dài tập ướt át của Hàn Quốc ra đời. Con có chuyện gì buồn phải không? Mẹ hắn hỏi. Bà đang chuẩn bị đi làm công việc thứ nhì, cái chỗ ngứa trên tay bà đỏ ửng loang lỗ. Khi Oscar than thở, Bọn con gái..., Mẹ Léon nổi đoá. Mày than khóc vì một đứa con gái nhiều quá. Bà xoắn lỗ tai của hắn đến độ suýt nữa có thể nhấc hắn lên khỏi mặt đất.   Mẹ. Ngừng lại, chị hắn hét to, ngừng lại!   Bà xô hắn xuống nền nhà, cho mày một cái tát vào mặt, bà thở hổn hển, để rồi xem con đĩ mén đó có còn yêu mày nữa không?   Nếu là một đứa con trai nào khác, có thể hắn phản ứng mạnh. Không phải vì hắn chẳng có một người bố để được hướng dẫn cách phản ứng như đàn ông; đơn giản chỉ vì tính hắn hiền lành không có khuynh hướng đánh đấm. (Khác với chị của hắn, từng đánh nhau với con trai và cả một bọn con gái da nâu. Những người này ghét Lola vì cô có mũi thẳng và tóc thẳng.) Oscar, dường như không có chút khả năng chiến đấu nào cả; ngay cả Olga với hai cánh tay gầy như que tăm cũng có thể đạp hắn đến bẹp dí. Tấn công và đe dọa không phải là sở trường của hắn. Vì thế, hắn suy nghĩ. Hắn cũng chẳng phải mất nhiều thì giờ để quyết định. Nói cho cùng, Maritza xinh xắn, Olga không; Olga thỉnh thoảng khai mùi nước tiểu, Maritza không; Maritza được phép đến nhà hắn chơi, còn Olga thì không. (Cho một đứa người Puerto Rico đến đây à? Mẹ hắn gắt. Không bao giờ!). Lý luận của hắn hầu như chỉ có chữ có hay không với những bài toán cộng trừ số côn trùng mà bọn trẻ con được học. Hôm sau ở sân chơi, hắn “nghỉ chơi” với Olga. Maritza đang ở bên cạnh hắn, và con bé Olga khóc ôi thôi là khóc! Run rẩy như một miếng giẻ rách trong mớ quần áo thừa hưởng của người và trong đôi giày lớn gấp bốn lần cỡ chân của nó! Mũi dãi lòng thòng!   Về sau, khi hắn và Olga đều trở nên béo phì xấu xí, thỉnh thoảng hắn nghe dâng lên trong lòng cảm giác tội lỗi mỗi khi nhìn thấy Olga băng qua đường, hay lúc cô ta nhìn bâng quơ gần trạm xe buýt đi New York. Hắn tự hỏi thái độ tàn nhẫn của hắn đã tác hại đến mức nào trong việc đẩy cô vào trạng thái dở dở ương ương như hiện nay. (Nghỉ chơi với con bé ngày ấy, hắn hồi tưởng, hắn chẳng có cảm giác gì hết; ngay cả khi con bé bắt đầu khóc, hắn cũng chẳng thấy cảm động. Hắn còn nói, Đừng có làm như là em bé.)   Hắn chỉ thật sự đau khi Maritza bỏ hắn. Ngày thứ hai sau khi bỏ rơi Olga, hắn đến trạm xe buýt, tay cầm cái hộp đựng thức ăn trưa có hình Planet of the Apes (Hành tinh khỉ) mà hắn rất yêu thích, chỉ để khám phá cô bé xinh đẹp Maritza đang nắm tay thằng Nelson Padro xấu xí. Nelson Padro giống nhân vật Chaka trong Land of the Lost (Đất người lưu lạc)! Nelson Padro ngu đến nỗi nó tưởng mặt trăng là một vết bẩn mà Chúa