Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió

Nếu các bạn đã từng say mê bộ Cuốn Theo Chiều Gió của nhà văn Margaret Michell hẳn sẽ không thể bỏ qua bộ Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió để xem câu chuyện sẽ được tiếp diễn ra sao? A.Ripley, một nhà văn nữ đã lọt vào vòng chung kết và bản thảo của bà được Hội đồng chấp nhận. Trên nhiều mặt, Hậu Cuốn Theo Chiều Gió đã phát triển được một cách nhuần nhuyễn bộ Cuốn Theo Chiều Gió của M.Michell, nhưng cũng có những mặt A.Ripley phát triển gần với văn học hiện đại hơn. Điều này phù hợp với xu hướng chung của bạn đọc trên toàn thế giới. Trở lại Tara... Trở lại với Scarlett và Rhett... Trở lại với câu chuyện tình lãng mạn và tuyệt vời nhất của mọi thời đại. Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió của Alexandra Ripley lập tức gây xôn xao văn đàn, làm mê hoặc độc giả toàn tếh giới và lập kỷ lục mới - 2 triệu bản in được bán hết ngay trong lần xuất bản đầu tiên *** Sau 12 năm tìm kiếm, 3 tác giả chấp bút và một bản thảo bị loại bỏ, cuốn tiểu thuyết hậu “Cuốn theo chiều gió” cuối cùng cũng chính thức được lựa chọn. “Rhett Butler’s People” - tác phẩm tiếp nối kiệt tác văn học của Margaret Mitchell - sẽ được xuất bản tại Mỹ vào tháng 10 tới. Không chỉ là phần tiếp theo đơn thuần, cuốn sách mới của Donald McCaig - do St. Martin xuất bản - chính xác hơn là một Cuốn theo chiều gió được kể lại từ điểm nhìn của Rhett Butler. Donald McCaig vốn là tác giả xuất thân từ nghề chăn cừu ở Virginia. Trước đây, ông từng viết quảng cáo và đã xuất bản nhiều tiểu thuyết viết về Nội chiến Mỹ được giới phê bình đánh giá cao. Với dung lượng nhỉnh hơn 400 trang, Rhett Butler’s People chỉ là một mẩu nhỏ so với bản chính hơn nghìn trang của Mitchell. Bối cảnh cuốn sách diễn ra từ 1843 đến 1874, dài hơn gần 2 thập kỷ so với Cuốn theo chiều gió. Độc giả sẽ được biết tường tận về quãng đời thơ ấu của Rhett Butler tại một nông trại, quan hệ của anh với cô gái điếm Belle Watling, những trải nghiệm của anh trong vai kẻ trốn chạy khỏi vùng đất phong tỏa ở Charleston, Bắc Carolina. Trên hết, người đọc sẽ được khám phá những suy nghĩ diễn ra trong đầu óc Rhett khi anh gặp và tán tỉnh Scarlett O’Hara trong một trong những mối tình nổi tiếng nhất mọi thời đại. Xuất bản Rhett Butler’s People, St. Martin sẽ có cơ hội trang trải số tiền 4,5 triệu USD mà họ phải trả cho những người thừa kế di sản Mitchell để có tác quyền xuất bản cuốn sách. NXB cho rằng cuốn sách có triển vọng lớn về mặt thương mại. Họ lên kế hoạch in tới một triệu bản trong đợt phát hành đầu tiên. Sinh thời, Margaret Mitchell đã kiên quyết từ chối những lời đề nghị viết phần tiếp theo của cuốn sách. Khi Scarlett, một Cuốn theo chiều gió II của Alexandra Ripley, ra mắt năm 1991, đó thực sự là một quả bom tấn với 6 triệu bản được bán ra. Nhưng Ripley phải hứng chịu những lời chỉ trích gay gắt. 5 năm trước đó, những người thừa kế di sản của Mitchell cũng đã không thể ngăn chặn được việc xuất bản cuốn tiểu thuyết hậu Cuốn theo chiều gió không chính thức của Alice Randall. Tác phẩm này viết theo lối nhại phong cách của Mitchell, được kể từ điểm nhìn của một người nô lệ - con bà vú Mammy, người bảo mẫu thương yêu của Scarlett. Lần này, Paul Anderson Jr., một trong ba luật sư bảo hộ quyền lợi cho những người thừa kế di sản Mitchell, khẳng định: “Điều chúng tôi trông đợi nhất là một tác phẩm có chất lượng văn học cao, có giá trị, chứ không chỉ là một con gà đẻ trứng vàng”. Bản thân quá trình tìm kiếm tác giả xứng đáng làm người kế nhiệm Margaret Mitchell là cả một câu chuyện hấp dẫn. Khởi đầu năm 1995, khi Emma Tennant, tiểu thuyết gia người Anh, tác giả phần tiếp theo cuốn Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen, bắt đầu ký hợp đồng viết Cuốn theo chiều gió II. Bản hợp đồng này yêu cầu Tennant phải trung thành với giọng điệu, điểm nhìn và nhân vật của Mitchell. Tennant cũng không được phép đưa vào tác phẩm những trang viết đề cập đến vấn đề tình dục hoặc hôn nhân giữa những người đồng giới. Tuy nhiên, bản thảo 575 trang của Tennant bị chê là quá nhiều chất Anh và