Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tình Yêu Qua Sáu Nghìn Dặm

Giuyn Vecnơ và tác phẩm Misen Xtrôgôp Giuyn Vecnơ (1828- 1905), nhà văn Pháp nổi tiếng được coi như bậc thầy về sáng tác truyện phiêu lưu mạo hiểm và khoa học viễn tưởng. Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình, ông đã giành được cảm tình của đông đảo bạn đọc Pháp và các nước khác trên thế giới. Sách của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được in đi in lại nhiều lần với hàng triệu bản phát hành khắp nơi trên thế giới. Có thể nói những tác phẩm của Giuyn Vécnơ không những được giới trẻ, mà cả những bạn đọc nhiều lứa tuổi khác nhau ưa thích. Hơn bốn chục năm (từ 1862 đến đầu 1905) Giuyn Vecnơ đã viết được 63 tiểu thuyết và 2 tuyển tập truyện vừa và truyện ngắn được in thành 97 quyển sách với tham vọng là đề cập đến toàn bộ hành tinh chúng ta, từ thiên nhiên ở các vùng khí hậu khác nhau đến thế giới động vật, thực vật, phong tục tập quán cho đến sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của các dân tộc trên thế giới. Những tác phẩm của Giuyn Vecnơ không những thể hiện tài nghệ tuyệt vời của một nhà văn có lối viết rất hấp dẫn, sâu sắc, miêu tả những con người và sự vật hết sức tinh tế, mà còn thể hiện kiến thức uyên bác, tư tưởng tiến bộ và trí tưởng tượng phong phú của một nhà khoa học. Ông vừa là người khởi xướng loại truyện khoa học viễn tưởng mà đến nay nhiều tiên đoán khoa học của ông đã trở thành hiện thực, vừa là nhà văn nổi tiếng về những tiểu thuyết phiêu lưu, mạo hiểm làm cho người đọc rất thích thú và qua đó, những độc giả trẻ nâng cao được trình độ hiểu biết và trau dồi được phẩm chất đạo đức của mình. Giuyn Vecnơ là con một luật sư ở thành phố Năngtơ. Ngay từ khi còn ở tuổi thanh niên, sau khi tốt nghiệp trung học, Giuyn Vecnơ đã theo học trường Luật ở Pari, nhưng vẫn có xu hướng say mê văn thơ, âm nhạc và sân khấu. Khi đã tốt nghiệp và hành nghề luật sư, ông bắt đầu đi vào con đường sáng tác văn học, đồng thời tìm hiểu về khoa học tự nhiên, thường xuyên đến đọc sách ở Thư viện Quốc gia, đi nghe các buổi thuyết trình về địa lý, thiên văn, hàng hải, lịch sử và các phát minh về khoa học, kỹ thuật. Nhờ đó, sau này những kiến thức mà ông tiếp thu được đã thành cơ sở cho những sáng tác kiệt xuất của ông. Những tác phẩm đầu tiên của ông như “Năm tuần lễ trên khinh khí cầu (1862), “Cuộc thám hiểm trong lòng đất” (1864), “Những cuộc du hành của thuyền trưởng Hatơraao” (1864 - 1865), “Những đứa con của thuyền trưởng Grant” (1865 - 1866) v.v... đều lập tức có tiếng vang lớn trong giới độc giả thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Misen Xtrôgôp là một trong những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu được đánh giá vào loại xuất sắc nhất, vừa có tính giáo dục cao, vừa có tính giải trí lành mạnh với những tình tiết éo le phức tạp, những pha hết sức hồi hộp và bất ngờ, khiến người đọc cảm thấy bị lôi cuốn, say mê, hấp dẫn không sao cưỡng nổi và muốn đọc một mạch suốt 32 chương với gần 500 trang sách. Điều đáng khâm phục là Giuyn Vecnơ miêu tả đất nước và con người Nga chính xác và chân thật tới mức như tác giả là một người Nga, hay ít nhất là đã sinh sống trên đất nước Nga nhiều năm rồi, để có một sự hiểu biết tường tận đến như vậy về địa lý, lịch sử cũng như phong tục tập quán và tính cách con người Nga trong giai đoạn lịch sử đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Misen Xtrôgôp, con trai một người thợ săn ở Xibir. Anh được rèn luyện từ nhỏ, nên trở thành một thanh niên, cường tráng, dũng cảm và mưu trí. Năm hai mươi tuổi, anh được tuyển vào đội quân liên lạc đặc biệt của Nga hoàng làm một người lính và sau đó trở thành đại úy của đội quân ưu tú này. Thời gian đó bọn giặc Tactar đang nổi lên xâm chiếm vùng Xibir, phần châu Á của nước Nga. Hàng chục vạn quân đủ mọi chủng tộc từ những người Kiêcghidi, Mông Cổ, Apganixtang, Udơbêch, Thổ, Ba Tư, Do Thái... dưới cái tên chung là quân Tactar tràn vào xâm chiếm vùng phía Đông xứ Xibir mênh mông, gây biết bao đau thương, tang tóc cho nhân dân vùng này. Cấu kết chặt chẽ với chúng có tên phản bội cực kỳ nham hiểm và xảo quyệt, Ivan Ôgarep, đại tá trong quân đội Nga hoàng. Bất mãn vì bị đại công tước, em trai của Nga hoàng giáng chức về tội vô tổ chức, tên này đã xúi giục một số tù trưởng bộ lạc ở những vùng biên cương xa xôi nổi lên chống Nga hoàng, âm mưu xâm chiếm vùng Đông Xibir, dùng thủ đoạn gián điệp và nhiều mánh khóe xảo trá khác để bắt sống đại công tước hòng trả thù riêng. Nga hoàng nắm được ý đồ nguy hiểm của tên phản bội này đã phái Misen Xtrôgôp đem mật thư của nhà vua trao tới tận tay đại công tước - lúc này đang ở Irkuxk - để phá vỡ âm mưu đó. Suốt chặng đường dài gần sáu ngàn dặm, từ Maxcơva đến Irkuxk, Misen Xtrôgốp đã trải qua bao gian khổ khó khăn do kẻ thù và thiên nhiên khắc nghiệt gây ra tưởng chừng như khó có thể vượt qua được. Nhưng đói khát, mệt nhọc, băng tuyết, bão táp không làm anh nao núng. Mấy lần sa vào tay giặc, anh đều tìm cách trốn thoát kể cả lần giặc đã đốt mù cả hai mắt anh. Giặc bắt mẹ anh để hành hạ và uy hiếp cũng không khuất phục được anh. Ý chí gang thép của anh đã làm cho bọn giặc man rợ cũng phải sợ hãi và khâm phục. Cuối cùng, nhờ trí