Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Frankenstein ở Baghdad

- John Schwartz, The New York Times Book Review “Suốt 200 năm từ khi Mary Shelley viết Frankenstein, con quái vật của bà đã tái xuất dưới vô vàn biến thể, song hiếm có biến thể nào trong số đó lại hoang dại hoặc đậm màu chính trị như con quái vật trong Frankenstein ở Baghdad của Ahmed Saadawi.” - Gregory Cowles, The New York Times “Mạnh mẽ… Siêu thực… Hài hước đen… Sử dụng một cách tài tình một nhân vật hung ác đầy kinh điển như Frankenstein trong một câu chuyện đặt ở thời hiện đại nhưng đầy chất ngụ ngôn.” - Chicago Tribune “Một thành tựu văn chương đáng kể, và, tiếc thay, đầy tính thời sự cấp thiết… Siêu thực, riết róng và thốn thấu… Kỳ lạ, tàn bạo, hài hước độc địa.” - Sarah Perry, The Guardian “Giở ra vì cốt chuyện hấp dẫn; đọc một lèo đến hết vì sự hài hước đen và cái nhìn choáng váng về bản chất con người.” - The Washington Post GIỚI THIỆU SÁCH: TÁC GIẢ: Ahmed Saadawi (sinh 1973‎) là một nhà văn, tác giả kịch bản và nhà làm phim tài liệu người Iraq. Ông đoạt Giải thưởng quốc tế Văn chương Ả-rập năm 2014 cho tiểu thuyết Frankenstein ở Baghdad. Ông hiện sinh sống và làm việc ở Baghdad. *** REVIEW “FRANKENSTEIN Ở BAGHDAD” – Ahmed Saadawi  December 17, 2022  No Comments Cuốn sách này của Ahmed Saadawi có một tựa đề đầy sức lôi cuốn và khơi dậy sự tò mò. Trong văn hóa đại chúng, “Frankenstein” của tác giả Mary Shelley vốn đã là cái tên khá nổi tiếng, mang tính biểu tượng về một con quái vật được tạo thành từ những bộ phận của các xác ch.ết. Ở đó, Mary Shelley cho chúng ta thấy nỗi đau của một con quái vật được đưa đến thế giới loài người, mong cầu tình thương nhưng nhận lại là sự hắt hủi, căm ghét, sợ hãi bởi hình dạng xấu xí và đáng sợ. Nhưng đó lại là câu chuyện riêng của con quái vật được sản sinh ra tại một đất nước thuộc châu Âu. Vậy nên bạn sẽ bất ngờ nếu “chạm trán” một “Frankenstein” trên đường phố Baghdad – thủ đô của Iraq, là một đất nước châu Á với cái tên khiến ta hay liên tưởng đến sự bất ổn về chính trị và quân sự. Sử dụng hình tượng “Frankenstein”, liệu thông qua đó Ahmed Saadawi muốn truyền tải điều gì trong tác phẩm này? “Frankenstein ở Baghdad” lấy bối cảnh tại thủ đô của Iraq vào năm 2003, đó là thời kỳ mà đất nước này diễn ra xung đột chính trị gay gắt giữa nhiều bên như chính phủ Iraq liên minh với quân đội Hoa Kỳ để chống lại dân quân Hồi giáo Shiite và Sunni. Đầu thế kỷ 21, khi mà phần đông các quốc gia trên thế giới đang được sống trong hòa bình, hợp tác cùng phát triển thì tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ (như Iraq) vẫn đang ầm ĩ tiếng b.om đ.ạn. Nếu bạn có một trái tim nhạy cảm, bạn sẽ phải thổn thức rằng vì đâu trong cùng một thời đại, có những người được sống những ngày tháng yên bình, thì lại có những người luôn phải sợ hãi khi tính mạng của họ bị đe dọa mỗi ngày. Và chắc chắn không ai có thể cảm nhận nỗi đau một cách chân thực nhất bằng những người trong cuộc, là người dân, những nạn nhân của những cuộc chiến phi nghĩa. Ahmed Saadawi – vừa là nhà văn vừa là đứa con của mảnh đất Baghdad, đã viết ra cuốn tiểu thuyết mà nó sẽ mang đến cho độc giả trên khắp thế giới cái nhìn rõ nét, đầy đau đớn về số phận con người và vùng đất nơi đây. Để thực hiện