Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Pho Tượng Thần Kâli

Tác giả: Henri Vernes NXB: Trẻ 1988 Charles-Henri-Jean Dewisme, được biết đến với bút danh là Henri Vernes, là một tác giả của tiểu thuyết hành động và khoa học viễn tưởng, trong đó ông đã xuất bản hơn 200 đầu sách. Tác phẩm: Bảy Cây Thánh Giá Bằng Chì Pho Tượng Thần Kâli ... *** Mặt trời ngả bóng trên thành phố Calcutta, biến đổi dòng sông Hoogly, một trong hàng trăm phụ lưu của sông Hằng linh thiêng, thành một dòng thác khổng lồ của chất lưu huỳnh nóng chảy, điểm xuyết đây đó vài chiếc buồm đen của những ghe thuyền chở nông dân từ những cánh đồng xa trở về. Chỉ mặc quần soóc, áo may-ô, nằm dài trên bao lơn trước cửa phòng mình ở khách sạn Thanh Xà, Bob Morane lặng ngắm thành phố. Thành phố Calcutta này, chữ Ấn Độ gọi là Kâli Ghât - thành phố Kâli - lấy tên của nữ thần Kâli, chủ sự Phá hoại và Chết chóc, có năm triệu dân, bày ra cảnh nghèo khổ nheo nhóc với hàng ngàn con bò thần gieo rắc bệnh dịch. Ở thành phố lớn này bệnh dịch tả hoành hành, là nơi mà Đông phương và Tây phương chung góp những điều xấu; một bên là dịch tễ và đói khát, bên kia là thất nghiệp và sa đọa tinh thần. Từ chỗ nằm, không cần đứng lên khỏi chiếc ghế dài, Morane nhìn những đốm lửa thắp lên trong những khu phố đông dân cư. Và rộng ra tất cả miền đồng bằng sông Hằng rực sáng dưới mặt trời sắp lặn... Một cảnh tượng khó quên, vượt cả óc tưởng tượng của con người, có hình dáng như một tấm vải khổng lồ sẵn sàng chìm vào bóng tối bất cứ lúc nào. Bob đã tới Calcutta được bốn ngày. Tờ tuần báo "Phản Ánh", một tờ tuần báo lớn của Pháp đang đăng một loạt phóng sự về các con sông lớn trên thế giới, đã giao cho Bob thiên phóng sự về sông Hằng. Morane, trước nay chỉ ghé Ấn Độ trong những khoảng thời gian ngắn ngủi, đã sốt sắng nhận ngay sự ủy thác đó. Trong bốn ngày vừa qua, chàng đã thăm viếng Calcutta, sau đó sẽ đi khắp miền đồng bằng, rồi sẽ tới Bénarès, Thành phố Thánh, để lên tận vùng xa xôi thượng lưu sông Hằng, sát ranh giới dãy núi Hy Ma. Tối hôm đó, Bob quyết định phải nghỉ ngơi, cả buổi sáng và gần hết buổi chiều, chàng đi qua những khu đông dân, chụp từng bức ảnh và bị những nhóm hành khất gầy trơ xương liên lục nhào đến xin bố thí, chàng phải len lỏi giữa hàng trăm con bò gầy gò vô chù đi ngúng nga ngúng nguẩy, ruồi bám quanh mình. Những con bò này là những vật tổ thần, không ai được giết hoặc hành hạ, đã là gánh nặng cho Ấn Độ nói chung, và Calcutta nói riêng. Morane ngả người trên ghế dài, ưỡn mình, hít không khí nóng bức của buổi hoàng hôn, chàng lùa những ngón tay mặt vào trong mớ tóc cứng. Sau một ngày vất vả, chàng cảm thấy khoan khoái được nằm dài; không suy nghĩ, không lo toan công việc, hưởng những lạc thú trong tầm tay. Việc đó cho chàng ý niệm về Niết Bàn, cõi hư vô cao cả và thánh thiện mà những người sùng bái đức Phật ao ước. Đột nhiên, một giọng nói cất lên bên cạnh làm chàng người Pháp giật mình : - Có thư cho ông Morane. Bob quay đầu lại. Một người hầu Ấn Độ, quần áo trắng toát, trên trán vẽ thêm con mắt thứ ba của thần Siva, đứng ngay bên chiếc ghế dài, tay bưng chiếc khay đựng một lá thư. Bob nghĩ thầm: "Những người Ấn này di chuyển như những bóng ma. Anh chàng này dám cắt cổ mình mà mình cũng chưa kịp nhận ra nữa..." Bob cầm lấy lá thư, người hầu rút lui, chàng vội xé phong bì, trong đó có một tờ giấy gấp tư. Chàng mở ra, và đọc: "Thiếu tá Morane, Cần gặp ông gấp. Nhận được thư này, hãy đến ngay nhà tôi, số 115 phố Baghavapur. Việc sinh tử. Cecil Mainright" Morane nhảy dựng. Chàng biết Cecil Mainright, tuy chưa hề gặp mặt ông ta. Ở Paris, giáo sư Aristide Clairembart, nhà khảo cổ học già bạn của Bob, biết chàng sang Ấn, có dặn rằng : - Ông qua Calcutta thì hãy thay mặt tôi, lại thăm ông bạn đồng nghiệp của tôi là Cecil Mainright. Ông ta là người nhiệt tình theo Ấn Độ giáo, đã ở bên đó bốn chục năm, thuộc nằm lòng xử sở ấy, sẽ giúp đỡ ông được nhiều việc. Vừa tới thủ đô của miền Bengale phương Đông, Bob đã bắt đầu liên lạc ngay với nhà bác học kia nhưng ông ta bận nhiều công việc, hẹn chàng mấy hôm nữa mới cho gặp. Theo hẹn thì ngày mai chàng mới phải tới nhà ông Mainright. Vậy tại sao lại có lá thư kỳ quái này, nhất là câu: "Việc sinh tử". Mainright gặp nguy chăng? Nếu gặp nguy, sao ông ta không gọi đến cảnh sát, mà lại cầu cứu chàng, người mà ông ta chưa hề biết mặt? Bob nhún vai. Tìm làm quái gì câu giải đáp cho những sự bí ẩn loại này? Cứ biết là chỉ lát nữa đây, chính miệng giáo sư Mainright sẽ nói cho hay là được rồi. Xưa nay có bao giờ Morane từ chối lời kêu gọi giúp đỡ của ai đâu? Bạn của ông Aristide Clairembart gặp nguy thì chàng phải tìm cách cứu thôi. Bởi thế chàng quyết định