thông minh, lòng dũng cảm, thái độ bình tĩnh, mưu trí và nhất là tấm lòng trung thành tận tụy với đất nước, Misen Xtrôgôp đã làm tròn sứ mệnh. Quân phiến loạn bị đánh tan, tên phản bội Ivan Ôgarep bị tiêu diệt, nhân dân Xibir được giải thoát khói ách nô dịch của quân Tactar. Truyện còn được lồng vào một mối tình trong sáng và thanh cao giữa Misen Xtrôgôp và Nađia, cô gái Latvi cũng xông pha ngàn dặm, chia sẻ vói chàng trai dũng cảm bao gian nan khổ ải để tìm cha trong miền Xibir mênh mông tuyết trắng. Khi đã hoàn thành sứ mệnh, trước mặt cha cô, Misen Xtrôgôp nói với người bạn gái: - Nađia!... khi rời Riga để tới Irkuxk, em có còn để lại sau em niềm thương nhớ nào khác ngoài lòng thương nhớ người mẹ đã khuất của em không? - Không, anh ạ, - Nađie đáp, - không còn một niềm thương nhớ nào khác cả. - Nếu vậy thì, Nadia! - Misen Xtrôgôp run giọng nói tiếp. - Anh không tin rằng Thượng đế đã run rủi cho chúng ta gặp nhau, đã bắt chúng ta cùng trải qua bao gian truân thử thách, lẽ nào lại không muốn cho chúng ta được mãi mãi bên nhau? - Ôi, anh! - Nađia thốt kêu lên và sà vào hai cánh tay dang rộng của Misen Xtrôgôp. Và quay lại phía Vaxili Fêđor, mặt đỏ bừng, cô kêu lên: “Cha ơi!”. Người dịch VŨ LIÊM *** - Tâu bệ hạ, một công điện mới. - Từ đâu đến? - Từ Tômxk. - Đường dây đã bị cắt từ thành phố đó phải không? - Bị cắt từ hôm qua, muôn tâu. - Tướng quân hãy từng giờ đánh điện tới Tômxk và yêu cầu cho ta biết tin tức nhé! - Xin tuân lệnh bệ hạ - Tướng Kixôp đáp. Những lời trao đổi trên đây xảy ra vào hồi hai giờ sáng, giữa lúc đêm hội ở Tân Cung đang diễn ra huy hoàng náo nhiệt nhất. Trong đêm đó, ban nhạc của các trung đoàn Prêobragienxky và Paulôpxki không ngừng chơi những điệu vũ nhạc được chọn trong những điệu hay nhất như Pônka, Mazurka và những điệu Vansơ. Những cặp nam nữ nối tiếp nhau nhảy không dứt qua những phòng khách lộng lẫy của lâu đài được xây dựng cách “tòa nhà đá cũ” có mấy bước, nơi xưa kia đã từng xảy ra bao thảm kịch rùng rợn - Và... đêm nay, tiếng vang xưa trỗi dậy, dội vào trong các điệu đối vũ. Ngài đại thống chế của triều đình cũng được hỗ trợ đắc lực trong công việc tế nhị của mình. Các công tước cùng những sĩ quan hộ vệ của các vị đại thần trực ban, các sĩ quan trong hoàng cung cũng tự mình tham gia, đôn đốc việc tổ chức vũ hội. Các công tước phu nhân, ngọc quý đầy người, các bà thị nữ với xiêm áo ngày hội mạnh dạn làm gương cho các bà vợ sĩ quan và viên chức cao cấp của “Kinh thành đá trắng” cổ kính. Vì vậy, khi tín hiệu của điệu nhạc “Pôlône” vừa nổi lên, thì tất cả quan khách, không phân cấp bậc, đều tham gia vào cuộc diễu hành nhịp nhàng đó. Trong khung cảnh trang trọng như đêm nay, thì vũ hội này mang một tầm cỡ quốc gia. Những chiếc áo dài có đính nhiều tầng đăng ten xen lẫn với những bộ quân phục lấp lánh huân chương dưới ánh sáng của hàng trăm bộ đèn chùm, được những tấm gương soi phản chiếu làm sáng rực lên gấp mười lần, trông thật ngoạn mục, chói ngời, lóa mắt. Đại sảnh đường đẹp nhất trong tất cả các phòng khách ở Tân Cung thật xứng đáng làm khung cho sự lộng lẫy huy hoàng của những vị tai to mặt lớn cùng những bà mệnh phụ trang điểm cực kỳ diễm lệ. Vòm nhà thếp vàng tuy đã phai mờ đôi chút vì đã bị phủ một lớp gỉ của thời gian vẫn ánh lên những điểm sáng như những vì sao lấp lánh. Những tấm vóc làm màn che gió và màn treo ở cửa với những nếp gấp tuyệt mỹ ửng hồng lên một màu sắc nồng thắm, tương phản mạnh mẽ với những góc cạnh của tấm màn nặng trĩu. Nhìn qua những tấm kính các cửa sổ rộng lớn, hình bán nguyệt, người ta thấy ánh sáng tràn ngập các phòng, nhưng được một làn hơi nước nhẹ nhàng tỏa ra làm dịu bớt đi, đứng bên ngoài trông như phản quang của một đám cháy nổi bật lên trong đêm tối mà trong khoảng một vài tiếng đồng hồ bao trùm toà lâu đài rực sáng này. Bởi vậy, sự tương phản đó làm cho những tân khách không tham gia khiêu vũ cũng phải chú ý. Khi họ dừng lại bên những khung cửa sổ, họ có thể nhìn thấy một vài tháp chuông với những cái bóng khổng lồ hiện lên đó đây trong đêm, mờ mờ ảo ảo. Bên dưới những bao lơn chạm trổ, họ nhìn thấy những lính canh đi lại, súng vác vai, đầu đội mũ chỏm nhọn có giắt một chòm lông chim, trông như ngọn lửa, dưới ánh sáng của những pháo hoa bắn lên từ bên ngoài. Họ cũng nghe thấy bước chân của những đội tuần tra gõ nhịp nhàng trên mặt đá lát đường, có lẽ còn nhịp nhàng hơn cả những bước chân đang khiêu vũ trên sàn nhà các phòng khách. Thỉnh thoảng có tiếng hô của lính gác lặp đi lặp lại từ trạm này qua trạm khác và đôi lúc một tiếng kèn đồng, xen vào hợp âm của dàn nhạc, cất lên những nốt lánh lót giữa sự hài hòa chung. Dưới thấp hơn, trước tòa nhà, những khối đen sẫm nổi lên rõ nét dưới những luồng ánh sáng hình nón hắt ra từ các cửa sổ của Tân Cung. Đó là những con tàu xuôi dòng sông mà mặt nước lấp lánh dưới ánh sáng chập chờn của những ngọn đèn hiệu mấp mé ở các bậc thềm đầu tiên. Nhân vật chính của buổi khiêu vũ; người ra lệnh tổ chức đêm hội này; người mà tướng Kixốp tôn trọng như đối với các đấng quân vương, chỉ vận sơ sài một bộ quân phục sĩ quan khinh binh cận vệ. Đó chẳng phải là một sự trá hình, mà là thói quen của một người không thích sự diêm dúa bên ngoài. Cách ăn mặc của ông ta tương phản với những trang