sứ mệnh của mình một cách hiệu quả, rõ ràng Ahmed Saadawi phải viết nên được một câu chuyện thật ấn tượng, với những chi tiết hư cấu hấp dẫn lôi cuốn được người đọc và làm sao để từ đó phản ánh thực tế một cách sinh động, khơi dậy được sự thấu hiểu và đồng cảm. Với mình thì Ahmed Saadawi đã làm được điều đó. Nó xóa tan trong mình nghi ngại rằng đề tài này cùng văn chương của một nhà văn Iraq sẽ khiến mình khó mà nuốt trôi. Như đã nhắc ở phần đầu, việc sử dụng lại một hình tượng khá nổi tiếng trong văn hóa đại chúng như “Frankenstein” không khiến cho cuốn tiểu thuyết trở thành một tác phẩm vay mượn hình tượng một cách nhạt nhòa, mà ngược lại Ahmed Saadawi đã biến nó trở thành thứ giúp ông truyền tải trọn vẹn nhất thông điệp của mình. Không khó để bắt gặp những hình ảnh, những yếu tố bạo lực trong tác phẩm. Nó xuất hiện nhan nhản từ đầu đến cuối: những vụ đánh b.om t.ự s.át, tr.a t.ấn, gi.ết người, hà.nh qu.yết,… Baghdad hiện lên trong mắt chúng ta như một nơi cực kỳ bạo lực và cực kỳ nguy hiểm. Trong hoàn cảnh đó, biểu tượng của tác phẩm xuất hiện một cách thần kỳ và đầy mong đợi, sự xuất hiện của một vị cứu tinh. “Frankenstein ở Baghdad”, “Kẻ Không Tên”, “Vô Danh” hay “Daniel” là những cái tên mà người ta gọi hắn. Hắn là tác phẩm của Hadi – một gã buôn đồ cũ với cái thói ba xạo. Thế nhưng lần này Hadi không nói xạo: quả thực đã có một Frankenstein do hắn tạo nên bằng cách ghép những bộ phận cơ thể còn sót lại của những người ch.ết trong các vụ bạo lực ở Baghdad, và bằng một cách nào đó nó có linh hồn và sống dậy. Nguồn gốc cơ thể của hắn đã đưa hắn đến một sứ mệnh, đó là trả thù cho những nạn nhân đã ch.ết và góp phần tạo nên cơ thể đó. Đến đây, có thể thấy “Frankenstein” này đã không còn giống như phiên bản của Mary Shelley mà chúng ta đã từng biết. Không ai có thể biết rõ ràng về hắn, cũng như không ai có thể khẳng định được rằng hắn có tồn tại hay không? Dẫu sự thật là như thế nào, thì mình tin ít nhất hắn có tồn tại như một biểu tượng. Hắn chính là “Baghdad”! Vâng, cuốn tiểu thuyết này thành công không phải vì nó chọn một vấn đề gây nhức nhối đó là chiến tranh ở Iraq, mà với mình đó là bởi tác giả đã quá tài tình khi dùng câu chuyện đầy yếu tố hư cấu để phản ánh góc nhìn của người trong cuộc về cái thực tế đang diễn qua. Ahmed Saadawi đã nhào nặn nên nhân vật “Frankenstein ở Baghdad” bằng tất cả những gì ông thấy, cảm nhận và khao khát ở Baghdad. Như nhân vật “thằng khùng” trong tác phẩm đã nhận định, “Vô Danh” chính là một “công dân Iraq đích thực đầu tiên”. Điều này đã làm cho mình vỡ lẽ ra lý do vì sao tác giả lại mượn hình tượng “Frankenstein” cho nhân vật của mình. Vì được ghép nối từ nhiều bộ phận khác nhau của nhiều nạn nhân, trong đó có nhiều loại người, tầng lớp, tôn giáo, sắc tộc khác nhau nên rõ ràng cơ thể của “Vô Danh” chính là một cơ thể chung mang tính đại diện cho con người Iraq. Do đó có thể nói hành trình đòi lại công lý của “Vô Danh” cũng chính là tiếng lòng đầy phẫn uất của người dân Iraq đang kêu gào vì nỗi đau mà những cuộc chiến tranh giành quyền lực phi nghĩa đã mang lại cho họ. Thế nhưng càng theo dõi hành trình của “Vô Danh”, ta lại càng nhận ra có cái gì đó không đúng. Khi mà hành động trả thù của hắn ngày càng tàn bạo, vượt quá giới hạn, đôi