Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Oskeola Thủ Lĩnh Da Đỏ

TIỂU THUYẾT Số trang: 385 Khổ sách: 13x19cm NGUYỄN ĐỨC QUYẾT dịch NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP KIÊN GIANG - 1989 NGUYÊN BẢN Tiếng Anh Thomas Mine Reid “Oskeola, the Leader of Seminols” LỜI GIỚI THIỆU Tiểu thuyết Oskeola đến tay các bạn khi nó vừa tròn 130 tuổi. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng dư âm cuộc chiến hào hùng và bi thiết của một dân tộc thượng võ, yêu tự do chống tại xâm lăng da trắng bạo tàn và xảo quyệt vẫn dội lên trong trang sách của Thomas Reid. Thomas Mine Reid sinh năm 1818 tại Irland xác xơ, nghẽo đói. Là một người rất giàu nhân ái, Reidcăm thù tận xương tủy bạo lựcvà độc tài trên đất nưóc mình, từ bỏ sắc áo thầy tu tin lành mà cha ông đã định trước. Hai mươi hai tuổi. Reid vượt biển sang Mỹ Châu, bắt đầu cuộc sống mới đầy phiêu lưu sóng gió. Trước khi trở thành cây bút bênh vực các cựu chủ nhân bất hạnh trên Tân lục địa, tác giả của những “Kỵ sĩ không đầu'’. “Thiếu nữ Cvarteron “Thủ lĩnh trắng”. “Chiếc vòng vàng”. “Trườn trên vách đá... lừng danh thế giới. Reid đã trải khá nhiều nghề.. Dạy học, buôn bán, làm nhà báo, diễn viên... Đặc biệt, chính Reid một thời cũng đã từng là lính, trong một trận đánh ngập máu với người da đỏ ông bị trọng thương, vùi giữa đống xác người và đã bị báo tử trên báo chí. May thay. “Con người một đời hai lần chết” (theo cách gọi của chính Reid.) ấy đã không sớm giã biệt,cuộc đời, nếu không hậu thế hẳn đã phải chịu thiệt thòi - thiếu những tác phẩm đầy hào khí da đỏ của ông. Trước Reid đã không ít người viết về chiến tranh da đỏ. Nhưng những cuốn sách sặc mùi thực dân của họ. Thôngqua các captivity (tù binh của người da đỏ) và Indian hater (kẻ thù địch, bài xích người da đỏ)đã bóp méo lịch sử, trơ tráo bôi đen danh dự, đạo lý, phẩm cách của các dân tộc da đỏ. Thomas Reid đã không làm như vậy. Tác phẩm của ông thấm đượm thiên cảm nồng nhiệt và kính phục chân thành đối với một dân tộc cao thượng, quả cảm, khẳng khái, giàu tình yêu, nhưng lịch sửbất công đã đang tâm áp đặt số phận hẩm hiu. “Oskeola” là một tiểu thuyết sử thi, với thủ lĩnh huyền thoại mà lịch sử và nghệ thuật đã và còn truyền tụng. Trong cuộc đấu tranh bền bỉ, không cân sức của các dân tộc da đỏ chống lại người Mỹ da trắng tàn bạo, Oskeola nổi lên như một thủ lĩnh kiệtxuất. Là một người yêu nước nhiệt thành, một nhàquân sự tài ba, một nhà ngoại giao xuất sắc, một chiến binh quả cảm, một tâm hồn cao thượng, thủy chung... Oskeola đã trở thành linh hồn cho cuộc kháng chiến, là niềm tin yêu, kính trọng của cả cộng đồng, là mối khiếp sợvà nể phục đối với kẻ thù xâm lược cùng lũ tay sai phản bội đồng bào và là mối cảm hoài đầy thi hứng cho các thế hệ sau. Trong cuốn tiểu thuyết không phải tất cả mọi chi tiết đều trung thành với sự thật lịch sử. Song điều có thật ấy là kẻ thù đã phải nhỏ lệ khi vĩnh biệt người con lỗi lạc của núi rừng da đỏ. Trước ngày Oskeola qua đời, lòng kính trọng sâu sắc đối với anh đã thôi thúc họa sĩ Jorge Ketlin hoàn tất chân dung chàng thủ lĩnh kiêu hùng lưulại cho hậu thế. Cuốn tiểu thuyết có một sức lôi cuốn kỳ lạ. Bạn đọc không