Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hai Đời Chồng

Quảng Ninh trời trở lạnh, tôi đi con xe máy cà tàng về đến sân nhà mà toàn thân cũng run như cầy sấy. Vừa bước đến cửa đã nghe tiếng mẹ tôi rít lên: - Hôm nào cũng như hôm nào, đi đĩ hay sao mà khuya khoắt giờ này mới về, tiền tháng này có tăng được xu nào không mà bày đặt đi sớm về khuya? Tôi mím chặt môi, những câu chửi từ một người mẹ sao tàn nhẫn như mũi kim đâm vào tim mà dù đã quen thuộc tôi vẫn không khỏi xót xa. Mẹ thấy tôi không nói, đập mạnh chén trà xuống dưới bàn ném cả chùm chìa khoá vào mặt tôi rồi dậm chân thình thịch bước lên cầu thang. Tôi đứng nhìn mẹ đi khuất sau mới dám đóng cửa nhẹ nhàng sau đó bước xuống bếp. Trong bếp lạnh tanh, chỉ có chút cơm nguội và vài ba con cá khô còn không được đạy lại cẩn thận. Nhìn vào thùng rác, lòng tôi khẽ nhói lên, xương gà, vài sợi miến rớt rơi cũng đủ hiểu hôm nay cả nhà có bữa ăn thịnh soạn thế nào. Sống mũi tôi cay cay, cầm bát cơm khô khốc mà nuốt cũng không trôi. Đột nhiên đằng sau có tiếng động nhẹ, vừa quay lại chợt thấy chị Linh cầm chiếc đùi gà luộc ấn vào bát cơm của tôi khẽ nói: - Ăn đi, chị giấu mãi mới không bị phát hiện đấy. Sao hôm nay về muộn thế? Chị Linh là chị gái ruột tôi, chị đang học đại học năm cuối, từ nhỏ đã được ba mẹ xem như bảo bối. Nhiều lúc tôi cũng rất ganh tỵ, cũng thường tự hỏi vì sao cùng là con mà chị được yêu thương, được đi học đại học, được sống như một cô công chúa còn tôi lại bị mẹ ghét đến vậy. Thế nhưng có nói thế nào cũng không thể phủ nhận rằng trong nhà này chỉ có chị là thương tôi. Trước kia bà nội còn ở đây, bà rất hay bênh tôi có điều bà và mẹ tôi khắc khẩu, sau một trận cãi vã lớn bà đã về quê sống. Chị Linh thấy tôi ngây người liền đẩy đẩy nhẹ vai tôi: - Này ăn đi chứ muộn quá rồi đấy hay định đợi đêm mới ăn? Tôi bật cười nhận lấy miếng đùi gà gặm khẽ hỏi lại: - Chị về từ lúc nào đấy? Lần này chị về lâu không? - Chị về từ trưa rồi mà xe hôm nay đi chậm quá hơn năm tiếng mới đến nhà, lần này về thực tập sáu tháng cơ. Mà sao em đi làm muộn thế? Đông khách lắm à? - Dạ vâng, trời trở lạnh mà nhà hàng lại mới có thêm món nướng lẩu nên đông lắm. - Làm gì thì làm nhớ chú ý giữ gìn sức khoẻ đấy. Chị lên phòng trước đây, ăn xong thì lên tắm rồi lên ngủ nhé. Tôi gật đầu, nhìn theo bước chị rồi nhanh chóng ăn vội phần cơm, rửa bát sau đó bước vào phòng tắm. Bình nóng lạnh được mẹ tôi quy định chỉ bật đến tám giờ tối, cũng may nước lúc này vẫn hơi ấm, tôi tắm vội rồi đi lên tầng. Bên trong phòng ngủ của ba mẹ có tiếng mẹ tôi cằn nhằn, chửi rủa. Dù đã quen nhưng sao hôm nay tâm trạng tôi lại có chút xót xa. Có lẽ trời lạnh, chút dư vị đầu đông khiến tôi yếu đuối đến vậy. Lên đến phòng chị Linh đã ngủ, tin nhắn của Thắng gửi cho từ tối tôi chưa kịp đọc lúc này mới mở ra. Thế nhưng khi vừa chạm tay vào mình hình điện thoại Thắng đã gọi, tôi vội mở cửa nhà vệ sinh bước vào, đầu dây bên kia trọng trầm ấm cất lên: - Em về đến nhà chưa? Xin lỗi em hôm nay anh có cuộc họp về muộn quá không đưa đón em được. Nghe giọng áy náy của Thắng tôi bật cười đáp: - Xin lỗi gì chứ, ai cũng có công việc mà, vả lại anh đừng coi em là trẻ con như vậy. Em cũng đi làm hai năm rồi có ít đâu. - Thì trong mắt anh lúc nào em cũng trẻ con mà, Phương! Anh nhớ em quá, cuối tháng này anh sẽ đứa em về ra mắt ba mẹ nhé. Câu nói cuối cùng của Thắng khiến tim tôi như ngừng lại, mặc dù yêu nhau cũng đã hơn một năm nay, vậy mà mỗi lần anh nói lời ngọt ngào tôi lại như đứng cả tim. Chỉ có điều, trong lòng tôi lại dấy lên một nỗi bất an mơ hồ, một sự tự ti mà dù Thắng đã nói rất nhiều lần tôi vẫn không thể xua tan đi được. Thấy tôi im lặng, anh lại cất lời: - Sao vậy? Em không nhớ anh hả? - Em… em có… - Vậy nói với anh rằng em nhớ anh đi. - Em… em nhớ anh. Thắng bật cười, điệu cười nghe thôi cũng thấy ấm áp trong cái tiết trời lạnh lẽo này. - Phương, xong dự án này anh rảnh hơn rất nhiều, anh tính cả rồi. Năm sau em hai mươi mốt tuổi rồi, cưới về rồi anh sẽ mở cho em một nhà hàng nho nhỏ, em nấu ăn ngon như vậy, nhất định nhà hàng sẽ thành công. Sống mũi tôi đột nhiên cay xè, hai mươi mốt tuổi còn quá trẻ để lấy chồng nhưng với một đứa như tôi lại cảm thấy quá đỗi bình thường. Thắng vẽ tương lai đẹp quá, đẹp đến mức tôi cũng muốn gạt bỏ mọi thứ mà sống một lần vì bản thân. Phải rồi, Thắng không chê tôi cớ sao tôi lại cứ tự ti, cớ sao lại cứ phải sợ hãi, bất an? Đây không phải lần đầu Thắng đề nghị đưa tôi về ra mắt người lớn, trước kia mỗi lần anh nói ra tôi đều từ chối vì chưa đủ can đảm, nhưng có lẽ đến giờ tôi đã nhận ra mình nên có một gia đình nhỏ riêng rồi. Đêm hôm ấy tôi và anh nói chuyện rất lâu, đến gần sáng khi chị Linh dậy đi vệ sinh tôi mới vội vàng tắt máy rồi đi ngủ. Vừa bước vào giường chị Linh đã cất tiếng: - Người yêu gọi à? - À… - Sao? Đến chị mà em cũng giấu nữa hả? Khai đi, hắn ta làm gì? Bao nhiêu tuổi? Yêu em gái của chị phải vượt qua được bài kiểm tra của chị đấy. Tôi cười gượng gạo nhìn chị không đáp, chị thấy vậy cũng không hỏi thêm gì mà kéo chăn bấu nhẹ tôi một phát. Suốt đêm ấy tôi không chợp mắt nổi, nghĩ đến việc ra mắt ba mẹ Thắng lại hồi hộp vô cùng. Sáng hôm sau khi tôi vừa tỉnh dậy chị Linh cũng dậy đi nộp hồ sơ. Tôi vội vàng vệ sinh cá nhân rồi khoác chiếc áo mỏng đi xuống dưới. Bên phòng mẹ tôi có tiếng the thé cất lên: - Nấu ăn sáng cho cả nhà rồi đi đâu thì đi. Cả ngày đi hầu thiên hạ, chẳng được cái tích sự gì. Tôi không đáp xuống nấu một nồi bánh đa cua rồi lại tất tưởi lấy đồ đi làm. Khi vừa ra cổng chợt thấy Thắng bên kia đường chờ, thế nhưng không phải mình tôi nhìn thấy mà cả chị Linh cũng vừa hay bước ra. Thắng không để ý mà gọi tên tôi: - Phương! Chị Linh hơi dừng lại ở anh còn tôi đỏ mặt xấu hổ, dù sao nếu sau này lấy thì cũng phải biết nhưng lúc này tôi thật sự chưa đủ tự tin giới thiệu anh với gia đình. Tôi còn ngỡ chị Linh sẽ trêu