vì thế bị NXB loại bỏ và cấm xuất bản vĩnh viễn. Kẹt vì không tìm thấy tác giả thích hợp, NXB St. Martin và những người thừa kế đã tìm đến Pat Conroy, tiểu thuyết gia nổi tiếng với cuốn The Prince of Tides và từng viết lời giới thiệu cho Cuốn theo chiều gió trong lần tái bản kỷ niệm 60 năm ngày ra đời cuốn sách. Những cuộc thương thảo hợp đồng đầy căng thẳng lại tiếp tục. Lo lắng trước việc các luật sư có thể hạn chế tự do của mình bằng những quy định như đã đề ra với Tennant, Conroy “rào trước” bằng câu nói đùa: ‘Tôi sẽ mở đầu cuốn sách bằng câu sau: ‘Làm tình xong, Rhett quay sang Ashley Wilkes và nói: ‘Ashley, tôi đã bao giờ kể với anh rằng bà tôi là một người da đen chưa nhỉ?”. - Margaret Mitchell và quá trình viết 'Cuốn theo chiều gió' Ông Anderson - con trai của vị luật sư có mặt trong cuộc thảo luận hợp đồng với Conroy - cho biết, NXB và đại diện của những người sở hữu tác quyền không bao giờ gây sức ép đối với nhà văn: “Mọi người đều hiểu rằng, không có tình huống nào trong cuộc họp thể hiện việc cấm đoán ông miêu tả quan hệ hôn nhân hoặc những cảnh sex đồng giới cả”. Nhưng theo trí nhớ của Conroy thì mọi việc lại diễn ra theo hướng ngược lại. Trong một cuộc phỏng vấn, nhà văn kể, các luật sư đã không ngừng ngăn ông viết về đề tài tình yêu, tình dục đồng giới hoặc không được để nhân vật Scarlett O’Hara phải chết. Cuối cùng, Conroy rút lui khỏi cuộc thảo luận vì ông sợ quyền tự do sáng tác của mình không được đảm bảo. 4 năm sau, Sally Richardson và giám đốc NXB St. Martin Hope Dellon lại bắt đầu tìm kiếm một ứng viên khác. Một lần, Dellon bước vào một cửa hàng sách và nhìn thấy cuốn Jacob’s Ladder – một tiểu thuyết về Nội chiến của McCaig. Bà hứng thú với cuốn sách và cho mời McCaig đến. McCaig cho biết, ông chưa từng đọc Cuốn theo chiều gió, nhưng khi đọc xong, ông thực sự bị mê hoặc. Ngay từ khi nhận được lời mời chấp bút viết phần 2 cuốn sách, nhà văn đã biết, ông sẽ kể câu chuyện của mình từ điểm nhìn của Rhett Butler. McCaig từ chối tiết lộ số tiền mà ông nhận được từ di sản Mitchell khi ký hợp đồng này. Nhà văn dành ra 6 năm để nghiên cứu và viết. Ông đào xới tư liệu lịch sử và đến tận những con thuyền ở cảng Charleston để hình dung ra cảnh Rhett tìm cách thoát khỏi vòng phong tỏa của lực lượng hải quân trong cuộc nội chiến Bắc – Nam. Anne, vợ ông, đã vạch ra một đề cương dài 100 trang ghi lại những chi tiết chính của Cuốn theo chiều gió. Nhờ đó, nhà văn có thể theo dõi dòng chảy của cuốn tiểu thuyết gốc. Cuối cùng, cuốn sách cũng hoàn thành và được nộp cho luật sư và NXB. Anderson cho biết, rút kinh nghiệm từ những hợp đồng trước với Tennant và Conroy, họ đã cố không can thiệp quá sâu vào nội dung tác phẩm. McCaig nhất mực từ chối tiết lộ cốt truyện Rhett Butler’s People. Nhưng ông cho biết, tác phẩm mở đầu bằng cuộc đọ kiếm giữa Rhett và anh trai của Belle Watling, Shadrach. Hà Linh trích dịch (Nguồn: nytimes) *** Dịch từ bản tiếng Pháp của dịch giả CAROLINE AUCHARD, do Nhà xuất bản PIERRE BELFOND ấn hành, có tham khảo nguyên bản tiếng Anh của Alexandra Ripley, Nhà xuất bản WARNER BOOKS Dịch giả: Khắc Thành, Thanh Bình, Anh Việt Lời nhà xuất bản Năm 1987, Nhà xuất bản Văn học bắt đầu cho ra mắt bạn đọc bộ "Cuốn theo chiều gió" của nhà văn Margararet Mitchell. Bản dịch của Dương Tường.  Đây là một bộ sách lớn không phải chỉ của nền văn học cổ điển Mỹ mà ý nghĩa của nó đã vang rộng trên toàn thế giới. "Cuốn theo chiều gió" của Margaret Mitchell thực sự đã trở thành tài sản của mọi người trên hành tinh chúng ta. Nó được in đi, in lại nhiều lần ở nhiều nước khác nhau. Và ở Việt Nam, số lượng in lần đầu tiên lên đến con số kỷ lục hồi ấy: 60.000 bản.  Năm nay, trong kế hoạch của mình, thông qua Cục xuất bản cho phép in bộ "Hậu cuốn theo chiều gió" A. Ripley một nhà văn nữ đã lọt vào vòng chung kết và bản thảo của bà được Hội đồng chấp nhận. Trên nhiều mặt: "Hậu cuốn theo chiều gió" đã phát triển được một cách nhuần nhuyễn bộ "Cuốn theo chiều gió", của M. Mitchell nhưng cũng có những mặt A. Ripley phát triển gần với văn học hiện đại hơn. Điều này phù hợp với xu hướng chung của nguởi đọc hiện nay. Và thực chất nó đã thu hút mạnh mẽ bạn đọc của toàn thế giới. Tất nhiên, cũng không phải không có những độc giả không hàì lòng với bộ "Hậu cuốn theo chiều gió" của A. Ripley. Nhung đấy là số ít, không đáng kể so với con số triệu triệu độc giả đang háo hức chào đón nó. Lần này chúng tôi mời một số nhà dịch thuật trẻ, đã từng dịch qua nhiều bộ sách có giá trị, đã được nhiều nhà xuất bản ấn hành. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn thận trọng và quyết định mời giáo sư Lê Trí Viễn, giáo sư Huỳnh Lý cùng với nhà dịch thuật quen thuộc với bạn đọc cả nước ông Hồng Điểu hiệu đính. Ba học giả này đã làm việc công phu và rất thẳng thắn. Bản dịch lần này theo bản tiêng Pháp, có tham khảo bản tiếng Anh. Mặc dù làm việc hêt sức cẩn thận, tỉ mỉ, chúng tôi vẫn chưa thể nào coi đây là một bản dịch hoàn hảo. Chắc chắn bản dịch sẽ còn nhiều sơ sót. Nhà xuất bản rất mong nhận được những đóng góp của tất cả mọi độc giả để lần tái bản sau bản thảo được hoàn thiện hơn. Một lần nữa Nhà xuất bản xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ chân tình của độc giả lâu nay vốn yêu mến Nhà xuất bản. Nhà xuất bản Văn Học, Hà nội, 2004 *** Mọi việc rồi sẽ sớm kết thúc thôi và ta có thể trở về nhà, ở Tara. Scarlett O Hara Hamilton Kennendy Butler đứng tách riêng một mình, cách vài bước những người, cũng như nàng, đã đến dưới cơn mưa tầm tã, để tiễn đưa Mélanie Wilkes. Dưới những chiếc ô cũng một mầu đen, những người đàn ông đàn bà mặc đồ đen đứng nép vào nhau, sụt sùi khóc chia nhau chỗ trú mưa cùng nỗi đau đớn. Scarlett chẳng chia ô và niềm đau với một ai cả. Gió cứ từng cơn giật mạnh dưới chiếc ô, hắt một thứ nước lạnh buốt chảy dọc suốt cổ nàng, song nàng vẫn không hề hay biết. Tê dại trước sự mất mát vừa nếm trải, nàng cảm thấy trống rỗng. Nếu có thể chịu đựng được đau đớn này nàng sẽ khóc ngất. Còn giờ đây, nàng như mất trí, không cảm được cả nỗi đau, cảm xúc và suy nghĩ. Trong tâm trí nàng, chỉ luôn vang lên lời cầu mong có chút sức tàn để sống cho đến ngày nỗi đau dịu bớt đi. Mọi việc rồi sẽ sớm kết thúc thôi và ta có thể trở về nhà, ở Tara, và tro bụi sẽ trở về với tro bụi, cát bụi sẽ trở về với cát bụi… Giọng vị mục sư thấm tận cõi lòng tê tái của nàng và Scarlett thấu hiểu lời ông ta. Không! Nàng kêu lên không thành tiếng. Không thể là Melly được. Không phải là ngôi mộ của Melly, cái huyệt thì quá lớn còn Melly lại quá nhỏ bé, nắm xương của nàng nào có hơn gì xác một con chim. Không! Melly không thể chết, không thể chết được. Scarlett giật thót người quay ngoắt đi không dám nhìn cái miệng huyệt đang tông hốc đón lấy chiếc quan tài đơn sơ bằng gỗ thông được thả xuống. Tiếng búa nện chan chát hằn những vệt tròn lồ lộ quanh các lỗ đinh trên nắp quan tài đóng chặt, không thể nào nhìn thấy khuôn mặt dễ thương và dịu hiền của Mélanie đâu nữa. Không! Các người không thể làm thế được. Trời đang mưa. Các người không thể đặt nàng nằm đó, cơn mưa này sẽ phủ ngập nàng mất. Nàng đang rét buốt xương mà, không thể bỏ nàng dưới cơn mưa lạnh lẽo này được. Ta không thể nhìn, không thể chịu đựng được điều ấy, ta không thể tin rằng nàng lại từ bỏ chúng ta. Nàng yêu ta, nàng là bạn của ta, là tri kỷ của ta. Melly yêu ta, nàng sẽ không bỏ ta vào lúc ta cần đến nàng nhất. Scarlett đưa mắt nhìn đám người đứng chung quanh ngôi mộ và nàng bỗng giận sôi lên. Không ai trong đám họ yêu nàng hơn ta, không một ai trong đám họ mất mát nhiều như ta. Không ai biết ta yêu nàng đến nhường nào. Ngoại trừ… Melly phải không? Nàng biết điều ấy, ta tin là nàng biết rõ điều đó. Mời các bạn đón đọc Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió của tác giả Alexandra Ripley & Khắc Thành (dịch) & Thanh Bình (dịch) & Anh Việt (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tiểu Thư Victoria