khi lại bất chấp đúng sai để rồi tự bao biện cho bản thân mình. Chi tiết này đã làm nổi bật lên một thông điệp khác mà Ahmed Saadawi muốn truyền tải đến mọi người: bạo lực chỉ nối tiếp và sản sinh ra bạo lực, ta dùng bạo lực để thực thi công lý nhưng hóa ra chỉ đang gây thêm sự chia rẽ và nỗi đau. Đó không phải là thứ Baghdad đang cần và không phải là thứ sẽ cứu rỗi được Baghdad. Nếu đọc xong tác phẩm và chiêm nghiệm lại, ta sẽ thấy Ahmed Saadawi thật tuyệt vời. Rõ ràng câu chuyện về một con quái vật được tạo ra để trả thù lại cái ác bằng những cách tàn bạo nhất (và luôn thành công) nghe thật thõa mãn và hấp dẫn có đúng không? Nhưng rồi Ahmed Saadawi lại dẫn ta về với chân lý, khiến ta nhận ra rằng hóa ra từ đầu chúng ta đang đi sai đường mất rồi. Nhìn nhận lại toàn tác phẩm, bên cạnh một số điểm mạnh khác như xây dựng nhân vật tốt, cách triển khai và kể chuyện đầy hấp dẫn, gãy gọn… mình vẫn ấn tượng nhất với cách hình tượng hóa thông điệp tác phẩm của Ahmed Saadawi. Đó chính là lý do vì sao mình dành gần như toàn bộ nội dung bài viết này để viết về nó. Không phải là những lời nói tuyên truyền sáo rỗng, càng không phải chỉ là những lập luận tố cáo tội ác đơn thuần, Ahmed Saadawi đã bắt tất cả mọi người phải nhìn nhận lại một cách đúng đắn về thực tế và số phận của Baghdad. Bạn sẽ bị cuốn hút bởi câu chuyện về con quái vật “Frankenstein” đột nhiên xuất hiện ở Baghdad, nhưng dần bạn sẽ hiểu ra và không còn quá quan tâm đến chuyện liệu con quái vật này có tồn tại thật không. Ahmed Saadawi đã cho mình thấy sức mạnh của văn chương, một phương tiện để con người phản ánh và chống chọi lại thực tế khắc nghiệt. Đây xứng đáng là một tác phẩm cần được đọc nếu bạn muốn tìm hiểu về đất nước Iraq và những bất ổn nơi đây. Với mình, “Frankenstein ở Baghdad” vừa là một tác phẩm hay và đủ hấp dẫn để giải trí, đồng thời cũng tràn đầy những thông điệp nhân văn và ý nghĩa để ta chiêm nghiệm về cuộc sống. Review của độc giả Phát Nguyễn – Nhã Nam reading club Mời các bạn mượn đọc sách Frankenstein ở Baghdad của tác giả Ahmed Saadawi & Tất An (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thiên Thần Nổi Loạn - Anatole France
“Thiên thần nổi loạn” là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của A. France, thời kỳ sau này. Arcade một thiên thần hộ mệnh giáng phàm, trên con đường  tìm kiếm tri thức khoa học và chân lý đã đảo tung một trong những thư viện tư lớn nhất Châu Âu. Anh cùng các đồng bạn thiên thần xây dựng một đạo quân “ô hợp bát nháo” cùng hướng đến một mục tiêu chống lại thiên giới và hệ thống tín điều Ki tô thủ cựu; chống lại sự giam hãm, áp đặt tư tưởng của Thiên Chúa; phá vỡ xiềng xích niềm tin để nhận thức được thăng hoa.  “Thiên thần nổi loạn” như muốn đưa một thông điệp với loài người bé nhỏ: đức tin là cần thiết, nhưng đấy phải là một đức tin được thanh lọc bằng những hoài nghi khoa học, bằng tinh thần thánh thiện, bằng chủ nghĩa nhân văn, bằng một thời đại với sự cải cách phục hưng mới. Với kiến thức uyên bác về lịch sử Pháp, lịch sử tôn giáo, đặc biệt am hiểu về văn chương, hội họa xuyên suốt từ cổ đại, trung cổ, phục hưng tới cận đại, với văn phong trác tuyệt, A.France đã khéo léo lồng ghép cái triết lý hoài nghi của mình vào tiểu thuyết, đưa học thức uyên bác kết hợp với nghệ thuật đả kích châm biếm đưa trí tưởng tượng kết hợp với hiện thực xã hội, đưa biên niên sử tôn giáo kết hợp với phóng tác văn chương, đưa Dionysus gặp gỡ các thánh Tông Đồ, đưa những linh vật giao du cùng ngoại đạo, tất cả những điều ấy đã đưa ông thành một nghệ sĩ bậc thầy về kể chuyện, đưa đến cho người đọc những áng văn tuyệt vời, làm người đọc đắm say. *** Anatole France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, ông sinh ở Paris ngày 16 tháng 4 năm 1844, ngày 13 tháng 10 năm 1924 ở Tours, Indre-et-Loire, Pháp. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì "những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực"… Đến năm 1922, sách của ông đã nằm trong danh sách cấm của Giáo Hội Công Giáo La Mã, bởi trước tác của ông chống lại sự mê hoặc tôn giáo, giáo điều chủ nghĩa; dưới ngòi bút châm biếm đả kích, trào lộng, A. France mỉa mai những luận điệu thần thánh, những thiết chế Nhà nước, những thối nát của nhà thờ cùng với sự đớn hèn của loài người.  Anatole France sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas. Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học). Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì "những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực".. A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire. Một số tác phẩm của tác giả Anatole France: Sách Của Bạn Tôi Không Đời Nào! Bông Huệ Đỏ Thiên Thần Nổi Loạn Các Hung Thần Lên Cơn Khát ... Mời các bạn đón đọc Thiên Thần Nổi Loạn của tác giả Anatole France.
Vịnh Tokyo - Anthony Grey
Tiểu thuyết lịch sử về các biến động tháng Bảy năm 1853, tàu chiến Mỹ làm chấn động nước Nhât, và gần đưa hai nứơc mỹ nhật tới chiến tranh *** Anthony Gray OBE là một nhà báo và tác giả người Anh. Là một nhà báo của Reuters, ông đã bị chính quyền Trung Quốc cầm tù 27 tháng tại Trung Quốc từ năm 1967 đến 1969. Ông đã viết một loạt tiểu thuyết lịch sử và sách phi hư cấu, bao gồm một số cuốn liên quan đến việc ông bị giam giữ. *** Nửa đêm, 7 tháng Bảy năm 1853 MỒ HÔI TRẮNG XOÁ TÚA RA TỪ LƯNG CON ngựa trạm gần như đang hấp hối khi chàng kị sĩ đội chiếc mũ trụ samurai thúc mạnh cựa giày vào nó và phóng như tên bắn vọt qua chiếc cầu vồng vắt qua vòng thành thứ ba phía trước toà thành trì đồ sộ của Shogun ở Yedo. Tới trước hàng lính gác mặc áo giáp chống giáo chắn ngang cánh cổng sắt nặng nề chàng kị sĩ hô vang: - Chokurei - da! Kinkyu Chokurei - da! Chàng rút ra từ dưới vạt áo chiến bào một cuộn giấy nhỏ được buộc bằng những sợi dây mạ vàng và giơ cao lên quá đầu. Những người lính gác đội mũ sắt mặc áo giáp bằng da và tre đã dợm chĩa mũi dáo về phía chàng, nhưng tiếng hô của chàng trai trẻ có vẻ là một samurai đã khiến họ dừng tay. Những lời chàng vừa hô là mật hiệu báo rằng chàng mang theo một "tin khẩn" do Hoàng đế gửi tới từ cung điện ẩn dật của Người ở Kyoto, cách Yedo ba trăm dặm về phía Tây nam. Và nữa, khi chàng đến gần hơn thì họ nhìn rõ ngôi sao sáu cánh, phù hiệu của thị tộc chàng được thêu bằng chỉ vàng trên vạt áo chiến bào jimbaory chỉ rõ rằng chàng là một nhà quý tộc ở đẳng cấp cao nhất. - Hayaku! Hayaku! Mau lên! Chàng khẩn thiết quát những tên lính gác đang lóng ngóng mở cổng và cố kìm con ngựa đang lảo đảo. Khe hở giữa hai cánh cổng vừa