Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuồng Vọng

Vật lạ đến từ một nơi nào đó trong không gian. Đó là một khối tinh vân rắn - một đám mây khổng lồ do nhiều khối băng, đá, bụi bặm và các loại khí kết tụ lại - có mặt cùng lúc với sự hình thành của vũ trụ, khi những hành tinh trong hệ thống mặt trời xuất hiện từ bốn tỉ sáu trăm triệu năm trước. Ngay sau khi những hạt li ti rời rạc của nó đông lại thành một khối cứng rắn có đường kính rộng một dặm, nó bắt đầu lặng lẽ di chuyển cực nhanh qua không gian trống trải, mênh mông, trên một quĩ đạo quanh mặt trời và những ngôi sao gần nhất, một hành tinh kéo dài nhiều ngàn năm từ lúc khởi đầu đến khi chấm dứt... *** Clive Cussler sinh năm 1931 tại bang Illinois (Mỹ) nhưng tuổi thơ và quá trình trưởng thành lại gắn liền với vùng đất California. Ông từng là thợ máy phục vụ trong Không quân Mỹ suốt thời kỳ Chiến tranh Triều Tiên. Năm 1973, tác phẩm đầu tay của ông được phát hành. Sau đó, tên tuổi của Cussler nhanh chóng được khẳng định khi cho ra mắt cuốn "Raise the Titanic!" vào năm 1976, số lượng phát hành cuốn sách này cùng cuốn "Sahara" lên tới hàng chục triệu bản và được coi là tác giả của những tiểu thuyết bán chạy nhất nước Mỹ. Theo New York Times, Cussler sở hữu khối tài sản lên tới 80 triệu USD. Có thể thấy, trong sự nghiệp sáng tác của mình, Cussler đã phát hành hơn 80 cuốn sách trong đó phần lớn mang đề tài bí hiểm và những tác phẩm của ông được phát hành ở hơn 100 nước trên thế giới, đồng thời được dịch ra khoảng 40 thứ tiếng. Bên cạnh công việc tiểu thuyết gia, Clive Cussler còn sở hữu và điều hành Cơ quan Hàng hải và dưới nước quốc gia Mỹ - một tổ chức phi lợi nhuận, phát hiện hơn 60 xác tàu, thuyền dưới lòng đại dương. Đặc biệt, Cussler chính là người đã là tìm ra con tàu Carpathia – con tàu tham gia giải cứu những người sống sót trong vụ đắm tàu Tinanic lịch sử. Các tác phẩm được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Thác Lũ Cuồng Vọng Bí Ẩn Titanic Sóng Dữ Hoang Mạc Băng Cháy ... *** SỰ VA CHẠM KHỦNG KHIẾP   Năm 7.120 trước Công nguyên sự va chạm đã tạo ra Vịnh Hudson tại Canada ngày nay.   Vật lạ đến từ một nơi nào đó trong không gian. Đó là một khối tinh vân rắn - một đám mây khổng lồ do nhiều khối băng, đá, bụi bặm và các loại khí kết tụ lại - có mặt cùng lúc với sự hình thành của vũ trụ, khi những hành tinh trong hệ thống mặt trời xuất hiện từ bốn tỉ sáu trăm triệu năm trước. Ngay sau khi những hạt li ti rời rạc của nó đông lại thành một khối cứng rắn có đường kính rộng một dặm, nó bắt đầu lặng lẽ di chuyển cực nhanh qua không gian trống trải, mênh mông, trên một quĩ đạo quanh mặt trời và những ngôi sao gần nhất, một hành tinh kéo dàỉ nhiều ngàn năm từ lúc khởi đầu đến khi chấm dứt. Phần lõi của sao chổi, còn gọi là hạt nhân, là một khối kết hợp gồm hơi nước đông đặc, carbon monoxỉde, khí mê tan và những tảng đá kim loại vỡ nát. Có thể mô tả chính xác nó là một quả bóng tuyết bẩn thỉu bị ném mạnh qua không gian của hệ thống mặt trời, hoặc sự bức xạ của mặt trời phản ứng lại với nhân của nó và xảy ra sự biến đổi hình dạng. Một con vịt con xấu xí nhanh chóng trở thành một vật xinh đẹp. Khi nó bắt đầu hấp thụ nhiệt lượng và tia tử ngoại của mặt trời, một vệt