Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cậu Tú - Jules Vallès

Tập II Cậu Tú chủ yếu kể lại cuộc kiếm sống chật vật của Jăc Vanhtrax ở Pari, do đó một mặt Juyn Valex vẽ lên một bức tranh khá sinh động về xã hội Pari, mặt khác ông vạch ra bước đầu đi vào hoạt động chính trị của Jăc Vanhtrax mà cũng là của bản thân ông. Chắc chẳn là khi viết về cuộc sống chật vật của Jăc Vanhtrax ở Pari, Juyn Valex đã liên hệ với cuộc sống ở Pari của những Raxtinhăc, Ruybemprê trong Tấn trò đời mà Jăc Vanhtrax gọi là những người “anh em về tham vọng và lo âu của mình”. Nhưng cái xã hội Pari của Juyn Valex có khác cái xã hội Pari của Banzăc, là vì tham vọng của Ruybeniprô, một kẻ muốn vươn tới danh vọng và giàu sang, có khác tham vọng của Jăc Vanhtrax, một kẻ bất bình muốn chống lại bất công xã hội. Ở đây hầu như vắng bóng những quý tộc hay tư sản hãnh tiến, cùng với những cảnh ăn chơi đàng điếm, xa hoa, mà phần nhiều là nhân dân lao động, là sinh viên, và nhất là những người làm chính trị, trong đó nổi bật lên nhân vật Matutxanh, một điển hình chính khách tài tử. Không khí chính trị ở đây đậm nét hơn, căng hơn trong Vỡ mộng chẳng hạn, vì là không khí sau những ngày tháng Sáu 1848, sau cuộc đảo chính 1852 của tên độc tài Napôlêông III. Cái xã hội đó, cái không khí đó đã chuyển Jăc Vanhtrax từ cái chí hướng muốn làm thợ đến chỗ dứt khoát trở thành “người chỉ huy những kẻ mặc áo rơđanhgốt (trí thức) xếp thành hàng ngũ chiến đấu bên cạnh những kẻ mặc áo bludơ (công nhân)”, đúng như lời khuyên của người công nhân già Pari mà Jăc Vanhtrax đã gặp buổi đầu khi mới bước chân tới Pari. *** Juyn Valex (Jules Vallès) là một nhà văn lớn mà cũng là một chiến sĩ kiên cường của Công xã Pari. Ông sinh năm 1832 ở thị trấn Puy (xứ Ôvecnhơ) nước Pháp và mất năm 1885 tại Pari. Xuất, thân từ một gia đình công chức, Juyn Valex ngay từ thuở bé đã là nạn nhân của một nền giáo dục gia đình khắc nghiệt cũng như một nền giáo dục nhà trường sai lầm. Cha ông làm giám thị, sau làm giáo sư trung học, tuy cũng thương con, nhưng lại là một người nhút nhát, luôn luôn lo sợ cho chức vụ của mình, do đó mà sinh ra khắc nghiệt với con, thậm chí có lần, để khỏi bị liên lụy, đã cho giam con vào một nhà thương điên sau khi Juyn Valex tham gia vào một vụ chống đối cuộc đảo chính của Napôlêông thứ III. Mẹ Juyn Valex xuất thân từ nông dân nhưng có tư tưởng hãnh tiến, học làm sang, muốn cho con làm nên danh giá, và, vì không được toại nguyện, nên trút cả nỗi cay đắng lên đầu con, roi vọt hành hạ con đến tàn nhẫn. Một mặt khác, cha Juyu Valex muốn cho con trở thành giáo sư, nhưng cậu học sinh Juyn Valex, qua tấm gương của bố, đã chán ngấy cái cảnh nhà trường do bọn phản động công giáo thời Đế chính thứ II lũng đoạn, ở đó các giáo sư vừa quỵ lụy, khúm núm trước hiệu trưởng và cấp trên, lại vừa hành hạ học trò bằng đòn và phạt, ở đó người ta dạy cho thanh niên một kiểu học tầm chương trích cú, nô lệ sách cũ người xưa, xa rời thực tế. Chính cái giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường sai lầm, tàn nhẫn ấy đã tác động mạnh tới cậu bé Juyn Valex đa cảm và sớm biến cậu thành một kẻ bất bình, môt con người nổi loạn. *** Nhưng con người bất bình ấy đã trở nên một chiến sĩ cách mạng kiên cường, thì lại là do hoàn cảnh xã hội nước Pháp lúc bấy giờ. Khi Juyn Valex sinh ra thì phong trào công nhân Pháp bắt đầu lên mạnh với công cuộc công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa bắt đầu ở nước Pháp trong những năm 30 thế kỷ XIX, và nó được đánh dấu bằng những cuộc đấu tranh và khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (1831, 1834) và ở Pari (1832, 1834). Song giai cấp công nhân Pháp chỉ có thể trưởng thành sau khi nó đã dứt bỏ được mọi ràng buộc với giai cấp tư sản để lần đầu tiên, đứng lên như một lực lượng chính trị độc lập, trực diện đấu tranh chống giai cấp tư sản vào tháng Sáu năm 1848. Và chính là phải trải qua những ngày tháng Sáu đẫm máu ấy nó mới bước đầu rũ bỏ được ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng, của mọi thứ“chủ nghĩa xã hội tư sản và tiểu tư sản”. Tuy nhiên, những năm liền sau khi cách mạng 1848 thất bại ở châu Âu nói chung, chính là “thời đại - như Lênin đã nói,- mà tinh thần cách mạng của phái dân chủ tư sản đã suy vong rồi (ở châu Âu), trong khi đó thì tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa chưa tới lúc già dặn” [1] . Riêng ở nước Pháp, trong thời kỳ đầu của nền Đế chính thứ II tối phản động thiết lập từ tháng Chạp 1852, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân bị lắng xuống cho mãi tới những năm 60 nó mới được phục hồi. Và với sự thành lập Chi nhánh Pháp Quốc tế thứ nhất năm 1866, một thời kỳ bão táp cách mạng mới lại mở ra để đến khi giai cấp tư sản thống trị, dưới nhãn hiệu Chính phủ Quốc phòng, đầu hàng quân xâm lược Phổ (tháng Giêng 1871), thì nó lên tới đỉnh cao với phong trào Công xã Pari thiết lập nền chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới trong bảy mươi hai ngày (18 tháng 3 đến 28 tháng 5 năm 1871). *** Juyn Valex sinh ra và lớn lên trong cái hoàn cảnh lịch sử xã hội như thế đó. Thị trấn quê hương ông ở sát cạnh những trung tâm công nghiệp như Xanh-Êchiên (nơi mà cha ông đã từng tới dạy học một thời kỳ), như Lyông, nên không khỏi nhận được âm vang mạnh mẽ của những làn sóng đấu tranh của giai cấp công nhân. Và chàng trai có chí hướng muốn làm thợ đó đã từng đi đầu trong đám thanh niên cộng hòa khi nổ ra cuộc Cách mạng tháng Hai 1848. Sau đó, khi được gia đình gửi lên Pari theo học, Juyn Vanlex, sống nghèo khổ ở thủ đô, lại đã sớm tiếp xúc với phong trào cách mạng trên mảnh đất chôn nhau của cách mạng. “Tôi đã đi vào lịch sử cuộc Cách mạng. Người ta vừa mở ra trước mặt tôi một quyển sách trong đó có nói về bần cùng và đói khát, trong đó tôi thấy diễu qua những bộ mặt làm tôi nhớ đến cha Jôdép hoặc chú Sađơna, những người thợ mộc với chiếc compa mở rộng ra làm vũ khí và những nông dân cầm chĩa sắt có vấy máu ở đầu răng. Có những phụ nữ đi tấn công Vécxay, vừa đi vừa thét lên là bà Vêlô làm nhân dân đói, và ngọn giáo có xiên ổ bánh mì đen - một lá cờ - đâm thủng các trang sách và chọc vào mắt tôi... ... Lần này thì không còn là tiếng La-tinh nữa. Họ nói: “Chúng tôi đói! Chúng tôi muốn tự do!” Tôi đã ăn thử bánh mì quá cay đắng ở gia đình tôi, tôi đã bị hành hạ quá nhiều ở nhà nên những tiếng kêu đó không thể không làm kinh động trái tim tôi”. [2] Juyn Valex đã kể lại như thế cuộc tiếp xúc đầu tiên của mình với phong trào cách mạng Pari qua một cuốn lịch sử cuộc Cách mạng 1789 và người ta đã đưa ông mượn đọc. Và không lạ rằng Juyn Valex đã từ đó tiến tới đứng dưới lá cờ của Công xã Pari để hợp thành cái mà ông gọi là “Cuộc đại liên minh của những đau khổ”. *** Công xã Pari thất bại; Juyn Valex, sau khi chiến đấu đến phút cuối