Trong tác phẩm Tiểu thư Victoria, Hamsun miêu tả câu chuyện tình bi thảm của giới trẻ, ý thức của họ về mất mát và khao khát, với sự đồng cảm và chia sẻ. Đó là câu chuyện tình yêu lãng mạn, say đắm của Johannes - con trai một thợ xay bột mì nghèo và nàng Victoria xinh đẹp, con gái một chủ lâu đài. Nhưng số phận trớ trêu đã khiến họ không thể đến được với nhau. Những định kiến xã hội về tầng lớp, gia đình và những biến cố dữ dội xảy ra trong cuộc đời Victoria đã đem lại một câu chuyện buồn... Chuyện hấp dẫn người đọc với đầy đủ trạng thái của cảm giác, với hình ảnh sinh động và ngôn ngữ đầy sáng tạo. *** Knut Hamsun tên thật là Rnud Pedersen, (04.8.1859 - 19.02.1952) nhà văn Na Uy đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Ông là nhà văn làm đổi mới văn xuôi Na Uy và là người luôn cố gắng thể hiện đời sống tâm hồn vô thức.   Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Một số tác phẩm: - Den Gaadefulde. En kjærlighedshistorie fra Nordland (Con người bí ẩn, dưới tên Knud Pedersen, 1877), tiểu thuyết - Bjørger (dưới tên Knud Pedersen Hamsund, 1878), tiểu thuyết  - Fra det moderne Amerikas Aandsliv (Cuộc sống tinh thần của xã hội Mỹ hiện đại, 1889), tiểu luận  - Sult (Đói, 1890), tiểu thuyết  - Fra det ubevidste sjaceleliv (Từ cuộc sống vô thức của tâm hồn, 1890), tiểu luận  - Mysterier (Những điều bí ẩn, 1892), tiểu thuyết  - Redaktør Linge (Biên tập viên Linge, 1893)  - Ny Jord (Đất mới, hoàn tất năm 1893)  - Pan (Quý ngài, 1894), tiểu thuyết  - Ved Rigets Port (Nơi cổng vương quốc, 1895), kịch  - Livets Spil (Trò đời, 1896)  - Aftenrøde. Slutningspil (Hoàng hôn, 1898), kịch  - Victoria. En kjærlighedshistorie (Victoria, 1898), tiểu thuyết  - Munken Vendt. Brigantines saga I (1902), kịch thơ  - Det vilde Kor (Bản hợp xướng hoang dã, 1904), thơ  - Under Høststjærnen. En Vandrers Fortælling (Dưới ngôi sao mùa thu, 1906), tiểu thuyết  - Benoni (1908), tiểu thuyết  - En Vandrer spiller med Sordin (Kẻ lang thang chơi đàn không dây, 1909), tiểu thuyết  - Den sidste Glæde (Niềm vui cuối cùng, 1912), tiểu thuyết  - Børn av Tiden (Những đứa con của thế kỉ, 1913), tiểu thuyết  - Segelfoss By (Thị trấn Segelfoss, 2 tập, 1915), tiểu thuyết  - Markens Grøde (Nhựa của đất, 2 tập, 1917), tiểu thuyết  - Konerne ved Vandposten (Những người đàn bà bên giếng, 2 tập, 1920), tiểu thuyết  - Siste Kapitel (Chương cuối, 2 tập, 1923), tiểu thuyết  - Landstrykere (Những kẻ lang thang, 2 tập, 1927), tiểu thuyết  - August (Tháng Tám, 2 tập, 1930), tiểu thuyết  - Ringen sluttet (Vòng vây đã khép, 1936), tiểu thuyết  - Paa gjengrodde Stier (Theo lối mòn hoang, 1949) *** Con trai người thợ xay bột mì vừa đi vừa suy nghĩ. Đó là một cậu bé có đôi vai rộng, khoảng mười bốn tuổi, da rám cháy vì gió và mặt trời, là một người có tài phịa ra đủ các chuyện. Lớn lên, cậu sẽ theo nghề làm diêm. Nghề này rất nguy hiểm, không thể đùa với nó được, vì hễ để lưu huỳnh dính vào các ngón tay, sau đó sẽ không một người nào đủ dũng cảm chìa tay cho anh bắt. Thế nhưng anh lại được bạn bè kính trọng vì thông thạo một nghề đáng sợ như vậy. Cậu vào rừng thăm các con chim của mình. Chim chóc ở đây đều là bạn cũ của cậu, cậu biết chỗ chúng làm tổ, hiểu ngôn ngữ chúng và biết bắt chước tiếng chúng để trả lời. Cậu thường cho chúng ăn các viên bột mì được xay ở chiếc cối xay nhà cậu. Những hàng cây mọc theo lối đi cũng là bạn cũ của cậu. Mùa xuân cậu lấy nhựa cây, còn mùa đông thì cậu chăm sóc chúng một cách tận tâm, rung tuyết khỏi cành để chúng khỏi gãy vì nặng. Thậm chí ở tít trên đỉnh núi, trong cái hang trước kia là nơi khai thác đá, không có hòn đá nào cậu không biết rõ. Cậu khắc chữ lên mặt các phiến đá rồi xếp lại theo thứ tự: tảng lớn chính giữa là ông linh mục, còn các tảng bé xung quanh là các con chiên ngoan đạo. Nói chung, cái hang đá bị bỏ quên này đã được chứng kiến đủ các trò chơi lạ lùng của cậu. Lúc này cậu đang rẽ sang bên và đi xuống bờ đập. Bánh xe của chiếc cối xay chạy bằng nước đang quay, tạo nên những tiếng ồn kinh khủng. Cậu thường đi dạo ở đây, vừa đi vừa nói chuyện thành tiếng với chính mình. Cậu có cảm giác như mỗi chiếc bong bóng nhỏ đều có cuộc sống riêng của mình, và có thể nói về một điều gì đấy, còn dòng nước tràn qua đập đổ xuống thì mỏng và thẳng đứng như những bó sợi trắng lấp lánh treo trên dây. Ở quãng sông phía dưới bờ đập có cá, và cậu đã nhiều lần tới câu ở đó. Lớn lên, cậu sẽ làm nghề thợ lặn. Chỉ làm nghề thợ lặn thôi, chứ không làm gì khác. Từ boong tàu, cậu sẽ nhảy ùm xuống biển để lạc vào một thế giới kì diệu, nơi các con sóng làm đung đưa các khu rừng hoang dã, còn tận dưới đáy là một lâu đài nguy nga bằng san hô, sẽ có một công chúa đứng bên cửa sổ lâu đài vẫy tay bảo cậu: "Mời chàng vào!"