quên lau sạch đi, (vết bẩn sẽ được lau ngay, hắn hứa với cả lớp.) Nelson Padro trở thành chuyên viên ăn trộm vặt trong xóm trước khi gia nhập lính thủy đánh bộ và bị mất tám ngón chân ở Chiến tranh Vùng Vịnh lần đầu. Thoạt tiên Oscar ngỡ mình nhìn lầm; vì mặt trời rọi vào mắt hắn, và vì hắn đã không ngủ đủ đêm qua. Hắn đứng cạnh hai cô bé và ngắm nghía hộp đựng thức ăn trưa của mình, sao Tiến sĩ Zaius[15] nhìn có vẻ ghê gớm và giống như thật thế. Nhưng Maritza chẳng thèm mỉm cười với hắn! Vờ như không có hắn ở đấy, cô bé nói với Nelson, mình nên cưới nhau, và Nelson mỉm cười một cách ngu độn, rồi nhìn ra đường để tìm xe buýt. Oscar đau lòng đến độ không nói được. Hắn ngồi xuống lề đường và cảm thấy có cái gì đó dâng lên tràn ngập cả ngực hắn, làm hắn sợ quá, và trước khi kịp nhận ra thì hắn đã khóc; khi chị Lola đến gần hỏi hắn có chuyện gì vậy, hắn chỉ lắc đầu. Nhìn cái thằng nhỏ dị hợm kia kìa, có đứa nói mỉa mai. Có đứa nào đó đá cái hộp đựng thức ăn trưa rất cưng của nó, làm xước ngang mặt Đại tướng Urko. Khi leo lên xe buýt, hắn vẫn còn khóc. Anh tài xế, nổi tiếng đã cai nghiện ma túy, nói, Chúa ơi, có phải là em bé đâu mà nhè mãi thế.   Chuyện đoạn tuyệt đã ảnh hưởng đến Olga như thế nào? Thật ra hắn muốn hỏi: Chuyện này đã ảnh hưởng đến Oscar như thế nào?   Với Oscar, dường như từ giây phút Maritza bỏ hắn - Shazam! - đời hắn bắt đầu trôi xuống cống. Trong vòng một vài năm tiếp theo, hắn càng lúc càng béo phị ra. Tuổi dậy thì đặc biệt không nương tay đã ném vào mặt hắn tất cả những thứ không được ưa nhìn, mặt hắn sần sùi vì mụn làm hắn ngượng ngùng mặc cảm; và cái sở thích của hắn - con gái! - trước đó chẳng ai chê bai, bây giờ bỗng bị xem là kỳ cục, mà chữ K phải được trân trọng viết hoa. Hắn không làm bạn với ai, vì hắn kỳ khôi quá, nhút nhát quá, và (nếu người ta có thể tin lời đám trẻ con láng giềng) dị hợm quá (hắn có cái tật thích dùng chữ văn hoa to lớn, những chữ mà hắn chỉ mới học thuộc lòng vài ngày trước đó). Hắn không còn dám đến gần con gái nữa, vì nếu may thì đám con gái sẽ chẳng buồn đoái hoài gì đến hắn, còn nếu rủi thì chúng la hét ỏm tỏi, rồi bảo rằng hắn mập và ghê tởm quá! Hắn không còn nhớ điệu khiêu vũ perrito, quên niềm kiêu hãnh khi đám phụ nữ trong gia đình gọi hắn là “đàn ông”, hắn chẳng được hôn một cô gái nào đã từ lâu lắm. Tựa hồ những gì của hắn có liên quan đến con gái đều bị cháy tiêu trong cái tuần lễ khốn nạn đó.   Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Ngắn Ngủi Và Lạ Kỳ Của Oscar Wao của tác giả Junot Diáz.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Qui Cố Hương - Jiro Osaragi