cùng, đã trốn ra được nước ngoài, ông sang Bỉ, Thụy-sĩ, rồi sang Anh. Ở đấy ông sống nghèo khổ bằng nhuận bút của một số bài báo, trang tiểu thuyết đăng trên vài tờ báo cộng hòa xuất bản ít ỏi ở Pari. Đến năm 1880, khi luật ân xá được ban hành, ông trở về nước Pháp, viết sách viết báo cho tới lúc qua đời. Juyn Valex bắt đầu viết từ khoảng cuối những năm 50, sau khi đã chật vật làm đủ nghề để kiếm sống ở Pari. Ông cộng tác với một số tờ báo như Figarô , Biến cố ; ông giao thiệp với Giracđanh, ông vua báo chỉ đương thời, và Vilơmexăng, chủ nhiệm báo Figarô . Trên tờ Figarô ông giữ mục Thị trường chứng khoán là vấn đề mà ông nghiên cứu trong cuốn sách đầu tay của ông nhan đề Tiền bạc (1857). Nhưng ít lâu sau ông bỏ mục đó để cộng tác với những tờ báo không chịu phục tùng nền Đế chính như Tạp chí châu Âu , Tự do , Báo chí , Thời đại ... và chẳng mấy lúc ông nổi tiếng là một nhà văn luận chiến hăng hái và độc lập, một nhà báo trào phúng và chiến đấu, độc đáo và tài năng. Năm 1865, với tác phẩm Những kẻ không phục tùng (Les Réfractai res) tập hợp một số bài báo, ông nhằm đả kích lối sống nghệ sĩ giang hồ mà nhà văn đương thời Hăngri Muyêcgiê đã ca tụng trong cuốn Cảnh đời sống giang hồ có ảnh hưởng xấu tới thanh niên. Năm 1867 ông sáng lập tờ báo Đường phố , trong đó ông đả kích thẳng tay mọi thiết chế chính trị, văn học, nghệ thuật đương thời, đả kích những kẻ mà ông gọi là “bọn giữ đồ thánh trong văn học, chính trị, và cả trong Cách mạng nữa!” Nhưng ra đến số 34 thì tờ báo bị tịch thu và phá sản. Trong thời kỳ Công xã ông thành lập tờ báo Tiếng kêu của dân chúng nó mau chóng trở thành cơ quan chủ yếu của Công xã, trong đó Juyn Valex khích lộ tinh thần kháng chiến đến mức “kiên cường tuyệt vọng”. Nhưng tác phẩm văn học lớn và chủ yếu của Juyn Valex là bộ tiểu thuyết ba tập Jăc Vanhtrax (Jacques Vingtras) mà hai tập đầu ông đã viết và cho đăng báo ngay từ hồi ông còn lưu vong ở Anh (1878 - 1879). Sau khi trở về Pháp ông đã chữa lại hai tập đó và viết tiếp tập ba mà mãi sau khi ông mất, năm 1886, mới được in thành sách. Jăc Vanhtrax là một tiểu thuyết tự truyện thuật lại chính cuộc đời của tác giả và, với nội dung xã hội - chính trị, nó giúp cho chúng ta hiểu khá sâu xã hội Pháp từ sau cuộc cách mạng 1848, trải qua thời Đế chính thứ II cho đến phong trào Công xã Pari. Cùng với tiểu thuyết Jăc Vanhtrax cũng phải kể đến việc Juyn Valex cho xuất bản lại tờ báo Tiếng kêu của dân chúng từ năm 1883, và ông đã làm cho nó thành tờ báo cách mạng lớn đầu tiên của nước Pháp. Tiếng kêu của dân chúng đã tham gia vào tất cả mọi chiến dịch xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ, nó đã kịch liệt phản đối những cuộc chinh phục thuộc địa ở Tuynidi và ở Bắc kỳ (Bắc-bộ Việt Nam), nó đã nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đình công của thợ mỏ tại Anzin và Đơcazơvilơ. Và điều đáng kể là Juyn Valex đã biết đặt Juyn Ghexđơ (Jules Guesde), vị lãnh tụ xuất sắc của phong trào công nhân Pháp đương thời, vào địa vị cây bút số một trong tờ báo của ông. Chính sự hợp tác của Ghexđơ và những đồng chí của ông này đã khiến cho Tiếng kêu của dân chúng trở thành cơ quan ngôn luận lớn nhất của giai cấp công nhân đã xuất hiện ở Pháp từ trước cho đến thời bấy giờ. Juyn Valex qua đời năm 1885, hai năm sau khi Tiếng kêu của dân chúng lại xuất hiện. Hàng chục vạn nhân dân lao động Pari đã đưa tới nghĩa địa Perơ Lasedơ “người ứng cử viên của bần cùng” [3] “người đại biểu của những kẻ bị xử bắn” ấy. Nhân dân Pari đã biểu lộ lòng tôn trọng chính đáng của mình đối với “con người tâm huyết” ấy, “người bạn chân thành của thợ thuyền, người chiến sĩ vẻ vang của Công xã, nhà văn cách mạng lớn của nước Pháp!” *** Tiểu thuyết Jăc Vanhtrax, với ba tập của nó nhan đề lần lượt: - tập I, Chú bé (L’enfant - 1879), - tập II, Cậu tú (Le bachelier - 1881), - tập III, Người khởi nghĩa (L’insurgê - 1886), Jacques Vingtras là một kiệt tác kỳ lạ của Juyn Valex; nó đã đặt ông vào hàng những nhà văn xuôi lớn của nước Pháp thế kỉ XIX. Một mặt, bộ tiểu thuyết vạch rõ bước đường tất yếu của một người trí thức tiểu tư sản, dưới thời Đế chính thứ II, đi đến với cách mạng. Bước đường của Jăc Vanhtrax chính là bước đường của bản thân Juyn Valex. Có thấy hết mọi nỗi nhục nhã, cay đắng vì nghèo khổ, vì hành hạ, vì bất công, mà chú bé Jăc Vanhtrax, cậu tú Jăc Vanhtrax phải chịu đựng trong gia đình, ở nhà trường và ngoài xã hội, có thấy cả cái không khí đấu tranh chính trị ở Pari, dưới thời Đế chính thứ II, khi ngấm ngầm khi công khai, sôi sục, mới hiểu được tại sao Jăc Vanhtrax đã trở thành một kẻ bất bình, và từ một kẻ bất bình trở thành người khởi nghĩa đứng dưới lá cờ của Công xã Pari. Mặt khác, bộ tiểu thuyết cũng đồng thời vừa là một bức tranh sinh động vừa là mội bản cáo trạng nghiêm khắc cái xã hội Pháp đương thời, dưới nền Đế chính thứ II cực kỳ phản động, dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, đầy rẫy những tàn ác, bất công trong quan hệ gia đình, quan hệ học đường, quan hệ xã hội. Tập I, Chú bé, với lời đề tặng cho TẤT CẢ NHỮNG AI đã buồn chán đến chết trong trường học hoặc đã phải khóc trong gia đình, những ai, trong thời thơ ấu, bị thầy giáo hành hạ hoặc bị cha mẹ đánh đập”, chính là đã vạch trần những quan hệ gia đình, quan hệ học đường tàn nhẫn đó. Tập II, Cậu tú với lời đề tặng cho “Những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh mà chết đói”, vừa mỉa mai cái nền giáo dục nhồi sọ, sách vở, xa rời thực tế, vừa tố cáo “cái xã hội chó má nó làm cho những người có học thức và những người can đảm phải chết đói khi họ không muốn làm đầy tớ cho nó”. Đến như tập III, Người khởi nghĩa, với lời đề tặng “Những liệt sĩ năm 1871, những ai là nạn nhân của bất công xã hội, đã cầm vũ khí chống lại một xã hội tổ chức hỏng và họp thành, dưới lá cờ của Công xã, cuộc đại liên minh của những đau khổ”, thì chính là một thiên ký sự lịch sử độc đáo kể lại bước đấu tranh cách mạng tất yếu của Jăc Vanhtrax, và, nhân đó, vẽ lên cả bức tranh nhân dân lao động Pari sôi sục nổi dậy chống chính quyền tư sản đầu hàng giặc, thiết lập Công xã và chiến đấu suốt trong bẩy mươi hai ngày. *** Tiểu thuyết Jăc Vanhtrax , như vậy, với hình tượng nhân vật chủ yếu của nó là Jăc Vanhtrax, bao trùm cả ba tập, vẽ lên thành một điển hình sắc nét của người chiến sĩ Công xã Pari, là một tác phẩm xuất sắc của dòng văn học hiện thực chủ nghĩa nước Pháp, kế tục trực tiếp những truyền thống hiện thực chủ nghĩa của Xtăngđan, của Banzắc mà Juyn Valex đã từng nói đến trong tác phẩm của ông. Tính cách của Jăc Vanhtrax được hình thành và phát triển trong những hoàn cảnh gia đình và xã hội nhất định, đó là điều mà tác giả có ý thức đầy đủ và muốn chứng minh rõ ràng. Song, giá trị hiện thực của bộ tiểu thuyết tăng lên qua ba tập sách với trình độ khái quát hóa