... Nhưng đúng lúc ấy cậu bỗng nghe có tiếng người. Đó là tiếng bố cậu đang gọi to: "Juhannes!". - Có người từ lâu đài tới tìm con. Họ cần người chở các cô cậu sang đảo. Juhannes vội rảo bước về phía lâu đài. Thế là cậu con trai của người thợ xay bỗng nhiên nhận được một ân huệ lớn. Trong thực tế, khu nhà của ông chủ trông chẳng khác gì một lâu đài nhỏ, một lâu đài đơn độc, huyền ảo giữa rừng xanh. Một dãy các cửa sổ hình bán nguyệt chạy dài theo tường và mái nhà dốc đứng của ngôi nhà gỗ được quét sơn trắng. Mỗi lần có khách, một ngọn cờ được cắm trên đỉnh chiếc tháp hình tròn. Khu nhà này được nhân dân trong vùng gọi là lâu đài, với một bên là bờ vịnh, bên kia là rừng rậm, còn thấp thoáng phía xa là những túp lều nông dân nhỏ bé. Juhannes gặp đám trẻ con nhà quyền quý ở bến và giúp chúng lên thuyền. Cậu biết chúng từ lâu - đó là con của ông chủ lâu đài và các bạn bè của họ từ thành phố tới. Mọi người đều đi giày cao cổ, và khi thuyền tới đảo, chỉ một mình Victôria - lúc ấy mới mười tuổi - đi đôi giày bé tí, nên chắc ai đó phải bế cô lên bờ. ... Mời các bạn đón đọc Tiểu Thư Victoria của tác giả Knut Hamsun.
Tiếng Nói Trong Nhà
Tiếng nói trong nhà được giải Nobel vǎn chương nǎm 1938. Jessica là con gái của bà bếp và người lái xe cho luật sư William Asher, ở Manchester, Vermont, Mỹ.  Khác với bố mẹ là những người quê mùa cục mịch, Jessica rất thanh mảnh, xinh đẹp. Lớn lên trong khu nhà của chủ nhân, Jessica được ông bà William thương mến, được gởi vào trọ học tại một Dòng Tu Nữ ở Canada. Cô hằng nuôi mộng được là con gái của chủ nhân.  Đến tuổi cập kê, Jessica bị mẹ ép gả cho Herbert, anh tài xế mới (thay thế cho bố cô đã từ trần). Bất mãn vì phải lấy một anh chàng thô lỗ, vô học, người ngợm như một con gấu, chỉ biết tình dục là trên hết, Jessica đã hoá điên.  Trong những lúc điên loạn, cô phát ngôn bừa bãi, và gieo vào lòng mọi người trong nhà mối nghi ngờ về mối quan hệ bất chính giữa cô và Edwin, cậu con trai thứ của ông William, cũng như giữa cô và ông chủ.  Phải chǎng đó là phản ứng qua mạnh của Jessica về một mộng mơ không được thoả mãn.  *** Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ già; Những mảnh hồn sầu xứ.” *** N gôi nhà đồ sộ đứng sừng sững trên một đỉnh đồi ven biên thành phố Manchester, trong vùng Vermont. Đó là một trang viên cũ kỹ xây cất từ một thế kỷ nay, trước khi người đàn bà cuối cùng của dòng họ Winsten qua đời, và trước ngay người con gái của bà, cô Elinor kết hôn với ông William Asher. Dù ngôi nhà từ đó đã qua tay chủ khác, vẫn được người trong vùng gọi bằng tên cũ ngày xưa. Ông William đâu bận tâm về điều đó. Đánh mất danh hiệu của mình trong một ngôi nhà đã mang tên người khác, đó là điều ông không nghĩ đến. Ông thích ngôi nhà vì nó là như vậy. Nhờ có tâm hồn quảng đại mà ông giữ được bản lĩnh thoát mọi ảnh hưởng khách quan, và vui vẻ hòa mình vào sự nghiệp của bà Elinor. Tại Long Island còn có một ngôi nhà của dòng họ Asher, ông William có thể giữ nó lại với tư cách là con trai duy nhất trong gia đình, song ông đã bán đi sau ngày cha mẹ ông qua đời mà không hối tiếc. Ông đã trải qua những mùa hè dịu dàng và xanh mượt thời thơ ấu tại xứ Vermont, nên ông đã làm quen và ưa thích thành phố Manchester với những ngọn đồi yên tĩnh bao quanh.   