“Nghĩ đến con cái tự nhiên lòng mình thanh sạch. Đó là diễm phúc của kẻ làm cha mẹ đó, cô biết không!” [Jiro Osaragi, Qui Cố Hương. Bản dịch Bùi Ngọc Lâm, Saigon 1973] Đọc Jiro Osaragi thấy cái không khí Âu châu của Kazuo Ishiguro phả khắp. Đây là tác gia tôi ít đọc, hình như chỉ biết có Hành Trình (The Journey), và nay làHomecoming. Nước Nhật của Osaragi là nước Nhật hậu chiến, nước Nhật thất trận. Thay vì nhìn đất nước dưới nhãn quan của người trong cuộc tham luyến và tội tình, của người cố gắng níu giữ vàng son đã mất như Y. Kawabata, Osaragi đặt mình là kẻ bàng quan. Ông cho nhân vật của mình đào thoát ra hải ngoại rồi quay về nhìn cố hương. Để thấy rằng những ngôi đền trên đỉnh núi vẫn đáng ngưỡng vọng, những cội anh đào sân chùa vẫn đáng chiêm bái, những vườn đá vườn sỏi vườn rêu vẫn đẹp đẽ, nhưng là cái đẹp của nghèo. Bởi nghèo nên buộc phải làm đẹp theo cách ấy. Gian nhà hoang chỉ có một vò rượu chơ vơ, là vì nghèo. Minimalism hóa ra là con đẻ của sự hoang tàn, túng thiếu. Nó đẹp một cách đau xót. Tình phụ tử, tình yêu trong văn Osaragi cũng được cảm bằng mắt người-ngoài-cuộc. Tỉnh táo, điềm tĩnh. Cha rất sung sướng khi con đã đến, nhưng lẽ ra con không nên làm thế, con không nên gặp một hồn ma, con đã đủ can đảm để lớn lên, thì con có thừa can đảm để xa cha. Em là người đàn bà khác thường, nhưng em đã gây ra cho tôi bao nhiêu oan khiên, vậy xin phép em, mai tôi đi sớm, tôi rửa hận bằng cách từ chối tình yêu của em. Tuyệt vời! Khi được hỏi mình có những tật xấu gì, Đức Dalai Lama nói, tôi còn tham luyến, chẳng hạn tôi không rời được cái đồng hồ đeo tay này. Còn bám chấp vào một cái gì, là còn phiền não. Đọc Osaragi để học cách yêu thương mà không nhất thiết phải dính chặt vào đối tượng yêu thương. *** Jiro Osaragi (4/10/1897 – 30/4/1973) tên thật là Haruhiko Nojiri. Ông sinh ra tại Yokahama, Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp từ Đại học Hoàng gia Tokyo, ông được nhận vào giảng dạy tại trường nữ sinh Kamakura (ngày nay là trường trung học Kamakura Jogakuin) nằm tại Kamakura, tỉnh Kanagawa. Nhờ các kỹ năng ngôn ngữ của mình, năm 1922, ông được tuyển dụng vào Bộ Ngoại giao. Nhưng sau trận động đất Great Kanto năm 1923, ông mất việc và quyết định trở thành nhà văn. Năm 1924, ông xuất bản quyển tiểu thuyết lịch sử đầu tiên Hayabusa no Genji. Các tiểu thuyết của ông phổ biến với bối cảnh lịch sử như Kurama Tengu (1924 – 1959), Teru Hi Kumoru Hi (“Sunny Days Cloudy Days”, 1926 – 1927), và Ako Roshi (“Loyal Retainers of Ako”, 1927 – 1928) đã được phát hành trên báo và tạp chí mang lại cho ông một lượng lớn những người ủng hộ. Nhiều truyện sau này được chuyển thể thành phim ảnh. Mời các bạn đón đọc Qui Cố Hương của tác giả Jiro Osaragi.