dài hình thành và chậm chạp phát triển thành một cái đuôi lóng lánh khổng lồ, cong và trải rộng ra phía sau cái lõi với một chiều dài đến chín mươi triệu dặm. Một cái đuôi ngắn hơn, màu trắng, do bụi tạo thành rộng hơn một triệu dặm cũng hình thành và nằm cong theo cái đuôi lớn giống như những cái vây trên mình một con cá. Mỗi lần sao chổi đi qua mặt trời, nó mất đi một phần khối băng của nó và lõi cũng giảm bớt. Sau cùng, trong một thời gian hai trăm triệu năm, nó mất hết khối băng và vỡ vụn thành một khối mây bụi gồm vô số thiên thạch nhỏ. Tuy nhiên, sao chổi này không bao giờ lệch khỏi quĩ đạo của nó trong hệ thống mặt trời hoặc đi qua quanh mặt trời một lần nữa. Nó không được phép chết một cách chậm chạp và lạnh lẽo tại một nơi xa thẳm nào đó trong không gian tối tăm. Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, sự sống của nó vụt tắt. Nhưng trên quĩ đạo cuối cùng của nó, sao chổi vẫn đi qua chín trăm ngàn dặm của sao Mộc, và trọng lực rất lớn của sao này làm nó đổi chiều sang một hành trình khác và chạm mạnh vào một hành tinh thứ ba trong hệ thống mặt trời, một hành tinh mà cư dân của nó gọi là Trái Đất. Lao vào bầu khí quyển của Trái Đất với vận tốc một trăm ba mươi ngàn dặm mỗi giờ theo một góc bốn mươi lăm độ, vận tốc của nó càng tăng thêm vì sức hút của trọng lực, sao chổi gây ra sự va chạm khủng khiếp và phát sáng với kích thước rộng mười dặm, và sức nặng bốn tỉ tấn của nó vỡ vụn vào lúc đó. Bảy giây sau, khối sao chổi méo mó trở thành một quả cầu lửa sáng rực, đập vỡ bề mặt Trái Đất với một sức công phá không thể tưởng tượng. Hậu quả tức thì từ vụ nổ làm thoát ra những năng lượng phá hủy khoét sâu vào vỏ Trái Đất tạo thành một lòng chảo rộng bằng hai lần diện tích đảo Hawaii khi nó bốc hơi và chiếm chỗ một khối khổng lồ gồm nước và đất đá. Toàn bộ Trái Đất rung chuyển do sự va chạm, tạo ra một vụ động đất lên tới mười hai độ rít-te. Hàng triệu tấn nước các loại trầm tích và các thứ đổ nát bị tống vào bầu khí quyển phía trên chỗ va chạm và xâm nhập vào tầng bình lưu, cùng với khối bụi nước khổng lồ bị phá hủy, khối đá bị cháy đỏ thoát ra và lao vào những quĩ đạo chung quanh trước khi rơi xuống lại trên mặt đất như những thiên thạch cháy sáng. Những trận bão lửa thiêu rụi những khu rừng trên khắp mặt đất. Những núi lửa đã ngủ yên hàng ngàn năm đột nhiên hoạt động trở lại, tống vào các đại dương những dung nham lỏng lan rộng trên một triệu dặm vuông, phủ lên mặt đất một lớp dày đến trên một ngàn bộ. Vô số khói và bụi bị tống vào tầng khí quyển, sau đó bị những trận gió khủng khiếp từ mặt trời thổi đến từng ngõ ngách trên Trái Đất và biến nó thành một nơi tối tăm kéo dài gần một năm. Khí hậu của Trái Đất đột ngột thay đổi khủng khiếp. Nhiệt độ trên những vùng băng tuyết mênh mông và những băng hà hoặc băng trôi ở phía bắc tăng lên cho tới khi chúng đạt đến chín mươi và một trăm độ Fahrenheit, gây ra sự bốc hơi nhanh chóng. Các chủng động vật từng quen với khí hậu nhiệt đới và những vùng ôn đới trở nên bị tuyệt chủng chỉ trong một đêm. Nhiều chủng loại như loài voi ma-mút có lông chết nhanh chóng đến nỗi cỏ và hoa trong dạ dày chúng vẫn chưa tiêu hóa kịp. Cây cối cùng với lá và trái của chúng nhanh chóng chín muồi. Chỉ vài