đủ rộng chàng đã thúc cho con ngựa chồm vọt qua hàng lính gác bên trong. Chàng dễ dàng vượt qua vài trạm gác nữa, mỗi lần lại hô vang và vung cao cuộn giấy, tận tới khi lên tới bậc thềm đá dẫn lên cửa chính của toà lâu đài. Đúng lúc chàng quăng người xuống khỏi yên thì con ngựa gục xuống, mép sùi bọt máu. Nhưng chàng samurai không hề liếc mắt nhìn lại, chàng nhảy vội lên bậc thềm đá, đôi song kiếm nhô ra khỏi tấm thắt lưng màu tro nhạt bó chặt lấy tấm kimono. Chàng giơ cuộn giấy có đóng triện của Hoàng đế cho viên chỉ huy đội vệ binh và ngay lập tức được đưa vào. Vừa đi vừa chạy, chàng vượt qua dãy hành lang lợp mái vòm cao, hai bên tường được dát toàn vàng lá. Nhảy ba bậc một, chàng đi sát vào bức tường trên có những hoạ tiết miêu tả cảnh những con chim huyền thoại đậu trên cành trúc và những rặng anh đào núi. Phía trên đầu, hàng xà gồ bằng gỗ được phủ lớp sơn mài hai màu đen và óng ánh vàng đỡ lấy mái vòm được trang trí tuyệt đẹp, nhưng chàng samurai trẻ tuổi chẳng hề liếc mắt đến tất cả những cái đó và chỉ dừng lại để hỏi những tên lính gác mặc đồng phục đứng dọc hành lang xem phải đi lối nào rồi lại hối hả bước đi. Khi đến trước cánh cửa của phòng Hội đồng Tướng quân, chàng tháo mũ trụ và rút cuộn giấy ra khỏi vạt áo chiến bào. Vẻ mặt khẩn cấp chàng trình bày với viên thị vệ trưởng của Hội đồng. Ngay sau đó chàng tháo zori và quỳ tiến vào trên đôi chân trần. Hàng trăm cặp mắt đổ dồn đầy dò hỏi khi chàng bước vào gian sảnh với vẻ mặt xanh tái. Tất cả bọn họ đều mặc những tấm áo daimyo rực rỡ, đó là những quận công đứng đầu các lãnh địa trên khắp đất nước Nhật Bản, tất cả bọn họ quỳ quanh một chiếc bệ cao đặt chính giữa. Shogun ngồi trên chiếc bệ đó. Các daimyo chỉnh tề trong bộ triều phục gồm áo choàng vai, quần lụa buông lá toạ, đầu đội mũ sơn mài sáng lấp lánh, họ kinh ngạc nhìn chàng quý tộc áo quần xộc xệch. Khi chàng phủ phục, đầu cúi xuống tận nền nhà họ mới nhìn thấy búi tóc trên đầu chàng cũng dính đầy bụi bặm và bê bết mồ hôi. Trước khi phủ phục chàng đã tháo hai thanh kiếm ra khỏi thắt lưng áo choàng và đặt chúng cùng chiếc mũ trụ xuống tâm tatami bên mình. Cũng giống như quần áo chàng, hai thanh kiếm cùng chiếc mũ trụ đều bê bết bùn đất. Shogun ngồi trên bục cao, im lặng nhìn và chờ đợi. Ông ngồi xếp bằng, tấm áo choàng bằng lụa xám khiến cho ông có dáng vẻ của Đức Phật. Mặc dù ông vẫn ngồi rất thẳng, nhưng gương mặt gầy của ông vẫn có một vẻ xanh xao khác thường và những giọt mồ hôi ướt đẫm trên trán cho thấy ông tựa như đang bị bệnh nặng. Sự xuất hiện đột ngột của chàng trai đang thở hổn hển kia đã gây nên một chớp nhoáng cảnh giác trong đôi mắt của Shogun, nhưng ông đã nhanh chóng lấy lại được vẻ bình thản và khẽ quay đầu lại. Tiếp nhận hiệu lệnh đó, một vị trong hàng các daimyo đang quỳ trước bệ bèn nhổm lên và cúi đầu xuống thật thấp hướng về phía Shogun. Rồi vẫn tiếp tục cúi đầu thật thấp ông ta lùi tiếp ra xa để người đưa tin trẻ tuổi có thể lách vào quỳ xuống và tự giới thiệu. - Tâu Đại Tướng quân, tôi là Tanaka Yoshio, hoàng tử thuộc thị tộc Kago, tỉnh Kumatore - Chàng samurai nói giọng sang sảng - Tôi được uỷ nhiệm mang tới trình Đại Tướng quân một tin thượng khẩn từ Đức Đại Hoàng đế ở Kyoto. Mời các bạn đón đọc Vịnh Tokyo của tác giả Anthony Grey.