tôi, thế nhưng không, chị hơi mỉm cười rồi bước lên con xe taxi đi thẳng. Thắng phóng xe lại gần đội chiếc mũ bảo hiểm lên đầu cho tôi khẽ hỏi: - Chị gái mà em hay nhắc đến đấy à? Mấy lần anh đến mà chưa gặp bao giờ nhỉ? - Chị ấy đi học đại học trên Hà Nội ít về, thôi đi đi không tí lại muộn giờ đấy anh. Thắng gật đầu, phóng chiếc xe thẳng đến nhà hàng của tôi làm rồi mới đến công ty. Tôi thay bộ quần áo rồi nhanh chóng bước vào trong. Công việc của tôi hằng ngày đều là dọn dẹp, đến trưa thì phụ bếp nấu nướng cho khách sau đó nghỉ một lát đến chiều lại tiếp tục như vậy. Nhà hàng này rất đông khách, lương cũng tương đối cao, tuy vất vả nhưng bù lại hàng tháng đều có thưởng cho nhân viên. Tôi vào lau lại cho sạch bàn ghế vừa nhìn ra tiết trời lạnh lẽo bỗng dưng tôi nghĩ đến Thắng, tôi và anh gặp nhau cũng ở nơi này, trong một lần anh cùng đối tác ăn cơm ở đây thế rồi không hiểu sao anh có số điện thoại của tôi mà gọi điện nhắn tin làm quen. Mãi sau này anh mới nói, khi anh đến nhìn thấy tôi đã như bị sét đánh không kìm được liền vội xin số từ cô bé nhân viên khác. Tôi cũng không hiểu sao anh thích tôi, tuy rằng tôi nhận thức được rằng mình cũng khá xinh xắn, thanh tú nhưng với một phó phòng nhân sự như anh... thực lòng mà nói tôi và anh có chút không tương xứng. Thắng tốt nghiệp đại học kinh tế Quốc Dân, nghe đâu bố anh làm bộ đội, mẹ anh làm giáo viên. Anh thực sự rất giỏi, ra trường mới chỉ ba năm đã được đề bạt lên phó phòng nhân sự. Trước kia khi mới yêu anh tôi rất tự ti, nhưng dần dần tôi nhận thấy việc bằng cấp cũng không quan trọng đối với anh, anh chưa bao giờ chê bai, coi thường tôi, thậm chí còn luôn động viên an ủi tôi rằng việc tôi bươn trải, đi làm sớm mà không học đại học không hề là con đường tồi tệ, xã hội hiện đại, nhiều người vẫn khởi nghiệp và giàu có mà không có bằng cấp. Mỗi lần anh nói vậy, tôi lại cảm thấy bản thân may mắn và tự tin hơn rất nhiều. Những ngày tiếp theo tôi vẫn đi sớm về khuya như vậy, mãi đến thứ hai tuần sau đó tôi được về sớm một hôm do có người thay ca của mình nên nhắn tin cho Thắng không cần đón. Thế nhưng khi chạy ra ngoài đã thấy anh chờ sẵn. Anh không đưa tôi thẳng về nhà mà lòng vòng vào một con hẻm nhỏ rồi đột nhiên ôm chặt lấy tôi khẽ thì thầm: - Phương, anh yêu em. Tôi nghe trong gió có mùi rượu hơi thoảng nhẹ, anh càng siết chặt, hơi thở có phần gấp gáp: - Mai anh đi công tác Đà Nẵng một tuần. Thực sự anh sợ nhớ em không chịu nổi mất. - Bình thường anh vẫn đi công tác đấy thôi, sao hôm nay lại yếu đuối thế? - Tôi vừa cười vừa vòng tay qua bờ ngực rắn chắc của anh Thắng cúi xuống, hôn lên môi tôi, gió rít từng cơn nhưng nụ hôn lại nóng bỏng khiến toàn thân tôi cũng không còn cảm nhận được hơi lạnh. Anh như điên như dại, đôi tay bất chợt mân mê luồn vào chiếc áo rồi chạm khẽ lên ngực tôi. Khi còn đang say đắm trong nụ hôn ngọt ngào, tôi chợt bừng tỉnh kéo tay anh ra lắp bắp: - Anh... nhỡ có người - Vậy... mình... mình đi nhà nghỉ nhé. Anh... anh muốn chúng ta là của nhau, đừng từ chối anh nữa được không? Đằng nào chúng mình cũng cưới nhau mà. Tôi nhìn ánh mắt cầu khẩn của Thắng, chợt thấy có lỗi, đấy là lần thứ en nờ anh đề nghị chuyện này. Có điều... lúc này đây bản thân tôi vẫn chưa đủ sẵn sàng cúi đầu áy náy đáp: - Em chưa sẵn sàng. - Sao lúc nào em cũng chưa sẵn sàng thế? Người ta yêu nhau còn chửa trước, đằng này chỉ là cho nhau thứ quý giá nhất, mai anh đi công tác cả tuần, chẳng lẽ em không chiều anh một chút được sao? Hay em không thực sự yêu anh? Không muốn lấy anh - Không phải, em chỉ muốn dành thứ tốt đẹp nhất đến đêm tân hôn. - Nếu thật sự yêu nhau, nếu thật sự xác định đến với nhau đêm nào chẳng là đêm tân hôn? Tôi ngước đôi mắt lên nhìn Thắng, trong một giây lát tưởng chừng mình sẽ mềm lòng cuối cùng tôi vẫn kiên định đáp: - Thắng! Em thực sự chưa đủ sẵn sàng, nếu thật sự yêu nhau thì chờ một chút cũng được mà đúng không anh? Thắng thở dài rồi nói: - Ừm! Lên xe đi anh đưa em về. Tôi biết anh còn chút giận tôi, suốt đoạn đường trên xe anh không nói với tôi thêm câu nào dù tôi hỏi anh rất nhiều, đến khi xuống xe anh cũng vội phóng đi luôn. Thực lòng tôi không trách anh, anh đã từng nói bọn trẻ giờ mười bảy mười tám đã đi nhà nghỉ ầm ầm, không phải tôi không có dục vọng, mà bởi tôi từng hứa với bà nội, hứa với bản thân rằng thứ quý giá nhất của đời con gái sẽ để dành trọn vẹn đêm tân hôn. Cả đêm ấy Thắng cũng không gọi cho tôi thêm cuộc nào, nhắn tin anh đã xem mà không trả lời. Tôi có chút buồn bã, trái tim lại khẽ nhói lên, anh là mối tình đầu của tôi, là người đàn ông duy nhất đối xử tốt với tôi liệu rằng tôi như vậy có cứng nhắc quá, liệu rằng tôi có sai hay không? Sáng hôm sau khi tôi vừa tỉnh dậy chợt thấy chị Linh không còn ở bên cạnh liền vội chạy xuống nhà. Có tiếng mẹ tôi oang oang cất lên: - Đấy ông xem, con Linh vừa đi thực tập là đã được sếp cho đi công tác, tôi nói rồi hai đứa con ông chỉ có con Linh là có tương lai thôi còn cái thứ báo cô kia thì làm được cái tích sự gì? Tôi không nghe được ba tôi trả lời cũng không muốn chấp mấy lời của mẹ mà kéo vội chiếc áo rồi xuống bếp nấu đồ ăn sáng. Cả ngày hôm ấy tôi như kẻ mất hồn chờ đợi một tin nhắn từ người yêu. Thế nhưng một giờ, hai giờ ba bốn giờ rồi đến một ngày, hai ngày, ba bốn ngày trôi qua Thắng vẫn không hề nhắn tin cho tôi. Dù biết bản thân nên giữ sĩ diện nhưng tôi vẫn không kìm được mà mỗi ngày đều đặn nhắn hỏi thăm anh. Vậy nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng, im lặng đến bản thân tôi cũng cảm thấy bất an mơ hồ. Trước kia khi tôi từ chối chuyện ấy anh cũng chưa từng lạnh nhạt với tôi như bây giờ, tôi đã cố tự nhủ là do anh bận nhưng những suy nghĩ rối ren cứ hiển hiện lên trong đầu. Thế nhưng cũng may cuối tuần Thắng gọi điện cho tôi, anh nói cả tuần nay anh bận dự án với đối tác nên không liên lạc được. Giọng anh hồ hởi như chưa từng có chuyện gì khiến