Ngôi nhà của dòng họ Winter rất kiên cố và rộng mênh mông, các thế hệ đã nối tiếp nhau sinh sống ở đó, không phải sửa sang gì thêm. Người sáng lập, ông Adam Winsten, từ đầu thế kỷ 19, trước khi qua đời đã tự cho mình có trách nhiệm phải có đủ chỗ cho con cái ông: tất cả 12 đứa, trong đó có 9 đứa đã đến tuổi trưởng thành. Mặc dù ông có ý mở rộng thêm ra mãi, các cháu ông vẫn cảm thấy thiếu chỗ ở, và thiên cư gần hết về hướng tây. Nhờ mỏ vàng và thiết lộ, các cháu ông đã làm giàu nhanh chóng, đến độ về sau họa hoằn mới nhớ đến nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Trong thế kỷ trước, dòng họ Winsten, người này kế tiếp người kia, cho đến đời ông Adam Winsten, là người cuối cùng có vóc dáng của cây du khô héo trong mùa đông, và là thân sinh của cô Elinor. Không đứa nào trong các con ông muốn giữ một gia cư quá rộng như thế, đến nỗi kẻ đến xin giúp việc trong nhà, chỉ nhìn thấy những mái nhà vô tận, cũng tự động rút lui. Các con trai và con dâu của ông từ chối giữ lại bà già nấu ăn, tên là Bertha, vì bà đã ở quá lâu năm trong nhà.   Dần dần tất cả đều bỏ đi, trừ cô Elinor, người con út, mẹ cô và bà Emma, người chị em bạn dì già yếu, là ba người sống luôn luôn ở đó. Trong thơi gian ấy, hết mùa hè nọ đến mùa hè kia. Ông William ngày một say mê cô Elinor tha thiết. Họ đã kết hôn cách rất đơn giản ít lâu sau khi bà Winsten qua đời: Bà này đã bị sốc mạnh trong một buổi chiều xuân, khi bà cố sửa những bụi hoa hồng rậm rạp của bà. Sau đám cưới của họ, ba Emma tuyên bố ý định về sống ở New York. Bà luôn ước mơ điều ấy, và với số tiền bà Winsten quá cố đã để lại cho bà, đủ để bà thực hiện ước vọng đó.   Cô Elinor và cậu William thừa hưởng ngôi nhà. William rất ưa thích ngôi nhà này, vì ông yêu mến xứ sở này. Trước kia ông thương tiếc rẻ vì trong mùa he chỉ đến đó chốc lát với gia đình thôi. Ông mở một văn phòng nhỏ ở Manchester, cạnh cổng trường luật Harvard, và ông tiếp tục giữ nó vì lý do tình cảm, mặc dù hiện tại và nhiều năm về sau, là một luật sư nổi tiếng, văn phòng chính của ông đặt tại New York. Ông đã do dự khi chọn giữa Boston và New York, nhưng dòng họ Asher đến từ New York và tiếp tục đời sống luật sư ở đó, tạo nên một liên hệ mật thiết giữa xưa và nay. ... Mời các bạn đón đọc Tiếng Nói Trong Nhà của tác giả Pearl S. Buck.
Tầng Đầu Địa Ngục
Bản dịch khác: Vòng Đầu Tác giả: Aleksandr Solzhenitsyn NXB Ngàn Khơi, 1971 Dịch giả: Vũ Minh Thiều Nguyên tác: В круге первом (1968) Tác phẩm Tầng đầu địa ngục do Nhà xuất bản Đất Mới chúng tôi gửi tới tay bạn đọc được dịch theo bản Anh văn The First Circle do Nhà Bantam Books ấn hành. Quyển này dày 674 trang và gồm 87 chương. Như các bạn đã thấy, tiểu thuyết Tầng đầu địa ngục của Aleksandr I. Solzhenitsyn diễn tả cuộc sống mất tự do trong tù ngục của những chính trị phạm Nga trên Liên bang Xô Viết. Chính tác giả từng sống trong những ngục tù này nên những gì ông viết lại đều rất trung thực, rất sống, làm rung động tâm hồn người đọc. Trong truyện, ông viết lại cuộc đời của rất nhiều tù nhân, mỗi tù nhân là một trường hợp đặc biệt, một cảnh ngộ riêng. Vì muốn diễn tả thật nhiều trường hợp bị tù đày nên trong The First Circle có quá nhiều nhân vật không liên lạc gì đến cốt truyện. Với mục đích làm cho cốt truyện được đúc kết hơn, có liên lạc hơn, chúng tôi đã lược bỏ một số trang khi dịch The First Circle sang Tầng đầu địa ngục. Việc lược bỏ của chúng tôi chỉ làm cho tác phẩm thêm trong sáng, chặt chẽ, cốt truyện vẫn còn nguyên, những nhân vật chính vẫn có đủ mặt. Giá trị văn chương của The First Circle, qua bản dịch của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, chỉ có tăng chứ không giảm. Chúng tôi mong bạn đọc nhận xét, so sánh, nhận biết sự cố gắng của chúng tôi và đồng ý với chúng tôi rằng khi chuyển ngữ một tác phẩm tiểu thuyết ngoại ngữ sang tiếng Việt, đôi khi việc lược bỏ vài đoạn không liên hệ đến cốt truyện là việc làm cần thiết và hợp lý. Trân trọng cám ơn bạn đọc. Nhà xuất bản Đất Mới. *** Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn là nhà văn, nhà viết kịch của Liên Bang Xô Viết và Liên Bang Nga đoạt giải Nobel Văn học năm 1970. Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn sinh ở Kislovodsk, vùng bắc Kavkaz. Bố mất khi Solzhenitsyn chưa sinh, mẹ đi làm nghề đánh máy để nuôi con. Năm 1925 hai mẹ con chuyển về thành phố Rostov-trên-sông-Đông (Rostov-na-Donu). Từ năm 1926 đến 1936 học ở trường phổ thông thường bị bạn bè chế diễu vì đeo thập tự và không muốn vào Đội thiếu niên Lenin. Sau đó, nghe theo lời khuyên của các thầy cô giáo, Solzhenitsyn đã tiếp nhận lý tưởng cách mạng, năm 1936 vào Đoàn thanh niên cộng sản Komsomol. Từ nhỏ Solzhenitsyn đã muốn trở thành nhà văn nhưng có năng khiếu toán học nên năm 1936 ông theo học khoa Toán trường Đại học Rostov để sau này dễ kiếm việc làm. Những năm học ở Đại học Rostov, Solzhenitsyn luôn là sinh viên xuất sắc, được nhận học bổng Stalin.   