càng ngày càng cao thêm. Tập I chủ yếu trình bày cái khung cảnh gia đình và nhà trường tỉnh nhỏ trong đó chú bé Jăc Vanhtrax lớn lên. Trước hết hình tượng bố và mẹ Jăc Vanhtrax cũng đạt tới những nhân vật điển hình sinh động: ông bố tiêu biểu cho một lớp giáo viên không phải thiếu học vấn, thiếu tư tưởng và tinh cảm, nhưng vì nhút nhát, một mặt luôn luôn lo sợ mất chức vụ, mặt khác lại bị bà vợ đành hanh khống chế, nên hóa ra một con người tầm thường, hèn với cấp trên, ác với con; bà mẹ đại diện cho hạng tiểu tư sản xuất thân từ nông dân, với đầu óc hẹp hòi mà hãnh tiến” - muốn đua đòi, bay nhẩy, học làm sang, thậm chí vì không được toại nguyện mà đâm cay nghiệt, tàn ác với con. Bên cạnh hai nhân vật đó tập truyện còn đạt ở một loạt hình tượng chân dung những giáo sư, hiệu trưởng trường trung học, như Tuyếcfanh kiêu căng, hợm hĩnh, khinh người nghèo, hành hạ học trò có học bổng, như Lacbô tâm ngẩm, giảo quyệt, - cóc cần học trò và chỉ dịu dàng với đám con nhà quyền thế, hay như Bécgunha đạo mạo, lạnh lùng, lên mặt triết gia mà độc ác với con như quỷ sứ, thậm chí đã giết con bằng roi vọt tàn bạo, tất cả đều nói lên một chế độ nhà trường ghê tởm, thối tha. Rõ ràng, với những tính cách nhân vật và bức tranh xã hội đạt tới tính chân thực, tính lịch sử và tính khái quát cao, tiểu thuyết Jăc Vanhtrax đã kế tục và phát huy vẻ vang những truyền thống hiện thực chủ nghĩa của Xtăngđan và Banzắc ở nửa sau thế kỷ XIX khi mà chủ nghĩa hiện thực phê phán cổ điển đã bắt đầu xuống dốc với Guyxtavơ Flôbe để mở ra thời kỳ của chủ nghĩa tự nhiên và tiếp theo nó là hàng loạt những trường phái suy đồi đủ loại. Hơn thế nữa, mặc dầu Juyn Valex không vẽ lên một bức tranh xã hội thật rộng lớn, đồ sộ và không đả kích mạnh vào cái mặt cơ cấu của xã hội tư sản là quan hệ tiền bạc như Xtăngđan hay Banzắc, nhưng ông lại vượt hẳn các nhà hiện thực phê phán cổ điển này ở chỗ ông đã mường tượng thấy và đề cập tới người chủ tương lai của xã hội sẽ thay thế cho giai cấp tư sản, đó là giai cấp công nhân. Với ông lần đầu tiên trong văn học Pháp xuất hiện hình ảnh người công nhân, hình ảnh quần chúng nhân dân như những nhân vật anh hùng phần nào với cái tư thế của những người làm nên lịch sử, và ít ra thì cũng đã có lúc họ làm nghiêng ngửa cả uy thế của những tay chính khách tư sản sừng sỏ trong bộ máy thống trị như Juyn Fery, Gămbetta... Và, mặc dầu bộ tiểu thuyết kết thúc bằng sự thất bại của Công xã Pari, người ta không thấy bóng dáng của bi quan thất vọng, trái lại hình ảnh cuối cùng vẫn là hình ảnh của chiến đấu trong tương lai: ... Tôi vừa vượt qua một dòng suối làm biên giới. Chúng nó không bắt được tôi nữa! Và tôi sẽ còn có thế đứng với nhân dân, nếu nhân dân lại bị ném ra ngoài phố và dồn tới chỗ phải chiến đấu. Tôi nhìn trời về phía tôi cảm thấy có Pari. Trời một màu xanh tươi rói, với những đám mây đỏ. Tưởng như một chiếc áo bludơ lớn đẫm máu”. Chính ở những điểm trên đây, tiểu thuyết Jăc Vanhtrax của Juyn Valex, cùng với toàn bộ nền văn học Công xã Pari, đã hé mở ra một bước phát triển mới của văn học hiện thực chủ nghĩa sau này, đó là bước đường đi tới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay. Tháng Năm 1972 TRỌNG ĐỨC Mời các bạn đón đọc Cậu Tú của tác giả Jules Vallès.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đẹp
Tác phẩm Tự lực văn đoàn đều chĩa mũi nhọn đả kích lễ giáo phong kiến và nếp sống đại gia đình phong kiến với những tác phẩm như: “Nửa chừng xuân”, “Đoạn tuyệt”, “Lạnh lùng”, “Đôi bạn”, “Gia đình”, “Thoát ly”,…. Họ hô hào giải phóng phụ nữ khỏi cảnh mẹ chồng nàng dâu, cảnh thủ tiết của những người phụ nữ trẻ góa bụa, đòi quyền hạnh phúc của đôi lứa yêu nhau. *** “Đẹp”(1940) là tiểu thuyết áp chót cuối đời của Khái Hưng, trụ cột nhóm Tự Lực Văn Đoàn lừng lẫy một thời. “Đẹp” đúng như cái tên của nó, mô tả một thế giới đặc biệt nơi nghệ thuật trở thành một vị thần để tôn thờ, một điểm tựa tinh thần và tình yêu cho giới nghệ sĩ đương thời bên thềm cuộc đại chiến thế giới lần 2 và phong trào cách mạng vô sản đang sục sôi khắp cả nước. Nhưng song hành với đó là tình trạng sống vô phương, bê tha và vị kỉ không có thuốc chữa của những tín đồ “nghệ thuật vị nghệ thuật” mù quáng này. Trung tâm câu chuyện là mối tình giữa họa sĩ Nam và Lan, con gái một người bạn của anh. Một tình yêu trên danh nghĩa nghệ thuật hiếm có trên đời. Nếu quan hệ giữa Humbert và Lolita được gọi bằng căn bệnh ái nhi, tức là sự mê đắm dục vọng vô độ, thì Nam lại là một phiên bản Humbert lý trí và đứng đắn hơn, anh khao khát có được trái tim Lan, nhưng không phải bằng sự chiếm đoạt, mà nhờ sự đan chéo giữa tâm hồn lãng mạn và lòng yêu nghệ thuật của hai người. Lolita là thánh nữ trong lòng Humbert, và Lan cũng vậy. Nam bị ám ảnh bởi vẻ đẹp thanh thuần của cô bé tuổi dậy thì, anh đóng khung cái lần đầu gặp mặt đó như một niềm cảm hứng nghệ thuật mãi mãi trọn đời mãi không thể quên. Đó là bức họa của kỉ niệm! Một bức họa lưu giữ tuổi xuân vĩnh viễn! Hai người “nghệ sỹ” đó đã cùng bước vào thế giới của nhau qua những rung động đẹp đẽ và kì lạ nhất. Nhưng sự lãng mạn của họ chỉ giữ trong khoảnh khắc đó thôi, chỉ đóng đinh trong bức tranh vô tri đó như tấm chân dung Dorian của Wilde. Một đám cưới chóng vánh đã kết thúc tất cả. Hai kẻ mơ mộng trở về với bản tính trần trụi nhất: ảo tưởng, phóng túng và ích kỉ. Chẳng còn gì ở lại ngoài những tổn thương, những cuộc cãi vã và một giấc mộng đẹp đã vỡ tan tành! “Đẹp” được ví như tấm gương phản chiếu một lịch sử thăng trầm của phong trào Thơ Mới những năm 1930s, từ thai nghén trong nền giáo dục tân tiến, đến cách mạng và dấu hiệu suy đồi. Ở “Đẹp”, độc giả bắt gặp những hình ảnh ấn tượng về quá trình vươn lên của những cô cậu sinh viên ưu tú với khao khát làm rạng danh đất nước qua con đường cách mạng nghệ thuật chân chính, và về một tình yêu dám bước qua ranh giới. Nhưng khi đạt được nó, họ lại bị rập khuôn theo tư tưởng “nghệ thuật vị nghệ thuật” của riêng mình, mất đi lý tưởng sống, trở nên thiếu trách nhiệm trước cuộc đời và tình yêu. Họ chấp nhận buông thả trong khoái lạc như một căn bệnh nan y không giải được. Điều đó cũng lý giải phần nào sự bế tắc và tan rã của nhóm Tự Lực trước Cách Mạng. *** Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư. Bút danh Khái Hưng được hình thành khi ông dùng phép đảo chữ để sắp xếp lại các chữ cái trong tên thật Khánh Giư. Là một trong những cây bút chính của nhóm, tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng Hồn bướm mơ tiên (1933) là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Giống như các tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn khác, tác phẩm của Khái Hưng thường đề cao tình yêu tự do, chống lại các lễ giáo phong kiến, ít nhiều mang tính cải cách xã hội.. Mời các bạn đón đọc Đẹp của tác giả Khái Hưng.