những chỉ quan tâm đến kết cục cuộc chiến vô cùng gian khổ và kiêu dũng của người da đỏ xeminol, mà còn nóng lòng muốn biết số phận trung úy Jorge Rendolf cùng mối tình đầu đằm nàn, nồng thắm của chàng đối với nàng tiên da đỏ mà nữ thần ái tình Aphrodite phải ngậm ngùi nhường nhan sắc - Maiuymi, em gái Oskeola; số phận của Virginia, tiểu thư da trắng “trái tính trái nết”, em gái Jorge Rendolf và là người để Oskeola chôn chặt một khối tình vô vọng: số phận đại úy Gallaher yêu đời, chân thành và máu mê đấu súng: số phận Jec Đen trung thành, can đảm cùng nàng Viola xinh đẹp ; số phận ông lão săn cá sấu Hicmen... Và dĩ nhiên, độc giả rất muốn biết và nóng lòng chờđợi giờphút trừng phạt tên Jec Vàng phản phúc, lòng lang dạ thú mà cá sấu đớp không chết, cũng nhưgãArens Ringgold đểu cáng, thâm hiểm... Sau “Oskeola” đã có không biết bao nhiêu tiểu thuyết về người da đỏ bằng đủ các thứ tiếng khác nhau. Nhiều cuốn trong số đó đã từng vang bóng một thời, nhưng theo thời gian đã lùi dần vào quên lãng và an phận trong thư tịch, Riêng “Oskeola” cùng những tác phẩm tuyệt vời khác của Thomas Reid - những bài ca bất tuyệt về ý chí tự do, lòng nhân ái, và phẩm cách cao quí của con người - vẫn tràn đầy sinh lực, khỏe khoắn vượt qua bụi bặm của thời gian, đến với độc giả để chắc chắn chiếm lĩnh một góc tâm tư trân trọng và mến mộ. 1-1989 NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP KIÊN GIANG *** Thomas Mayne Reid là một tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Scotland. Thomas Mayne Reid đã chiến đấu trong Chiến tranh Mỹ-Mexico. Nhiều tác phẩm của ông là về cuộc sống của người Mỹ. Trong các tác phẩm này, tác giả đã mô tả chính sách thuộc địa ở Hoa Kỳ, nỗi kinh hoàng của lao động nô lệ và cuộc sống của người da đỏ Mỹ. *** Bố tôi là chủ một đồn điền indigo - trồng chàm. Ông tên là Rendolf, và tôi cũng tên như vậy: Jorge Rendolf. Tôi mang trong mình dòng máu pha trộn với người da đỏ, bố tôi nguyên thuộc về dòng họ Rendolf vùng sông Roanoc, dòng dõi của công chúa Pocakhontas*. Ông rất tự hào về gốc gác da đỏ của mình, gần như kiêu hãnh nữa là khác. Có lẽ một người châu Âu bình thường sẽ cảm thấy điều đó có vẻ kỳ quặc, nhưng rõ ràng ở châu Mỹ những người da trắng, có tổ tiên da đỏ lại rất tự hào. Là một người metis* không phải là điều sỉ nhục, nhất là nếu anh ta có tài sản kha khá. Hàng trăm cuốn sách ca ngợi lòng cao thượng của người da đỏ cũng không thuyết phục bằng một sự thực giản dị là tất cả chúng tôi không một ai cảm thấy ngượng ngùng khi nhận mình là con cháu họ. Hàng trăm gia đình da trắng hiện giờ vẫn khẳng định họ là dòng dõi của công chúa miền Virginia ngày xưa. Nếu như những tự hào, gắn bó với họ là xác đáng thì công chúa Pocakhontas xinh đẹp thuở ấy hẳn phải là một kho báu vô giá đối với ông chồng. Tôi nghĩ rằng bố tôi đích thực là con cháu của công chúa. Chí ít thì ông cũng xuất thân từ một gia đình thuộc địa danh giá cũ. Hồi trai trẻ ông đã có hàng trăm nô lệ da đen, nhưng lòng hiếu khách và tính hoang tàng đã làm ông tán gia bại sản. Không chịu được tình cảnh sa sút khốn khổ, ông nhặt nhạnh mớ tài sản còn sót lại rồi đi xuống phía nam, làm lại cuộc đời. Tôi ra