tôi cũng cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Buổi tối hôm ấy Thắng lại đón tôi về nhà, còn mua cho tôi chút đồ ăn sau đó chở tôi về nhà. Có điều không hiểu sao tôi cứ thấy anh có chút khác khác mà không thể hiểu khác ở đâu. Những ngày tiếp theo Thắng bận bịu với công việc, tôi cũng vậy. Cuối tháng tôi nhận lương, định cùng anh đi ăn một bữa nhưng anh họp nên tôi lại trở về nhà. Vừa vào đến nơi mẹ tôi đã ngồi trên ghế bóng gió với ba tôi: - Cũng cuối tháng rồi ông nhỉ, tiền điện tiền nước hết cả triệu bạc, rồi ăn uống chi tiêu... Tôi hiểu ý mẹ, rút tập phong bì đưa cho bà nói nhỏ: - Tiền đóng góp tháng này của con, với lại tháng này con được thưởng cao hơn một chút nên con biếu ba mẹ một triệu, tuy ít... Khi còn chưa nói dứt lời mẹ tôi đã rít lên: - Biếu thì cũng vào phần ăn của chị, nghe biếu mà cứ như tôi bòn rút tiền ý nhỉ. Tôi sợ hãi nhìn mẹ, cứ tưởng tháng này dư thêm chút tiền thưởng biếu bà bà sẽ vui không ngờ lại nổi giận như vậy. Ba tôi thấy thế liền xua xua tay: - Thôi, bà cứ nghiêm trọng hoá vấn đề lên làm gì? Muộn rồi để nó vào ăn cơm. - Tôi nói không thiên hạ lại bảo tôi thế nọ thế kia... - Thiên hạ nào nói bà vậy chứ, bà cứ tự nghĩ tự suy diễn thế. Thôi con vào ăn cơm dọn dẹp đi Mẹ tôi không thèm nhìn, cầm một triệu với chiếc phong bì nhét vào túi rồi bỏ lên gác. Tôi khẽ thở dài, ăn uống tắm táp xong lên tầng nằm vật ra. Chị Linh hôm nay chưa về, tôi nằm chợt thấy tủi thân đến đau lòng. Rốt cuộc là tại sao mẹ luôn như vậy với tôi, cùng là con sao mẹ lại ghét bỏ tôi đến thế? Từ nhỏ mẹ chưa từng ôm tôi, chưa từng một lần nói mẹ yêu tôi, mỗi lần chị Linh sà vào lòng mẹ đều vuốt ve mái tóc chị, còn tôi tại sao mẹ lại đẩy ra xa? Đến lớn lên rồi tôi vẫn không hiểu, tôi đã làm gì sai với mẹ, rốt cuộc tôi có phải máu mủ ruột thịt mà mẹ sinh ra hay không? Sống mũi tôi cay xè nhưng rồi lại chẳng thể rơi nổi một giọt nước mắt nào, có lẽ khi còn nhỏ đã khóc quá nhiều, giờ đây tôi không còn thể rơi nước mắt vì những chuyện này nữa rồi. Càng ở đây càng ngột ngạt, tôi càng muốn được thoát khỏi căn nhà này, muốn được vẫy vùng. Những ngày tiếp theo Thắng vẫn chưa hết bận, cả ngày gần như anh không nhắn cho tôi một cái tin. Nỗi bất an trong lòng càng lúc càng lớn, mong muốn được cùng anh đường đường chính chính nên vợ nên chồng để ra khỏi căn nhà của chính mình cũng càng mãnh liệt. Thế nhưng tôi không thấy anh nhắc thêm gì đến việc ra mắt ba mẹ anh vào cuối tháng nữa, hỏi thì năm lần bảy lượt anh gạt đi nói rằng anh chưa sắp xếp được thời gian. Tôi tuy không học hành cao, nhưng không phải quá ngốc mà không nhận ra dường như sau lần từ chối của mình Thắng lạnh nhạt với tôi rất nhiều. Sau vài lần như vậy, cuối cùng tôi quyết định gặp anh để nói, lần này không còn như mọi khi, tôi vừa đề nghị anh liền nói: - Em muốn được gặp ba mẹ anh lắm à? Trước kia anh tưởng em ngại gặp họ chứ? - Không phải muốn hay không, mà anh nói cưới em thì cũng nên để em ra mắt chứ anh. Trước kia là do em chưa sẵn sàng nhưng giờ em sẵn sàng rồi. Thắng nhìn tôi rất lâu, anh đẹp trai thế này, giỏi giang thế này... tôi thực sự rất sợ mất anh. Tôi sợ rằng nếu cứ kéo dài tình cảm này sẽ bị nguội lạnh mất. Thắng cúi xuống khuấy li cafe rồi đáp: - Được, vậy em chuẩn bị đi, thứ bảy anh sẽ đưa em về nhà. Nói rồi Thắng chở tôi ra ngoài, trời tối, anh lại đưa tôi vào hẻm nhỏ. Lần này anh không đụng chạm mà nói luôn: - Anh muốn chúng ta là của nhau được chứ? Tôi nhìn anh, nếu tôi từ chối anh thêm lần nữa liệu anh có chán tôi không? Tôi thực sự rất sợ, tôi đã muốn gật đầu, đã muốn chiều anh, vậy mà giây phút cuối cùng tôi vẫn khẽ lắc. Thắng không nói gì chỉ cười nhạt kêu tôi lên xe chở tôi về nhà. Gương mặt anh không chút cảm xúc khiến tôi chênh vênh vô cùng. Không! Nhất định anh không phải là kẻ chỉ biết tình dục, nhất định anh yêu tôi là thật nếu không anh đã không chịu đưa tôi về ra mắt. Nghĩ vậy tôi cũng thấy lòng dễ chịu hơn. Sáng thứ bảy, tôi xin nghỉ việc một ngày, vì là nhân viên mẫn cán nên tất nhiên chủ cũng không làm khó dễ. Tôi mặc bộ quần áo sơ mi, trang điểm nhẹ nhàng rồi khoác thêm chiếc áo khoác cho đỡ lạnh. Vừa định bước ra cửa chị Linh liền hỏi: - Hôm nay em không đi làm mà đi đâu hả? Tôi nhìn chị Linh, mấy lần chị bắt gặp tôi với Thắng nên cũng không muốn giấu nữa mà đáp: - Hôm nay em về ra mắt người yêu. Chị Linh hơi khựng lại, đôi lông mày cong vút chau lại nhưng rồi chị bật cười nói: - Nhanh thế cơ à? Vậy mà không nói gì với cả nhà nhỉ? - Từ từ em sẽ nói mà, thôi em đi đây nha. Chị Linh gật đầu, xua tay ra hiệu tôi mau đi. Hôm nay Thắng không đón tôi, tôi tự bắt một chiếc xe ôm đến hàng hoa quả sạch mua một giỏ thật bắt mắt rồi theo địa chỉ đến nhà anh. Nhà Thắng ở trung tâm thành phố, cách nhà tôi không xa nhưng nhộn nhịp và sầm uất hơn rất nhiều. Thắng chờ tôi sẵn bên ngoài đầu ngõ rồi dẫn tôi vào, anh không nói gì nhiều chỉ đi trước, lần đầu tiên ra mắt thật khiến tôi hồi hộp đến nghẹt thở. Thế nhưng mấy lần trước Thắng đều nói ba mẹ anh rất hiền nên tôi cũng đỡ lo. Nhà Thắng không quá to nhưng sạch sẽ, đồ đạc lại bày trí rất đẹp. Tôi cầm giỏ hoa quả tháo giày rồi bước vào trong, ba mẹ anh ngồi trên ghế, vẻ mặt rất nghiêm trang, nghiêm trang đến mức tôi chào lớn họ cũng không đáp. Thắng nhìn ba mẹ rồi nói: - Dạ, đây là Phương, bạn con ạ. Ba anh kéo cặp kính lên, nhìn tôi chằm chằm, còn mẹ anh lạnh nhạt cầm tách trà hừ nhẹ một tiếng. Trong trí tưởng tượng của tôi ba mẹ anh ắt hẳn rất dễ gần, vui vẻ, hay nói thế nhưng bỗng dưng gặp thái độ này... tôi hụt hẫng như rơi từ trên tầng mây thứ mười tám xuống. Tôi khẽ đặt giỏ hoa quả lên bàn nhỏ nhẹ: - Dạ, lần đầu cháu đến cháu có chút hoa quả... Còn chưa kịp đặt lên bàn mẹ anh đã hắng giọng nói: - Ngồi đi Tôi hơi giật mình, buông vội giỏ hoa quả rồi ngồi xuống trước mặt bà. - Nghe nói cháu là người yêu thằng Thắng? - Dạ vâng thưa bác - Năm nay bao nhiêu tuổi? - Dạ cháu gần hai mốt tuổi ạ. - Không đi học đại học? Câu hỏi của mẹ Thắng khiến tôi đột nhiên lạnh toát người, chuyện không bằng cấp vốn dĩ tôi tưởng gia đình anh không coi trọng... nhưng giọng điệu này của bà khiến tôi có chút sượng sùng. Bà lại tiếp lời: - Trả lời đi chứ? - Dạ vâng... cháu học xong cấp ba thì đi làm luôn thưa bác. - Làm gì? - Cháu... cháu làm nhân viên phục vụ nhà hàng. - Cháu biết thằng Thắng là thủ khoa đại học Kinh Tế Quốc Dân chứ? - Dạ... cháu biết ạ. - Phương này! Không phải nhà bác khó tính khắt khe gì, nhưng một đứa con gái học hết cấp ba, lại chỉ làm nhân viên phục vụ nhà hàng, cháu xem... cháu có điểm gì xứng với con bác? Tôi không ngờ mẹ anh có thể nói thẳng như vậy, thẳng đến mức tôi chơi vơi gần như không còn nói thêm gì. Bao nhiêu câu chuẩn bị ở nhà đến giờ bỗng ứ lại ở cổ, quay sang Thắng cầu cứu nhưng anh chỉ dửng dưng nhìn tôi. Mẹ anh thấy vậy khoé môi lại nhếch lên nói tiếp: - Gia đình bác không thể chấp nhận cháu làm dâu. - Nhưng... nhưng cháu với anh Thắng yêu nhau là thật bác ạ. - Cháu còn trẻ, cháu có thể tìm một người xứng với mình và thằng Thắng cũng vậy. - Bác à, thực sự bằng cấp nếu quan trọng lấy nhau rồi cháu có thể đi học một trường nào đó, giờ học đại học không còn khó... Mẹ Thắng đặt tách trà mạnh xuống bàn khiến nước văng tung toé giận dữ rít lên: - Phương! Đây là lần đầu bác gặp cháu, chưa nói đến bằng cấp thì cách nói chuyện của cháu bác cũng không thể chấp nhận được. - Cháu... cháu nói gì sai sao thưa bác? Mẹ Thắng nhìn tôi, gằn giọng: - Kể cả cháu học đại học, kể cả cháu có bằng cấp thì gia đình bác cũng không thể chấp nhận. Gia đình bác không chấp nhận một đứa con dâu đã có một đời chồng, huống hồ... lại còn làm nhân viên nhà hàng, một phó phòng nhân sự, cháu nghĩ sao có thể hợp được? Cháu có thể không nghĩ cho cháu nhưng cháu nên nghĩ đến thằng Thắng. Bác là mẹ nó, bác không muốn ác độc chia cắt tình yêu của con trai bác, nhưng nếu tình yêu đó là địa ngục là nấm mồ chôn tương lai của nó thì bằng giá nào bác cũng sẽ không chấp nhận. "Một đời chồng", tôi ù cả tai, hai tay bấu chặt vào quần lắp bắp nói: - Bác à... bác nghe cháu giải thích được không? Thực ra đúng là năm mười tám tuổi cháu có... Thế nhưng chưa kịp nói hết bà đã quay sang Thắng hất hàm: - Con đưa Phương về đi, mẹ mệt rồi. Tôi quay sang Thắng, bấu bấu tay anh, chuyện bằng cấp anh có thể không nói đỡ được, nhưng chuyện này tôi vẫn hi vọng anh sẽ giải thích giúp tôi. Mẹ Thắng thấy vậy liền ôm đầu, nhăn nhó gắt lên: - Thắng, con không nghe thấy mẹ nói gì hả? Con đưa bạn con về đi, hay con muốn mẹ tăng xông mà chết đây? Thắng kéo tôi dậy khẽ nói: - Phương mẹ anh mắc chứng rối loạn tiền đình, để anh đưa em về đã... Tôi nhìn Thắng, không thể ngờ rằng ngày ra mắt gia đình anh lại chóng vánh đến vậy, nhưng... điều quan trọng hơn... tôi chợt thấy bản thân thất vọng về anh vô cùng. Mẹ anh nói tôi sao cũng được, ba anh hiểu nhầm tôi thế nào cũng không sao, còn anh, từ đầu đến cuối anh chỉ ngồi yên như bù nhìn, những lời ngọt ngào anh từng nói với tôi khác gì gió thoảng mây trôi? Tôi hất tay Thắng, mím chặt môi cố giữ phép lịch sự tối thiểu chào ba mẹ anh rồi xin phép đi về. Bên ngoài trời đổ mưa, Thắng cũng không đuổi theo, tôi bật cười chua chát, trong tim như có hàng ngàn chiếc kim nhọn hót đâm vào. Mời các bạn đón đọc Hai Đời Chồng của tác giả Phạm Vũ Anh Thư.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Sonechka - Lyudmila Ulitskaya
“Sonechka” là câu chuyện có âm hưởng của một bài thơ buồn kể về cuộc đời nhân vật chính: nàng Sonechka. Trải qua một tuổi thơ trầm lặng gắn liền với những cuốn sách, Sonechka bước vào cuộc sống mới, sát cánh bên chồng là Robert Victorovich-một hoạ sỹ tài danh nhưng không được chế độ công nhận, để cùng xây dựng gia đình nhỏ giữa những tháng ngày gian khó. Thế nhưng đến cuối đời hạnh phúc sụp đổ trước mắt Sonechka, Tania- đứa con gái duy nhất bỏ đi cùng người tình nghiện ngập, Robert Victorovich không thể cưỡng lại sức quyến rũ của cô nhân tình trẻ tuổi. Tất cả đều quay lưng lại với bà nhưng đều được bà tha thứ. Với một văn phong trang nhã, giàu chất thơ, cách kể chuyện thông minh, hóm hỉnh, bút pháp miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, sắc sảo, Ludmila Ulitskaya đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Sonechka. Đồng thời tác phẩm là sự trở lại ấn tượng và xúc động của văn học Nga với mỗi độc giả Việt Nam. *** Lyudmila Ulitskaya là một nhà văn không chỉ nổi tiếng ở Nga, mà còn được độc giả yêu thích ở nhiều nước trên thế giới. Bà được trao tặng nhiều giải thưởng văn học quốc tế như Giải thưởng văn học Medichi của Pháp năm 1996, giải thưởng Italia Dzhuzeppe Atserbi năm 1999. Năm 2001 bà được trao giải thưởng Buker của Nga. Nhiều tác phầm của bà được dịch ra hơn hai mươi thứ tiếng. Các vở kịch và văn xuôi của bà được nhiều nhà hát tên tuổi dàn dựng, một số tiểu thuyết được dựng thành phim. Tuy nhiên, ít độc giả biết bà là một nhà sinh vật học, chuyên ngành di truyền. Bà tốt nghiệp khoa sinh trường đại học tổng hợp Maxcơva mang tên Lomonoxov, một thời gian dài công tác ở Viện di truyền học thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Tên tuổi của bà bắt đầu xuất hiện vào những năm 80-90 của thế kỉ trước, khi các bộ phim dựng theo kịch bản của bà như “Chị em gái Liberti”, “Người đàn bà dành cho tất cả mọi người” được công chiếu trên màn ảnh. Tuy nhiên, bà chỉ thực sự nổi tiếng từ năm 1992, khi tạp chí “Thế giới mới” đăng truyện vừa “Sonechka” của bà. Từ đó, giới phê bình văn học bắt đầu chú ý đến Ulitscaya. Với tiểu thuyết đầu tay “Međeia và con cháu của bà”, nữ văn sĩ lọt vào vòng chung kết giải Buker Nga năm 1997. Với tiểu thuyết thứ hai “Chuyện rắc rối của Kukoxky”, bà được mệnh danh là nhà văn xuất sắc nhất nước Nga và được trao giải Buker Nga năm 2001.   Mời các bạn đón đọc Sonechka của tác giả Lyudmila Ulitskaya.