Cảm Giác Hygge - Về Ánh Sáng, Sự Ấm Áp Và Những Điều Bí Mật
Hooga? Hhyooguh? Heurgh? Dù bạn chọn phát âm (hay thậm chí đánh vần) từ hygge theo cách nào thì cũng không quan trọng. Giống như Winnie-the-Pooh từng nói về hạnh phúc: “Cậu không đánh vần được nó. Cậu cảm nhận nó.” Không ngẫu nhiên mà Cảm giác HYGGE trở thành hiện tượng xuất bản trên thế giới và liên tục là best seller. Bởi Meik Wiking đã cho thấy, hygge không phải thứ “nguyên liệu” bí mật chỉ người Đan Mạch mới có. Bạn hoàn toàn có thể tìm thấy hygge để cho vào công thức hạnh phúc của chính mình. Hành trình tìm kiếm hygge chính là hành trình khám phá ánh sáng, sự ấm áp, và kết nối. Cốt lõi của hygge không phụ thuộc vào vật chất, mà là không khí và trải nghiệm. Đó là cảm giác được ở cạnh những người ta yêu mến. Cảm giác được trở về nhà. Cảm giác thoải mái và an toàn ở chốn thân thuộc, pha một cốc cà phê ấm nóng, nằm cuộn tròn trong chăn.Vậy nên, (có thể) bạn không đánh vần được hygge. Nhưng bạn hoàn toàn cảm nhận được nó. *** [Review Sách] “Cảm Giác Hygge”: Cẩm Nang Hạnh Phúc và Những Điều Bí Mật Khác Cảm giác Hygge của Meik Wiking đã phác họa cho chúng ta hạnh phúc là gì và những điều bí mật khác của quốc gia hạnh phúc nhất thế giới -Đan Mạch. Không ngẫu nhiên mà Cảm giác Hygge trở thành một hiện tượng xuất bản trên thế giới, tác giả cho thấy rằng hygge không phải là điều người Đan Mạch mới có. Bạn cũng có thể tìm thấy hygge để cho vào công thức hạnh phúc của chính mình. *Về tác giả Meik Wiking là CEO của Viện Nghiên Cứu Hạnh Phúc (Happiness Research Institute), một tổ chức độc lập  chú trọng vào sức khỏe, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống của con người. Ngoài việc nghiên cứu về khoa học chính trị, ông còn viết lách, thích chụp ảnh và chơi thể thao. /HYGGE BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU?/ Hygge xuất hiện đầu tiên trong chữ viết Đan Mạch vào đầu thế kỷ 19, nhưng thực chất nó bắt nguồn từ tiếng Na Uy. Hygge chúng ta có thể phát âm là /hooga/, không phải là /hy-gee/ nhé. Từ gốc hygge trong tiếng Na Uy có nghĩa là hạnh phúc. Tuy nhiên, theo nghĩa gần nhất thì hygge có nghĩa là hug (ôm). Theo một vài nghiên cứu, thì hygge lại bắt nguồn từ hygga (tiếng Bắc Âu cổ), từ này lại bắt nguồn từ hugr (tâm trạng). Hugr lại xuất phát từ một tiếng Đức có nghĩa là “suy nghĩ, cân nhắc”. Thú vị thay, những yếu tố “ tâm trạng”, “ôm”, “hạnh phúc” là những từ dùng để mô tả những yếu tố hygge như ngày nay. Hygge được hiểu là sự ấm áp, hạnh phúc và gần gũi đối với điều bình dị nhất trong cuộc sống. Một buổi tối cùng quây quần bên bếp lửa cùng với gia đình và những người ta yêu thương đã là hygge rồi. /CHÚNG TA BÀN GÌ VỀ HYGGE?/ Với phong cách sống của Đan Mạch, yếu tố ấm áp là điều không thể thiếu trong bất cứ gia đình nào. Sau đây chúng ta  sẽ cùng lướt qua một số yếu tố đặc trưng chỉ có Đan Mạch mới có thôi nhé. 1/ÁNH SÁNG Vì là một quốc gia có mùa đông kéo dài, bầu trời lúc nào cũng chìm trong bóng tối thì việc tối đa việc hấp thụ ánh sáng vào nhà là một điều vô cùng quan trọng. Ánh sáng ở đây có thể được hiểu là ánh sáng dịu nhẹ và ấm áp như ánh sáng của hoàng hôn. Đan Mạch là quốc gia sử dụng nến nhiều nhất trên thế giới. Vì yêu thích sự ấm áp nên họ thường dùng nến trong tất cả những ngày trong tuần, một ngọn nến nhỏ trên bàn ăn vào buổi tối cũng đủ làm bừng sáng cả không gian ngôi nhà. Điều đặc biệt là vào tháng 12 (Giáng sinh), đây là thời điểm nến được tiêu thụ gấp ba lần bình thường. Nến sử dụng cho thời gian này được gọi là nến Mùa Vọng. Loại nến này thường được đánh dấu bằng 24 dòng kẻ, mỗi dòng tượng trưng cho một ngày trước Giáng sinh. *Mùa Vọng: là khoảng thời gian 4 tuần trước ngày Giáng sinh, thường kéo dài từ 22-28 ngày, và có 4 ngày Chủ Nhật tính từ trước ngày lễ Giáng sinh. 2/ĐỒ ĂN VÀ THỨC UỐNG Phong cách Hygge khi bàn đến đồ ăn và thức uống thì đồ ngọt, cà phê và thịt là ba món thực phẩm không thể thiếu ở đất nước hạnh phúc nhất thế giới này. Đan Mạch nổi tiếng nhất thế giới về lượng tiêu thụ đồ ngọt, chỉ đứng sau Phần Lan. Trung bình một người Đan Mạch tiêu thụ 8.2kg đồ ngọt mỗi năm. Đồ ngọt ở đây có thể được hiểu là bánh kẹo, bánh ngọt, hay “người bánh” (món đặc sản của họ dành cho việc tổ chức sinh nhật cho trẻ con). Ngoài ra, người Đan Mạch còn yêu thích các loại đồ uống nóng như: trà, sô cô la nóng hay rượu vang nóng. Tuy nhiên, thức uống yêu thích nhất của họ là cà phê. Trong tiếng Đan Mạch, họ gọi là kaffehygge ( vừa cà phê vừa hygge) ở khắp nơi với bạn bè hay người thân của họ. 3/TRANG PHỤC Hygge trong cách ăn vận của người Đan Mạch cũng rất đơn giản, thanh lịch và tinh tế. Có một điều đặc biệt là người Đan Mạch thường rất thích mặc đồ màu đen, mang khăn choàng và mặc áo nhiều lớp (hay còn gọi là layer). Vì đặc tính thời tiết lạnh giá, chính vì vậy sẽ không hygge chút nào nếu không có một chiếc áo len hay một đôi tất dày để sưởi ấm cơ thể trong những ngày đông giá rét. 4/TƯƠNG TÁC XÃ HỘI Các mối quan hệ xã hội với bạn bè hay những người xung quanh cũng chú trọng yếu tố hygge này. Họ đề cao sự tôn trọng và sự gần gũi bên nhau, chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa cùng nhau. Tuy nhiên, có một thách thức đối với những người mới chuyển sang sinh sống tại Đan Mạch thì rất khó cho họ để kết thân với một người bản xứ nào đó. Vòng tròn quan hệ của người Đan Mạch thường rất bền chặt, vì vậy sẽ rất khó để họ có thể mời ai đó vào cộng đồng của mình. Điều này cần thời gian, nhưng nếu bạn đã là bạn của họ, thì mối quan hệ ấy sẽ rất lâu bền đấy. Vậy tại sao hygge lại khiến cho người dân nơi đây lại cảm thấy hạnh phúc như thế? /NGHIỆN HYGGE/ Khi nhắc đến hygge, chúng ta sẽ nghĩ đến cảm giác hạnh phúc và ấm áp. Bạn không thể mua được hạnh phúc, nhưng bạn có thể mua bánh ngọt- và hai điều này gần như giống hệt nhau, ít nhất đó là những gì não bộ nghĩ. Như đã thảo luận trước đó, người Đan Mạch rất ưa chuộng đồ ngọt, đặc biệt là bánh ngọt. Khi bạn chọn một miếng bánh yêu thích, cảm giác hưng phấn sẽ lan tỏa khắp cơ thể bạn. Đã bao giờ bạn nghĩ vì sao bạn lại cảm thấy vui vẻ như vậy khi ăn đồ ngọt chưa? Ở cơ sở não trước có một vùng gọi là trung tâm tận hưởng (cucleus accumbens). Đây là một phần của hệ thống khen thưởng của não bộ, và có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực, cảm giác thỏa mãn và sự tăng cường. Khi làm những việc có tính chất khen thưởng, não bộ giải phóng một chất hóa học và chất tín hiệu dopamine (hóc môn hạnh phúc) được kích hoạt.  