ngày, cá trong các sông ngòi hồ ao đều nằm phơi bụng. Những đợt sóng cao từ năm đến mười dặm tràn lên các lục địa, tàn phá tất cả những gì cản đường chúng. Nước tràn qua những bình nguyên thấp dọc bờ biển, cuốn đi hàng trăm dặm vào trong đất liền. Vô số những trầm tích và các thứ cặn bã từ đáy những đại dương trải rộng trên những vùng đất thấp. Chỉ đến khi đợt trào dâng kinh khủng này đập vào chân những ngọn núi, dội lại và bắt đầu chậm chạp rút lui sau khi đã làm thay đổi dòng chảy những con sông, lấp đầy những chỗ trũng trên mặt đất - nơi trước kia không có sự sống - biến đổi những hồ ao rộng lớn thành những sa mạc. Chuỗi phản ứng này có vẻ kéo dài bất tận. Với những tiếng động ì ầm phát triển thành tiếng gầm rú liên tục như tiếng sấm, những ngọn núi bắt đầu lắc lư như những cây cọ dưới một làn gió nhẹ. Những sa mạc và những đồng cỏ nhấp nhô khi những đợt tấn công dữ dội từ các đại dương lại tràn lên đất liền. Sự chấn động từ vụ va chạm của sao chổi đã tạo ra sự thay đổi vị trí hoàn toàn và nhanh chóng trên lớp vỏ mỏng của Trái Đất. Lớp ngoài cùng, dày chưa tới bốn mươi dặm, và mặt đất bao bọc cái lõi nóng chảy của Trái Đất trở nên vặn vẹo như lớp vỏ của một trái táo bị bóc ra rồi ráp lại để nó có thể chuyển động quanh cái lõi của trái táo bên trong. Như được kiểm soát bởi một bàn tay vô hình, toàn bộ lớp vỏ Trái Đất chuyển động như một bộ phận duy nhất. Toàn bộ các lục địa trôi nổi đến những vị trí mới. Những ngọn đồi nhô cao thành núi hoa. Những hòn đảo khắp Thái Bình Dương biến mất, trong lúc những đảo khác trồi lên lần đầu tiên. Nam Cực, về phía tây Chi Lê, trượt dài hơn hai ngàn dặm về phía nam, tại đây nó nhanh chóng bị chôn vùi dưới những lớp băng mới thành hình. Khối băng khổng lồ từng trôi nổi trên Ấn Độ Dương và phía tây Úc châu giờ đây lạc lõng tại vùng ôn đới và nhanh chóng bắt đầu bốc hơi. Tình trạng đó cũng xảy ra tại nơi trước kia là Bắc Cực, lan rộng tới vùng bắc Canada. Địa cực mới nhanh chóng sản xuất ra một khối băng dày giữa một nơi trước kia là một đại dương rộng lớn. Sự tàn phá thật khắc nghiệt. Sự chấn động và đổ nát tiếp tục xảy ra như thể chúng sẽ không bao giờ chấm dứt. Đó là lúc lớp vỏ mỏng của Trái Đất chồng chất hết biến động này tới biến động khác. Sự bốc hơi đột ngột của những khối băng trước kia kết hợp với các băng hà và băng trôi bao phủ khắp các đại dương đột ngột trôi vào hoặc gần những vùng nhiệt đới, làm cho các đại dương dâng cao tới bốn trăm bộ, nhấn chìm những vùng đất đã bị tàn phá với những đợt sóng thủy triều khổng lồ phát sinh từ vụ va chạm của sao chổi. Chỉ trong một ngày, nước Anh, từng nối liền với phần còn lại của lục địa châu Âu bởi một bình nguyên khô ráo, lúc này biến thành một hòn đảo, trong lúc một sa mạc bị nhận chìm trở thành vịnh Ba Tư. Sông Nil từng chảy vào một thung lũng phì nhiêu mênh mông rồi đổ ra một đại dương ở phía tây lúc này lại kết thúc dòng chảy của nó tại một nơi đột ngột biến thành Địa Trung Hải. Kỷ nguyên băng hà rộng lớn cuối cùng chấm dứt về mặt địa chất chỉ trong nháy mắt. Sự thay đổi ngoạn mục trong các đại dương và sự lưu thông của chúng quanh Trái Đất làm cho các địa cực di chuyển, quấy nhiễu dữ dội sự quân bình cố hữu của Trái Đất. Trục Trái Đất tạm thời bị