đời trước khi xảy ra biến cố đó, và quê hương tôi vẫn là Virginia, nhưng khi tôi bắt đầu nhận thức được thì gia đình tôi đã ở bên bờ sông Xuoni xinh đẹp, miền đất Florida*. Tuổi ấu thơ của tôi đã êm đềm trôi qua tại đây, cũng tại đây tôi đã đón nhận những niềm vui sướng đầu tiên của tuổi trẻ, đã ngất ngây, rạo rực với mối tình đầu. Giờ đây tôi vẫn nhớ như in ngôi nhà gỗ sồi xinh xắn sơn màu trắng, vẫn thấy rõ những tấm rèm xanh bên khung cửa sổ. Quanh nhà có gác hiên với những cột gỗ khắc chạm công phu đỡ mái. Bên phải khu nhà là rừng cam, bên trái là cả một khu vườn mênh mông. Xa xa, phía ngoài bãi cỏ là khu rừng thưa xanh rì chạy thoai thoải tới tận bờ sông. Dòng sông tới đúng chỗ này thì gấp khúc, trông giống như một mặt hồ khá rộng với những cù lao nho nhỏ, hai bên bờ thấp thoáng rừng cây. Quanh hồ vô số chim chóc bay lượn rợp trời, từng bầy thiên nga nô giỡn ào ào trên mặt nước. Dải rừng thưa cạnh nhà mọc đủ thứ cây - những cây cọ với những tàu lá dài nhọn hoắt, những cây dải quạt lá xòe rộng bản, những bụi mộc liên, bụi hồi trổ bông thơm ngát, những khóm dây cầu vồng sặc sỡ. Trong rừng còn có một cây sồi khổng lồ, cành cây mọc ngang thân với tán lá dầy xanh tốt quanh năm, che mát cả một khoảng rộng dưới bãi cỏ. Tôi nhìn thấy dưới bóng sồi một cô bé xinh đẹp bận váy mỏng mùa hè. Chiếc khăn trắng trùm đầu không che kín những lọn tóc xoăn dài vàng óng. Đó là Virginia, em út và em gái duy nhất của tôi. Mớ tóc vàng óng ấy Virginia thừa hưởng của mẹ, nhìn mái tóc không ai có thể nghĩ rằng cô có gốc gác da đỏ. Cô đang giỡn với hai con thú yêu quí của mình - con hươu dama và chú hươu con bé xíu có bộ lông sặc sỡ. Virginia bóc cam cho hai mẹ con hươu ăn, chúng rất thích cam. Cạnh đó còn một con vật nữa mà Virginia cũng rất yêu - chú sóc đen lông mượt láng với cái đuôi luôn ngúc ngoắc. Chú sóc hiếu động nhảy thoăn thoắt, mỗi lần nhảy là mỗi lần làm hươu con hoảng sợ, nép sát vào hươu mẹ hay chay lại nhờ em gái tôi che chở. Quanh nhà rộn tiếng chim lanh lảnh. Rồi tiếng chó sủa, tiếng mèo kêu, ngựa hí. Phía sau nhà là một cảnh tượng hoàn toàn khác, có thể không hấp dẫn bằng nhưng không kém phần sôi động. Mọi người đang làm việc. Sát nhà là một khoảng rộng, rào kín bằng cọc sắt. Chính giữa là một mái che khổng lồ tựa trên những dãy cột gỗ to và khỏe. Dưới mái che thấy rõ hàng dãy máng ngâm bằng gỗ trắc bá. Các máng ngâm xếp thành ba tầng, nối với nhau qua hệ thống vòi mở. Đó là nơi người ta ngâm chàm để chế phẩm nhuộm màu xanh. Phía xa là những nếp nhà nhỏ xíu xếp thành dãy của người da đen. Những ngôi nhà bé nhỏ ấy dường như cố co lại, giấu mình trong khu rừng cam. Không khí thơm ngát mùi hoa rộ vàng, rồi mùa trái chín. Phía trên những mái nhà cũng lại những thân cọ đường bệ vươn cao hay ngả mình xòe lá giống hệt như ở bãi cỏ trước nhà. Bên trong bức tường vây có mấy dãy nhà nữa, trông thô kệch, tường ghép gỗ súc sù sì, mái ván. Đó là khu chuồng ngựa, kho ngũ cốc và nhà bếp. Từ nhà bếp có một hành lang ngỏ ăn thông lên tòa nhà chính, mái hành lang lợp ván, cột đỡ dựng bằng gỗ bá hương. Ra sau tường vây tới cánh đồng bát ngát, chạy tít tắp tới những viền rừng trắc bá che khuất chân