phục lộng lẫy của đám người nhộn nhịp xung quanh và chính vì thế mà nổi bật giữa đám tùy tùng của ông gồm những người Grudia, những người Cô-dắc, những người Lesghi, những kỵ binh với những bộ quân phục rực rỡ vùng Capcadơ. Nhân vật này, thân hình cao lớn, thái độ hòa nhã, nét mặt bình thản, nhưng vầng trán nhuốm vẻ suy tư, đi từ đám đông này tới đám đông khác, ít nói, thậm chí chỉ lơ đãng nghe, hoặc những câu tào lao vui nhộn của đám tân khách trẻ tuổi, hoặc những lời lẽ nghiêm chỉnh hơn của những viên chức cao cấp hay của những thành viên trong các đoàn ngoại giao, đại diện cho các quốc gia chủ yếu của châu Âu bên cạnh ông ta. Hai hoặc ba trong số những nhà chính khách mẫn tiệp đó - có tài về xem tướng mặt - hình như nhận thấy trên sắc diện của chủ nhân có vài biểu hiện lo lắng băn khoăn gì đó mà họ không rõ nguyên nhân, nhưng không một ai dám tự cho phép mình được hỏi han ông ta về vấn đề đó. Dù sao thì ý đồ của người sĩ quan đội khinh binh cận vệ, không còn nghi ngờ gì nữa, là làm sao để những mối lo âu thầm kín của mình không được gây bất kỳ một trở ngại nào cho đêm hội này - Và vì ông ta là một trong những đấng quân vương hiếm có mà tất cả mọi người đều đã quen phục tùng, ngay cả trong ý nghĩ, nên những niềm hoan lạc của đêm vũ hội không một lúc nào bị giảm sút. Trong khi đó, tướng Kixôp vẫn chờ người sĩ quan mà ông vừa chuyển bức điện từ Tômxk đánh về ra lệnh để rút lui, nhưng người sĩ quan vẫn cứ im lặng, Ông ta cầm đọc bức điện, vầng trán càng sa sầm. Tay ông như vô tình đặt vào chuôi kiếm, rồi đưa lên che mắt một lát khiến mọi người tưởng như ánh sáng làm ông bị chói và ông cần có bóng tối để tự nhìn mình rõ hơn. - Như vậy là, - ông nói và kéo tướng Kixôp tới gần một khung cửa sổ - từ hôm qua chúng ta không còn liên lạc được với đại công tước, em trai ta ư? - Không còn liên lạc được nữa, muôn tâu. Và thần e rằng chẳng bao lâu, những công điện không thể vượt qua được biên giới Xibir. - Nhưng quân đội các tỉnh Amua và Irkuxk cũng như quân đội tỉnh Tranxbaikali đã được lệnh hành quân cấp tốc đến Irkuxk rồi kia mà? - Lệnh đó đã được phát đi bằng bức điện cuối cùng mà chúng ta có thể chuyển tới bên kia hồ Baikan. - Chúng ta vẫn còn liên lạc trực tiếp được với chính quyền các tỉnh Yênixêixk, Ômxk, Xêmipalatinxko và Tôbônxk từ đầu cuộc xâm lăng của địch chứ? - Tâu hoàng thượng, vẫn còn liên lạc được và thần chắc rằng cho đến giờ phút này, bọn Tactar chưa vượt qua được sông Irtys và sông Ôbi. - Còn về tên phản tặc Ivan Ôgarep, chúng ta có tin tức gì không? - Không có tin gì cả, - tướng Kixôp thưa. - Cảnh sát trưởng cũng không biết được chắc chắn là hắn đã vượt qua biên giới chưa. - Đặc điểm nhận dạng của hắn phải được gửi ngay tới Nigiơni - Nôpgôrôd, Pecmơ, Ekatêrinbua, Kaximôp, Tiumen, Ichim Ômxk, Elamxk, Kôlyvan, Tômxk và tới tất cả các trạm bưu điện mà đường dây còn liên lạc được! - Lệnh của hoàng thượng sẽ được thi hành ngay tức khắc, - Tướng Kixôp đáp. - Tất cả công việc này cần phải tiến hành thật lặng lẽ đấy nhé! Bằng một dấu hiệu tỏ vẻ trân trọng phục tùng, sau khi khẽ cúi đầu, tướng Kixôp đi lẫn vào đám đông và rời khỏi các phòng khách. Không ai để ý đến sự ra đi của ông. Người sĩ quan đứng thẫn thờ một lúc và khi trở lại nhập vào các nhóm quân nhân, các nhà chính khách đã được hình thành ở nhiều điểm trong các phòng, thì vẻ mặt ông, trước đó đã có lúc bối rối, bỗng trở lại bình thản như cũ. Tuy vậy, sự kiện nghiêm trọng khiến có cuộc trao đổi ý kiến chớp nhoáng trên đây không phải là không ai biết như viên sĩ quan khinh binh cận vệ và tướng Kixôp tưởng. Điều đó, người ta không nói ra một cách chính thức, đúng thế, cũng như bán chính thức, bởi vì không có “lệnh’’ được công khai nói. Nhưng một vài nhân vật cao cấp cũng đã được thông báo tương đối chính xác về tình hình xảy ra ở phía bên kia biên giới. Dù sao họ cũng chỉ mới nắm được láng máng về những điều mà ngay cả những thành viên trong đoàn ngoại giao cũng không nói với nhau, thế mà có hai vị khách không mặc quân phục, cũng không mang huân chương trong buổi chiêu đãi ở Tân Cung, lại thì thầm trao đổi với nhau có vẻ như đã nhận được những tin tức khá chính xác. Làm thế nào, bằng con đường nào, nhờ có sự bặt thiệp như thế nào mà hai con người bình thường này lại biết cái mà những người khác vốn là những yếu nhân, cũng chỉ vừa mới ngờ tới? Người ta khó có thể tin như vậy. Hay là họ được trời phú cho cái tài tiên giác tiên tri? Hay là họ có một giác quan phụ cho phép nhìn thấy được tận bên kia chân trời của biên giới mà những con mắt người thường không thấy được chăng? Hoặc là họ có khiếu linh mẫn đặc biệt để khám phá ra những gì bí mật nhất. Hoặc là nhờ thói quen “sống cho tin tức và vì tin tức” ở họ đã trở thành bản chất thứ hai khiến tập tính của họ thay đổi chăng? Chúng ta hãy thử chấp nhận điều đó. Trong hai người này thì một là người Anh, còn người kia là công dân Pháp. Cả hai đều cao, gầy. Một người da nâu nâu như dân miền Nam xứ Prôvăngxơ, một người da hung hung đỏ như một nhà quý tộc xứ Lancasir. Anh chàng người Anh thì kiểu cách, lạnh lùng, phớt đời, tiết kiệm cả cử chỉ và lời nói, hình như chỉ nói năng và cử động khi thật cần thiết. Ngược lại anh chàng người Pháp thì linh hoạt, hăng hái, diễn tả cùng một lúc cả bằng