Kiếm Sống - Maxim Gorky
K iếm sống[1] là phần hai trong tác phẩm bộ ba tự thuật[2] của M. Gorky, miêu tả thời niên thiếu của cậu bé Alyosha Peskov, tức Gorky, từ năm 1878 đến năm 1884. Trong phần đầu, M. Gorky đã kết thúc Thời thơ ấu của mình bằng những dòng chua chát: “Sau khi chôn cất mẹ tôi được vài ngày, ông ngoại bảo tôi: - Này Leksei, mày không phải là cái mề đay, mày không thể lủng lẳng mãi trên cổ tao, mày hãy đi ra đời mà kiếm sống… Và thế là tôi bước vào đời.” Mới mười tuổi đầu, cậu bé mồ côi Alyosha đã bắt đầu ở với người đời, tìm hiểu cuộc sống và đấu tranh để tìm ra lối thoát cho mình. Giai đoạn này đã hình thành mối quan hệ mới của Alyosha với con người và thế giới xung quanh. Bước vào đời để kiếm sống, Alyosha luôn va chạm với sự hèn hạ, tồi tệ của bọn “tiểu thị dân”, những kẻ luôn tự cho mình là “ưu việt nhất thành phố”, họ tưởng rằng họ “biết những phép cư xử đúng đắn nhất và dựa trên những phép tắc mù mờ đối với tôi đó mà kết tội mọi người một cách tàn nhẫn, không thương tiếc”. Những kẻ này thường có thái độ ganh tị, ghen ghét với điều tốt đẹp ở những người mà họ không sao hiểu nổi. Để biện bạch cho cuộc sống nhỏ nhen và nghèo nàn, khiến nó tăng thêm cái vẻ quan trọng bề ngoài, họ, giống như ông lão Kashmirin keo kiệt, hung dữ hay bà già Matryona độc ác, ích kỉ, luôn luôn lôi kéo Chúa vào những việc tẹp nhẹp buồn tẻ của mình, biến Chúa thành một sức mạnh trừng phạt mù quáng để bảo vệ cho tội lỗi và lợi ích cá nhân… Alyosha càng ngày càng thấy rõ mặt trái của cuộc sống, thấy những sự nhục mạ nhân cách, những lao động vô nghĩa, khổ sai. Lúc ấy, theo như lời Gorky kể, cuộc sống của Alyosha như vĩnh viễn bị quy định một cách chặt chẽ trong các hình thức và các mối quan hệ mà Alyosha trông thấy ngày này qua ngày khác, mỗi ngày một buồn tẻ, gay gắt hơn, khiến khó mà nghĩ tới khả năng thay đổi, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng khi ấy, sách vở – kho tàng tư tưởng sáng tạo của con người – đã tới giúp Alyosha. Những tác phẩm của các nhà văn Nga ưu tú, của các tác giả nước ngoài như Walter Scott, Dickens… đã giúp cậu hiểu được rất nhiều điều mà trước đó cậu vẫn băn khoăn. Sách vở đã giúp Alyosha khắc phục tâm trạng bối rối, mất niềm tin vào con người. Mỗi cuốn sách hay như mở ra trước mắt Alyosha một cánh cửa sổ hướng về thế giới mới mẻ mà cậu bé chưa từng biết, chưa từng thấy. Càng đọc nhiều sách, Alyosha càng thấy gần gũi với thế giới hơn, cuộc sống đối với cậu càng sáng sủa, có ý nghĩa hơn. Sau này, Gorky nhớ lại: “Sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong cuộc sống, nói cho tôi biết rằng con người thật vĩ đại và đẹp đẽ, luôn hướng về cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã gây ra nhiều chuyện trên trái đất và vì thế mà họ phải chịu biết bao đau khổ.”[3] Một nhân vật trong Kiếm sống là Jikharev đã nói với Alyosha với vẻ đồng tình: “Cháu không có thái độ dửng dưng mà luôn tập trung vào công việc. Cháu cứ nên như thế mãi, điều đó rất tốt!” Alyosha đã dũng cảm lao vào cuộc sống, dũng cảm “bước vào đời” mặc dù nhiều khi va chạm phải mặt trái xấu xa ghê tởm của nó. Gorky viết: “Trong tôi có hai con người: Một người sau khi đã biết quá nhiều điều ghê tởm và bẩn thỉu, trở nên sợ hãi cuộc sống, nản lòng bởi hiểu quá rõ các chuyện khủng khiếp xảy ra hằng ngày. Người ấy bắt đầu nhìn cuộc sống, nhìn mọi người với thái độ thiếu tin tưởng và hoài nghi, thương hại một cách bất lực cả bản thân và những người xung quanh. Con người ấy mơ ước một cuộc sống cô độc, yên tĩnh, chỉ có sách vở, không dính líu đến ai, mơ về một tu viện, một chòi canh trong rừng, một vọng gác đường sắt, mơ được đến Ba Tư, được đảm nhiệm cương vị một người gác đêm ở ngoại ô thành phố. Càng ít người càng tốt, càng tránh xa con người càng tốt… Còn người kia được nuôi dưỡng bằng ý chí thiêng liêng của các cuốn sách hay và sâu sắc, mỗi khi cảm thấy sức mạnh của những điều khủng khiếp xảy ra hằng ngày kia có thể dễ dàng đè bẹp mình, làm nhơ bẩn trái tim mình, nên cố sức tự vệ, cắn chặt răng, siết chặt nắm đấm, luôn sẵn sàng xông vào bất kì cuộc tranh cãi và trận chiến đấu nào. Con người này giàu tình yêu thương, và giống như những nhân vật dũng cảm trong các cuốn tiểu thuyết Pháp, chỉ cần đến câu thứ ba là đã rút ngay gươm ra khỏi bao và sẵn sàng chiến đấu.” Trên bước đường kiếm sống, Alyosha đã gặp và sống với những người lao động bình thường: thợ mộc, thợ nề, thợ làm tượng thánh, phu khuân vác… và cả các nghệ sĩ, nhà thơ, nhà triết học… Mỗi người đều cần thiết và quan trọng đối với Alyosha, giúp tâm hồn cậu thêm phong phú, khiến cậu trở nên mạnh mẽ, khôn ngoan, có đủ nghị lực đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trong quá trình tiếp xúc với những người này, tính cách của Alyosha dần dần hình thành. Bác đầu bếp Smouri, một trong những “người thầy” của Alyosha, một người vốn nghiêm nghị và thích cô độc, có tâm hồn hiền hậu và tấm lòng công bằng, cao thượng. Khi Alyosha đọc cho bác nghe chuyện Taras Bulba của Gogol, tới cảnh cái chết của vị thủ lĩnh Cossack thì Smouri, người mà tất cả mọi người trên tàu đều sợ, đã khóc nức nở. Chính nhờ cuộc gặp gỡ với Smouri mà Alyosha bắt đầu say mê đọc sách. Càng tiếp xúc với những người Nga bình thường, càng tìm hiểu họ sâu hơn, Alyosha càng thấy “những người chủ” là tầm thường, tẻ nhạt, thế giới của họ hóa ra không bền vững và chắc chắn như cậu tưởng. Alyosha đã trải qua cả một “trường học đường đời” khi làm việc ở xưởng làm tượng thánh. Những người thợ trong xưởng mà Alyosha tiếp xúc là những người có tinh thần ham hiểu biết, có tâm hồn phong phú và có tài năng. Ở mỗi người, Alyosha đều cảm thấy họ thực sự hiểu biết cuộc sống và nghệ thuật. Những người đó tuy sống tù túng trong xưởng nhưng vẫn đầy lòng cao thượng, sức mạnh và vẻ đẹp. Không phải vô cớ khi kể về Sitanov, Gorky nhắc rằng trong anh hình như có một cái gì giống với “nhà quý tộc Tây Ban Nha”, nhân vật mà Sitanov yêu thích hơn cả. Đặc biệt, Jikharev đã khiến Alyosha rất đỗi ngạc nhiên; đó là một nghệ sĩ nhân dân, một người bị giày vò vì khát vọng hiểu biết và sáng tác tự do. “Chúng ta biết được những gì? Chúng ta sống thật quá tầm thường… Còn đâu là tâm hồn? Tâm hồn ở đâu rồi? Nguyên bản thì có đấy; nhưng trái tim thì không…” Alyosha lo lắng và vui mừng nghe những lời lạ tai ấy của Jikharev. Những người này càng ngày càng nhận thức rõ sự bất công, vô nghĩa của thứ lao động cưỡng bách. Họ bị dồn vào cảnh lao động kiệt sức và đơn điệu, mất hết niềm vui và phúc lợi ở đời. Họ thèm muốn ánh sáng, tri thức, cái đẹp. Những cuốn sách mà Alyosha đọc đã khiến họ say mê, rung động. Khi Alyosha đọc tập thơ Con quỷ của Lermontov, những người này khiến cậu hết sức ngạc nhiên bởi khả năng thụ cảm nghệ thuật rất tinh vi và sâu sắc của họ. Qua những năm sống phiêu bạt ấy, trong Alyosha nảy sinh tình yêu mạnh mẽ với con người, thứ tình yêu mà cậu sẽ mang suốt đời. “Chú được cái tốt là đối với ai chú cũng coi như họ hàng thân thích cả, cái đó rất tốt!” Kapendiukhin đã nói với Alyosha như vậy. Alyosha luôn có mặt trên con đường đi tìm chân lí, mục đích cuộc sống, đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi vẫn giày vò cậu: “Làm thế nào để giúp đỡ mọi người?” Đối với Alyosha, việc tìm hiểu ông lão thợ mộc Osip là một điều “hết sức cần thiết”. Tính tình phức tạp của Osip giúp cho Alyosha hiểu được bản chất mâu thuẫn của nông dân (Về Osip, năm 1897 Gorky đã viết trong truyện ngắn Vanka Mazin và năm 1912 trong truyện ngắn Băng chuyển). Alyosha biết tìm ở mọi người những điều cần thiết với cậu, mặc dù những người ấy khác xa cậu. Trong tâm thức, Alyosha đã phân biệt được ước mơ và thực tế. Giờ đây, cậu không chỉ hướng về sách vở, thơ ca, truyện thần thoại để tìm kiếm sự dũng cảm và chân lí mà biết hướng vào hiện thực: “Điều đó càng khiến tôi ngạc nhiên hơn, tôi cảm thấy rất rõ những mâu thuẫn giữa thực tế và sách vở. Trước mặt tôi là con người sinh động mà trong sách vở không thấy được: bác Smouri, anh thợ đốt lò Yaakov, ông khách lưu lạc Aleksasha Vassiliep, bác Jikharev, chị thợ giặt Natalya…” Hình ảnh của những con người sinh động này chiếm một vị trí quan trọng trong tâm trí cậu bé Alyosha. Chương cuối của Kiếm sống xuất hiện một hình tượng đầy ý nghĩa – cảnh “trái đất nửa thức nửa ngủ”. Alyosha muốn đá tung tất cả trái đất và ngay cả chính mình nữa để cho tất cả mọi vật “xoay như một cơn lốc mừng vui trong điệu múa tưng bừng của những người yêu nhau say đắm, những người yêu cuộc sống này – cuộc sống mở đầu cho một cuộc sống khác tươi đẹp, phấn khởi và ngay thật”… Nhưng trong giai đoạn này, hiểu biết của Alyosha còn hạn chế, cậu chưa trả lời được câu hỏi: Cụ thể phải làm gì để giúp mọi người, phải thực hiện lí tưởng xây dựng một thế giới hợp lí và công bằng như thế nào? Tác phẩm Kiếm sống kết thúc bằng những suy nghĩ già dặn của cậu thiếu niên Alyosha mười sáu tuổi, sau những năm lăn lộn với sóng gió của cuộc đời để kiếm sống. “Tôi nghĩ bụng: ‘Ta phải làm được một việc gì chứ, nếu không thì ta sẽ sống vô ích…’ Vào những ngày thu ảm đạm, khi không những không nhìn thấy, không cảm thấy, mà còn quên mất cả mặt trời, tôi thường bị lạc trong rừng. Tôi đi chệch đường, chẳng tìm được lối hẻm nào; cuối cùng, sau khi sục sạo đến mệt bã người, tôi cắn răng đi xuyên qua rừng rậm, giẫm trên những cành cây mục nát, những mô đất tròng trành của vũng lầy. Cuối cùng, tôi luôn tìm được đường đi. Tôi quyết định cũng sẽ sống một cuộc đời như vậy.” Nhưng mãi đến sau này, phải qua nhiều năm được tôi luyện trong “những trường đại học” thực tế của cuộc đời, chàng thanh niên Alyosha Peskov mới tìm được hướng đi cho mình. Truyện tự thuật không phải là một thể loại mới trong văn học. Trước kia ở Nga, Saltykov Shchedrin, Lev Tolstoy, Aksakov… cũng đã từng viết truyện tự thuật. Gorky phát triển một cách sáng tạo truyền thống ưu tú của quá khứ và nâng cao tính tư tưởng của thể truyện này. Tác phẩm tự thuật của Gorky đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Nó là chiếc chìa khóa giúp ta hiểu thấu nguồn gốc thiên tài của Gorky, nắm chắc mối quan hệ vô cùng sâu sắc giữa Gorky với nhân dân, đất nước và cuộc sống. Con đường Gorky đã trải qua là con đường tiêu biểu của nhiều người Nga mòn mỏi trong cảnh bần cùng hóa bi thảm, trong lao động cực nhọc, sự vươn lên của tuổi trẻ với khát khao sáng tạo thường chịu áp chế, bóp nghẹt, nhưng những người trẻ tuổi vẫn tràn trề lòng tin, vượt mọi trở ngại trên con đường đi tìm lẽ sống. Gorky không coi tiểu sử của Alyosha Peskov là một hiện tượng siêu việt, ông từng tuyên bố: “Lịch sử của Gorky không phải là một trường hợp duy nhất và không phải là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt.”[4] Các nét tính cách nổi bật của Alyosha là: Lòng biết ơn nồng nhiệt với những người có lòng tốt với mình; tình cảm thương yêu những bạn cùng trang lứa đau khổ hơn mình; khát vọng chính nghĩa tới mức say sưa; mối căm thù sâu sắc đối với bọn áp bức tàn bạo; tinh thần bất khuất, khắc phục khó khăn; lòng yêu lao động… Nổi bật nhất là tinh thần hiếu học, chí cầu tiến, óc quan sát tinh vi, thói quen nhìn thẳng vào sự việc để phân biệt rõ ràng cái tốt, cái xấu. Alyosha không sống thụ động, tính cách cậu dần được hình thành vững vàng trong cuộc đấu tranh chống lại nguồn gốc của cái xấu xa trong đời sóng, trong khao khát hướng tới những điều tốt đẹp, công bằng và nhân đạo. Gặp Gorky lần đầu tiên năm 1905, Lenin nói: “Phải học ở Gorky cách nhìn và cách nghe.” Tác phẩm tự thuật của Gorky là một kho vốn sống phong phú, miêu tả lại bước đường gian truân đã dẫn dắt Gorky tới tuổi trưởng thành, nêu lên những ấn tượng sâu sắc nhất đã gợi hình, gợi ý, chuẩn bị cho đời sống văn học của Gorky. Tác phẩm không chỉ là tiểu sử riêng của một cá nhân mà còn là bức chân dung của cả một thế hệ, bức họa rộng lớn về phong cảnh, đất nước và xã hội Nga cuối thế kỉ XIX với những nét khắc họa điêu luyện, sâu sắc về cả diện mạo và tâm lí sinh động của con người. Tính điển hình của các hiện tượng được miêu tả trong tác phẩm bộ ba Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi khái quát cao độ, làm rung động và chiếm được cảm tình lớn của độc giả. Nhà văn Alexander Shirvanzade[5] đã nói về tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky như sau: ‘Theo quan điểm của tôi, toàn bộ cuốn sách tượng trưng cho cuộc sống của nhân dân Nga; cuốn sách kể về tâm hồn nặng trĩu không chỉ của dân tộc Nga mà của các dân tộc nói chung. Anh xem, tôi có phải là người Nga đâu, tôi là người Armenia, sinh trưởng và sống khác xa cuộc sống Nga, vậy mà những gì anh miêu tả rất giống cuộc sống của dân tộc tôi. Anh hãy tin rằng nhà văn Pháp, nhà văn Anh, hay nhà văn ở bất kì nước nào, xuất thân từ nhân dân hoặc hiểu biết cuộc sống của dân tộc mình, cũng sẽ nói với anh những điều như vậy.”