lệch hai độ, khi Bắc Cực và Nam Cực bị đổi chỗ đến những vùng địa lý mới, làm biến đổi lực hướng tâm quanh mặt ngoài của địa cầu. Vì chúng là lưu chất, các đại dương thay hình đổi dạng trước khi các địa cực ngừng rung lắc và trở nên ổn định quanh cái trục mới của chúng. Trong thời gian đó, mực nước biển cũng trở nên ổn định, cho phép nhiều bờ biển mới được hình thành trong khi những điều kiện khí hậu kỳ quặc tiếp tục được điều chỉnh dần. Những thay đổi trở nên thường xuyên. Thời gian nối tiếp giữa ngày và đêm thay đổi khi số ngày trong một năm giảm còn một nửa. Từ trường của Trái Đất cùng bị ảnh hưởng và di chuyển về hướng tây bắc hơn một trăm dặm. Hàng trăm, có lẽ hàng ngàn những loài động vật và cá khác nhau nhanh chóng bị tuyệt chủng. Tại châu Mỹ, loài lạc đà một bướu, loài voi ma-mút, loài ngựa của kỷ nguyên băng hà và loài cu-li khổng lồ, tất cả đều biến mất. Loài cọp răng kiếm, loài chim khổng lồ với sải cánh dài đến hai mươi lăm bộ và nhiều loài thú khác có trọng lượng nặng cả trăm cân Anh hoặc hơn, phần lớn chết ngạt vì khói và các loại khí độc từ núi lửa thoát ra. Các chủng loại thực vật trên mặt đất cũng không thoát khỏi thảm họa. Đời sống của thảo mộc nếu không biến thành tro thì cũng chết vì thiếu ánh sáng mặt trời, kể cả các loài rong tảo trong nước. Cuôi cùng, trên tám mươi lăm phần trăm sự sống trên Trái Đất đều chết vì lụt lội, lửa, bão táp, tuyết lở, chất độc từ bầu khí quyển và thậm chí vì nạn đói. Các xã hội loài người, đa số đã hoàn toàn tiến triển và vô số nền văn hoá đang trên ngưỡng cửa của một thời đại tiến hóa vàng son bỗng chốc đã bị tiêu hủy chỉ trong một ngày đêm. Hàng triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ con trên Trái Đất đã chết một cách khủng khiếp. Mọi dấu vết về những nền văn minh đều tuyệt tích, và một số ít những kẻ sống sót sau thảm họa chẳng còn gì ngoài mớ ký ức u ám về quá khứ. Cỗ quan tài đã nằm trên sự tiến hóa to lớn nhất và không hề gián đoạn của nhân loại, kết thúc một chuyến hành trình dài mười ngàn năm từ những người Cro-Magnon hoang dã cho đến các bậc vua chúa, các kiến trúc sư, những thợ điêu khắc đá, những nghệ sĩ và chiến sĩ. Những công trình của họ và những tồn tại chết chóc của họ đều bị chôn sâu dưới các đại dương và những biển mới, chỉ còn lưu lại một ít mẫu vật và những mảnh vụn của một nền văn hóa tiến bộ cổ đại. Nhiều quốc gia và thành phố chỉ đứng được vài giờ trước khi biến mất không để lại một dấu vết. Biến cố khủng khiếp này hầu như không lưu lại một bằng chứng nào về những nền văn minh ưu việt trước đó. Trong số rất ít những người sống sót, hầu hết đều sống tại những vùng núi cao, họ có thể trú ẩn trong những hang động để trốn tránh những cơn giận của sự hỗn loạn. Không giống những người trong thời kỳ Đồ Đồng tiến hóa hơn, có khuynh hướng tập trung lại và xây dựng trên những bình nguyên thấp gần những con sông và bờ biển, những cư dân sống tại những vùng núi cao đều là dân du mục trong thời kỳ Đồ Đá. Những người tài giỏi nhất của họ về những ngành khác nhau trong kỷ nguyên của họ - những Leonardo da Vinci, những Picasso và những Einstein - đều bốc hơi không lưu lại vết tích. Chỉ còn lại trên mặt đất những kẻ săn bắn du mục, một hiện tượng tương tự như những gì