môi, bằng mắt, bằng tay... ý nghĩ của mình với hàng chục cách khác nhau, trong khi người đối thoại với anh ta hình như chỉ có một cách duy nhất không thay đổi và như cố định trong đầu là chăm chú nghe và nhìn. Những nét khác biệt bên ngoài này dễ dàng làm cho bất cứ ai, dù có cặp mắt quan sát kém nhất cũng phải chú ý; nhưng một người giỏi xét đoán vẻ mặt, khi nhìn gần hai người ngoại quốc này sẽ xác định dứt khoát là sự trái ngược trong hành động bề ngoài của họ nói lên rằng người Pháp rất “tinh mắt”, còn người Anh rất “thính tai”. Thật vậy, cặp mắt - bộ máy quang học - của người này thường xuyên được sử dụng, nên đạt tới mức hoàn thiện lạ lùng. Võng mạc mắt ánh ta có độ nhạy tức thời như võng mạc những nhà ảo thuật chỉ qua động tác trang bài thật nhanh cũng nhận ra ngay được con bài nào, hay đơn thuần chỉ bằng sự sắp xếp một con bài mà người khác không tài nào nhận ra. Vậy là người Pháp này có một năng khiếu tuyệt vời mà người ta gọi là “trí nhớ bằng mắt”. Người Anh, ngược lại, hình như đặc biệt sinh ra để nghe và hiểu. Khi bộ máy thính giác tiếp nhận tiếng của một giọng nói, anh ta sẽ không thể nào quên được và mười năm, hai mươi năm sau, anh ta vẫn có thể nhận ra giọng nói đó trong hàng nghìn giọng nói khác. Đôi tai anh ta tất nhiên không có khả năng cử động như tai các loài vật có những loa tai to; nhưng các nhà sinh vật học nhận xét là tai người chỉ “gần như” bất động nên ta có quyển khẳng định rằng tai của người Anh trên đây vểnh lên, cụp xuống, nghiêng nghé... để tìm cách thu nhận cả những âm thanh chỉ mới vừa thoáng vẳng đến. Phải công nhận là năng khiếu về nghe và nhìn của hai nhân vật nói trên đã phục vụ tuyệt diệu cho nghề nghiệp của họ, vì anh chàng người Anh là phóng viên của tờ “Tin điện hàng ngày” và anh chàng người Pháp là phóng viên của tờ báo nào hoặc của những tờ báo nào thì anh ta không nói và khi có người hỏi, anh lại bông đùa trả lời là anh cung cấp tin tức cho “cô em họ Mađơlen” của anh. Thật ra anh chàng người Pháp tuy bề ngoài có vẻ nông nổi, nhưng lại rất mẫn tiệp và sắc sảo. Anh thường hay nói năng lung tung - có lẽ là để che giấu ý muốn tìm hiểu sự thực - nhưng không bao giờ chịu bộc lộ ý đồ chính của mình. Chính sự ba hoa đó đã giúp anh kín tiếng. Có thể nói là anh ta chín chắn và kín cạnh hơn bạn đồng nghiệp ở báo “Tin điện hàng ngày”. Với tư cách nhà báo, hai người tham dự đêm hội tổ chức tại Tân Cung tối 15 rạng 16 tháng Bảy là cốt để đưa tin sốt dẻo phục vụ thật hữu hiệu cho độc giả của họ. Không cần nói là cả hai anh chàng đều hăng say với sứ mệnh của mình ở trên đời này. Họ thích lao vào việc đi săn những tin tức bất ngờ nhất. Không gì làm cho họ sợ hãi cũng như làm họ chán nản trong khi đi tìm thắng lợi. Họ có thái độ bình tĩnh, không bao giờ nao núng. Chính đó là lòng dũng cảm thực sự của những người yêu nghề. Là những tay đua ngựa vượt rào nhà nghề trong cuộc săn tin này, họ vọt qua rào, vượt qua sông, nhảy qua bờ đất với nhiệt tình vô song của những con ngựa nòi muốn chạy tới đích “hoặc đoạt giải nhất hoặc là chết!”. Hơn nữa, những tờ báo của họ không bao giờ tiếc tiền đối với họ - đó là nhân tố thông tin mạnh nhất, nhanh nhất, hoàn hảo nhất mà người ta biết được cho đến nay. Cần phải nói thêm, và đây là một vinh dự đối với họ, là cả hai đều không bao giờ tò mò nhìn và nghe những gì thuộc về đời tư và họ chỉ hành động khi nào có dính líu đến quyền lợi chính trị và xã hội của họ. Tóm lại, họ làm như người ta thường nói trong khoảng vài ba năm nay, “thiên phóng sự lớn về chính trị và quân sự”. Nhưng, nếu theo sát họ, người ta sẽ thấy thường thường họ có một cách nhận định sự việc thật kỳ quặc, nhất là nhận định về những hậu quả của những sự việc đó, bởi lẽ mỗi người đều có “cách riêng của mình” để xem xét và đánh giá. Và cuối cùng thì không ai đang tâm trách cứ họ, vì họ làm việc thật nghiêm túc, hết mình bất cứ trong trường hợp nào. Mời các bạn đón đọc Tình Yêu Qua Sáu Nghìn Dặm của tác giả Jules Verne.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Từ Điển Khazar
Nếu có những cuốn sách đáng gọi “kỳ thư”, Từ điển Khazar là một trong số đó. Kể từ khi ra đời nó đã gây cảm hứng lớn lao cho nhiều thế hệ người đọc, và từ khi bản tiếng Việt được in lần đầu, nó đã là cánh cửa mở ra một thế giới mới mẻ và hấp dẫn khôn cùng của tiểu thuyết hiện đại. Với người đọc bình thường, cuốn sách cho ta một trải nghiệm khác lạ, “đọc theo cách nào cũng được” song đồng thời đầy thử thách, đòi hỏi ta tích cực tham gia vào việc tái dựng chỉnh thể, một cách tưởng tượng và sáng tạo. Với người viết văn, nó là minh chứng cho thấy những khả năng của tiểu thuyết là vô hạn và những chân trời chưa ai chạm tới của văn chương là kỳ vĩ, thu hút khôn cưỡng như thế nào. Không chỉ là “tiểu thuyết đầu tiên của thế kỷ 21” như một số người tán tụng, Từ điển Khazar còn giống như một cuốn sách xưa, lạ lùng, mà tác giả khai quật được từ bụi bặm lãng quên và đưa ra ánh sáng cho chúng ta, cuốn sách mà, dẫu nằm kia dưới ánh ban ngày, vẫn nguyên vẹn bóng tối âm hiểm, u trầm của nó. *** Cùng với "Từ điển Khazar", Milorad Pavic đi vào văn chương thế giới như một trong những nhà văn tìm lối đi riêng để làm mới thể loại tiểu thuyết Nhiều nhà phê bình gọi tiểu thuyết "Từ điển Khazar" (Trần Tiễn Cao