tới nhà ông Mainright ngay tối hôm đó. Vì biết số điện thoại của giáo sư Mainright chàng nhấc ống nói trong phòng mình, xin số bên kia. Đợi hơn một phút, chàng mới nghe tiếng nói của cô phụ trách điện thoại trong khách sạn : - Rất tiếc, ông ạ. Số mà ông gọi đang kẹt. Morane nhăn mặt, gác máy. Không thể liên lạc với giáo sư Mainright, chàng đành tới nhà ông ta. Mặc vội chiếc sơ-mi thể thao hở cổ, và chiếc quần len màu vàng mang đôi giày nhẹ, chàng định bước ra thì chợt nghĩ lại, đến lôi ở dưới gầm giường ra cái túi du lịch lớn, có dây kéo. Chàng rút trong một ngăn túi lấy ra một khẩu colt 38, ngắn nòng, dắt vào thắt lưng. Chiếc áo vét-tông che khuất khẩu súng. Chàng không có thói quen đi đâu cũng mang sùng kè kè, nhưng nhớ đến câu "Việc sinh tử" mà giáo sư Mainright viết trong thư, nên chàng nghĩ chẳng nên phó mặc cho sự may rủi trong một cuộc đụng độ. Vài phút sau chàng rời khách sạn, vẫy một chiếc taxi. Chiếc xe ghé sát lề đường, và người tài xế, một anh chàng người Sikh to con có bộ râu đen, xuống xe mở cửa cho khách. Bob nhận ra anh kia mang ở thắt lưng một con dao quắm rất dài. Chỉ vào vũ khí đó, chàng người Pháp hỏi : - Anh dùng thứ đó làm gì vây? Cắt cổ khách đi xe hả? Toét miệng ra cười, để lộ hàm răng trắng, đẹp hơn những phím đàn dương cầm, người tài xế lắc đầu. - Thưa ông, không. Munghal này không cắt cổ khách đi xe bao giờ... nếu khách trả tiền đàng hoàng. Dao này chỉ để cứa cổ Hồi hồi. Nói rồi anh ta nhổ nước bọt, tỏ lòng khinh ghét. Morane mỉm cười : - Rất may tôi không phải là người Hồi giáo. Munghal lại cười : - Thưa ông, vâng. Rất may... ông đi đâu, để tôi chở? Bob Morane ngồi trong xe, nói : - Số 115, đường Baghavapur! Chiếc taxi chuyển bánh lao đi, qua những đường phố đông nghẹt giữa một rừng xe cam nhông, xe điện, xe tay xe đạp và những con bò đi lang thang. Những con bò này gây trở ngại cho cho sự lưu thông, bởi chúng chỉ nhích từng chút cho chiếc taxi lọt qua. Chúng sợ tiếng còi xe hơn là bản thân chiếc xe. Đường Baghavapur là một con đường hoang vắng, nằm sát chân cầu Howrah, hai bên là những ngôi nhà cổ, kiểu xây cất thời nữ hoàng Victoria, bao bọc chung quanh là những khu vườn rộng, có rào sắt rất cao. Chiếc taxi ngừng trước nhà số 115, Morane xuống xe. Chàng người Sikh hỏi : - Tôi phải đợi ngài chăng? Bob lắc đầu : - Không, chắc tôi phải ở lại đây khá lâu. Chàng trả tiền cuốc xe, còn biếu thêm tiền thưởng hậu hĩnh. Chiếc taxi rồ máy. Bob còn lại một mình trên vỉa hè. Đêm đã xuống được một lúc, đường Bagharapur hoàn toàn chìm trong bóng tối. Đôi chỗ, vài bóng đèn điện tù mù soi xuống hàng cây phượng vĩ hoa đỏ thắm trong khung cảnh đen tối của ban đêm. Bob nhủ thầm: "Cái chỗ này chẳng có gì vui!" Thử lại cho chắc dạ khẩu súng lục dắt ở thắt tưng có thể rút ra dễ đàng, chàng tiến lại chỗ hàng rào sắt. Cánh cửa sắt hé mở làm chàng ngần ngừ. Chàng có cảm tưởng là đang rơi vào một ổ phục kích. Tuy nhiên chàng vẫn lách mình qua khoáng hẹp giữa hai cánh cửa, và tiến vào một lối đi rộng dẫn tới ngôi nhà mà một cửa sổ ở tầng trệt có ánh đèn rất sáng. Nhanh nhẹn, bằng bước chân đi đôi giày nhẹ, đế crếp, Morane lặng lẽ tiến lại gần ngôi nhà. Chàng tới bậc thềm thì có một bóng người từ phía trong hấp tấp bước ra. Đáng lẽ phải tránh sang một bên, Bob lại đứng chắn ngang đường, và hai người xô vào nhau rất mạnh, đồng thời có một vật trăng trắng lăn xuống lối đi. Người lạ mặt, hẳn là một người Ấn, vì bộ mặt đen của hắn không nổi lên trong bóng tối, cúi xuống để nhặt vật đánh rơi. Morane liền ngăn lại, chàng nói bằng tiếng Anh : - Ê! Một phút đi, anh bạn! Chạy ẩu chạy tả như thế mà không xin lỗi, đâu có được. Chàng vừa nói thế, người kia lầu bầu giận dữ, nhào lại bên chàng. Bob nhìn thấy một lưỡi dao găm lóe lên, vội lùi lại một bước. Lưỡi dao chệch qua cổ họng chàng vài phân, chàng vội dùng cườm tay chặt vào cánh tay đối thủ. Nhát chặt rất chính xác, người Ấn đành để mất vũ khí. Ngay lúc đó có tiếng chân tháo chạy, Bob nghĩ đối thủ tính bỏ trốn. Nhanh như chớp, chàng rút súng khỏi thắt lưng, hô to: "Ngừng lại, không ta bắn!", nhưng người kia đã biến mất trong bóng tối. Morane đứng lại một lúc, súng vẫn cầm tay, sẵn sàng nhả đạn nếu nghe có tiếng động nhỏ, nhưng kẻ gây hấn đã biến hẳn và vật rơi xuống từ đầu trận đấu vẫn nằm yên trên mặt đất. Bob nhặt lên, mới đầu chàng chưa nhận ra được đó là cái gì, vì nó được bọc kín trong một mảnh vải. Có thể là một chiếc khăn được buộc dầy chặt chẽ. Qua lần vải, Bob nắn bóp thấy một vật cứng, hình thù không đều đặn. Toàn bộ, dù vật ấy không lớn, nhưng rất nặng, Bob đoán chừng vật ấy bằng đá hay kim loại. Chàng nhún vai: "Đây hẳn là một báu vật mà thằng kia đánh cắp của ông giáo sư. Ta đem trả lại cho