[6] Nhà cách mạng Đức Rosa Luxemburg[7] trong bài luận văn Tinh thần văn học Nga có bàn tới tác phẩm tự thuật của M. Gorky như sau: “Chú bé kêu gào như một con sói con bị truy bức, nhe nanh vuốt sắc nhọn trước số mệnh. Cái tuổi thơ ấu đầy khốn quẫn, đau khổ, nhục nhã, hoài nghi, lưu lạc, gần gũi với những cặn bã của xã hội ấy bao hàm tất cả những đặc trưng có tính chất điển hình trong cuộc sống của giai cấp vô sản nước Nga đương thời. Phải đọc hồi kí của Gorky mới có thể lường được quá trình phát triển kinh khủng của ông – từ dưới đáy của xã hội vươn đến đỉnh cao của thế giới quan khoa học, của nghệ thuật thiên tài và của sự tu dưỡng văn hóa. Vận mệnh cá nhân của Gorky tượng trưng cho giai cấp vô sản Nga – giai cấp nhìn bề ngoài thì thiếu văn hóa, thô bạo, dưới thời Nga hoàng đã trải qua những thử thách của cuộc đấu tranh tàn khốc và trong một thời gian ngắn ngủi đến kinh người, trong vòng hai mươi năm, trở thành lực lượng tích cực của lịch sử.”[8] Đối với Gorky, cuộc sống và số phận ông cũng là cuộc sống và số phận của nhân dân ông; những điều khủng khiếp xảy ra xung quanh ông có ghê gớm đến thế nào đi chăng nữa cũng không thể làm ông mất lòng tin vào cuộc sống. Ông vẫn nhìn thấy trong cuộc sống những mầm non tốt đẹp của tương lai và vạch ra con đường của quá trình phát triển lịch sử sau này. Đó là một trong những điểm khác biệt giữa tác phẩm tự thuật của Gorky và các tác phẩm tự thuật cổ điển khác. Trên cơ sở tài liệu tự thuật, Gorky đề ra một trong những vấn đề quan trọng nhất của hiện thực xã hội chủ nghĩa – vấn đề hình thành tính cách con người tiêu biểu cho những mói quan hệ mới – mà sau này nhiều nhà văn khác kế thừa. Có thể nói tác phẩm tự thuật của Gorky là một tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa cổ điển đặc sắc, bởi vì Gorky đã cương quyết vạch trần chủ nghĩa tư bản theo lập trường quan điểm của Đảng, đồng thời cũng khẳng định tương lai vĩ đại của dân tộc Nga. Các nhà nghiên cứu và phê bình văn học nhiều lần nhận định rằng, chỉ xét riêng các chi tiết miêu tả một cách tế nhị, tinh vi tâm hồn, đặc điểm tâm lí, nghệ thuật thể hiện nội tâm, tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky có thể sánh ngang với các tác phẩm ưu tú của nền văn học thế giới. Tuy nhiên, điểm nổi bật trong sáng tác của Gorky là quá trình hình thành tư tưởng cách mạng, quá trình con người nhận thức xã hội. Đó chính là cái sáng tạo mà Gorky đã đóng góp vào truyền thống văn học vẻ vang của quá khứ, và chính điều đó đã xác định giá trị tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky với sự phát triển của nền văn học Xô viết và thế giới. Trần Khuyến Mời các bạn đón đọc Kiếm Sống của tác giả Maxim Gorky.
Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới
Được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1898, “Chiến tranh giữa các thế giới” (tên gốc: “War of the Worlds”) là một lời dự báo u buồn cho tương lai của nhân loại. Chiến tranh giữa các thế giới là một trong những cuốn sách thuộc giai đoạn đầu sự nghiệp của H.G.Wells, minh chứng rõ nhất cho những xu hướng sáng tác ấy. Cuốn sách tường thuật lại sự kiện người sao Hoả đổ bộ lên Trái đất và cuộc xâm lăng kéo dài gần một tháng trời sau đó. Làng mạc bị thiêu rụi, con người bị thảm sát bởi Tia Nhiệt bắn ra từ những con tàu và những cuộn khói độc màu đen kịt, Luân Đôn bị xoá sổ, những người sống sót bỏ chạy trong kinh hoàng… Nhân chứng của tất cả chuỗi sự kiện ấy là một người Trái đất nhỏ bé. Anh ta buộc phải lao vào một cuộc đào thoát điên cuồng, để rồi tự hoài nghi “Có lẽ tương lai nằm trong tay họ, chứ không phải chúng ta”. 117 năm là khoảng thời gian đủ dài để chứng minh tính “vượt thời gian” của Chiến tranh giữa các thế giới. Việc cuốn sách được xuất bản từ thế kỉ 19 không hề ngăn cản việc nó đã dự báo trước, không phải thảm hoạ, mà là góc nhìn của những con người ở thế kỉ này – vốn dĩ sống cách xa nó đến hơn 100 năm có lẻ. Loài người càng tiến thêm được những bước sâu hơn, xa hơn vào vũ trụ thì mối nghi ngờ của họ, dự cảm của họ, thậm chí cả sự tự ti của họ đối với một điều bất trắc vô hình cũng vì thế mà không ngừng tăng lên. Trong cuốn sách của mình, ông mô tả cỗ máy của bọn xâm lăng là những khối máy móc khổng lồ với chùm Tia Nhiệt có khả năng thiêu đốt mọi thứ chỉ bằng một tia sáng. Quân đội đã tiêu diệt được một trong số những cỗ máy ấy, nhưng hoàn toàn nhờ vào may mắn. Những cỗ máy giết người ấy vẫn là kẻ chiến thắng sau cùng trong mỗi trận chiến, và loài người trở thành kẻ trốn chạy trên chính đất đai quê hương mình. Một tấm gương vỡ mãi mãi không thể là một tấm gương lành, giống như hoà bình sau chiến tranh không bao giờ là hoà bình trước cuộc chiến ấy. Trong Chiến tranh giữa các thế giới, người ta vẫn tiếp tục sống, và làm những việc người ta vẫn thường làm, nhưng trong thẳm sâu suy nghĩ, mỗi người trong số họ đều biết rằng họ đã cách xa mãi mãi những tháng ngày yên bình trong quá khứ. Thế giới ấy đã mất đi vĩnh viễn, không thể vãn hồi. Cùng với sự mất mát ấy, con người biết rằng giờ đây họ mãi mãi không còn an toàn, nhỏ bé và dễ bị tấn công giữa vũ trụ bao la này. *** Herbert George Wells (21/09/1866 - 13/08/1946), thường được biết đến với cái tên H. G. Wells, là một nhà văn người Anh nổi tiếng với những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng như Kẻ Vượt Thời Gian, Người Vô Hình, Đảo Bác Sỹ Moreau, Xứ Sở Của Người Mù, Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới, Tiên phong lên mặt trăng.... Ông là một nhà văn của nhiều thể loại truyện, tiểu thuyết, bao gồm cả viễn tưởng, phi viễn tưởng hay các bài bình luận về lịch sử và xã hội. Wells cũng là một người theo chủ nghĩa xã hội, các tác phẩm của ông sau này thường nặng tính chính trị và giáo điều. Chỉ có những tác phẩm tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của ông là vẫn còn rất được ưu chuộng hiện nay. Wells và Jules Verne thường được coi "cha đẻ của khoa học viễn tưởng". Công việc: Tiểu thuyết gia, Giáo viên, nhà sử học, nhà báo. Wells có nhiều tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau, trong số đó 5 tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đều là truyện Sci Fi, mỗi cuốn đều tạo ra một dòng văn riêng biệt cho thể loại độc đáo này Wells sống rất đào hoa. Ông trải qua hai đời vợ (1 trong số đó là chị họ mình) và trong quãng đời kết hôn ông vẫn thường xuyên qua lại với nhiều phụ nữ khác. Một số người còn trở thành cảm hứng cho ông viết sách Wells có bút lực hiếm ai bì kịp, bốn năm liền cho xuất bản bốn cuốn bestsellers, và có thể viết 3 cuốn tiểu thuyết hay mỗi năm. Trong một cuốn sách phi hư cấu của mình H. G. Wells dự đoán rất chính xác sự phát triển của các khu thành thị, kinh tế toàn cầu hoá và các cuộc xung đột vũ trang nổ ra trên toàn cầu. Năm 1938, cuốn Chiến tranh giữa các thế giới của H. G. Wells được phát sóng trên radio, gây nổ ra cả một cuộc hoảng loạn vì mọi người tưởng người Sao Hoả đang xâm lăng thật. Lời cuối cùng Wells nói trước khi mất là: "Đi chỗ khác. Ta có sao đâu." Một số tác phẩm của H. G. Wells được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Kẻ Vượt Thời Gian - Herbert George Wells Người Vô Hình - Herbert George Wells Đảo Bác Sỹ Moreau - Herbert George Wells Xứ Sở của Người Mù - Herbert George Wells Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới,  Tiên phong lên mặt trăng .... Mời các bạn đón đọc Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới của tác giả H. G. Wells.
Ngôi Nhà Của Người Cá Say Ngủ - Higashino Keigo
Tác phẩm kỉ niệm 30 năm cầm bút của Bậc thầy trinh thám số 1 Nhật Bản. Đồng thời được vinh danh trong top 10 sách văn học bán chạy nhất năm 2015 và 2016 theo thống kê từ NIPPAN. Nhà văn Keigo Higashino trở lại với một tác phẩm về tâm lý xã hội và y học đầy trăn trở và suy tư. Vẫn còn đó sự tò mò và hồi hộp nhưng lại thêm vào  những diễn biến tâm lý xã hội sâu sắc về ranh giới giữa sự sống và cái chết. Xoay quanh câu chuyện về một cặp vợ chồng dự định sẽ ly hôn sau khi cô con gái Mizuko vào cấp một.Nhưng tin dữ ập đến, một tai nạn bất ngờ không may ập đến với cô bé ở bể bơi. Nhưng sự thật còn đau đớn hơn gấp bội khi đứa con gái duy nhất của họ đã chết não nhưng trái tim vẫn còn đập bởi một sức mạnh kì lạ. Chính vào giây phút dấu hiệu của sự sống đang lụi tàn dần, cha mẹ cô bé phải tiếp nhận một sự thật tàn khốc: có nên hiến tạng của cô bé hay không? Trái tim cô bé vẫn còn đang đập và những ràng buộc riêng trên mặt luật pháp đã không cho vị bác sĩ nào dám khẳng định cô bé đã tử vong. Họ buộc lựa chọn tiếp tục chăm sóc đứa con gái đã rơi vào trạng thái thực vật hay buông tay, chấp nhận hiến tạng đứa con gái yêu duy nhất? Tất cả tạo nên một chuỗi những âu lo với bố mẹ cô bé :“Vậy kẻ hại chết con gái tôi sẽ là tôi sao? Không chỉ là những trăn trở về mặt pháp luật mà còn nhen nhóm hi vọng mong manh rằng chỉ cần trái tim còn đập thì một ngày kia cô bé sẽ dần lấy lại ý thức?. “Liệu cố gắng níu giữ sự “sự tồn tại” của một người đã chết có ý nghĩa gì? Hay đây chỉ là sự ích kỷ của bản thân họ khi từ chối hiến tạng con gái mình?. Điều này đã khiến người mẹ đã có những ý nghĩ không thấu đáo nhất thời nhưng cuối cùng... Nhà văn Keigo đã khéo léo gợi nhắc một khía cạnh nhức nhối không chỉ tồn tại trong xã hội Nhật Bản mà còn có giá trị hiện thực ở nhiều nơi trên thế giới về vấn đề hiến tạng. Cuốn sách còn giống như một lời gợi nhắc về tình cảm gia đình, về tấm lòng của những người làm cha làm mẹ dành cho những đứa con của mình. Gia đình là nơi không ngừng yêu thương và không bao giờ nói bỏ cuộc. Rõ ràng chỉ có yêu thương mới khiến người ta trăn trở đến thế, muốn cố gắng hết sức để cứu con gái yêu duy nhất. Giống như người cá vậy, cô bé Mizuko có một trái tim thật đẹp, những nhịp đập yếu ớt vẫn muốn gửi gắm đến cha mẹ tình yêu chưa một lần nói ra. Một lần nữa nhà văn Keigo Higashino lại khiến người đọc trăn trở trong từng câu văn, từng hình ảnh, từng cung bậc cảm xúc và để lại trong lòng độc giả câu hỏi day dứt “Nếu bạn ở trong hoàn cảnh ấy, liệu bạn sẽ lựa chọn ra sao?” và có lẽ đáp án lại tùy thuộc vào cách nghĩ của mỗi người. *** Higashino Keigo, sinh năm 1958 tại Osaka, là nhà văn trinh thám hàng đầu hiện nay tại Nhật Bản. Năm 1985, Higashino Keigo giành được giải Edogawa Rampo lần thứ 31 cho tác phẩm trinh thám hay nhất với tiểu thuyết Giờ tan học. Các năm sau đó, Higashino Keigo liên tục được đề cử vô số giải thưởng văn học lớn. Năm 1999, ông đoạt giải Mystery Writers of Japan Inói chuyện với tiểu thuyết Bí mật của Naoko, và năm 2006, là giải Naoki lần 134 cho Phía sau nghi can X. Năm 2012 tiểu thuyết Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya giành giải thưởng Chuokoron lần thứ 7. Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya đã bán được hơn một triệu bản ở Nhật, hơn một,sáu triệu bản tại Trung Quốc, được dựng thành kịch hai lần vào năm 2013 và 2016. Một số tác phẩm của Higashino Keigo đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam:  Phía Sau Nghi Can X - Higashino Keigo Bạch Dạ Hành - Higashino Keigo Bí mật của Naoko - Higashino Keigo Thánh Giá Rỗng - Higashino Keigo Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya Hoa Mộng Ảo Ngôi Nhà Của Người Cá Say Ngủ ... Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Của Người Cá Say Ngủ của tác giả Higashino Keigo.