Đăng dịch) của nhà văn Milorad Pavic là "tiểu thuyết đầu tiên của thế kỷ XXI" dẫu tác phẩm này được xuất bản từ năm 1984. "Kỳ thư" của thế kỷ XXI "Từ điển Khazar" như tên gọi của nó, là cuốn từ điển viết về dân tộc Khazar, được cấu trúc như một từ điển theo thứ tự của bảng chữ cái, là "tiểu thuyết - từ điển gồm 100.000 từ". Chính vì thế, trong mỗi ngôn ngữ khác nhau, người đọc của mỗi bản dịch sẽ có trình tự đọc "Từ điển Khazar" khác nhau như Milorad Pavic từng chia sẻ: "Bản gốc "Từ điển Khazar" in bằng chữ Cyrillic kết thúc bằng đoạn trích tiếng Latin: "sed venit ut illa impleam et confirmem, Mettheus". Bản dịch tiếng Hy Lạp kết thúc bằng câu: "Tôi đã nhận ra ngay rằng có đến ba nỗi sợ trong tôi chứ không chỉ một". Bản tiếng Anh, Do Thái, Tây Ban Nha và Đan Mạch "Từ điển Khazar" kết thúc bằng câu: "Khi người đọc quay trở lại, mọi thứ diễn ra theo thứ tự ngược lại và Tibon tiến hành sửa chữa bản dịch dựa trên ấn tượng khi nghe kẻ khác vừa đi vừa đọc to bản dịch ấy…". Không những thế, vì là "tiểu thuyết - từ điển" nên người đọc có thể chọn mục từ mình muốn đọc, đọc nhảy cóc, đọc xuôi hay đọc ngược, thậm chí "đọc chéo" theo lời khuyên của tác giả mà vẫn không thay đổi nội dung của tác phẩm. Bìa cuốn tiểu thuyết “Từ điển Khazar” xuất bản tại Việt Nam Làm được như thế là bởi "Từ điển Khazar" được xây dựng dựa trên cấu trúc mở, với những văn bản phân mảnh và kết hợp lại dựa trên sự chủ quan của độc giả, cũng như những dị biệt của từng ngôn ngữ. Khái niệm về đoạn đầu và đoạn cuối tác phẩm không còn cố định theo nghĩa thông thường nữa mà thay đổi, khiến cho tiểu thuyết này trở thành vòng tròn bất tận, không có đầu và không có kết trong chừng ấy trang sách. Nghĩa là trong cái hạn hữu của vật chất là trang giấy chứa đựng cái vô hạn của câu chuyện. Cách đọc này cho phép người đọc dự phần nhiều hơn vào một tác phẩm văn học. Thay vì chỉ duy nhất một cách đọc văn bản, tiểu thuyết hậu hiện đại cho phép người đọc được chọn lựa cách thức đọc một tác phẩm hay nói như nhà văn Raymond Queneau là "một truyện kể theo cách riêng của bạn". Bằng cách đó, con đường của tiểu thuyết không còn bó hẹp trong một lối đi mà có hàng ngàn dự phóng khác nhau, gây hứng thú cho cả người đọc lẫn người viết. Được sinh ra như đứa trẻ Sức hấp dẫn của "Từ điển Khazar" không chỉ đến từ cấu trúc đặc biệt của nó mà còn bởi câu chuyện hoang đường mà Milorad Pavic kể lại về cách cuốn "Từ điển Khazar" được hình thành qua hàng ngàn năm. Biến tiểu thuyết này thoát khỏi cái kỹ thuật nặng nề, khô cứng mà trở nên bay bổng, đầy thơ mộng bởi sức hấp dẫn của những truyện kể, gợi nhắc đến bộ kỳ thư của nhân loại "Ngàn lẻ một đêm" và Milorad Pavic không khác chi nàng Seherazat, mê hoặc người đi qua từ câu chuyện này đến câu chuyện khác hay ở đây là từ mục từ này qua mục từ khác. Được cấu tạo từ 3 quyển sách: "sách đỏ", "sách xanh" và "sách vàng" viết bởi 3 tôn giáo khác nhau (Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo) xung quanh sự kiện được gọi là "luận chiến Khazar". Tại sự kiện lịch sử đó, từng cuốn sách kể lại câu chuyện của mỗi tôn giáo về cách họ thuyết phục quốc vương cho phép dân Khazar cải đạo theo tôn giáo của mình. Chính ở đây, Milorad Pavic đẩy người đọc tiến xa hơn, không còn tiếp thu văn bản một cách thụ động mà buộc họ phải dự phần vào việc suy luận, tùy theo mỗi độc giả sẽ có một đáp án riêng của mình. Thậm chí, nếu hỏi Milorad Pavic, rốt cuộc người Khazar đã cải đạo nào thì chắc ông cũng lắc đầu nói không biết. Điều này khiến ta nhớ đến tác phẩm "Trong rừng trúc" của Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) hay "Cô dâu hay con hổ" của Frank R. Stockton (1834-1902) ở chỗ truyện không chỉ có một kết thúc mà quan trọng người đọc quyết định tin vào lời chứng nào và chọn kết thúc mà mình thấy hài lòng nhất. Milorad Pavic biến tiểu thuyết trở thành một sinh thể sống động chứ không còn là một văn bản chết của giấy và mực. Như chính ông từng trả lời trong một cuộc phỏng vấn: "Tiểu thuyết được sinh ra hệt như một đứa trẻ". Câu nói này, không chỉ ví von cách nhà văn "thai nghén" ra tác phẩm mà còn ở chỗ "đứa trẻ" đó có một sinh mệnh riêng, những dự phóng riêng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của "cha mẹ", những tác giả không có nhiệm vụ quyết định thay độc giả tương lai của tác phẩm. Tiêu biểu cho văn chương hậu hiện đại Milorad Pavic sinh năm 1929, nhà văn người Serbia. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông từng được nhiều lần dự đoán là ứng cử viên sáng giá của Serbia cho giải Nobel Văn chương. Các tiểu thuyết của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và được các nhà phê bình trên thế giới đánh giá cao bởi những sáng tạo độc đáo, kích thích độc giả. Ngoài "Tiểu thuyết - từ điển gồm 100.000 từ", "Từ điển Khazar", Milorad Pavic còn có các tiểu thuyết độc đáo khác: "Tiểu thuyết ô chữ", "Phong cảnh vẽ bằng trà" (1988); "Tiểu thuyết - đồng hồ cát", "Mặt trong của gió"(1991) và "Tiểu thuyết - bài tarot", "Mối tình cuối ở Constantinople" (1994). Cũng giống như nhà văn Italo Calvino của Ý hay Jorge Luis Borges của Argentina, ông được xem là nhà văn tiêu biểu cho văn chương hậu hiện đại. Huỳnh Trọng Khang Mời các bạn đón đọc Từ Điển Khazar của tác giả Milorad Pavic.