ông ta tất biết ngay đó là cái gì..." Leo lên những bậc thềm, Morane tới cửa thì thấy cảnh cửa mở toang dẫn vào một căn phòng vuông vắn bên trong sáng trưng. Cánh cửa thứ hai cũng mở, để lọt ra ngoài một vệt sáng dài. Bob đứng im, tay vẫn lăm lăm khẩu súng, tai lắng nghe nhưng cả gian nhà im ắng, hình như người nhà đã đi đâu cả. - Giáo sư Mainright! Giáo sư Mainright! Gọi liên tiếp hai lần, chàng chờ đợi, nhưng không có ai trả lời. - Trong nhà có ai không? Lại vẫn im lặng. Lần này, Morane cảm thấy lo lắng. Cái người cầm dao găm chạy trốn như một tên trộm, cùng ngôi nhà bỏ hoang mà phòng nào cũng sáng trưng đèn đối với chàng có vẻ bí ẩn. Các giác quan chàng đều hoạt động. Bob tiến vào căn phòng lớn, thăm dò để tìm xem có người nào chăng. Sau đó, hăng hái lên, Bob bước mau tới cánh cửa thứ hai đang hắt ra một luồng ánh sáng. Căn phòng hiện ra trước mắt Morane là một phòng làm việc rất rộng, chứa đầy những mẫu khảo cổ. Những hình chạm nổi gỡ ở những thạch động thiêng liêng, những bức tượng Phật cổ xưa qua thời gian đã nhẵn bóng những mớ ngọc thạch màu xanh hoặc những mẫu phún thạch, những mảnh đồng quý cắt ra từng miếng. Trên trần nhà, một chiếc quạt máy quay chầm chậm, làm chuyển đi luồng không khí nặng nề và nóng bức của đêm miền nhiệt đới. Tuy nhiên, tất cả những thứ đó chẳng khiến Bob chú tâm. Trái lại, chàng để ý ngay đến một người tóc hoa râm, một người Âu cúi gục trên chiếc bàn gỗ, đầu bất động quay về phía cửa. Không còn nghi ngờ gì nữa, Bob biết người đó là giáo sư Mainright, nhưng ông đã chết rồi. Chàng người Pháp đứng lặng hồi lâu ở chỗ bậc thềm. Nghề nghiệp phiêu lưu của chàng đã nhiều lần đưa chàng tới những cảnh ngộ tương tự, nhưng sự hiện hữu của tử thi gây cho chàng nhiều ấn tượng. Ông Mainright, mới một thời gian ngắn trước đây kêu cứu với chàng mà bây giờ không còn sống nữa. Bob có cảm tưởng mình chịu phần nào trách nhiệm về cái chết này. Nếu chàng đến sớm hơn, hẳn là mọi chuyện êm xuôi. Nhưng làm sao chàng đến sớm hơn được. Vừa nhận lá thư của nhà bác học bất hạnh chàng đã chẳng rời khách sạn ngay đấy ư? Dần dần, Morane cũng lấy lại được bình tĩnh. Đi tới cuối căn phòng chàng đem cái vật chưa biết rõ vẫn bọc trong chiếc khăn đặt vào một góc bàn giấy. Sau đó chàng lại gần người chết, thấy dấu vết bị siết còn rành rành trên cổ nạn nhân, và gần ghế bành, chàng thấy một dải lụa rất dày thắt một nút thòng lọng. Hẳn là hung thù đã sử dụng nó để giết nạn nhân. Chàng đưa mắt nhìn khắp phòng: Không một cửa tủ nào bị nạy. Hình như trong nhà không bị mất mát thứ gì. Hoàn toàn không... trừ ra... Morane lấy lại cái gói chàng vừa đặt ở góc bàn, mở vội chiếc khăn và vật bí ẩn hiện ra, đó là một pho tượng nhỏ tráng men, cao cỡ chừng không hơn mười phân, mang hình dáng một người đàn bà đang đứng, bốn cánh tay đều duỗi ra một cánh tay cầm thanh gươm, một xách một thủ cấp, còn hai cánh tay khác thì xòe ra như ban phép, lòng bàn tay đỏ lòm. Dễ sợ nhất là khuôn mặt với đôi mắt cú vọ có những tia máu, cái miệng toác hoác, lưỡi thè lè giữa hàm răng nhọn hoắt. Hai mảnh xương nhỏ dùng làm hoa tai cho người đàn bà kỳ quái và một chuỗi sọ người vấy máu, lủng lẳng trước ngực. Ở hai cổ chân và bốn cổ tay, người đàn bà ấy mang những chiếc vòng ngọc thạch sáng rực, và quanh cổ đeo một đạo bùa. Morane nghĩ thầm: "Nếu ta không lầm thì đây là bức tượng nữ thần Kâli, vị Hắc thần, vợ của thần Siva, và vì muốn cướp đoạt pho tượng mà kẻ kia đã giết vị giáo sư tội nghiệp này. Nhưng những vòng ngọc thạch và lá bùa thì ta thấy dường như là của già, và có thể cả bức tượng nữa..." Lấy một con dao rọc giấy ở trên bàn, chàng cậy một mảnh men tráng ở gót chân pho tượng thì thấy hiện ra một thứ kim loại màu xam xám. Bob thì thầm : - Chì! Thế mà kẻ gây hấn với ta hoài công đánh cắp pho tượng. Như vậy có thể không phải hắn đã giết ông Mainright đâu. Đột nhiên, chàng giật mình, đôi mắt chàng, chăm chú nhìn dải lụa ở gần chỗ bàn giấy. Dải lụa gợi cho chàng một ý nghĩ. Chàng thì thầm : - Vật này dùng để siết cổ ông Mainright. Nó với pho tượng thần Kâli phải có một liên hệ nào đó. Cá nhân ta, ta không thấy một liên hệ nào. Chuyện này, ta thấy có vẻ quái đản, không thể nào tưởng tượng được. Chàng không khỏi rùng mình, đưa mắt nhìn quanh, tưởng như một quái vật khát máu khủng khiếp thình lình hiện ra. Nhưng không, chẳng có gì, chỉ có một mình chàng ở trong phòng với xác chết. Chẳng bao lâu sau, chàng làm chủ lại thần kinh của mình. "Nếu ta không lầm thì đây chỉ là một vu giết người bình thường. Hung thủ đã vào đây, trong ngôi nhà có nhiều tiền bạc và bảo vật quý giá này, nhưng sau khi thắt cổ ông giáo sư bất hạnh Mainright, hắn đã lấy đi thứ gì? Một pho tượng tầm thường bằng chì tráng