Chậm Rãi - Milan Kundera
Chúng tôi nảy ra ý muốn nghỉ chiều và qua đêm tại lâu đài. Nhiều lâu đài ở Pháp đã biến thành khách sạn: một vùng cây cối lọt thỏm trong một vùng không gian trơ trụi, khô cằn; một khoảng nhỏ để đi dạo với chim muông, cây cỏ giữa một hệ thống đường cao tốc rộng lớn. Tôi đang lái xe, qua tấm kính hậu tôi nhận thấy một chiếc xe con chạy phía sau. Ngọn đèn nhỏ bên trái nhấp nháy, cả chiếc xe phả ra những làn sóng nôn nóng. Người tài xế đang tìm cơ hội để vượt qua tôi; anh ta quan sát lựa thời cơ giống như một con diều hâu lựa lúc lao xuống chụp con chim sẻ. Véra, vợ tôi, nói với tôi: “Cứ năm mươi phút lại có một người chết vì tai nạn giao thông ở Pháp. Nhìn mà xem, tất cả cái đám đông điên cuồng đang quay lượn quanh chúng ta. Đó cũng chính là những người đã tỏ ra thận trọng kinh khủng khi có một bà già bị móc túi ngay trước mặt họ ở trên phố. Làm sao họ lại không cảm thấy sợ hãi khi ngồi sau tay lái?” Tôi biết nói gì đây? Có thể là thế này: con người đang cúi gập mình trên chiếc xe máy chỉ có thể tập trung chú ý vào khoảnh khắc hiện tại anh ta đang lao xe đi; anh ta bị buộc chặt vào mảng thời gian bị cắt rời khỏi cả quá khứ và tương lai; anh ta bị dứt tung khỏi dòng chảy liên tục của thời gian; anh ta ở ngoài thời gian; nói cách khác, lúc đó anh ta đang trong trạng thái xuất thần, ở trạng thái đó anh ta không còn biết gì đến tuổi tác, vợ con, những nỗi âu lo của mình nữa cả, thế nên anh ta không thấy sợ, bởi vì nguồn gốc nỗi sợ là ở phía trước, phía tương lai, mà một người đã thoát khỏi tương lai thì không có gì phải sợ. Tốc độ là một hình thức xuất thần mà cuộc cách mạng kỹ thuật đã tặng cho con người. Ngược lại với người đi xe máy, người chạy bộ luôn luôn hiện diện trong cơ thể anh ta, buộc phải không ngừng nghĩ xem mình đã phồng chân, kiệt sức chưa; trong khi chạy anh ta cảm thấy trọng lượng, tuổi tác của mình, ý thức hơn bao giờ hết về bản thân và thời gian sống của mình. Mọi chuyện sẽ thay đổi khi con người giao phó khả năng tốc độ cho máy móc: kể từ khi đó, cơ thể riêng của anh ta bị đặt ra ngoài quá trình vận động, anh ta hiến mình cho cái tốc độ phi cơ thể, phi vật chất, tốc độ thuần túy, tốc độ tự nó, tốc độ xuất thần. *** Milan Kundera (sinh 1/4/1929 tại Brno, Cộng hòa Czech, định cư tại Pháp từ 1975) là một nhà văn lớn thế kỷ XX, một nhà tiểu thuyết có lối viết độc đáo, khác lạ. Tác phẩm của ông đã vào Việt Nam từ cuối thập niên 1990.  Tiểu thuyết “Sự bất tử” do tôi dịch đã đăng ở số 1 (1996) tạp chí “Văn học nước ngoài” của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1999 tiểu thuyết này cùng hai tiểu thuyết khác của Milan Kundera (“Chậm rãi”, “Bản nguyên”) cũng do tôi dịch đã được in thành sách dày 766 trang (Nxb Văn Học & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây).  