Thế Giới Kết Thúc Dịu Dàng Đến Thế
Câu chuyện bắt đầu từ khi đám mây xám trì xuất hiện phía trên một thị trấn hẻo lánh của Nhật, chiếu cột ánh sáng xanh lạnh xuống. Mọi vật bị ánh sáng xanh rọi vào sẽ đông cứng lại như đá hoa cương, lạnh ngắt và cũng tỏa ra sắc xanh lạnh. Dần dần, diện tích bị đóng băng lan rộng khắp trái đất. Mọi người cuống cuồng tìm về bên người thân yêu chờ đón giây phút cuối cùng. Yoshizawa cũng lên đường đạp xe đến nơi ở cách hàng trăm cây số của Shirakawa Yukino, người bạn học thân thương và cũng là mối tình đầu của cậu. Trên con đường ngày một lạnh lẽo và chết chóc, thứ duy nhất sưởi ấm cậu là những trang thư đã đọc đi đọc lại đến sờn giấy, là bức hình chụp chung mờ nhòe. Liệu cậu có kịp gặp được Yukino, hay nàng đã hóa thành pho tượng băng giá câm lặng vĩnh viễn? Chưa bao giờ sự kết thúc hay cuộc gặp mặt cuối cùng lại được nhà văn Ichikawa Takuji miêu tả dịu dàng và nâng niu đến thế. Bởi dù thế nào, “Yêu một ai đó là thế đấy. Trọn vẹn tất cả mọi thứ. Không kén chọn cái này hay cái kia. Dâng hiến cả cuộc đời mình. Tuyệt đối không nuối tiếc.” *** Có bao giờ bạn từng nghĩ về ngày tận thế của Trái Đất? Ngày mà con người chấm dứt sự sống, ngày giống như hàng vạn năm về trước của thế giới thuở hồng hoang. Chắc hẳn là có, nhưng đa số chúng ta hay nghĩ tới một cái kết đáng sợ như việc một thảm họa kinh hoàng xảy ra y hệt những bộ phim bom tấn. Nhà văn Ichikawa Takuji thì không như vậy, ông nghĩ tới tận thế bằng một đôi mắt lãng mạn và yêu thương nhất có thể. Đó chính là hạt giống đẹp đẽ nảy mầm lên cuốn sách  Thế giới kết thúc dịu dàng đến thế  _ tác phẩm gần đây nhất của ông. Cuốn sách lấy bối cảnh của thế giới những ngày đi vào hồi kết hay chính là tận thế. Chúng ta sẽ không thấy khói lửa, sóng thần hay bất cứ nạn dịch nào hủy hoại sự sống con người như trên màn ảnh nhỏ. Tận thế của Takuji đầy chất thơ _ thế giới kết thúc khi bị cột ánh sáng xanh bao phủ. …một khi đã bị ánh sáng ấy bao trùm, tất cả sẽ chấm dứt. Con người hay muông thú, chim chóc hay cỏ cây, đất đá và nước cũng vậy, mọi thứ đều ngừng chuyển động, rồi có lẽ sẽ chẳng có gì xảy ra nữa. Nhân vật chính là Yoshizawa Yuu, khi biết ánh sáng xanh đang lan tỏa trên diện tích rộng đồng nghĩa với việc thời gian sống ngày càng thu hẹp, anh quyết định lên đường đi tìm Shirakawa Yukino cô bạn gái anh yêu thương suốt 10 năm trời. Yuu đã từng hứa: Tôi đã hứa sẽ đi gặp nàng. Bất kể có chuyện gì xảy ra, tôi nhất định phải giữ lời đến cùng. Đó là kim chỉ nam cho hành trình của anh, cũng là hành trình xuyên suốt cuốn sách. Trên những bước chân đầu tiên của chặng đường dài, Yuu gặp Mizuki _ chàng trai cũng đang đi tìm gặp cô gái mà anh từng bỏ rơi chỉ để nói lời xin lỗi và được ở lại bên cô mãi mãi. Hai người là bạn đồng hành và trên chuyến đi của cả hai, tác giả lồng ghép những câu chuyện nhỏ. Mỗi câu chuyện là một mảnh ghép hoàn thiện cho bức tranh về lòng yêu thương trong một thế giới đang kết thúc. Cuối cùng thì Mizuki cũng trở về với Eriko, cô gái anh luôn mong muốn được ở bên. Yuu cũng tìm được Yukino và hạnh phúc bên nhau trong thời khắc cuối cùng. Tác giả để ra một kết thúc mở, tôi không nghĩ là vui khi mọi người đều biến mất, nhưng cũng không được coi là buồn khi mọi người đều cảm thấy hạnh phúc vì được ở bên nhau trong khoảnh khắc cuối cùng của sự sống. Sau tất cả, đọng lại trong tôi là giọt buồn man mác, là yêu thương đong đầy và những rung động trong veo như ánh xanh dịu dàng khắp câu chữ len lỏi vào từng ngõ ngách của trái tim. Tác phẩm xây dựng trên một khung cảnh siêu thực, một thế giới tưởng tượng như phong cách vốn dĩ của Takuji. Văn chương của ông lúc nào cũng ám ảnh tình yêu và chia ly, đan xen giữa nỗi buồn và cái đẹp gây một cảm giác rung động khó tả đối với người đọc. Truyện được kể đan lồng quá khứ - hiện tại với nhiều nhân vật, mang nhiều thông điệp khác nhau. Dưới đây là những gì tôi tổng kết được về ý nghĩa của cuốn sách.   Một thế giới tưởng tượng gần gũi với hiện thực mà ta đang sống. Standal từng viết “Văn học là tấm gương phản ánh đời sống xã hội”. Một tác phẩm văn học dù có viết về một thế giới tưởng tượng thì vẫn luôn đề cập tới các vấn đề xã hội. Thế giới kết thúc dịu dàng đến thế cũng không phải ngoại lệ. Nó là một tác phẩm lãng mạn, viết về một câu chuyện không có thực nhưng không đơn thuần chỉ để thỏa mãn trí tưởng tượng của con người. Đằng sau mỗi trang sách, chúng ta nhận thấy xã hội mà ta đang sống, thấy con người của hiện thực đi vào trong bóng dáng của các nhân vật. Một kênh chiếu hình ảnh chiến tranh ở nước nào đó, có cảnh một đứa trẻ khóc vì mất cha mẹ. Cuộc sống vốn đã chẳng dài lắm, thế mà nhiều người lớn cứ nóng lòng cướp đoạt cho bằng được. Đó chẳng phải là tin tức mà chúng ta đã từng xem hằng ngày hay sao? Những đứa trẻ tại vùng giao tranh hay nội chiến, chúng bị cướp đi quyền học tập, thậm chí là quyền được sống. Những em bé như vậy, không phải chỉ có trong sách vở mà đang từng giây từng phút chịu đau thương trong thế giới này. Một góc hiện thực khác gần chúng ta hơn, nói về đạo đức của con người hiện nay cũng được phản chiếu trong câu văn: Tài xế ô tô nhấn còi xua người đi bộ như lùa gia súc. Ông khách trung niên mắng mỏ người phục vụ làm thêm vì những sai sót nhỏ nhặt. Đám thanh niên thản nhiên xô đẩy người già yếu bước đi chậm chạp. Đường phố ngày nay, tôi thấy thực sự sợ khi đi trên vỉa hè không khác nào đi dưới lòng đường. Tại sao con người ta có thể vô liêm sỉ mà cướp đường đi của người khác, cướp đi sự an toàn của người đi bộ? Và những sự việc như vậy khiến chúng ta cũng phải thốt lên như các nhân vật trong câu chuyện: “Chẳng tử tế gì cả”. Takuji còn có thể nhìn thấy bản chất của xã hội mà