trời. Đây chính là khu vực trồng chàm. Tuy vậy ở đây cũng có ngô, lúa, khoai tây, mía. Các loại lương thực đó chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tại chỗ chứ không bán. Indigo trồng thành hàng lối thẳng tắp. Rừng chàm mọc không đồng bộ: chỗ thì vừa mới trồng, lá nhỏ xíu giống như cỏ chĩa ba, chỗ đã trưởng thành, cao đến hơn hai foot*, hoa nở rộ. Đôi khi hoa chàm nở giống hệt như những con bướm nhỏ, nhưng người ta không để cho chúng nở hết độ. Chúng phải chịu một số phận khắt khe: người ta sẽ cắt nghiền những cánh hoa màu huyết dụ không thương tiếc. Bên trong bức tường vây và ngoài ruộng chàm hàng trăm người tất bật với công việc. Ngoại trừ một, hai người trong số họ, số còn lại đều là nô lệ người Phi. Đông nhất là dân đa đen, trong đó kể chung cả dân mulat, xambo, tertxeron, cvarteron*. Tuy nhiên, ngay những người thuần túy gốc Phi cũng không phải ai cũng đen cả, nhiều người da màu đồng. Một số trông khá dị hình - môi dày, trán thấp, mũi tẹt và dĩ nhiên không thể có vóc dáng cân đối. Nhưng số khác thân hình, khá đẹp, thậm chí có nhiều người trông rất hấp dẫn. Nhiều cô gái cvarteron trong số họ trông gần như da trắng. Tất cả mặc quần áo lao động. Đàn ông mặc quần vải gai mỏng, sơ mi màu rực rỡ, đội mũ đan bằng lá cọ. Dăm ba người ăn bận khá bảnh, một số lại cởi trần trùng trục, nước da đen bóng láng dưới nắng trưa trông như phiến gỗ lim. Phụ nữ ăn mặc sặc sỡ hơn, họ mặc váy sọc hoa và quấn khăn vải kẻ ca rô. Nhiều người mặc váy thêu rất đẹp. Mái tóc quấn như khăn xếp càng làm cho họ có một vẻ đẹp đặc biệt. Cả đàn ông và đàn bà đều làm việc ở đồn điền indigo. Họ cắt chàm và bó thành bó, tốp thợ khác kéo chàm về dưới mái che, quăng lên máng ngâm trên cùng. Rồi lại một tốp thợ nữa tiếp tục công việc - dẫn nước vào và “ép” chàm. Số thợ còn lại dùng xẻng gạt chất bột lắng vào cửa kênh tháo, chuyển xuống khâu cuối cùng là sấy khô và đổ khuôn. Mỗi người làm một việc nhất định, và phải nói là họ làm khá vui vẻ. Họ cười nói, đùa giỡn, hát hò suốt buổi. Tuy nhiên, tất cả bọn họ đều là nô lệ của bố tôi. Bố tôi đối xử với họ rất tốt, rất hiếm khi ông dùng đến roi vọt, có lẽ vì thế mà đám thợ luôn vui vẻ và thoải mái. Những hình ảnh dễ chịu ấy đã in sâu vào trí nhớ tôi. Chính nơi ấy tôi đã đi qua những tháng năm thơ bé, chính nơi ấy tôi đã khởi đầu cuộc sống có ý thức của mình.   Mời các bạn đón đọc Oskeola Thủ Lĩnh Da Đỏ của tác giảe Thomas Mayne Reid.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Kí Ức Của Một Người Lính Trinh Sát Sư 307 - Võ Văn Hà
Kí Ức Của 1 Người Lính Trinh Sát Sư 307 ra đời chẳng vì cái gì cả, nó chỉ là một cuốn hồi ức sống động của một người lính thầm lặng của một chiến trường khốc liệt. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã lùi dần vào dĩ vãng hơn ba mươi năm, nhưng hãy còn đó những CCB, những anh hùng ngày xưa mà lịch sử đã một thời lãng quên họ, những người anh hùng vô danh ấy, đã sống đã chiến đấu dũng cảm cho đất mẹ yêu thương, những trong số họ đã nằm xuống cho đất nước Chùa Tháp hồi sinh, những người trở về thì lặng yên cố hòa mình vào cuộc sống, nhưng trong họ vẫn âm ỉ cháy một ngọn lửa hồi ức không bao giờ tắt về những ngày tháng chiến đấu bên đồng đội, cùng trèo đèo lội suối chia sẻ nhau chút lương khô trên đường truy kích địch, hay còn nguyên cảm giác không nói nên lời khi tự tay khiêng xác thằng bạn mới hôm qua còn tếu táo với nhau... Tuổi trẻ các anh đã hiến dâng cho tổ quốc nào có ai đòi hỏi gì, đó là những năm tháng không thể nào quên, có những phút nghỉ ngơi sau những tất bật cơm áo gạo tiền, nghĩ lại những giây phút ngày xưa các anh bỗng chợt trào nước mắt vì thương những thằng bạn ra quân sau, mà cứ ngỡ tới tận bây giờ nó vẫn còn nằm chốt bên ấy (lời Trungsy1), để rồi các anh có thêm nghị lực, mà sống cả cho những đồng đội không được sống. Truyện nói lên những dòng hồi ức của một người lính thực thụ, người đã cầm súng chiến đấu cho đất mẹ và cho sự sống của chính mình, qua ngòi bút của chính tác giả, một nhà giáo đã vẽ nên một bức tranh sống động về chiến tranh và cuộc sống người lính trong chiến tranh. Chiến tranh nào phải những con số khô khan lạnh lùng, chiến tranh nào phải trò chơi mà chỉ có thắng với thắng, người lính nào phải chỉ biết đánh nhau… Trăm điều thú vị, nghìn chuyện ngậm ngùi… Tôi đã cùng cười cùng khóc với những dòng hồi ức này, cảm ơn chú Võ Văn Hà nhiều lắm. Giờ thì mời mọi người cùng đọc truyện tuổi teen để hiểu hơn về câu chuyện và Võ Văn Hà gửi gắm. *** Chắc chắn rằng trận đánh đã mang tính chất bất ngờ hoàn toàn với địch. Do địa hình không thuận tiên nên hai khẩu 12.7 và khẩu DKZ phải đặt trước BB và bắn tà âm trực tiếp vào địch. Ngay từ những loạt đạn đầu tiên của DKZ thì căn cứ địch đã bị thiệt hại nặng. Khẩu DKZ của địch nòng vẫn còn quay về hướng bãi mìn đã bị hư nặng nên chúng không phát huy được. Khi dứt đợt hỏa lực đầu tiên, anh em C9 do ở gần nên cơ động nhanh chiếm được một phần trận địa của chúng, và chính vì hai C9 và C10 không đồng bộ trong chiếm lĩnh trận địa nên anh em C9 sau khi chúng định thần lại bị chúng tấn công tới tấp bằng hỏa lực. Cả hai lần C9 bị khựng lại vì anh em không tiến lên được và bị thương khá nhiều. Lúc này hỏa lực của ta đi cùng không phát huy được, nên anh Khánh phải dùng tới cối 120. Không biết thực hư ra sao, nhưng phải công nhận cối rơi vào các điểm trọng yếu của địch và toàn bộ Pốt chết trên tuyến hào này đều do cối. Dù bị địch phản công mạnh, nhưng khi dứt đợt cối thứ hai thì C9 đã có bộ phận vào đến hầm của địch (hai LS cùng một chỗ), địch đã bị dồn tới nước cùng. Có hai hướng chúng định tháo chạy là tây và đông nam. Hướng tây của anh em D10 thì lực lượng mỏng, nhưng kẹt con suối ta đã chiếm sâu vào cứ của chúng. Anh Thìn đang cùng với một B của D10 đang án ngữ hướng này, hơn nữa địa hình hơi khó nên cũng không dễ gì thoát được (một nhóm địch chạy tháo ra bị anh em D10 đánh trả diệt hai tên). Trên các hướng hầm hố đã bị chiếm, và một ít bị cối phá sập nên không còn điểm tựa. Chỉ còn con đường của bãi mìn là con đường lí tưởng của chúng. Cả một lực lượng chúng bị co cụm trên một khu vực hẹp (có lẽ chúng biết bãi mìn của chúng có nơi dày thưa khác nhau) và chính diện vẫn là hướng C9. Tranh thủ thời cơ này, C10 tấn công mạnh yểm trợ cho anh em C9, và anh Thìn nhanh chóng thúc D10 vào chiếm lĩnh khu mạn tây của hào địch (tôi quẳng