Năm 1970, Alekxandr Solzhenisyn được tặng giải Nobel nhưng ông không đến Thụy Điển nhận lễ trao giải vì sợ sau đó không trở về nước được; hai năm sau ông mới đến nhận giải và đọc Diễn từ. Năm 1974, sau khi công bố bản tuyên ngôn Không sống bằng dối trá (Жить не по лжи) và cho in tác phẩm Quần đảo GULag (Архипелаг ГУЛаг) ở Paris, Solzenitsyn bị bắt, bị nhà nước Liên Xô tước quyền công dân và bị trục xuất sang Cộng hòa Liên bang Đức, sau đó ông định cư ở Hoa Kỳ. Bản tuyên ngôn Không sống bằng dối trá được viết ngay trước khi ông bị trục xuất khỏi nước Liên Xô đã thể hiện tâm tư của ông, có đoạn viết Chúng ta đã bị phi nhân tính một cách tuyệt vọng tới mức chỉ vì một khẩu phần ăn khiêm tốn hàng ngày cũng sẵn lòng đánh đổi mọi nguyên tắc của mình, tâm hồn của mình, những nỗ lực của tiền nhân và cơ hội dành cho hậu thế - cốt sao sự tồn tại mong manh của mình không bị phá vỡ. Chúng ta chẳng còn lấy một chút vững vàng, một chút tự hào và một bầu nhiệt huyết. Chúng ta thậm chí còn chẳng sợ cái chết vì vũ khí hạt nhân, không sợ thế chiến thứ ba (còn có thể trú ẩn trong những kẽ hầm mà!), thế nhưng lại sợ những hành động can đảm của công dân! Bài viết này được các báo chí trên thế giới đăng lại hoặc nhắc đến, gồm The Washington Post [2], Time [3]. NewYork Times [4] *** Đôi kim đồng hồ chỉ bốn giờ năm phút. Trong ánh sáng hấp hối của một ngày tháng Chạp, mặt đồng của chiếc đồng hồ đặt trên giá trông như có màu đen. Hai cánh cửa kiếng của khung cửa sổ cao nhìn xuống dãy phố đông đảo, nhộn nhịp bên dưới, nơi những người gác cửa đang dồn những mảnh tuyết nâu lại thành từng đống, tuyết tuy mới rơi nhưng đã ướt và dơ bẩn, những cây cào gỗ đẩy tuyết ngay dưới chân những người qua đường. Innokenty Volodin, cố vấn Quốc gia đệ nhị, nhìn ngây xuống cảnh đó nhưng không ghi nhận gì hết, chàng đứng dựa vài vào thành cửa sổ, miệng khẽ huýt gió một điệu nhạc mệt mỏi. Những ngón tay chàng lật mở từng từ giấy trắng bóng, in sặc sỡ nhiều màu của một tập san ngoại quốc. Nhưng mắt chàng cũng không nhìn thấy những hình ảnh in trên những trang báo đó. Cố vấn Quốc gia đệ nhị hạng Innokenty Volodin, chức vụ này của chàng trong ngành ngoại giao tương đương với cấp Trung tá trong quân đội, là một thanh niên cao và mảnh mai. Không bận đồng phục và bận bộ y phục may bằng một thứ hàng len dệt, trông chàng có vẻ là một công tử hào hoa hơn là một viên chức trung cấp trong Bộ Ngoại giao. Bây giờ đã đến lúc chàng phải bật đèn trong văn phòng nếu chàng muốn ở lại làm việc ngoài giờ, nhưng chàng không bật đèn, hoặc rời văn phòng để về nhà. Chàng cũng không để lộ vẻ gì là sửa soạn ra về. Bốn giờ chiều không có nghĩa là giờ làm việc trong ngày đã hết, bốn giờ chiều chỉ có nghĩa là ánh sáng của một ngày đã tắt, hoặc mờ đi, vào giờ nay tất cả mọi người đều về nhà ăn bữa tối để rồi bắt đầu từ mười giờ đêm, cả ngàn khung cửa sổ của sáu mươi nhăm cơ quan chính phủ ở Mạc Tư Khoa lại sáng đèn. Chỉ có một người, một người mà thôi, sống ở giữa khoảng một tá tường thành ở Mạc Tư Khoa, không ngủ được ban đêm, và người này đã làm cho tất cả những viên chức chính phủ lớn nhỏ ở Mạc Tư Khoa cũng phải thức với y cho tới ba, bốn giờ sáng. Vì đã biết rõ thói quen thức đêm của Vị Chúa Tể, đêm nào cũng vậy, khoảng ba mươi ông Tổng trưởng ngồi như những chú học trò được gọi đến tên. Để cho khỏi buồn ngủ, những ông Tổng trưởng này hành hạ những ông phụ tá, những ông phụ tá hành hạ những ông trưởng phòng và những nhân viên phụ trách lưu trữ hồ sơ vất vả leo lên những bậc thang mở những ô kéo tìm những tấm phiếu lý lịch hồ sơ, trong hành lang có những viên thư ký hấp tấp đi lại và trong văn phòng có những viên thư ký hồi hộp làm gãy những ngọn viết chì. ... Mời các bạn đón đọc Tầng Đầu Địa Ngục của tác giả Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn.