O, Mari! - Robert Enghibarian
N hận được cuốn tiểu thuyết O, Mari! của tác giả Robert Enghibarian từ tay bà Raisa Vardanyan, Đại sứ Armenia mới nhận nhiệm vụ ở Việt Nam, với đề nghị tôi sớm tổ chức dịch ra tiếng Việt để có cơ hội sắp tới giới thiệu với đông đảo bạn đọc chúng ta thêm hiểu về đất nước của bà, tôi thấy có cảm tình ngay với cuốn sách. Sách dày dặn, in ấn chững chạc, bìa các tông cứng, mặt bìa trang nhã với gương mặt xinh đẹp hiền hậu của một cô gái phương Tây bên cạnh ngọn tháp Epphen Pari quen thuộc. Linh cảm mách bảo tôi cuốn sách hẳn nói đến một mối tình có dính líu giữa chàng trai Armenia - xứ sở thuộc châu Á, vốn là một nước Cộng hòa Xô viết nằm ở cực Nam Liên xô trước đây, và cô gái bên trời Âu - cô gái Pari chăng? O, Mari! Bất giác tôi nhớ ngay tới khúc hát quen hình như đã được nghe ở đâu đó chỉ một hai lần mà cứ nhớ mãi: “Ô, Mari! Đóa hoa hồng. Trên đồng nội nơi em đi qua hoa cỏ ngả rạp mình đón chào em…”. Có lẽ trong bộ phim đạo diễn điện ảnh Liên xô nổi tiếng Rôman Karmen quay những ngày cuối chiến dịch Điện Biên Phủ có cảnh nhiều gương mặt các sĩ quan Pháp bị bắt làm tù binh buồn rầu ngẫm nghĩ trong tiếng hát của ca sĩ giọng teno da diết “Ô, Mari! Đóa hoa hồng...” Về nhà, tôi đã bắt tay vào đọc cuốn sách O, Mari! và càng đọc càng thấy hấp dẫn. Đúng là câu chuyện về một tình yêu sét đánh, say đắm giữa chàng trai người bản địa, sinh viên năm thứ hai khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Erevan Armenia và cô gái "tóc sáng màu, cao không dưới một mét bảy lăm, dáng thể thao,…. gợi nhớ hình ảnh một nữ diễn viên nước ngoài…với một sự khác biệt chưa từng thấy, hoàn toàn nổi bật so với các khuôn mẫu sắc đẹp địa phương…Một thân hình được luyện tập, một bộ ngực nhỏ nhắn gần như không lộ ra, cặp chân dài, cần cổ cao, mái tóc vàng, ánh bạch kim chấm vai..." Chàng tên là Đavid, con trai một cán bộ cao cấp- tổng biên tập phụ trách một tờ báo lớn của một nước cộng hòa, từ bé đã luyện tập thể thao, đã đạt tới danh hiệu cấp quốc gia về môn vật tự do, là một trang nam nhi tuấn tú, học giỏi, nghĩa hiệp, được bạn bè cùng trường kính nể. Còn tên nàng chính là Mari, như trong bài hát quen thuộc, sinh ra ở Pari, bố là người gốc miền tây Armenia đã phải lưu lạc sang sống ở Pari từ sau Đại chiến thế giới thứ nhất, mẹ là một phụ nữ Pháp. Lên chín tuổi Mari theo cha mẹ hồi cư theo lời kêu gọi chiêu hồi của chính phủ Liên xô vào năm 1948, nay là sinh viên khoa Ngữ văn cùng một trường Đại học Tổng hợp Erevan. Một lần làm nhiệm vụ đội trưởng đội tự quản sinh viên ở cổng trường, Đavid đã tình cờ để ý thấy Mari…lập tức hình ảnh của Mari gây ấn tượng mạnh cho Đavid và chàng trai đã mê mẩn tìm cách làm quen với nàng. Chàng đã có cơ hội tự nguyện giúp nàng từ việc nhỏ nhất, mua hộ bữa ăn trưa cho nàng đến việc giải thoát cho nàng khỏi sự quấy quả hăm dọa của bọn côn đồ đường phố. Từ những sự quan tâm và nghĩa hiệp ấy dần dần nàng có cảm tình lại với Đavid. Mặc cho sự can ngăn chân thành của người bạn “nối khố” ngay từ sau những rắc rối đầu tiên xảy ra khi Đavid bắt đầu “dính" Mari, anh chàng Rapha hơn tuổi nhưng cùng khoa Luật: “tớ không khuyên cậu lằng nhằng với con búp bê đó. Quanh nó có cả trung đoàn bọn lượn vè vè, lại thêm một số cậu nghiêm túc nữa. Cậu sẽ vất vả, sẽ nhận được là: “vĩnh biệt, chàng trai, au revoir!”