hai quả MK3 vào hầm địch) và buộc chúng phải rút chạy bất chấp là bãi mìn. Theo nhận định, thì nếu chúng cố chống trả chừng mười – mười lăm phút (không bị mất trung tâm) thì chắc chắn ta và địch phải đánh giáp lá cà vì đạn của ta đã hầu như không còn bao nhiêu. Có một anh C9 trong nòng chỉ còn bảy viên AK, khi tiếp giáp với anh em D10 phải xin hai băng AK… một lúc sau cũng gặp anh này, đang nấp vào phía sau cái thùng phuy của địch đang đưa đạn lẻ thu của địch vào băng. Trên hướng D3 ta hi sinh tám và bị thương hơn mười người. D10 bị thương tám do miểng cối của địch. Trận đánh khép lại với những thắng lợi phải nói là giòn giã. Tâm lí anh em đã được giải tỏa rất nhiều trước những tổn thất trong thời gian qua. Cũng không ai có thể ngờ rằng… chính tại cứ điểm này những năm sau ta phải vất vả, tốn quá nhiều xương máu của anh em F307, F2, F315 và những lực lượng trợ chiến của QK5.   Mời các bạn đón đọc Kí Ức Của Một Người Lính Trinh Sát Sư 307 của tác giả Võ Văn Hà.
Nhật Ký Son Môi - Gào
Không chỉ được cư dân mạng biết đến với nickname rất kêu là “Gào”, cô gái trẻ 22 tuổi còn tự khẳng định bản thân khi tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết “Nhật ký son môi”. “Nhật ký son môi” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Gào sau tập truyện ngắn bán rất chạy “Cho em gần anh thêm chút nữa”. Gào tên thật là Vũ Phương Thanh, sinh năm 1988, hiện làm PR Manager cho công ty VAA của diễn viên, ca sĩ Ngô Thanh Vân. Với lối viết “tự ăn mình” – viết dựa vào chính những chiêm nghiệm, cảm nghĩ, cuộc sống của mình, Gào trải lòng mình trong từng trang viết, viết ra những trải nghiệm của riêng cô. Toàn bộ cuốn truyện không phải là những trang nhật ký ghi lại những sự việc, cảm xúc diễn ra theo kiểu từng ngày, từng giờ, trái lại, nó được kết cấu chặt chẽ với cốt truyện rõ ràng và đơn tuyến. Thời gian ước tính kéo dài khoảng 5 tháng, xoay quanh câu chuyện nhân vật “Tôi” – một cô gái hơn hai mươi tuổi xinh đẹp, cá tính, sắc sảo, dám yêu, dám sống và dám chịu trách nhiệm với cuộc sống của mình. Cô có người yêu kém 2 tuổi đang du học nơi trời Tây, chàng trai ấy phản bội cô và cô sống khổ sở trong sự ngăn cấm của gia đình chàng trai, trong tình yêu da diết mãnh liệt và tinh thần thủy chung nhất dù có bao cách trở, cũng như phải đối mặt với những khó khăn trong công việc, cuộc sống và thời kỳ khó khăn “khủng hoảng tuổi hai mươi”. *** Tôi yêu một chàng trai vào đầu năm ngoái. Vậy là tính đến bây giờ chúng tôi đã yêu nhau được gần hai năm. Đủ dài để tôi lưu luyến, nhớ thương, buồn vương và sầu muộn mỗi khi xa cách hoặc cãi vã. Hơn một năm, chúng tôi dính với nhau như hình với bóng. Mặc dù người yêu tôi đi du học, nhưng phần lớn thời gian trong cuộc sống, chúng tôi đều dành cho nhau. Đã qua rồi cái thời khoảng cách địa lý trở thành một bài toán quá khó đối với những mối quan hệ. Người ta dễ dàng gặp nhau mỗi ngày cả khi ở xa nhau nhờ công nghệ. Ví dụ như chúng tôi có thể ngồi nói chuyện với nhau qua skype 24h mỗi ngày. Hoặc nói chuyện điện thoại thâu đêm suốt sáng. Thực sự việc yêu đương này quá đỗi ngọt ngào. Mỗi khi người yêu về Việt Nam, tôi không còn biết trời đất là gì nữa, chỉ còn cái cảm giác tuyệt vời khó diễn tả khi nằm cạnh bên người đó như chú mèo lười nhăn nhó và nhõng nhẽo. Tôi cảm thấy vui với vai trò của một người nội trợ, được nấu ăn và được người ta khen mỗi ngày. Chúng tôi sống chung với nhau ở một căn hộ tại Sài Gòn, tự tay vun vén cho " tổ ấm bé con" của mình với rất nhiều đồ đạc. Những ngày tháng đó, thực sự rất rất rất và vô cùng hạnh phúc. Nhưng niềm vui này không kéo dài được bao lâu. Không phải vì bởi chúng tôi không yêu nhau mà chỉ bởi cuộc sống luôn bắt người ta đương đầu với thử thách. Tôi là một đứa con gái. Nghiễm nhiên một đứa con gái thì cũng giống như một thằng con trai và mọi " đứa" người trên thế giới này, có vô vàn tất xấu. Tật xấu lớn nhất của những người tuổi 20 như tôi là tật "tự kỷ". Tôi hơn người yêu hai tuổi. Hai tuổi chẳng là cái thá gì đới với một thằng đàn ông, nhưng nó giống như một dòng sông dài rộng mênh mông đối với một người phụ nữ. Mới 22 tuổi hàng ngày tôi đã sợ bị những nếp nhăn nuốt chửng. Phụ nữ khi hơn tuổi người yêu thì luôn bị ám ảnh nảy sinh sầu muộn. Hơn nữa, tình yêu ngọt ngào không đồng nghĩa với thiếu đi rào cản. Rào cản của chúng tôi không chỉ là số tuổi cỏn con của tôi. Nó còn là thái độ của những người xung quanh người yêu tôi đối với tôi. Có lẽ, người yêu tôi đủ tốt để kiếm được một cô gái tốt hơn tôi. Thế nên nhiều người thân bên anh ấy, thường nhìn tôi với ánh mắt không mấy hài lòng. Tôi thua kém gì? Nhiều lần tôi tự đặt ình câu hỏi đó. Sau rồi, tôi cũng tự trả lời được: "Mình thua kém nhiều!" …đâm ra sợ. ... Mời các bạn đón đọc Nhật Ký Son Môi của tác giả Gào.
Mở Mắt Khi Hôn - Hà Mạnh
"Cuộc sống luôn cần sự tỉnh táo. Nếu có điều gì thực sự khiến bạn mê đắm hoàn toàn thì đó chỉ có thể là tình yêu chân chính” – tác giả của “Mở mắt khi hôn” chia sẻ. Cách đây 3 năm, cũng vào thời điểm cuối mùa xuân, một cuốn sách có cái tên khá lạ và kích thích trí tò mò Cô gái U80 ra mắt công chúng. Và Hà Mạnh, khi đó là một sinh viên báo chí năm cuối, đã lần đầu tiên được mọi người biết đến với tư cách một nhà văn trẻ. Ra trường, chàng trai sinh năm 1991 dành nhiều thời gian cho các chuyến du lịch và sau đó chuyển vào Sài Gòn để theo đuổi những dự định nghề nghiệp. Dù làm nhiều công việc, từ biên tập viên báo mạng điện tử, sản xuất nội dung cho các chương trình giải trí hay mới đây nhất là giữ vai trò biên kịch cho Bitches in Town, Hà Mạnh vẫn không quên viết sách. Mới đây, anh cho ra mắt cuốn sách thứ hai, cũng với một cái tên lạ và giàu sức gợi - Mở mắt khi hôn. Cuốn sách được xem là dấu mốc tiếp theo với nhiều thay đổi quan trọng trong chặng đường viết lách của Hà Mạnh. Không những thay đổi về văn phong, góc nhìn hay cách khai thác, Hà Mạnh còn bảo, sau Mở mắt khi hôn anh sẵn sàng viết về sex và đồng tính - điều mà cách đây 3 năm anh đã thẳng thừng từ chối.  *** Câu chuyện xoay quanh mối quan hệ tay ba đầy duyên nợ và rắc rối của ba người trẻ tuổi. Ước mơ tuổi trẻ, những vấp ngã đầu đời, những yêu, hận, tình, tiền đan xen với những khao khát và con đường đã chọn. Liệu con đường đó sẽ đi đến đâu? Vinh quang hay vực thẳm? Là kết thúc hay sự khởi đầu? Mời các bạn đón đọc Mở Mắt Khi Hôn của tác giả Hà Mạnh.