đúc kết nên rằng: Trong thời đại ngày nay, vứt bỏ đồ đạc mới được coi là đức hạnh. Bởi có thế thì mới làm cho “kinh tế vận hành” được. Vì mục đích cao cả ấy mà cụm từ “mốt năm nay” được sinh ra, con người có thể an tâm mà bỏ đồ mua năm ngoái đi. Đó là việc con người sống quá nhanh, quá chóng vánh mà không biết trân trọng những điều nhỏ nhặt. Cứ thế, dòng người lướt qua ào ào trên những con xe từ sáng đến đêm, và trái tim họ cũng vụt qua như vậy. Yêu thương chẳng đủ ấm nồng mà hời hợt lướt nhanh. Tôi từng nghe câu thơ “Đủ nắng hoa sẽ nở/ Đủ yêu thương hạnh phúc sẽ đong đầy”. Phải chăng con người cứ kêu không hạnh phúc, chỉ vì họ sống chưa đủ yêu thương? Hiện thực trong cuốn sách đã phần nào đánh thức trái tim vẫn đang ngủ say trong tôi với những giấc mơ màu hồng, khiến tôi nhận ra mình cần trưởng thành hơn, cần phải nhìn thẳng vào sự thật vốn dĩ bề bộn và phức tạp.   Có những tình cảm nhân văn và dịu dàng đến thế. Có lẽ đây là điều tôi thích nhất ở cuốn sách. Một tác phẩm lãng mạn nhưng không sến súa, tình cảm cực kì nhân văn và trong trẻo. Thế giới dù có những góc tối tàn nhẫn nhưng ta vẫn yêu nó bởi cuộc đời vẫn còn vô vàn điều tốt đẹp. Mà đẹp nhất, còn gì khác ngoài “Người với người sống để yêu nhau”. Đó cũng chính là thông điệp lớn nhất tôi nhận từ cuốn sách.  Nếu đời người là một cuốn sách, tôi những muốn lấp kín các trang bằng những câu chữ đong đầy tình yêu thương. Tôi không muốn giở từ trang nọ sang trang kia mà chỉ thấy không có gì ngoài những lời phỉ báng nhiếc móc. Đúng như thế, Takuji đã lấp đầy từng con chữ bằng tình yêu thương cao đẹp. Đó là tình yêu trong sáng của Yuu và Yukino, thứ tình cảm chân thành có thể sẵn sàng hy sinh bản thân chỉ để người kia không bị tổn thương. Họ trân trọng nhau từ những điều nhỏ nhặt nhất, từ những kỉ niệm như chiếc máy chế tạo hoàng hôn, tấm ảnh chụp chung hay câu chuyện về những đám mây. Và tôi nghĩ tình yêu chỉ đơn giản thế thôi, đâu cần như thiên tình sử đau thương của Romeo và Juliet. Yuu là một chàng trai nhát cáy nhưng vẫn luôn bảo vệ Yukino đến cùng, dù thế giới có tận diệt cũng phải trở về bên cô bởi vì “Dù là những siêu nhân không mấy đáng tin cậy, mỗi chúng ta đều muốn bảo vệ người mình yêu”. Tình cảm cao thượng trong gia đình cũng được phản ánh một cách sâu sắc. Đó là ông bố hiền lành của Yuu, cả đời chưa bao giờ mắng cậu nửa lời, chỉ dùng sự dịu dàng vỗ về, chở che cho cậu đến giây phút cuối cùng. Ông từng nói với cậu: …khoảnh khắc con nằm trên giường, nhìn lại bố với ánh mắt ngây thơ, bố chợt nghĩ đứa trẻ này tin tưởng mình. Nó giao sinh mạng bản thân cho bố, chẳng chút nghi ngờ. … Không thể phản bội lại lòng tin này được. Bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo vệ sinh linh này. Phải cho nó được vui sướng. Một trái tim vĩ đại ẩn sau dáng hình nhỏ bé của người bố, một tình yêu thương cao cả có thể hy sinh mạng sống chỉ để bảo vệ đứa con trai. Takuji đã cho chúng ta hiểu tình cảm gia đình quan trọng nhường nào. Mẹ của Yuu đã mất, nhưng bà vẫn luôn là động lực cho hai bố con sống tiếp. Người ta không được coi là biến mất hoàn toàn khi mà họ vẫn sống trong trái tim và kí ức của ai đó. Tình yêu, từ giây phút con người đặt chân lên mặt đất cho tới tận ngày diệt vong, nó vẫn luôn là nguồn sức mạnh kì diệu nâng đỡ tâm hồn con người. Nó trao cho ta ý chí, giúp ta làm những điều tưởng chừng không thể. Bởi vì có yêu thương, nên thế giới dẫu có kết thúc, ta vẫn thấy nó dịu dàng đến thế…   Hạt mầm của hy vọng sống. Khi biết Trái Đất đang đi đến hồi kết, Yuu từng nghĩ: Dẫu vậy, biết đâu trên hành tinh này vẫn còn một nơi mà ánh sáng xanh sẽ không bao giờ chạm tới và ở đó chúng ta có thể tiếp tục sống trong yên bình?
Latte Không Ngọt
“NEWTON VÌ NHÌN THẤY MỘT QUẢ TÁO RƠI MÀ PHÁT HIỆN RA LỰC HẤP DẪN LOÀI NGƯỜI CŨNG CHÍNH VÌ ĂN PHẢI MỘT QUẢ TÁO CÓ ĐỘC MÀ RƠI VÀO LÒNG LUẨN QUẨN” Latte không ngọt – món quà dành cho thanh xuân. Có lẽ rằng ai cũng mong một lần được quay trở lại tuổi trẻ với tình yêu ngây dại và đầy ngọt ngào đó. Và thanh xuân chẳng thể không có mối tình đầu. Với bạn mối tình đầu là gì với Latte Không Ngọt mối tình đầu của ai cũng đều có chút ngây ngô nó còn pha thêm cảm giác tuyệt vọng. Có mối tình đầu thanh xuân thêm dư vị Có mối tình đầu thanh xuân của cậu ngập tràn ánh nắng ấm áp *** [REVIEW SÁCH LATTE KHÔNG NGỌT] Thanh xuân ai cũng sẽ trải qua một lần trong đời, ký ức thanh xuân của mỗi người lại có những dư vị khác nhau, dẫu vậy ký ức nào cũng đẹp vô cùng. Đọc cuốn sách Latte không ngọt của tác giả Evon, lại thêm một lần nữa được bước vào vùng ký ức thăm thẳm của những người trẻ tuổi, để hoài niệm thời thanh xuân, cũng là trải nghiệm thêm một vị khác của thanh xuân. Latte không ngọt xoay quanh câu chuyện của bốn bạn trẻ Vương Đinh, Phương Sâm Đề, Ngô Lặc, Thi Khả Đệ tại Đài Loan. Họ là những người trẻ tuổi hiện đại, năng động luôn sẵn sàng dấn thân vào đời sống. Mỗi người một tính cách nhưng đã gặp gỡ và trở thành những người bạn thân thiết. Vương Đinh là người kể chuyện, cũng có thể xem là người dung hòa giữa các mối quan hệ trong tiểu thuyết. Anh đóng vai người hòa giải, quan sát, lắng nghe những câu chuyện của những người bạn. Dư vị đậm đà nhất trong ký ức thanh xuân của Latte không ngọt tình yêu. Mỗi người trẻ trong cuốn sách đều yêu say đắm, si mê. Xoay quanh vòng xoáy của tình yêu khiến mạch chuyện càng về sau càng lôi cuốn mạnh mẽ. Phương Sâm Đề là người hài hước, có tính cách mạnh mẽ nhưng khi đã bước vào tình yêu lại vô cùng nhẫn nại, dịu dàng, chung tình. Đem lòng yêu Phó Lỗi Nhã, cô bạn cùng lớp cấp ba thuở nào, rồi giữ mãi mối tình ấy, âm thầm theo dõi cô ấy, cho đến tận khi cô ấy nhận được thâm tình mà cảm động. Tưởng rằng