Nhà văn Nguyên Ngọc đã dịch của Milan Kundera ba tập tiểu luận - “Nghệ thuật tiểu thuyết” (1998), “Những di chúc bị phản bội” (2001), “Một cuộc gặp gỡ” (2013) và một tiểu thuyết - “Lễ hội của vô nghĩa” (2015).  Dịch giả Cao Việt Dũng đã dịch của Milan Kundera ba tiểu thuyết – “Cuộc sống không ở đây” (2003), “Điệu valse giã từ” (2004), “Vô tri” (2010), một tập truyện ngắn – “Những mối tình nực cười” (2009) và một tập tiểu luận – “Màn” (2014).  Dịch giả Trịnh Y Thư ở Mỹ đã dịch của Milan Kundera tiểu thuyết “Đời nhẹ khôn kham” (2002), cuốn này vừa được in trong nước đầu 2018. Hôm nay, sau đúng hai mươi năm ra sách lần đầu, tôi đón nhận bản dịch “Sự bất tử” (496 trang) tái bản. Hai cuốn còn lại (“Chậm rãi” và “Bản nguyên”) sắp tới cũng sẽ ra lại. Cả ba cuốn này đều do Nhã Nam làm.  Nhà văn Nguyên Ngọc cho biết ba cuốn tiểu luận của Milan Kundera ông dịch cũng đang được công ty sách Bảo An Books xúc tiến tái bản. Các tác phẩm của tác giả Milan Kundera: Đời Nhẹ Khôn Kham Vô Tri Cuộc Hội Thảo Điệu Valse Giã Từ Những Di Chúc Bị Phản Bội Sẽ Không Ai Cười Chậm Rãi Sự Bất Tử Lễ Hội Của Vô Nghĩa Màn Một Cuộc Gặp Gỡ ... Mời các bạn đón đọc Chậm Rãi của tác giả Milan Kundera.
Bỏ Vợ - Hồ Biểu Chánh
Ông Ba Chánh năm nay vừa quá 50 tuổi, tóc đã bạc hoa râm, nhưng răng còn chắc chắn, sức còn mạnh mẽ. Ông goá vợ đã hơn 6 năm rồi. Trong nhà chỉ có một đứa con gái, là cô Huyền, được 21 tuổi. Ông quen với thầy Thanh, nhà ở một xóm, mà làm việc dưới Sài Gòn, thường hay tới lui đàm luận với nhau chơi. Cách vài năm trước, vì thầy Thanh làm mai nói dẻo dai quá, nên ông mới gã cô Huyền cho thầy Võ Như Bình, người mồ côi, gốc ở đâu dưới Hậu Giang, thi đậu bằng thành chung rồi làm việc trong một hãng buôn dưới Sài Gòn. Ông nghĩ thầy Bình thân phận côi cút lại là người có học thức, nên gả con ông cũng không đòi hỏi vật chi hết, đám cưới làm sơ sài, mời năm ba người quen đến ăn uống một bữa mà thôi, mà cũng không cần rước Chánh lục bộ đến lập hôn thú. Từ ngày cưới rồi thì thầy Bình về ở theo bên vợ. Thầy có sắm một cái xe máy, để mỗi buổi sớm mai thầy đạp đi xuống Sài Gòn làm việc, trưa thầy ăn cơm quán và ở nghỉ tạm tại nhà của người làm chung một hãng, đến chiều tối thầy mới về Chí Hòa. Thầy Bình ở với cô Huyền đã sanh được một chút con trai, đặt tên là Nghiệp, mới 10 tháng mà sổ sữa, ngộ nghĩnh, chẳm hẳm lắm... *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Bỏ Vợ của tác giả Hồ Biểu Chánh.