men..." Morane lại quan sát pho tượng Hắc thần, một lúc lâu sau khi xem xét kỹ lưỡng, mới nghĩ tiếp: "Phải. Đây là pho tượng của mụ già uống máu Kâli, có thể mở ra nhiều bất ngờ cho chúng ta. Tốt nhất là ta báo cảnh sát cái đã". Chàng nhấc ống điện thoại đặt trên bàn giấy. Nhưng khi chàng đặt ống nghe vào tai thì không có tiếng gì cả. Chàng lẩm bẩm: "Ta quên đi mất! Máy kẹt mà! Dây điện bị cắt rồi! À, không có điện thoại, vẫn có cách kêu cảnh sát rất kiến hiệu: cách này đây..." Chàng lại gần một cửa sổ, mở ra, dang thẳng tay chĩa khẩu súng lên trời, bốp cò liền ba phát. Trong đêm tĩnh mịch, tiếng súng vang dội như sấm và chàng không thắc mắc gì về kết quả. Trong khu phố toàn những biệt thự, xưa nay thường lặng lẽ êm ả, chắc chắn một loạt đạn nổ sẽ mau chóng đánh động hàng xóm. Tác phẩm: Bảy Cây Thánh Giá Bằng Chì Pho Tượng Thần Kâli ... *** Mời các bạn đón đọc Pho Tượng Thần Kâli của tác giả Henri Vernes.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bà Mụ - Chris Bohjalian
Vào một đêm mùa đông bão bùng năm 1981, một ca đẻ tại nhà ở bang Vermont, miền bắc nước Mỹ, đã biến thành bi kịch. Đường dây điện thoại bị đứt, đường sá bị phong tỏa vì băng đá. Không thể đưa bệnh nhân đến bệnh viện, bà mụ Sibyl Danforth đã nỗ lực hết sức để cứu cả bà mẹ lẫn thai nhi trong lúc người học việc thiếu kinh nghiệm của bà và người chồng hoảng sợ của thai phụ chỉ biết bất lực đứng nhìn. Thai phụ đã chết nhưng đứa bé được sống nhờ quyết định vào phút chót của Sibyl: mổ lấy thai. Nhưng cơn ác mộng chỉ mới bắt đầu: người học việc một mực cho rằng thai phụ chưa chết lúc Sibyl tiến hành mổ đẻ. Trong tiểu thuyết Bà mụ, tác giả Chris Bohjalian đã tường thuật lại những sự kiện dẫn đến phiên tòa xét xử Sibyl Danforth, một bà mụ lành nghề ở thị trấn nhỏ Reddington, từng đỡ đẻ cho hơn 500 đứa trẻ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đó không đơn thuần là phiên tòa về tội bất cẩn gây chết người của Sibyl, mà còn là cuộc đối đầu giữa giới bác sĩ và bà mụ, những người luôn bị xem là cái gai trong mắt chính quyền và cộng đồng y tế. Bà mụ được kể lại qua cách nhìn của Connie, cô con gái mười bốn tuổi của Sibyl. Khi câu chuyện về điều gì đã xảy ra trong đêm mùa đông định mệnh ấy dần mở ra cũng là lúc người đọc bước vào một thế giới lạ lùng của nghề bà mụ. Ở đó có những người phụ nữ không xem việc đỡ đẻ là một “nghề nghiệp” mà là một “duyên phận” chỉ dành riêng cho một số người, và họ thực hiện nó như một nghi thức tôn giáo thiêng liêng. Những người như Sibyl Danforth luôn tin rằng “phụ nữ đẻ con hiệu quả nhất trong môi trường mà họ thông thuộc nhất và điều đó khiến họ cảm thấy thoải mái nhất; tương tự, việc chào đón một đứa trẻ đến với thế giới này trong một căn phòng ấm áp, và đỡ lấy đứa bé với đôi tay trìu mến, là điều rất quan trọng”. Ở đó có những ca đẻ tại nhà với sự cộng hưởng cảm xúc của tất cả những người có mặt khiến ta chỉ muốn “đóng chai những rung cảm trong căn phòng đó và để dành một ít cho những ca đẻ cô đơn hơn”. Bà mụ cũng có thể được xem là “duyên phận” của tác giả Chris Bohjalian khi ý tưởng viết quyển sách đến với ông như một sự sắp đặt. Chris kể rằng khoảng sáu tháng sau khi cô con gái của ông chào đời, vợ chồng ông đến dự một buổi tiệc tối tại Vermont nơi họ sinh sống, và ngồi cạnh ông là một bà mụ hành nghề độc lập ở địa phương. Nghe tin vợ chồng ông phải lặn lội lái xe hơn 50 cây số giữa đêm mới đến được bệnh viện gần nhất để sinh con, bà đã mỉm cười nói: “Nếu anh chị dùng đến tôi, thì anh chị đã có thể đẻ con trong phòng ngủ của mình và anh đã có thể đích thân đỡ lấy cháu bé rồi.” Nhà văn kể lại: “Tôi chưa bao giờ nghe người ta nói động từ “đỡ” trong bối cảnh sinh đẻ, thế là tôi lập tức cảm thấy thích thú. Ngày hôm sau, chúng tôi ăn trưa với nhau, và bà chia sẻ với tôi những quyển sách về nghề bà mụ như Trái tim và đôi tay và Nghề bà mụ thiêng liêng. Rồi bà giới thiệu tôi với những ông bố bà mẹ từng đẻ con tại nhà. Tôi đã gặp gỡ những bà mụ và bác sĩ sản phụ khoa khác, và tôi phát hiện ra rằng một câu chuyện tuyệt vời đang chờ được viết ra.” Bà mụ (xuất bản năm 1997) là tiểu thuyết thứ năm của Chris Bohjalian. Là tác giả, Chris nhớ ơn người phụ nữ đã gợi ra cho ông một đề tài sáng tác tuyệt vời. Là bạn đọc, tôi cám ơn cuộc gặp gỡ định mệnh đó, vì nó là duyên lành cho sự ra đời của một tác phẩm hé mở về thế giới ít được biết đến của những bà mụ, của một nghề đang dần mai một. Đọc Bà mụ, thấy đồng cảm với niềm tin bất biến của những người làm nghề đỡ đẻ vào sự thiêng liêng không thể thay thế của sinh đẻ tại nhà. Thấy thương hơn những vất vả “mang nặng đẻ đau” của người làm mẹ, dù ở đâu và bên cạnh ai. Rồi bất chợt nhận ra, hình như có một lúc nào