Vùng Biên Ải - Ma Văn Kháng
Với hàng loạt tiểu thuyết có giá trị, phản ánh đời sống của đồng bào dân tộc miền núi như "Đồng bạc trắng hoa xoè", "Vùng biên ải", "Gặp gỡ ở La pán tẩn"... Ma Văn Kháng được mệnh danh là "nhà văn của núi rừng". Ngoài ra, ông cũng rất thành công với đề tài gia đình như các tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn", "Đám cưới không có giấy giá thú"... Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Ông tham gia quân đội từ tuổi thiếu niên. Tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm năm 1963 và lên dạy học ở tỉnh Lao Cai. Ông viết văn từ năm 1961, từng được nhận giải thưởng Văn học Đông Nam Á 1998, Giải thưởng Nhà nước về Văn Học Nghệ thuật 2001. Hơn 30 năm, ông đã ghi dấu vào dòng chảy văn học VN những tác phẩm đặc sắc. Mới đây NXB Công an Nhân dân phối hợp với công ty Văn hoá Phương Nam xuất bản tuyển tập sách Ma Văn Kháng gồm 10 tập. Xin giới thiệu tiểu thuyết Vùng biên ải của ông. Truyện viết về cuộc đấu tranh tiễu phỉ của quân và dân ta ở vùng biên giới Việt- Trung từ năm 1951 đến năm 1953. Sát cánh cùng đồng bào các dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đã đập tan được ổ phỉ do tên Châu Quán Lồ cầm đầu và được thực dân Pháp nuôi dưỡng. Những kẻ mù quáng theo phỉ được kêu gọi trở về làm ăn lương thiện, những tên ngoan cố, gian ác bị trừng trị thích đáng. *** Khi đọc những sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng ta thấy nó có một hình hài, diện mạo rất riêng, vì ngay từ những sáng tác đầu tay, người cầm bút đã đến với người đọc trong tư cách một nhà văn có ý thức về chỗ đứng trong vương quốc văn chương nghệ thuật. Các nhà nghiên cứu thường nhận xét rằng cho đến nay, tiểu thuyết và truyện ngắn của Ma Văn Kháng vẫn tập trung vào hai đề tài chính là cuộc sống của đồng bào vùng núi cao phía Bắc Tổ Quốc và đời sống thành thị đầy phức tạp trong cuộc chuyển mình mạnh mẽ của đất nước sau chiến thắng một nghìn chín trăm bảy nhăm. Đọc Ma Văn Kháng, thấy xuyên suốt những trang văn một triết luận đời sống hết sức nhất quán. Triết luận ấy là tình người, tính người và sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện về con người và cuộc đời. Các nhà văn thường miêu tả ngoại hình để nói chuyện tính cách. Ma Văn Kháng thường miêu tả tướng hình để thể hiện tính người, tình người. Bởi vì cái tính thường lộ ra ở cái tướng, nhất là ở những kẻ ác tính, ác tâm. Những truyện ngắn, tiểu thuyết hay nhất của Ma Văn Kháng là những truyện nói về dòng đời, mạch sống. Trong truyện ngắn, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng còn có khuynh hướng mở rộng các thành phần mạch trần thuật, hòa văn nói vào văn viết.    Mời các bạn đón đọc Vùng Biên Ải của tác giả Ma Văn Kháng.