Gần vị trí của vùng trung tâm tận hưởng là khu vực các tế bào thần kinh, nơi các hóc môn dopamine được giải phóng trong những tình huống khen thưởng. Khi dopamine được vận chuyển từ sợi thần kinh đến những cơ quan cảm giác ở một số phần khác nhau của bộ não, ta trải nghiệm cảm giác sung sướng và thỏa mãn. Các hoạt động tình dục, hay ăn uống đều có tác động đến hệ thống khen thưởng này. Chính vì vậy, chúng ta liên kết một loại thực phẩm nào đó với cảm giác thỏa mãn, điều này khiến chúng ta ăn nhiều hơn. Do đó, khi nhắc đến hygge, việc bạn cảm thấy vui sướng và hạnh phúc khi ăn một miếng bánh ngọt là một cảm giác bình thường và dễ hiểu. /TẠI SAO ĐAN MẠCH LÀ QUỐC GIA HẠNH PHÚC NHẤT THẾ GIỚI/ Có nhiều yếu tố để xem xét, tuy nhiên chúng ta sẽ cùng nhau một vài yếu tố nổi bật. 1/XE ĐẠP VÀ HẠNH PHÚC/ Đan Mạch là một quốc gia có sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng cho người đi xe đạp. Tại thủ đô Copenhagen, 45% cư dân, học sinh hay người đi làm đều đạp xe đến chỗ làm và trường học. Không chỉ thuận tiện, đạp xe đạp còn là một hoạt động mang tính thân thiện với môi trường và cũng là một cách dễ dàng để vận động cơ thể hằng ngày. Theo nghiên cứu, những người đạp xe đạp sẽ hạnh phúc hơn những người đi xe ô tô. Đạp xe không những giúp ích cho cá nhân, cho sức khỏe và hạnh phúc của mỗi người, nó còn là một chỉ số để đánh giá mức độ ý thức cộng đồng. Ở Đan Mạch, đạp xe sẽ giúp cho họ kết nối nhiều với mọi người hơn, mở rộng mối quan hệ và tin tưởng người khác nhiều hơn, vì đạp xe cùng một ai đó xa lạ cũng thú vị mà. 2/CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI/ Nói đến hạnh phúc thì ngoại trừ GDP, sự tự do và chính sách quản lý của nhà nước ra thì các mối quan hệ xã hội đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên chỉ số hạnh phúc cao ở Đan Mạch. Điều này được hiểu đơn giản là: Liệu một người có thể trông chờ hay tìm kiếm sự sẻ chia khi họ cần hay không? Đây không phải là cách tốt nhất để đánh giá hệ thống hỗ trợ xã hội, tuy nhiên đây là số liệu chúng ta có thể thấy rõ ở tất cả những quốc gia được nhắc đến trong Báo Cáo Hạnh Phúc Thế Giới. Người Đan Mạch luôn chú trọng sự cân bằng trong công việc và cuộc sống của họ. Sau những bộn bề trong công việc, gia đình và những mối quan hệ bạn bè thân thuộc sẽ được họ ưu tiên hàng đầu. Họ không dành quá nhiều thời gian cho công việc mà bỏ quên những quan trọng trước mắt. Các mối quan hệ xã hội và chỉ số hạnh phúc có sự liên quan mạnh mẽ lẫn nhau. Khi chúng ta có cảm giác thuộc về ai đó hoặc là cảm giác được chia sẻ và trân trọng thì hạnh phúc sẽ luôn nằm trong tay bạn. Điều này được kiểm chứng trong mô hình biểu đồ kim tự tháp thể hiện nhu cầu của con người do nhà tâm lý học người Mỹ gốc Nga Abraham Maslow  phát triển. Nếu các nhu cầu mang tính sinh lý: thực phẩm, giấc ngủ, và cảm giác được che chở không được đáp ứng, chúng ta sẽ khó đạt được hạnh phúc. 3/TẬN HƯỞNG HIỆN TẠI & LÒNG BIẾT ƠN/ Cảm giác hygge là việc bạn tận hưởng những khoảnh khắc bình dị đời thường mỗi ngày. Sống cho hiện tại là cách người Đan Mạch vẫn luôn theo đuổi, họ tận hưởng những giây phút ý nghĩa bên gia đình, người thân của mình. Yếu tố quyết định mỗi ngày của họ đều là một ngày ý nghĩa đó là cảm xúc trong ngày. Việc bạn có cảm xúc tích cực hay tiêu cực về một ngày của mình sẽ quyết định bạn hạnh phúc như thế nào. Với một tâm trạng vui vẻ và thoải mái, thì không ngạc nhiên khi chúng ta thấy được đây là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ngoài ra, người Đan Mạch còn có thói quen ghi “nhật ký biết ơn” trong ngày. Hay nói cách khác, họ ghi chép lại những việc họ cảm thấy ý nghĩa và biết ơn hằng ngày. Chính từ lòng biết ơn này, họ trân trọng những gì mình có, sống hết mình và tận hưởng những niềm vui nhỏ bé và giản dị. Theo Robert A. Emmons, giáo sư ngành Tâm lý học của Đại học California cho rằng, những người cảm thấy biết ơn thường không chỉ hạnh phúc hơn mà còn có ích hơn, vị tha hơn và ít thực dụng hơn. Họ dễ dàng vượt qua những nghịch cảnh và hồi phục nhanh hơn sau tổn thương. /”BỘ SƠ CỨU” HYGGE/ Khi nhắc đến cảm giác hạnh phúc và ấm áp, danh sách dưới đây sẽ mang đến cho bạn một chút cảm hứng. “Bộ sơ cứu” này sẽ được sử dụng khi bạn cạn kiệt năng lượng và không muốn ra ngoài. Hay nói cách khác, bạn chỉ muốn ở một mình và tận hưởng trong không gian cá nhân của mình. Nến Một ít sôcôla hảo hạng Mứt Trà yêu thích Cuốn sách yêu thích Sổ tay Một tấm chăn ấm áp Một đôi tất len dễ chịu Bộ sưu tập những bức thư yêu thích Âm nhạc Khăn choàng Với những vật dụng như trên, bạn cũng có thể tạo cho một mình một không gian hyggelige (cảm giác hygge) hơn bao giờ hết. Còn gì tuyệt vời hơn khi nhâm nhi tách trà yêu thích trên chiếc ghế sofa, nghe những bản nhạc du dương và ngắm nhìn ra cửa sổ trong một buổi chiều mưa? /HYGGE WISHLIST:10 ĐIỀU KHIẾN CHO NGÔI NHÀ CỦA BẠN HYGGELIG HƠN/- THEO PHONG CÁCH ĐAN MẠCH 1/HYGGEKROG Hyggekrog có thể tạm dịch là “góc ẩn náu”. Đây là một góc trong phòng, nơi bạn thích được chui vào chăn cùng một cuốn sách, và một tách trà. Thường thì phong cách thiết kế của người Đan Mạch rất chú trọng vào nội thất sao cho ngôi nhà mang lại cảm giác hygge nhất có thể. Chốn hyggrekrog thường là sẽ ở cạnh cửa sổ, tuy nhiên không nhất thiết là phải như vậy. Hyggekrog có thể là một nơi có ánh sáng ấm áp, dịu nhẹ, cùng với chăn và gối, nơi bạn có thể thưởng thức trà và đọc một quyển sách yêu thích đã là quá hygge rồi. 2/ LÒ SƯỞI Lò sưởi là trái tim của hygge. Đây là nơi mọi người có thể ngồi cùng nhau thư giãn, tận hưởng những khoảnh khắc cùng gia đình và người thân. Chính cảm giác này lại mang đến sự ấm áp và cảm giác gần gũi cho tất cả mọi người. 