đó giữa những trang sách, ta đang nghĩ về giờ phút chào đời của chính ta và thấy yêu mẹ của ta nhiều hơn một chút. Đó là khi ta chạm đến sự đồng điệu với tác giả, như ông đã tâm sự: “Bà mụ đề cập đến nhiều câu chuyện, nhưng trên hết, tôi xem quyển tiểu thuyết này như một câu chuyện về tình mẫu tử thiêng liêng.” Thi Trúc Sài Gòn, tháng 11 năm 2010   *** Chris Bohjalian đã cho ra đời mười ba tác phẩm, mới nhất là Bí mật vườn địa đàng (Secrets of Eden) xuất bản tháng 2/2010. Tiểu thuyết Bà mụ từng chiếm vị trí số 1 trong danh sách bán chạy của New York Times, đoạt giải “Quyển sách hay nhất” của Publishers Weekly và được tuyển chọn trong Câu lạc bộ sách của Oprah. Tác phẩm của Chris Bohjalian đã được dịch ra hơn 25 ngôn ngữ và xuất bản ở hai mươi mốt quốc gia. Đến nay, đã có hai tiểu thuyết của ông được dựng thành phim, gồm Bà mụ và Băng qua khán đài. Năm 2002, ông đoạt giải thưởng sách New England (New England Book Award) ở thể loại hư cấu. Ngoài sáng tác tiểu thuyết, ông còn viết bài cho nhiều tạp chí, trong đó có Cosmopolitan, Reader’s Digest, và Boston Globe Sunday Magazine, và là người phụ trách chuyên mục xã luận Chủ nhật cho báo Burlington Free Press từ năm 1992 đến nay. Hiện ông sống ở Vermont với vợ và con gái. Tiểu thuyết The double bind (Nghịch lý) Before you know kindness (Trước khi bạn biết lòng tử tế) The buffalo soldier (Chiến binh trâu) Trans-sister radio (Đài phát thanh chị em) The law of similars (Lấy độc trị độc) Midwives (Bà mụ) Water witches (Phù thủy nước) Past the bleachers (Băng qua khán đài) Hangman (Người treo cổ) A killing in the real world (Một vụ giết người trong thế giới thật) Tuyển tập tản văn Idyll Banter: Weekly excursions to a very small town (Idyll Banter: Những cuộc dạo chơi hàng tuần đến một thành phố nhỏ)   *** Lời khen tặng dành cho tiểu thuyết Bà mụ của Chris Bohjalian Giải Quyển sách hay nhất của Publishers Weekly[1] “Một Bản đồ thế giới thứ hai... xúc động... đau đớn.” Glamour “Sự kết hợp giữa cường độ kể chuyện, nhân vật và bối cảnh thuyết phục, giọng văn xuôi tinh tế và chủ đề quan trọng đủ hiếm thấy để được trân quý.” Portland Oregonian “Quyển sách phải đọc của mùa này.” Woman’s Own “Thông minh và phóng khoáng... Bà mụ còn hơn cả một quyển sách hay để đọc.” Burlington Free Press “Quyến rũ... Bohjalian chuyển tải sự nhạy cảm đáng kinh ngạc vào tác phẩm mô tả nữ giới của ông.” San Antonio Express-News “Một quyển sách hay mê hoặc... Bohjalian... là bậc thầy trong tác phẩm của ông.” Concord Sunday Monitor (New Hampshire) “Lôi cuốn, sâu lắng... Độc giả sẽ bị mê hoặc trước sức hút không thể cưỡng lại của câu chuyện.” Publishers Weekly “Một tiểu thuyết hấp dẫn, phức tạp.” Kirkus Reviews Mời các bạn đón đọc Bà Mụ của tác giả Chris Bohjalian.
Vị Tư Lệnh Mong Muốn Vĩnh Hằng - Kresley Cole
Nhân vật Nikolai Wroth trong tựa tiểu thuyết full này là vị tướng quân ma cà rồng tàn nhẫn, sẽ không để thứ gì ngáng con đường tìm kiếm Cô Dâu của anh, người phụ nữ duy nhất có thể 'trao đổi máu' cùng anh, khiến trái tim anh đập, cũng đồng thời khiến sức mạnh tràn ngập thân thể anh. Chỉ lạnh lùng hứng thú với sức mạnh mà Cô Dâu ấy có thể mang đến, anh khó thể tin khi Myst Kẻ Được Khao Khát đánh thức cơ thể - và linh hồn của anh. Nổi danh trên khắp thể giới là con Valkyrie xinh đẹp nhất, Myst đã cống hiến cuộc đời mình để bảo vệ một món nữ trang ma thuật, và để chiến đấu chống lại bọn ma cà rồng. Với Wroth, cô thấy được cơ hội tuyệt vời để hành hạ kẻ thù không đội trời chung của mình - khi mỗi nhịp đập của trái tim hắn đi kèm với khát khao tình dục chỉ cô mới có thể thỏa mãn. Từ chối hắn, cô bỏ trốn, gắng sức quên đi nụ hôn cháy bỏng, đầy tính chiếm hữu ấy của hắn. Cô trốn tránh được anh trong năm năm, nhưng cuối cùng anh đã săn cô đến tận cùng trái đất rồi đoạt mất món nữ trang ma thuật của cô, món nữ trang trao tất cả quyết định của cô về tay anh. Giờ khi mà cô đã sẵn ở đấy trước mặt anh, anh định để cô tự mình trải nghiệm qua khát khao tình dục đau đớn không có điểm dừng cô đã khiến anh chịu dụng nửa thập kỉ qua. Thế nhưng khi Nikolai nhận ra điều anh muốn từ Myst còn hơn cả thù hận rồi thả tự do cho cô, liệu cô có quay trở về bên anh? *** Tất cả mọi sinh vật hay vật thể được suy nghĩ là trong truyền thuyết … không phải như thế. Họ tất cả đều tồn tại song song với loài người và tận hưởng món quà của sự bất tử.Có đến hàng trăm các loài khác nhau: từ Ma cà rồng đến Lykae, từ Furies đến Người biến hình, từ loài Yêu tinh đến loài Valkyrie. Những người bất tử đó gọi thế giới của họ là The Lore. Bạn đã có thể có một cuộc va chạm với một trong những loài Lore rồi. Vị tỉ phú kì quặc với một sự thu hút lôi cuốn – và một sự dị ứng với ánh nắng