. Cô ta không dành cho cậu. Cô ta cần một chàng trai trí thức chững chạc, có tương lai chứ không phải một sinh viên năm thứ hai, dù là nhất đẳng môn vật tự do…” Bố mẹ Đavid cũng can ngăn con trai. Bố Đavid khuyên: “…Mari - không nghi ngờ gì, là một cô gái tốt, nhưng nó đã biết nó cần gì trong cuộc đời này, còn con thì chưa. Người vợ tương lai của con hiện đang học cấp một. Đấy, con xem mẹ con lấy bố trẻ hơn bố đến tám tuổi…Mari là người đồng niên với con nhưng trong cuộc sống nó già dặn và thông minh hơn con nhiều, phải đến bảy - tám năm. Con có thể là người đàn ông yêu quý của nó, nhưng không bao giờ là uy tín thực sự. Con cứ đi lại với con bé, làm bạn, nếu có thể có tình bạn đơn thuần, đừng ngu ngốc, đừng làm hỏng đời của con và của nó”. Nhưng tình yêu giữa đôi trai gái vẫn cứ mỗi ngày một khăng khít gắn bó. Đavid và Mari quấn quýt bên nhau như hình với bóng, như đôi sam bể…Vượt qua biết bao trở ngại thử thách trong bối cảnh xã hội có nhiều vấn đề phức tạp của lịch sử thời kỳ “băng tan” những năm 50, 60 thế kỷ trước ở Liên xô. Tình yêu khăng khít kéo dài suốt hơn bốn năm trời ăn học cho đến khi cả hai người cũng đã nhận được bằng tốt nghiệp, bắt đầu thu xếp công ăn việc làm… Đavid và Mari lại phải chia tay… Tình yêu không trọn vẹn mặc dù cả hai phía đều có thiện chí…Mari theo bố mẹ một lần nữa đi tái định cư ở Pari. Còn Đavid kiên quyết ở lại đất nước, quê hương với những người thân: cha mẹ, em trai mình, bạn bè, đồng nghiệp, kể cả những người bạn cùng học không tốt đẹp gì. Đavid đã từng khẳng định suy nghĩ và quyết định đúng của mình. Phản đối lại cái nhìn của ông Varugian, chuyên gia hóa học cũng là người hồi hương, luôn thất vọng từ khi trở về nước, Đavid khẳng định: “Chú cứ yên tâm, cháu ở đất nước của mình cảm thấy mình là người chủ!” Điều chia cắt mối tình không phải hai người cùng lứa tuổi, không phải những ghen tuông hờn giận thỉnh thoảng lại bột phát ở anh ở chị, cái thói thường của bất cứ đôi trai gái yêu nhau nào, không phải ở những hiểm nguy xã hội luôn rình rập…mà là ở cái nhìn một hiện thực xã hội khác nhau xuất phát từ môi trường văn hóa giáo dục của mỗi người, như có lần chính Đavid cũng đã nhận thức ra… Đavid và Mari chia tay nhau một cách đau đớn đầy nước mắt: “trước khi ra máy bay cùng cha mẹ trở lại Pari, Mari òa khóc nức nở. Không e ngại những người chung quanh, nàng ôm chặt lấy tôi, ghì sát vào ngực tôi”. Và chàng trai cũng: “Mái tóc sáng của Mari vừa mất hút không còn thấy, tôi mặc cho tình cảm bùng ra. Lấy cổ áo bành tô che đi, tôi nức nở khóc tức tưởi”. Một câu chuyện tình yêu, rất chân thật, được kể lại với những bối cảnh xã hội chân thật, được viết ra bởi tác giả, gần như tự sự cuộc tình duyên của chính mình. Những điều tác giả, một nhà khoa học dày dặn kinh nghiệm trong cuộc đời hoạt động sôi nổi của mình, trên cương vị với trách nhiệm của một nhà hoạt động xã hội có uy tín, hiện giữ các trọng trách trong giới trí thức đương đại ở Liên bang Nga, đưa ra trong cuốn tiểu thuyết đem cho người đọc nhiều hiểu biết, nhiều suy nghĩ như những bài học trong cuộc sống đang đi lên, hướng đến cái thiện, cái đẹp, hạnh phúc của con người. Đối với riêng tôi, như một người đọc, tôi vô cùng biết ơn tác giả. Có lẽ tôi hân hạnh được là người cùng thế hệ với tác giả, tuổi đời sấp xỉ hơn kém nhau chút ít. Tôi may mắn được sống ở Liên xô những năm tác giả miêu tả trong sách. Tôi cũng đã có lần từng được đến Erevan thủ đô của quê hương Armenia của tác giả, đến thăm ngôi trường Đại học Tổng hợp quốc gia Erevan, quảng trường Lênin, nơi nhân vật của cuốn sách đã ăn