3/ NẾN Như chúng ta đã biết, nếu không có nến thì sẽ không có hygge. 4/ NHỮNG THỨ LÀM TỪ GỖ Những nguyên liệu được làm từ gỗ luôn luôn mang lại cho người Đan Mạch một cảm giác đặc biệt. Gỗ khiến ta gần gũi hơn với thiên nhiên hơn. Các vật dụng làm bằng gỗ phổ biến như đồ chơi trẻ em bằng gỗ, một chiếc tủ gỗ, hay mặt sàn gỗ cũng đủ khiến cho chúng ta hygge rồi. 5/ THIÊN NHIÊN Ngoài gỗ ra, thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cảm giác hygge. Điều này hoàn toàn đúng khi nói đến những thiết kế nội thất, trang trí nhà cửa bằng những chậu cây xanh, một nhánh cây khô, lá cây, thậm chí là hạt cũng được người Đan Mạch mang vào nhà để làm vật trang trí. 6/ CHĂN & GỐI Chăn và gối là hai thứ nhất-thiết-phải-có trong bất cứ gia đình hygge nào, đặc biệt là trong những ngày đông lạnh giá. Cảm giác trùm lên một chiếc khăn thật là hyggelige đúng không nào? Vì văn hóa Bắc Âu yêu thích sự ấm áp và gần gũi, chính vì vậy có một vài chiếc gối trong nhà luôn là một ưu tiên hàng đầu. Còn gì tuyệt vời hơn việc dựa đầu lên một chiếc gối êm ái khi đọc cuốn sách yêu thích kia chứ?  7/ SÁCH Sách đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cảm giác bình yên và ấm áp trong bất cứ gia đình hygge nào. Vào những ngày cuối tuần, người Đan Mạch thường dành thời gian gia đình và bản thân. Ngồi nhâm nhi tách trà và đọc một quyển sách hay thì còn gì tuyệt vời bằng. 8/ ĐỒ GỐM Một tách trà xinh xắn, một lọ hoa đơn giản trên bàn ăn, chiếc cốc yêu thích mà bạn hay dùng- tất cả đều hyggelig. 9/ ĐỒ VINTAGE Văn hóa Bắc Âu luôn nâng niu và giữ gìn những món đồ truyền thống. Họ yêu thích những món đồ cổ hay đồ vintage. Những đồ vật không đơn thuần là những vật dụng vô tri vô giác, mà chúng chứa đựng giá trị cảm xúc và câu chuyện riêng của mình. Chỉ cần chúng lưu giữ kỷ niệm và là những vật dụng truyền thống cũng đủ mang lại cảm giác ấm áp rồi. 10/ CẢM NHẬN BẰNG XÚC GIÁC Khi nói đến những cảm nhận bằng xúc giác thì chúng ta đang ám chỉ không chỉ là vẻ bề ngoài, mà còn là cảm giác với đồ vật nữa.  Để những ngón tay lướt qua những bộ lông cừu, hoặc một chiếc bàn gỗ lúc nào cũng có sự khác biệt so với những bề mặt thủy tinh hay nhựa. Vì vậy, hãy thử cảm nhận những cái chạm trong ngôi nhà của chính mình nhé. Lời kết Hành trình tìm kiếm hygge là hành trình khám phá ánh sáng, sự ấm áp và sự kết nối. Nó không phụ thuộc vào vật chất, mà liên quan đến không khí và trải nghiệm. Đó là cảm giác bên cạnh những người ta yêu mến, cảm giác an toàn và thân thuộc khi ở một nơi thân thuộc. Tuy bạn không thể đánh vần được hygge, nhưng bạn có thể cảm nhận nó. Hãy tự tạo cho mình cảm giác hygge trong bất kì hoàn cảnh nào nhé. Review chi tiết bởi: Tuyết Sơn- Bookademy Hình ảnh: Tuyết Sơn ----------------------------   Mời các bạn đón đọc Cảm Giác Hygge - Về Ánh Sáng, Sự Ấm Áp Và Những Điều Bí Mật của tác giả Meik Wiking & Thùy Chi (dịch).
Bữa Cơm Ngày Mai Chúng Ta Cùng Chờ Đợi
“Nếu như có thể mở lòng, điều đó thật tốt biết bao Những cũng có những điều có lẽ đừng bao giờ nên biết.” Câu chuyện tình đắng cay ngọt ngào trong bảy năm giữa Ryota Hayama và Koharu Uemura từ ngày đầu tiên hẹn hò cho đến ngày họ kết hôn. Đều là học sinh trung học nhưng tính cách hai người hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu Ryota là chàng trai trầm tính, gần như thờ ơ với mọi thứ xung quanh thì Koharu lại là cô gái thẳng thắn và tràn đầy năng lượng. Kể từ ngày hợp sức trong thử thách nhảy bao gạo, họ bắt đầu quen nhau. Họ hẹn hò ở quán ăn nhanh, nhận ra đã phải lòng đối phương ở một quán ăn gia đình và hẹn ước tình yêu bên bàn ăn với những bữa cơm bình dị mà ấm cúng. “Bữa cơm ngày mai chúng ta cùng chờ đợi là một bức tranh đẹp, một khúc nhạc êm êm vào buổi chiều nắng nhạt có những cánh hoa anh đào chao lượn trong tiếng nói cười. Ở đó chứa đựng những thanh âm trong trẻo của tuổi thanh xuân có ngập ngừng, có ngốc nghếch, tràn đầy mơ tưởng đan xen với đau buồn, cả ích kỷ lẫn thấu hiểu cùng hòa quyện để trưởng thành. Thật may vì đến cuối cùng chẳng điều gì lỡ dở, chẳng có ai lỗi hẹn với định mệnh của đời mình. Tôi đã nghĩ khi bộ phim khép lại rằng, yêu có thể mặn nồng, rạo rực nhưng yêu luôn là chốc lát, thương mới là cả một đời, là thứ có thể khiến hai người xa lạ thậm chí đối lập nhau vai kề vai đến cuối bến đỗ hạnh phúc – điểm cuối của tình yêu.” (Trích cảm nhận của độc giả @isissapphiremoon về cuốn sách ấn tượng này) *** Xuất bản lần đầu vào năm 2012 và tạo nên một cơn dư chấn lớn trong cộng đồng độc giả Nhật Bản bởi sự trong trẻo, ngây thơ và thuần khiết của mối tình đầu, Bữa cơm ngày mai chúng ta cùng chờ đợi xứng đáng được vinh danh là ấn phẩm xuất sắc nhất dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Ngày 7/1/2017 – cuốn sách được chuyển thể thành phim điện ảnh cùng tên với sự tham gia diễn xuất của hai ngôi sao được giới trẻ yêu mến là Yuto Nakajima và Yuko Araki. *** Ngày tháng lặng lẽ trôi đi, ngờ như tôi đã có thể quên chuyện cũ. Vậy mà mỗi khi định khích lệ bản thân rằng mình đã ổn, thì những ngày tháng đó liền sống lại thật rõ nét trong tôi. Chia ly là điều không thể tránh khỏi trong cuộc đời. Điều đó đã được nhắc tới ra rả trong các bài hát, các bộ phim điện ảnh và phim truyền hình, không cần nói thêm tôi cũng hiểu. Nhưng việc chấp nhận một sự chia ly trái với mong muốn quả là một điều quá sức với tôi. Trên bầu trời xanh trong vắt nổi lên một cụm mây trắng yếu ớt. Trong lớp học đang tổ chức buổi họp quyết định việc tham gia các môn thi đấu trong ngày hội thể thao của trường. Những cuộc tranh chấp trong hòa bình xem ai sẽ tham gia môn nào trong các môn ném bóng vào rổ, kéo co, chạy tiếp sức v.v… mỗi lúc một mở rộng hơn. Tiếng oẳn tù tì, tiếng tranh giành, tiếng cười vang rộn. Lớp học ồn ào như chợ vỡ. Lúc này đây, đâu đó trên thế giới này đang có người chìm vào đau khổ. Nhưng ngày