mặt trời. Một người qua đường trông nhẹ hều với vẻ đẹp không thể có – người mà móng tay nhìn giống như là vuốt hơn. Một người Cao Nguyên với âm giọng Scotland thế kỉ mười bảy và một lực hút thú vật – người mà không thể nào được vẽ lại trong một đêm trăng tròn. Họ bước đi trong chúng ta, nhưng họ lại đấu tranh trong nội bộ mình. Mỗi phần tử có sức mạnh, điểm yếu, và những định kiến nghìn năm củ nó đối với những phần tử khác. Cứ mỗi năm trăm năm, cuộc Accession, một cuộc chiến cho sự đứng đầu, nổi lên. Thời gian đó là bây giờ … Bộ Immortals After Dark gồm có: Book 1: The Warlord Wants Forever (Vị tư lệnh mong muốn sự vĩnh hằng) Book 2: A Hunger Like No Other (Cơn khao khát không như bất cứ gì) Book 3: No Rest For The Wicked (Không có sự yên nghỉ cho kẻ đen tối) Book 4: Wicked Deeds On A Winter’s Night (Những việc đen tối trong đêm đông) Book 5: Dark Needs At Night Edge (Những nhu cầu tối tăm tại một góc bóng đêm) Book 6: Dark Desire After Dusk (Nhưng khao khát đen tối sau hoàng hôn) Book 7: Kiss Of A Demon King (Nụ hôn của một vị vua demon) Book 8: Untouchable (Không thể chạm được) Book 9: Pleasure Of A Dark Prince (Sự thỏa mãn của một vị hoàng tử đêm tối) Book 10: Demon From The Dark (Quỷ dữ từ đêm tối) Book 11: Dreams Of A Dark Warrior (Giấc mơ của một chiến binh đêm tối) Book 12: Lothaire (published day: Jan 10, 2012) *** Nguồn gốc loài Valkyrie Giữa làn tuyết đẫm máu, một chiến binh đơn độc khuỵu gối, cơ thể yếu đuối run rẩy. Tuy nhiên, cánh tay nàng vẫn giương kiếm trước binh đoàn gần đến. Chiếc áo giáp bằng sắt móp méo nuốt trọn thân hình bé nhỏ của nàng. Gió gào rú từng cơn, khiến mái tóc nàng tung bay, nhưng nàng vẫn nghe được tiếng“tưng” khi một tên nhả dây cung. Nàng cất tiếng thét trong cơn thịnh nộ; mũi tên đâm thủng chính giữa áo giáp nàng, lực đánh hất người nàng ra sau. Mũi tên ấy đã đi xuyên qua lớp kim loại, chạm hờ được đến xương ức của nàng, đủ để mỗi nhịp tim là một lần trái tim nàng chạm đến đầu nhọn mũi tên. Nhịp tim đập dũng cảm của chính nàng đang khiến nàng chết dần chết mòn. Nhưng tiếng hét của nàng đã đánh thức hai vị thần đang chìm trong giấc ngủ cùng nhau suốt một thập kỉ lạnh lẽo khắc nghiệt gần đấy. Âm thanh ấy đã khuấy động họ, khiến họ nhìn xuống người thiếu nữ, thấy ngọn lửa can đảm rực rỡ cháy trong đôi mắt nàng. Cả đời nàng là quãng thời gian tràn đầy lòng dũng cảm và quyết tâm, nhưng ánh sáng ấy mờ dần khi cái chết cận kề, và họ thương tiếc nó. Freya (*), vị nữ thần, thì thầm rằng họ nên giữ sự can đảm ấy bất diệt bởi vì nó rất quý giá. Woden (*) đồng ý, và cùng nhau họ mang tia sét xuyên qua thinh không để đánh vào người trinh nữ đang dần chết. (*) Wóden, Freya: hai vị thần cai trị tất cả các thần trong thần thoại Bắc Âu. Tia sáng ấy dữ dội, rất lâu sau mới tan đi và làm cho cả binh đoàn kia run sợ. Khi bóng tối lại phủ lên một lần nữa, nàng trinh nữ tỉnh dậy không thương tích trong một nơi lạ lẫm. Thân thể nàng lành lặn, nhân kiếp hữu hạn của nàng không thay đổi. Nhưng không lâu sau, nàng sẽ hạ sinh một đứa con gái bất tử – người con gái mà sở hữu sự dũng cảm của nàng, trí thông minh ranh mãnh của Woden với bản tính vui vẻ với vẻ đẹp yêu tinh của Freya. Dù người con này hấp thụ năng lượng của tia sét để làm nguồn dinh dưỡng, cô cũng thừa kế tính kiêu ngạo từ Woden và niềm đam mê học hỏi từ Freya – những điều chỉ khiến họ cưng chiều nàng hơn. Hai vị thần thấy thỏa mãn còn người trinh nữ yêu quý đứa con đầu lòng của mình. Thế nhưng khi một thời đại lại thoăn thoắt trôi qua, các vị thần nghe thấy tiếng kêu can đảm của một người phụ nữ khác khi nàng chết trong cuộc chiến chống lại kẻ thù đen tối. Nàng không phải thuộc về loài người, mà nàng là Furie, một loài trong The Lore – một tầng lớp xã hội gồm các giống loài thông minh đã thuyết phục con người rằng họ chỉ là tồn tại trong trí tưởng tượng. Giây phút sơ hỡ đã khiến sinh vật ấy trả giá – trong đêm tối lạnh giá, hơi thở nàng đã không còn hiện hữu. “Sảnh của chúng ta rất rộng, tuy nhiên gia đình chúng ta lại nhỏ,” Freya nói, mắt nàng lấp lánh, ánh sáng rực rỡ đến mức một thủy thủ ở phương Bắc bị chói lòa bởi các vì sao trong phút chốc mà suýt nữa lạc lối. Woden nghiêm nghị nắm lấy tay nàng, không nỡ từ chối lời đề nghị ấy. Những kẻ xung quanh con Furie đang chết dần ấy lại nhìn thấy tia sét xé toạc bầu trời một lần nữa. Và nó sẽ giáng xuống lần nữa và nữa trong những năm sau đó, tiếp tục đến khi những nữ chiến binh – dù là con người, demon, tiên cá, người biến hình hay các sinh vật dũng cảm khác trong The Lore – biết cầu nguyện chúng đến khi họ chết. Từ đó, giống loài Valkyrie ra đời. ... Mời các bạn đón đọc Vị Tư Lệnh Mong Muốn Vĩnh Hằng của tác giả Kresley Cole.