tình yêu từ ấy đã viên mãn, hai kẻ yêu nhau say đắm có thể ở bên cạnh nhau mãi về sau, nhưng hóa ra ở bên cạnh nhau lại không thể chịu đựng được nhau. Sâm Đề từng kiên nhẫn chờ đợi đến thế lại không thể chịu đựng được tính khí ghen tuông ích kỷ của người yêu. Lỗi Nhã từng cảm động bởi sự chung tình của người yêu lại không thể đem lòng tin tưởng người mình yêu. Bởi thế nên chia tay, mệt mỏi, và đau khổ. Tình yêu thanh xuân thường gắn liền với những cảm xúc ngây thơ, trong sáng, có chút nổi loạn, nhưng tình yêu trong Latte không ngọt lại là vị đắng chát chất chứa nhiều đau thương và mất mát. Như Khả Đệ đã phải day dứt suốt đời vì không ở bên cạnh người yêu trong những giờ phút cuối cùng, ngược lại còn hiểu nhầm anh, ngỡ rằng anh đã thay lòng mà dày vò anh. Trong bộ phim Tro bụi thời gian, nhân vật Âu Dương Phong có một câu thoại rất hay rằng “nếu không thể có được thứ gì đó, hãy giữ nó trong ký ức”. Ký ức cũng bởi thế luôn mênh mang và thăm thẳm.Đến khi biết tin cái chết của người yêu, mới như sét đánh ngang tai, đau đớn tột cùng, tự nhủ trong nước mắt: “Em sẽ không bao giờ để bất cứ nỗi đau nào khiến mình trở nên đáng thương nữa, có một số việc… sẽ luôn được lưu giữ. Cho đến… mãi mãi”. Cũng giống như chàng thiếu niên đã rời khỏi cuộc sống này, nhưng sẽ mãi được lưu giữ trong tim người ở lại với nỗi lưu luyến day dứt. Khả Đệ là cô gái nhỏ nhắn, nhưng lại là người con gái dữ dội, quyết liệt. Khi rơi vào tình yêu đã yêu đến cuồng dại say đắm, khi đau khổ cũng mù quáng mà làm tổn thương bản thân. Nhưng Khả Đệ lại chính là hình dung sắc nét của tuổi thanh xuân, là khi ấy chúng ta còn quá trẻ để lý trí tỉnh táo, ta chỉ biết lao vào đời sống, yêu và sống cuồng nhiệt như nhau. Mỗi người trẻ, họ sống trong đời sống đi về mỗi phía khác nhau, hạnh phúc đau khổ trải qua trên đường sống khác nhau, nhưng thanh xuân có sự hiện hữu của nhau đã trở thành dấu ấn đẹp đẽ trong cuộc đời. Thanh xuân của họ giống như ly Latte nhưng đậm vị cà phê đắng hơn vị sữa ngọt ngào, nhưng lại có sức hấp dẫn khó cưỡng. Trong Latte không ngọt, thanh xuân gắn liền với những mối tình, đồng thời cũng từ tình yêu ấy tác giả đã khéo léo tạo nên bầu không khí hiện đại, trẻ trung của đời sống đương đại Đài Loan bằng lối viết dung dị, uyển chuyển, thấm đẫm chất thơ. Ở đó những người trẻ ngày ngày vẫn làm việc, mơ ước, đau đớn, và trưởng thành. Nhân vật Vương Đinh, là người quan sát và viết lại câu chuyện thanh xuân của những người bạn, sau cùng đã xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình. Theo anh cũng là cách lưu giữ ký ức và tự chữa lành cho chính bản thân mình. *** Tác giả Evon tên thật là Dư Dật Phàm, là nam tác giả trẻ trong giới văn học Đài Loan, đam mê nhiều thể loại sách như tình yêu, cuộc sống, lý luận, kinh dị, viễn tưởng… nhưng thể loại yêu thích nhất là tiểu thuyết kinh dị, đã từng cho ra mắt tác phẩm Câu chuyện kinh dị của Evon, là một tuyển tập các câu chuyện kinh dị ngắn - ở dạng sách điện tử. Tiểu thuyết tình cảm Latte không ngọt là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của anh được xuất bản dưới dạng sách giấy truyền thống. Cuốn sách đã được đông đảo độc giả trẻ Đài Loan yêu mến. *** GIỚI THIỆU NHÂN VẬT Vương Đinh: nam chính (người duy nhất kể chuyện theo vai “tôi”), nam cung Xử Nữ, hai mươi tuổi. Chiều cao trung bình, hơi gầy, tóc đen cột thành một chỏm đuôi ngựa ngắn, là mẫu người lịch thiệp, nước da trắng, thị lực khá tốt. Tính cách hướng nội, tinh tế, nhanh nhạy. Gặp phải chuyện gì đều phải trăn trở suy xét nhiêu lần, vì vậy mà thường khiến bản thân cảm thấy phiền muộn vô cớ, tự làm khổ mình. Tiểu thuyết “Latte không ngọt” là câu chuyện do chính anh viết về những trải nghiệm của bản thân cùng ba người bạn thanh mai trúc mã, được đăng tải trên mạng để mọi người cùng đọc. Hiện đang nuôi một chú chó Shiba Inu đặt tên là Tiểu Nặc. Là một người đặc biệt thích uống Latte đá. Phương Sâm Đề: nhân vật chính, nam cung Sư Tử, hai mươi tuổi, ngoại hình bình thường, hơi cao, dáng người tiểu chuẩn, tóc đen cắt ngắn, cách nói chuyện hài hước, thường hay tấu hài, từ nhỏ đã có năng khiếu lãnh đạo, rất giỏi trong việc giao tiếp với người khác, tính cách mạnh mẽ luôn tự tin vào chính mình. Thuộc phái hành động, một khi nghĩ ra cách giải quyết thích hợp cho chuyện gì sẽ hạ quyết tâm ngay lập tức, không bao giờ do dự. Mong muốn trở thành một giáo viên. Ngô Lặc: nhân vật chính, nam cung Thiên Yết, hai mươi tuổi, dáng người cao gầy, tóc đen, luôn để ngắn, lúc nào cũng đeo một cặp kính dày cộm, khi nói chuyện hay có thói quen đưa tay đẩy gọng kính để điều chỉnh lại vị trí. Gia đình giàu có, vô cùng thông minh, thành tích học tập và thể thao đều tốt, thuộc loại văn võ song toàn, miệng rất “độc”*, luôn một lời nói thẳng vào trọng tâm. Trong mắt người khác là một người rất lạnh lùng, nhưng khi đã quen biết sẽ nhận ra cậu ta rất quan tâm đến bạn bè. Quyết tâm trở thành một cảnh sát. Thi Khả Đệ: nhân vật chính (nhân vật nữ chính duy nhất), nữ cung Cự Giải, hai mươi tuổi. Dáng người nhỏ nhắn, hơi gầy, tóc đen dài mềm mượt xen lẫn vài sợi màu cà phê, gương mặt xinh đẹp, nước da trắng ngần, thân hình cân đối. Từ trung học đã sang Mỹ, tới đại học mới quay về Đài Loan, cũng chính vì thế nên có xu hướng suy nghĩ theo phong cách Mỹ. Vừa đi làm vừa học, hiện đang làm người dẫn chương trình cho một đài truyền hình địa phương. Có tính cách khá mạnh mẽ, vì quan điểm cá nhân, cách nhìn cuộc sống hoàn toàn trái ngược với Ngô Lặc nên thường hay đấu khẩu. • Nguyên văn: “Nhất châm kiến huyết”, chỉ lời nói thẳng thắn, sắc bén, nói trực tiếp vào vấn đề chính một cách tàn nhẫn. Mời các bạn đón đọc Latte Không Ngọt của tác giả Evon & Grant Zhan (dịch).