hội thể thao sẽ chẳng vì việc đó mà bị hủy bỏ. Dù có xảy ra chuyện gì, cuộc sống thường nhật ngu ngốc này vẫn cứ tiếp diễn thôi. “Này cậu.” Một giọng nói trong trẻo vang lên trên đầu tôi khi tôi đang mơ màng ngắm nhìn khung cảnh ngoài cửa sổ. “Xin lỗi đã chen ngang khi cậu đang thẩn thơ suy nghĩ như vậy…” Tôi ngẩng đầu lên thì thấy Uemura đang đứng trước mặt mình. “… Nhưng cậu có thể xác nhận giúp tớ điều này được không?” “Ừ, gì vậy?” “Vì cậu không có ý kiến gì nên đã được xếp vào nhóm nhảy bao gạo, không vấn đề gì chứ?” “Nhảy bao gạo ư?” Cụm từ thường ngày chẳng nghe thấy bao giờ khiến tôi ngơ ngác hỏi lại. “Năm ngoái cũng tổ chức phần thi này rồi, cậu không nhớ à? Trong môn thi ‘chạy tiếp sức kỳ diệu’ ấy. Phần chạy thứ ba sẽ là nhảy bao gạo.” Hội thể thao năm ngoái tôi tham gia môn ném bóng vào rổ, lúc đó tôi chơi rất chiếu lệ, chẳng buồn để mắt đến các môn khác. Vốn những cái tên như “chạy tiếp sức kỳ diệu” hay “nhảy bao gạo”, nghe thôi đã thấy ngớ ngẩn rồi. “Chỉ cần chui vào bao tải gạo, nhảy về phía trước năm mươi mét rồi trao tín gậy cho người chạy tiếp theo là được. Những môn khác đã chọn đủ các bạn tham gia rồi. Cậu đồng ý nhé?” Phải chui vào bao tải gạo và nhảy những năm mươi mét sao? Mệt chết mất. Thực lòng tôi thích những môn được hòa lẫn vào mọi người để không ai chú ý đến mình, như trò kéo co hoặc ném bóng vào rổ hơn. Nhưng hình như tôi chẳng còn cơ hội đòi hỏi nữa. Tôi lặng lẽ gật đầu. “Ok, vậy chốt rồi nha.” Uemura nói, rồi viết thêm tên tôi xuống dưới dòng chữ “nhảy bao gạo” trên bảng. Cho tới ngày hội thể thao, tiết Thể dục được dùng làm giờ luyện tập cho ngày thi. Môn chạy hay nhảy dây mới đáng luyện tập, còn trò nhảy bao gạo giống như trò chơi của con nít, có tập cũng chẳng để làm gì. Hơn nữa, nhiều bạn tham gia trò “chạy tiếp sức kỳ diệu” cũng đồng thời tham gia các trò khác, nên việc luyện tập cho trò này bị đẩy ra sau. Tôi bèn đi tìm một nơi râm mát trong góc sân tập, ngồi đó đợi tới lượt mình. Chuyện xảy ra đúng vào mùa thu ba năm trước. Mùa hè năm đó cũng giống mọi năm, mọi người đều ầm ĩ kêu nóng, trời đã sang thu nhưng vẫn chưa thoát khỏi cái nóng mùa hè, nóng hệt như bây giờ vậy. Lúc đó tôi học lớp chín, đang dốc sức luyện tập cho ngày hội thể thao cuối cùng của cấp hai. Khi ấy tôi là trưởng nhóm, phải tham gia vào mọi trận thi đấu ở mọi môn thi, tôi đà chạy cần mẫn hơn bất kỳ ai khác. Sự cố gắng của tôi rất có thế sẽ cứu nguy cho cả đội. Tôi đã thực sự ấp ủ trong lòng niềm hy vọng ngây thơ ấy. Rằng nếu tôi cố gắng, mọi chuyện sẽ chuyển biến theo hướng tốt hơn để đền đáp những cố gắng đó. Vì tôi không làm được gì khác, nên tôi muốn gắng hết sức để làm những việc ở ngay trước mắt mình. Giờ ngẫm lại, sự cố gắng của tôi hóa ra hoàn toàn vô nghĩa. Chẳng có điều gì trên thế giới này tốt lên nhờ hành động của tôi cả. “Xin lỗi vì chen ngang lúc cậu đang suy nghĩ vẩn vơ, nhưng chúng ta bắt đầu được chưa?” Ngẩng đầu lên, tôi thấy Uemura đang đứng đó với bao tải gạo trên tay. “À, ừ.” “Mình đi tập nào.” Tôi đứng lên nhìn xung quanh, có mấy đứa đang xỏ chân vào bao gạo tập nhảy, mấy đứa khác thì cột hai chân vào nhau theo kiếu hai người ba chân rồi nhảy dây. Có vẻ phần luyện tập cho trò “chạy tiếp sức kỳ diệu” đã bắt đầu. “Nào, cậu vào đây.” Uemura nói sau khi khéo léo chui nửa người vào bao. “Hả?” “Hả gì nữa, hai người cùng vào chung đó.” Uemura nói như thể chuyện hiển nhiên, nhưng tôi vẫn nhìn vào phía trong chiếc bao. “Cùng chui vào cái bao này á?” “Ừ. Cậu với tớ là cặp nam nữ duy nhất tham gia lần này.” Hẳn là cặp nam nữ duy nhất rồi. Bao tải gạo tuy to nhưng nếu chui vào thì co thể hai người sẽ dính sát vào nhau. Đương nhiên tôi không thể thoải mái khi chui vào đây cùng một cô gái nào đó được. “Tại sao hai chúng ta lại thành một cặp?” “Tại sao ư? Là vì tính cách của cậu rất u ám đó.” “U ám ư…?” “Thế nên không ai muốn ghép đôi với cậu cả. Người thì kêu nhảy với cậu sẽ bị tinh thần u ám của cậu ảnh hưởng, người thì kêu rất có thể hôm hội thể thao cậu nghỉ mất, nên mãi không chọn được bạn nào chịu ghép cặp với cậu. Vì tớ là ủy viên ban thể thao nên mới đành ghép cặp với cậu đấy.” Sau khi tuôn ra một tràng những sự thật tàn nhẫn đó, Uemura chợt ngẫm ra và nghiêng đầu hỏi: “Ôi, xin lỗi nhé, tớ không làm cậu tổn thương đấy chứ?” “À không sao. Tớ quen bị ghét rồi.” “Thế à? Kể cũng phải. Vì Hayama bị ghét suốt từ hồi lớp mười tới giờ mà.” Hả? Có chuyện đó à? Tôi muốn hỏi lại như vậy, nhưng may mắn giữ được vẻ thản nhiên, chỉ nói: “Xin lỗi nhé, làm phiền đến cậu rồi.” “Không sao, đừng để tâm. Nào, cậu nhanh vào đây đi.” Uemura nhích về phía trước chiếc bao, thúc giục tôi chui vào đứng phía sau. Tôi - một kẻ u ám và hình như luôn bị ghét từ trước tới giờ - chui vào chiếc bao tải, cố để cơ thể mình không chạm vào cô bạn Uemura - người đã miễn cưỡng ghép đôi với tôi trong phần thi này. Nhưng dù thế nào thì đó cũng là bên trong chiếc bao tải. Cơ thể chúng tôi sẽ cọ sát vào nhau, dù chúng tôi không muốn. “Chúng ta sẽ nhảy như thế này về tới đích. Cự ly phải nhảy là năm mươi mét, nhưng hôm nay là ngày tập đầu tiên, mình đặt mục tiêu mười mét thôi nhé.” Uemura đang giải thích về một môn thi đấu kỳ cục, nhưng tôi chẳng biết nói gì khác ngoài gật gù “Ừ, tớ hiểu rồi.” “Vậy bắt đầu nhé.” Nghe hiệu lệnh của Uemura, tôi cũng thử nhảy để tiến về phía trước, nhưng chiếc bao chỉ khẽ nhúc nhích rồi chệch sang một bên khiến chúng tôi mất thăng bằng chứ chẳng tiến lên được centimét nào. “Ừm, phải nhảy đồng thời thì mới tiến về phía trước được, nếu không, không những giậm chân tại chỗ mà còn bị ngã nữa, nên cậu phải bắt nhịp với tớ đấy.” Uemura nói, giọng xen lẫn tiếng thở dài. “Ừ.” “Nào, hai, ba!” Tôi nhảy theo lời ra hiệu của Uemura, nhưng bao gạo vẫn không tiến về phía trước. Bởi nó quá chật khiến tôi không nhúc nhích nổi. Mái đầu của Uemura cũng ở phía trước, ngay dưới cằm tôi, thật vướng víu, khiến ngay cả việc nhìn thẳng phía trước với tôi cũng thật khó khăn. “Cậu nhảy dài hơn chút đi. Nếu cơ thể không nhảy bổng