Seoul Ngọt Ngào - Jung Yi Hyun
Cuốn sách đưa người đọc vào thế giới nội tâm của một cô gái Hàn Quốc hiện đại trước ngưỡng của tuổi ba mươi với biết bao trăn trở về tình yêu, đường đời và cuộc sống. "Seoul ngọt ngào" là chuyện đời của Oh Eun Shu - một phụ nữ bước sang tuổi ba mươi với cuộc đời hết sức bình thường tại thành phố Seoul náo nhiệt, nhưng các vấn đề tiền bạc và tình duyên đã hợp thành một thách thức to lớn, khác thường mà cô phải đối mặt.   Giọng văn của Jung Yi Hyun hài hước, nhẹ nhàng nhưng không kém phần cuốn hút. Chị dẫn dắt người đọc đến với một thế hệ U30 của thành phố Seoul hiện đại náo nhiệt, nơi có những cô gái hối hả tìm kiếm hạnh phúc riêng cho mình, đấu tranh để có được tự do cá nhân trong thời đại mới và thỏa hiệp với những truyền thống cũ. "Trong mỗi cuộc đời bình thường luôn đầy ắp những điều khác thường và đặc biệt" đó là điều mà nữ nhà văn xứ Hàn gửi gắm trong cuốn tiểu thuyết đầu tay này. Tiểu thuyết này giúp Jung Yi Hyun nhận giải thưởng văn học Lee Sang, giải thưởng văn học Lee Hyo Seok (Hàn Quốc). Độc giả Hàn đã đón nhận Seoul ngọt ngào rất nồng nhiệt và nó mau chóng trở thành tiểu thuyết ăn khách tại Hàn Quốc. Tác phẩm cũng đã được chuyển thể thành phim truyền hình. *** Nhà văn Jung Yi Hyun sinh năm 1972 tại Seoul. Truyện ngắn đầu tay Tình yêu lãng mạn và xã hội nhận được giải thưởng nhà văn trẻ của giải thưởng Văn học và xã hội lần 1, giúp chị có mặt trong văn đàn. Tiếp theo, truyện ngắn Sự cô độc của người khác của chị được giải thưởng văn học Lee Hyo Seok năm 2004, truyện ngắn Trung tâm thương mại Sam Pung đoạt giải thưởng văn học hiện đại lần thứ 51 (2006). *** Vào ngày kết hôn của người yêu cũ, người ta thường làm gì nhỉ? Có thể sẽ bỏ đi du lịch một mình. Nằm dài bên bờ biển Nam Thái Bình Dương, vừa nhâm nhi cocktail vừa tận hưởng cảm giác mát mẻ, đằng nào chuyện cũng thế rồi thì hãy cầu cho bọn họ được hạnh phúc vậy. Cũng có thể chất đầy một ba lô đá cuội leo lên núi Bắc Hàn, hoặc đi bộ qua cầu ngầm Jamsu. Và vừa xuống núi vừa ném từng hòn đá cuội, hoặc đứng lặng nhìn sóng nhấp nhô trên sông rồi đột nhiên òa lên nức nở, thế cũng chẳng sao cả. Vậy còn tôi thì sao? Tôi đã đi làm. Vào sáng thứ tư, như tất cả những nhân viên công ty khác trên đời. Kì nghỉ phép của năm nay tôi đã dùng hết từ mùa hè năm ngoái, vả lại chiều nay có một buổi thuyết trình quan trọng nên tôi không thể đến nói rằng “Sếp, cho em nghỉ một ngày để em lên núi Bắc Hàn nhé!”. Và cũng không thể điện thoại cho chú rể để chất vấn tại sao anh lại cưới vào đúng ngày thứ tư mà không phải là ngày cuối tuần. Không biết là may mắn hay bất hạnh, nhưng tôi không phải là người làm quá tới mức ấy. Thành thật mà nói cho đến tận trưa, tôi đã quên béng mất hôm nay là ngày cưới của anh ta cho đến khi dịch vụ báo tin của điện thoại réo lên báo hiệu ngày kỉ niệm. Khoảnh khắc từ 11g59 sáng chuyển sang 12g00 trưa, tôi đang nghĩ xem nên ra phở Hòa ăn phở Việt hay tới Dong Chung Hung để ăn mì đen thì chuông điện thoại réo vang. Màn hình điện thoại hiện ra dòng chữ “Tin buồn, Gorilla thiệt mạng!”. Gorilla[1], cái biệt danh mà anh ta không hề muốn công nhận nó. Gorilla, nếu tôi có lỡ miệng nói ra cái từ “kết hôn” thì kiểu gì anh ta cũng run lên bần bật. — Con gái gì mà không biết suy nghĩ sâu xa. Em không biết ở xã hội Hàn Quốc này, kết hôn cũng giống như cái cương ngựa ghìm chân người ta hay sao? Khoảnh khắc làm lễ cưới, đó chính là lúc người ta bước chân vào trong mộ mà nằm. Chính miệng anh ta đã phát ra từ “mộ”, vậy thì đúng 12g00 trưa, tại một nhà hàng tiệc cưới nào đó ở Kangnam, anh ta chắc chắn sẽ thở hắt ra cho mà coi. Mới ngày nào còn ngon ngọt rằng đừng trói buộc nhau bởi cái cách kết hợp vô nghĩa và đầy hình thức ấy, hãy sống và yêu nhau mãi mãi một cách tự do. Mới chia tay với tôi chưa đầy sáu tháng, anh ta đã gửi thiệp cưới tới. Cùng với tấm thiệp cưới là mảnh giấy nhỏ với dòng chữ “Eun Shu thân mến! Chúng ta đã thật sự như người nhà đúng không nào? Với em thì anh tin rằng em sẽ thực lòng chúc mừng cho anh. Chúc em mạnh khỏe”. Kiểu viết gà bới vẫn không hề thay đổi. Tôi, sau khi lần lượt xé nhỏ tấm thiệp cưới và mảnh giấy vứt vào thùng rác bèn mở máy điện thoại, vào menu dịch vụ báo ngày kỉ niệm, nhập ngày cưới của anh ta vào với suy nghĩ đến ngày đó, sau khi hướng về phía Nam chắp tay thành tâm vái, tôi sẽ ném một bông hoa cúc xuống sàn và dẫm nát nó bằng gót giày cao gót. Điện thoại báo cho tôi biết ngày này, giờ chỉ cần bùng lên cơn phẫn nộ đã kìm nén bấy