học, đã sinh sống… Cám ơn tác giả đã cho tôi sống lại tuổi trẻ của tôi, cho tôi thấy rõ thêm quê hương của ông, cho tôi thấy rõ hơn những bước đường tôi đã đi qua và hướng đi tiếp tới tương lai trên đoạn đường đi tiếp cùng với nhân dân, đất nước quê hương của mình. Và hy vọng rằng cuốn sách cũng để lại cho không ít bạn đọc khác ở Việt Nam có được những trải nghiệm như bản thân tôi… Dịch giả: THÚY TOÀN   R obert Enghibarian - Giám đốc viện Quốc tế điều hành (Đại học tổng hợp) MGIMO thuộc Bộ Ngoại giao Nga, Tiến sĩ khoa học luật pháp, Giáo sư, Nhà hoạt động công huân các khoa học của Liên bang Nga, Tiến sĩ Danh dự của Viện Hàn lâm khoa học nước cộng hòa Armenia và nhiều nước ngoài (Serbia, Sloveniya, Canada), nhiều trường cao đẳng Nga và nước ngoài. Trong cuốn tiểu thuyết tâm lý - bi kịch: những sự việc bi thảm của cuộc sống những người đương thời của tác giả đã diễn biến trên nền rất nhiều sự kiện xã hội - chính trị, nhiều biến thái của các quan hệ xã hội. Con người và thể chế, tình yêu và tình cảm, nghĩa vụ, tình bạn và sự phản bội, sự nóng vội của tuổi trẻ và sự sáng suốt của tuổi trưởng thành, những mô típ của các hành động con người, những sự thất thường của số phận luôn thay đổi - đó chỉ là một ít vấn đề mà tác giả suy nghĩ tới. Các hoạt động được miêu tả trong cuốn tiểu thuyết, đều được dựa trên các sự việc có thật, tất cả các nhân vật đều có nguyên mẫu của mình và nhiều khi mang tên họ thật. Cốt truyện sinh động, các nhân vật sáng rõ mạnh mẽ, sự thật chướng tai gai mắt về sự không giới hạn trên bình diện quốc gia tái hiện lại bức tranh sống động của quá khứ vừa qua - mặt trái của thời kỳ băng tan(1) - thời kỳ Khơrusốp, .... được tiểu thuyết hóa. Mời các bạn đón đọc O, Mari! của tác giả Robert Enghibarian.
Lila K Hành Trình Tìm Lại - Blandine Le Callet
Một cuốn tiểu thuyết hướng nghiệp, nơi mà sự hồi hộp gay cấn pha lẫn với một câu chuyện tình gây bấn loạn. Hành trình tìm lại cuộc sống của Lila K cũng là một cuốn sách tự vấn về những tiến triển và những lệch hướng có thể về xã hội chúng ta. Trước tiên đó là một tiếng nói: tiếng nói của một cô gái trẻ nhạy cảm và chua cay, mong manh nhưng đầy ý chí, cô kể lại câu chuyện của mình kể từ ngay những người đàn ông bận đồ đen đến bắt cô khỏi tay mẹ mình, và đưa cô đến một Trung tâm, nửa ký túc xá, nửa nhà tù, nơi mà cô đã được ăn uống và học hành. Thông minh tuyệt đỉnh, không thích nghi với xã hội, bị trấn thương tinh thần nặng nề, Lila đã quên hẳn cuộc đời trước đây của mình. Cô chỉ có một nỗi ám ảnh: tìm lại mẹ mình, và những ký ức đã mờ nhạt xưa kia của mình mà thôi. Và thế là cô bắt đầu một công việc học tập hỗn độn, giữa một môi trường khác biệt hoàn toàn một cách kỳ dị, nơi mà sự an ninh hình như kể từ đây là rất đảm bảo, nhưng lại là nơi mà các tác phẩm sách báo không có chỗ trú. Theo dòng cuộc điều tra mà nó sẽ đưa cô ra đi trượt khỏi lề của sự chính đáng, Lila dần dần khám phá quá khứ của mình, và cuối cùng sẽ biết được mẹ của cô hiện giờ ra sao. Chặng đường đi của cô sẽ va phải con đường của nhiều nhân vật khác, trong số đó có một thầy giáo thông thái nhưng có tính khiêu khích, một người giáo dưỡng vừa rất đúng tập tục lại rất mẫn cán, một nữ nhạc công chơi đàn vi-ô-lon-xen bị suy nhược thần kinh do hiếm con, một nữ gác cổng hiểm độc, một thanh niên bị dị hình, một người ham tìm sách quý hiếm, một con mèo đa sắc… Mời các bạn đón đọc Lila K Hành Trình Tìm Lại của tác giả Blandine Le Callet.
Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa - Nhã Ca
Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (sinh 1939), là một nữ văn sĩ người Việt với nhiều tác phẩm viết thời Việt Nam Cộng hoà, hiện định cư ở Hoa Kỳ. Nhã Ca sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960 - 1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết. Một số tác phẩm của bà lấy xứ Huế làm trọng điểm. Theo lời kể của ông Nguyễn Đắc Xuân (nhà văn) thì bà vốn là một nữ sinh Huế (cùng thế hệ với Nguyễn Đắc Xuân), bỏ học Trung học vào Sài Gòn đi theo Trần Dạ Từ - một người Bắc di cư. Trần Dạ Từ viết báo chống các Phong trào tranh đấu chống Mỹ, hai vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca là hai cây viết tâm lý chiến của Đài Tự do của Mỹ (Đài có nhiệm vụ tuyên truyền chiêu hồi và viết bài tấn công về tư tưởng đối với binh lính đối phương) Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền giam hai năm vì tội "biệt kích văn hóa" (có cuốn sách mang tên là ‘Biệt Kích Văn Hoá’ do các học giả, nhà văn ủng hộ Mặt trận giải phóng như Trần Văn Giàu, Lữ Phương, Vũ Hạnh... viết về 10 tác giả miền Nam. Trong sách này, ngoài bà có Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến...). Trong tù, bà bị biệt giam và chính quyền tiến hành chính sách "khoan hồng, nhân đạo của Đảng" nhằm hạ gục uy tín của bà. Chính cuốn Giải khăn sô cho Huế bị liệt vào hạng tối kỵ, trưng bày trong "Nhà Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy" là chứng tích kết tội bà. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, thì bị giam 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống Việt Báo Daily News tại Quận Cam. Theo nhà văn Nguyễn Đắc Xuân thì cặp vợ chồng Trần Dạ Từ - Nhã Ca còn từng phụ trách nguyên cả một chương trình của đài Á Châu Tự do (RFA) của Mỹ. Tác phẩm: Nhã Ca mới (1965) Đêm nghe tiếng đại bác (1966) Bóng tối thời con gái (1967) Khi bước xưống (1967) Người tình ngoài mặt trận (1967) Sống một ngày (1967) Xuân thì (1967) Những giọt nắng vàng (1968) Đoàn nữ binh mùa thu (1969) Giải khăn sô cho Huế (1969) đoạt Giải Văn chương Quốc gia Việt Nam Cộng hòa năm 1970[4] (tái bản ở Hoa Kỳ năm 2008) Một mai khi hòa bình (1969) Mưa trên cây sầu đông (1969) Phượng hoàng (1969) Tình ca cho Huế đổ nát (1969) Dạ khúc bên kia phố (1970) Tình ca trong lửa đỏ (1970) Đời ca hát (1971) Lặn về phía mặt trời (1971) Trưa áo trắng (1972) Tòa bin-đing bỏ không (1973) Bước khẽ tới người thương (1974) v.v... Phim Đất khổ do Hà Thúc Cần sản xuất và hoàn tất năm 1973, đã một phần dựa theo cuốn Giải khăn sô cho Huế và Đêm nghe tiếng đại bác, do Nhã Ca viết đối thoại. Tại hải ngoại, bà tiếp tục sáng tác, như: Hồi ký một người mất ngày tháng Đường Tự Do Sài Gòn (2006). Mời các bạn đón đọc Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa của tác giả Nhã Ca.