Bàn Có Năm Chỗ Ngồi - Nguyễn Nhật Ánh
Tác giả quen thuộc của thiếu nhi, của tuổi ô mai. Những tập truyện của anh luôn dí dỏm, hài hước, đem lại nhiều cảm xúc, nhiều bài học nhẹ nhàng cho lứa tuổi học trò. Hãy đọc để cùng gặp những nhân vật rất dễ thương, hoặc phải vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, hoặc sẵn lòng chia sẻ với bạn bè, người thân… Thậm chí cả những nhân vật tạm gọi là “phe xấu” với nhiều trò đùa nghịch… cũng mang dáng dấp hồn nhiên. Tất cả hướng về Chân - Thiện - Mỹ. Họ là năm người bạn với năm cá tính và hoàn cảnh khác nhau cùng chung trong một lớp học. Những trò nghịch ngợm trẻ con đôi khi gây ra mâu thuẫn, nhưng trên tất cả đó là những đứa trẻ ham học, giàu lòng nhân ái và biết quan tâm đến bạn bè. Cảm thông với hoàn cảnh của nhau, từng bạn nghĩ ra cách giúp đỡ bạn mình theo khả năng để tình bạn ấy lớn dần theo năm tháng. *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... Tác phẩm mới nhất của Nguyễn Nhật Ánh được NXB Trẻ ấn hành mang tên Ngồi khóc trên cây, xuất bản ngày 27 tháng 6 năm 2013. *** Kể từ ngày đi xem triển lãm về, tật làm biếng rời bỏ tôi, tất nhiên không phải cùng một lúc. Với những chuyện đã trải qua trước đó, tôi cũng mơ hồ nhận ra rằng chỉ có siêng năng, chịu khó mới thành công ở đời (thằng Quang là một tấm gương trước mắt, kể từ ngày kiên trì học nhóm, nó tiến bộ thấy rõ) và tính lười nhác không được ai nể nang. Nhưng phải đến khi "gặp" bà Võ Thị Thơi thì mọi chuyện mới rõ ràng đối với tôi. Từ việc học tập, lao động đến sinh hoạt, kiểm điểm lại, tôi thấy mình còn thua xa so với thiên hạ. Đầu đuôi cũng tại tôi ít chịu cố gắng. Tôi nhớ lại chuyện thằng Thành hôm trước. Nó với thằng Tú đều ở tổ mười, đều nghịch như nhau, nhưng thằng Tú nghịch mà siêng, còn Thành thì lười. Nó lười còn "ác" hơn tôi. Ai đời trực quét sân mà nó bỏ tới ba buổi liền. Thầy Dân nhắc nhở, cảnh cáo hai, ba lần nó vẫn không chừa. Tới lần thứ ba, thầy Dân gởi sổ liên lạc về nhà mời ba nó lên. Nó giấu biến sổ và nói dối thầy là ba nó bận. Thầy Dân tới nhà, mới rõ đầu đuôi sự việc. Thế là thằng Thành bị đưa ra hội đồng kỷ luật nhà trường. Bữa đó ba nó phải hứa hẹn đủ điều, lại phải làm tờ cam đoan nữa, thằng Thành mới được học tiếp. Nghĩ tới chuyện đó, tôi phát ớn lạnh. Gì thì gì, tôi không bao giờ để bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Nghĩ tới cảnh ba tôi phải ngồi trong văn phòng ban giám hiệu, đau xót nghe các thầy cô kể tội con mình, tôi thấy thà độn thổ cho xong. Thấy tôi tự dưng đâm ra gọn gàng, ngăn nắp, chịu mó tay vô chuyện nhà, má tôi mừng lắm: - Thằng Huy độ rày thay đổi quá xá! ... Mời các bạn đón đọc Bàn Có Năm Chỗ Ngồi của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.