lâu nay là được! Nhưng thật lạ! Máu không trào ngược lên, ngực không hồi hộp và tim cũng chẳng đập thình thình. Cũng không hề cảm giác bị phản bội, ghen tuông hay thương hại mình nữa. Chỉ thấy bụng đói dã man vào giữa trưa như bao nhiêu ngày khác. Tôi gọi một tô mì Jajangmyeon lớn và vét sạch sành sanh. Ăn xong chỉ ợ lên một tiếng vì no chứ không hề cảm thấy một tí tình cảm mãnh liệt nào. Thay cho ly cocktail của resort bên bờ Nam Thái Bình Dương là ly cà phê Mocha giá 3.800 won trong quán Starbucks. Trong lúc cầm ly cà phê và quay trở lại văn phòng, đầu tôi mông lung với suy nghĩ lạ lùng. Tôi đã yêu anh ta. Anh ta cũng đã yêu tôi. Chắc chắn là như vậy. Tôi đã nghĩ như vậy. Nhưng tại sao tôi lại không hề có cảm giác gì nhỉ? Hay tại máu tôi đã trở nên nguội ngắt rồi? Và sau này sẽ dần dần trở nên lạnh giá? Đột nhiên tôi cảm thấy sợ. Cứ như thế này, biết đâu lại già đi và đông cứng như cá đông lạnh để trong tủ đông. Có nghĩa là trở thành một con người vô cảm mãi mãi. Ngụm cà phê Mocha, mặc dù đã đổ đầy siro sao vẫn đắng ngắt trong miệng. Điều này không phải là vì kí ức còn lại với người yêu cũ. Nghĩ tới tương lai u ám, mờ đục giống như mắt cá đông lạnh khiến sống mũi tôi cay xè. Tôi nhìn đồng hồ. Chỉ còn hai tiếng nữa, tôi sẽ phải thực hiện một bài thuyết trình vô cùng quan trọng. Nếu để cho mascara nhòe đi sẽ thật nguy hiểm. Thay vì đóng cửa toilet lại để nức nở, tôi xì mũi một cái thật mạnh. Vào ngày cưới của người yêu cũ, tôi đã không nhỏ một giọt nước mắt. Chỉ thấy rằng mình đã trở thành người lớn. Sau khi lau sạch mũi, vừa bước vào văn phòng đã nghe văng vẳng tiếng ông Hwang trưởng phòng: — Các cô cũng chuẩn bị nhanh lên, trang điểm lại đi. — Sao ạ? Hai cô bé sinh viên mới vào thực tập cách đây mấy ngày, mắt tròn mắt dẹt. — Các cô cũng cùng tới công ty khách hàng luôn. Khi thuyết trình mà bối cảnh nhạt nhẽo quá cũng không được. Thêm các cô cho có không khí chứ, chỉ có mấy cái mặt nặng trình trịch của tôi và cô Eun Shu kia thì hỏng việc. Có thêm mấy khuôn mặt trắng trẻo như của các cô đây cho người ta ngắm cũng sẽ đỡ buồn hơn. Mời các bạn đón đọc Seoul Ngọt Ngào của tác giả Jung Yi Hyun.
Ngày 210 - Natsume Soseki
"Ngày 210" được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1096 tại Nhật Bản. Một cuốn sách nhỏ, dày chưa đến 100 trang, nhưng lại chứa đựng trong đó sức nặng ghê gớm. Tiểu thuyết thể nghiệm một lối kể chuyện qua hình thức đối đáp kéo dài giữa hai chàng thanh niên khác nhau về tính cách là Kei và Roku khi họ cố sức leo lên đỉnh Aso đang rền rĩ như muốn bùng nổ phun trào dung nham. Và họ phải đối mặt với ngày 210, theo âm lịch là ngày bão tố. Những trường đoạn đối đáp của họ không chỉ thể hiện không khí căng thẳng khốc liệt của thiên nhiên vào ngày núi lửa và bão tố hoành hành mà còn cho thấy những xung đột xã hội gay gắt âm u. Hành trình leo núi đầy ám ảnh của họ liệu có thành không, tác giả để mở cho trí tưởng tượng của người đọc. Tiểu thuyết còn là một phối hợp thú vị giữa thể nhật ký văn chương rất Nhật có truyền thống lâu đời và thể tự truyện pha hư cấu của phương Tây. Tác phẩm dựa trên một hành trình thật sự của Soseki đến Kyushu năm 1899 cùng với người bạn thân là Yamakawa Shinjiro. Hai người gặp bão tố ngày 210 khi thực hiện cuộc leo lên đỉnh Aso. Núi lửa phun trào, văn hóa cũ suy tàn, bão tố ập về… Và những người trẻ tuổi vẫn đi lên với những bước chân đầy trầm tư, khát vọng. Soseki vốn được xem là “một con tắc kè hoa” trong văn hóa, tức là luôn luôn biến đổi chứ không bao giờ chịu đóng khung mình trong những hình thức lặp lại. Người mới đọc Soseki hẳn sẽ có chút ngỡ ngàng nếu biết rằng một Gối đầu lên cỏ mong manh đẹp đẽ như hư ảo, và một Tôi là con mèo sắc sảo, hài hước, giễu nhại lại đều do một Soseki tạo nên. Ngày 210 có lẽ là cuốn sách thể hiện sự đổi mới quyết liệt nhất trong suốt thời gian sáng tác của Soseki. Với lối viết thể nghiệm mới, khi sáng tác cả một tiểu thuyết chỉ bằng những trường đoạn đối thoại dài liên tục, Soseki không những tạo được sự mới mẻ, mà còn đề cập được rất nhiều vấn đề sâu sắc về con người, thời cuộc của xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ. Kết thúc cuốn sách, người đọc không hề biết rằng Kei và Roku rốt cuộc có tiếp tục đi đến đỉnh của ngọn núi lửa Aso ấy không. Chỉ có một cõi bụi mù thẫm sương mở ra trước mắt. Ấy cũng là một cái kết rộng mở như dư âm đọng lại trong những bài thơ haiku rất ngắn trong văn học Nhật. Mời các bạn đón đọc Ngày 210 của tác giả Natsume Soseki.