lên thì bao gạo không tiến về phía trước được đâu.” “Ừ, tớ biết rồi.” Tôi thực muốn nói “Là lỗi của tớ chắc?”, nhưng vì chưa từng chui vào bao gạo hay bao rác để chơi trò này bao giờ nên tôi ngoan ngoãn nghe theo. “Thế thử lại lần nữa nhé. Hai, ba nào!” Uemura hô “hai, ba”, “hai, ba” mấy lần để thông báo thời điểm nhảy cho tôi biết. Tôi bèn bật nhảy theo tiếng hô đó. Dần dần chúng tôi không còn bị loạng choạng mất thăng bằng nữa, nhưng chẳng nhảy về phía trước được bao nhiêu. Các đôi nhảy bao gạo khác tuy vẫn trêu cười nhau nhưng cũng đã nhảy được về phía trước kha khá rồi. “Hayama này, chúng ta phải nhảy về phía trước, nên nếu cậu chỉ nhảy vống lên thì không được đâu. Phải nhớ nhảy về phía trước ấy.” Uemura ngoảnh đầu lại than phiền. “Tớ vẫn đang cố gắng mà.” “Vậy thử lại nhé. Nhớ nhảy về phía trước đấy. Hai, ba nào!” Ở trường học thi thoảng lại thản nhiên tổ chức mấy trò kỳ cục thế này. Các trò trong môn “chạy tiếp sức kỳ diệu” như nhảy dây hai người ba chân, hay cõng nhau đi qua ván thăng bằng đều chẳng cần thiết trong đời sống thực. Ngoài trò nhảy bao gạo, còn nhiều trò có các cặp chơi nam nữ, nhưng nghĩ sao vẫn thấy kỳ cục. Nếu tổ chức mấy trò này trong ngày hội văn nghệ ở các công ty, chắc chắn sẽ bị kiện vì quấy rối tình dục cho xem. “Các bạn nghỉ giải lao mười phút rồi chuyển sang tập kéo co và chạy tiếp sức theo nhóm. Nhớ uống nước đầy đủ đấy nhé.” Có tiếng thông báo tiết luyện tập kết thúc, tôi liền lập tức ra khỏi bao gạo. Cái nóng và sự vô lý của phần thi này khiến tôi chóng cả mặt. “Hả, đã hết giờ rồi à? Tụi mình còn chưa làm được tí nào.” Vừa càm ràm, Uemura vừa bước ra khỏi bao, nhìn thẳng vào mắt tôi. “Hayama này, không có giờ nghỉ cho cậu đâu đấy.” “Hả?” “Có thể cậu nghĩ mấy trò này thật ngớ ngẩn vô nghĩa, nhưng nếu cậu nghỉ thì sẽ chỉ còn mình tớ, không thể tập luyện được.” “Tớ hiểu mà.” Dù rất khổ sở nhưng tôi vẫn phải chui vào bao tải gạo tập nhảy. Cuộc sống thật là khắc nghiệt. Mời các bạn đón đọc Bữa Cơm Ngày Mai Chúng Ta Cùng Chờ Đợi của tác giả Maiko Seo & Vương Hải Yến (dịch).
Trí Nhớ Suy Tàn
Nhân vật của Trí nhớ suy tàn mơ hồ hơn rất nhiều sau từ "em", đó là chỗ mạnh của Nguyễn Bình Phương. Chẳng ai biết cô "em" sắp hai mươi sáu tuổi ấy tên là gì, làm việc ở cơ quan, nhưng cơ quan nào, công việc gì cũng chẳng rõ... Mối quan hệ giữa "em" với Tuấn và Vũ cũng mờ nhạt hơn mối quan hệ của "vous" với Henriette và Cécile... Chính sắc thái mù mờ có dụng ý kỹ thuật ấy - không loại trừ do "trí nhớ suy tàn" - tạo nên sức cuốn hút đông đảo bạn đọc nhập thân vào với "em". Thiếu gì những độc giả tiểu thuyết là các cô gái trạc tuổi như "em", có công ăn việc làm ở một cơ quan nào đó, có đủ loại bạn học ngày xưa, bạn bè hiện nay, có những chuyện linh tinh đời thường như "em", có những mối tình vui buồn, với những băn khoăn day dứt như "em"...Một truyện tiểu thuyết tình cảm Việt Nam đặc sắc của Nguyễn Bình Phương,(GS.Phùng Văn Tửu) *** Đây là tiểu thuyết thứ hai của Nguyễn Bình Phương đến với bạn đọc Pháp ngữ, sau cuốn “Thoạt kỳ thủy”. NXB Riveneuve, Pháp xuất bản cuốn Trí nhớ suy tàn cuối tháng 1 vừa qua. Tác phẩm do Emmanuel Poisson chuyển ngữ với tên Un autre ciel (Một bầu trời khác). Riveneuve giới thiệu cuốn tiểu thuyết là một trong những tác phẩm đặc trưng nhất của tác giả, người tiên phong của thế hệ viết văn mới. Đây là tác phẩm thứ hai của Nguyễn Bình Phương được xuất bản tại Pháp, sau Thoạt kỳ thủy (do Danh Thành dịch) năm 2014. Trí nhớ suy tàn là tiểu thuyết thứ năm, tác phẩm dung lượng ngắn nhất trong 9 tiểu thuyết đã xuất bản của Nguyễn Bình Phương. Tác phẩm ra mắt năm 2000 bởi NXB Thanh Niên, được tái bản bởi NXB Văn học (2006) và NXB Tổng Hợp (2013). Trí nhớ suy tàn được coi là tiểu thuyết đặc sắc của Nguyễn Bình Phương. GS Phùng Văn Tửu đánh giá về tác phẩm: “Nhân vật của Trí nhớ suy tàn mơ hồ hơn rất nhiều sau từ 'em', đó là chỗ mạnh của Nguyễn Bình Phương. Chẳng ai biết cô 'em' sắp hai mươi sáu tuổi ấy tên là gì, làm việc ở cơ quan, nhưng cơ quan nào, công việc gì cũng chẳng rõ...” Theo GS Phùng Văn Tửu, chính sắc thái mù mờ có dụng ý kỹ thuật ấy - không loại trừ do "trí nhớ suy tàn" - tạo nên sức cuốn hút đông đảo bạn đọc nhập thân vào với “em”. “Thiếu gì những độc giả tiểu thuyết là các cô gái trạc tuổi như ‘em’, có công ăn việc làm ở một cơ quan nào đó, có đủ loại bạn học ngày xưa, bạn bè hiện nay, có những chuyện linh tinh đời thường như 'em', có những mối tình vui buồn, với những băn khoăn day dứt như ‘em’”, Phùng Văn Tửu viết. PGS.TS Phùng Gia Thế đánh giá Trí nhớ suy tàn là những trang viết giàu chất thơ nhất của Nguyễn Bình Phương, thể hiện sinh động những vùng “hiện thực mờ”, vùng khuất lấp và cả sự thánh thiện trong cõi sâu thẳm mịt mù của con người. Nhà văn Nguyễn Bình Phương là một trong những cây bút cách tân hàng đầu của văn học Việt Nam hiện nay. 9 tiểu thuyết của ông đã được xuất bản gồm: Bả giời, Vào cõi, Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi, Mình và họ, Kể xong rồi đi. Ông còn là tác giả của các tập thơ: Lam chướng, Khách của trần gian, Xa thân, Từ chết sang trời biếc, Thơ Nguyễn Bình Phương, Buổi câu hờ hững, Xa xăm gõ cửa. Nguyễn Bình Phương đang là Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội - một tạp chí văn chương hàng đầu hiện nay. Dịch giả Emmanuel Poisson là Giáo sư Lịch sử Việt Nam tại Đại học Paris Diderot. Ông còn là nhà nghiên cứu, với công trình Quan và Lại ở miền Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó, ông đã chuyển ngữ các tác phẩm của Phong Điệp, Nguyễn Việt Hà và một số tác giả Việt sang tiếng Pháp. *** Nguyễn Bình Phương, nguyên quán Hà Nội, sinh tại Thành phố Thái Nguyên. Tốt nghiệp trường Viết văn Nguyễn Du khóa IV. Từng đóng quân và làm báo tại biên giới phía Bắc, từng làm biên kịch tại Đoàn Kịch nói Quân đội, làm biên tập tại Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. Hiện công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Mời các bạn đón đọc Trí Nhớ Suy Tàn của tác giả Nguyễn Bình Phương.