đã xảy ra dành cho sự vinh quang của Hy Lạp và La Mã sau khi sự vinh quang đó bị ném sang một bên, trải qua những thế kỷ chỉ có sự ngu dốt và mê muội. Một thời kỳ Đồ Đá mới đen tối đã che giấu những nền văn minh có văn hóa cao từng có mặt trên Trái Đất, kỷ nguyên đen tối này kéo dài đến hai ngàn năm. Rất chậm chạp, sau cùng nhân loại cũng bước ra khỏi tình trạng đen tối đó để bắt đầu xây dựng và kiến tạo lại những thành phố và những nền văn minh tại Mesopotamia và Ai Cập. Đáng tiếc, rất ít những nhà xây dựng có thực tài và những người có đâu óc sáng tạo còn sống sót từ những nền văn hóa bị thất lạc đạt tới trình độ cao. Nhận thấy nền văn minh của mình đã mất và không bao giờ phục hồi được, họ bắt đầu tìm tòi trong nhiều thế kỷ, để xây dựng những lăng mộ và những ngôi mộ đá huyền bí với những khối đá đồ sộ dựng đứng được tìm thấy trong nhiều vùng tại châu Âu, châu Á, tại quần đảo Pacific đến tận phía nam châu Mỹ. Về sau, ký ức về những ưu thế rực rỡ do tiền nhân để lại trở nên lu mờ dần và trở thành huyền thoại, những kỷ niệm về sự tàn phá và chết chóc vẫn là những cảnh báo về sự hủy diệt các thế hệ trong tương lai. Nhưng trong một thiên niên kỷ, con cháu họ dần dà quên hết những hoạt động xưa kia của tổ tiên để dung nạp kiểu sống của những bộ lạc du mục và chẳng còn biết gì về quá khứ văn minh của họ. Nhiều thế kỷ sau vụ va chạm khủng khiếp đó, nhân loại vẫn còn sợ hãi, không dám mạo hiểm lìa bỏ vùng núi non để xuống sinh sống tại những vùng đất thấp và dọc bờ biển. Những xứ sở có kỹ thuật vượt trội về chuyện đi lại trên biển chỉ còn những ý niệm mơ hồ về quá khứ gần của họ. Kỹ thuật đóng tàu và vượt biển đã thất lạc, và phải đợi đến nhiều thế hệ sau đó mới xuất hiện trở lại. Sự chết chóc và tàn phá này phát sinh do một khối băng bẩn thỉu không lớn hơn một thảo nguyên trung bình. Sao chổi đã tàn phá mọi thứ không chút xót thương. Trái Đất chưa từng bị tàn phá dữ dội như thế từ khi một thiên thạch đâm vào nó sáu mươi lăm triệu năm trước đó trong một thảm họa đã hủy diệt loài khủng long. Nhiều ngàn năm sau vụ va chạm, sao chổi được gắn kết với mê tín dị đoan về những sự cố gây tai họa và được xem như những điềm xấu báo trước những thảm kịch trong tương lai. Chúng bị kết tội đã gây ra chiến tranh và những đại dịch gây chết chóc và hủy diệt. Mãi cho tới lịch sử cận đại, sao chổi mới được xem như những hiện tượng lạ của thiên nhiên, như vẻ đẹp chói lọi của cầu vồng hoặc những đám mây được mạ vàng lúc mặt trời lặn. Sự kiện đại hồng thủy được ghi lại trong Kinh Thánh và những truyền thuyết về các tai họa khác, tất cả đều gắn liền vào thảm kịch này. Những nền văn minh cổ đại của người Olmac, Maya và Aztec tại Trung Mỹ có nhiều truyền thống liên hệ tới một sự cố thảm họa xa xưa. Những bộ lạc người Da Đỏ Indian khắp Hoa Kỳ có truyền thuyết với những câu chuyện về nước lụt tràn ngập xứ sở của họ. Người Trung Hoa, người Polynesian và người Phi châu, tất cả đều nói về một thảm họa đã tàn sát phần lớn tổ tiên của họ. Nhưng một truyền thuyết đã xuất hiện và phát triển qua nhiều thế kỷ, gợi ra sự huyền bí và gây ảnh hưởng nhiều nhất, đó là sự biến mất của lục địa và nền văn minh Atlantis. Mời các bạn đón đọc Cuồng Vọng của tác giả Clive Cussler & Phạm Đăng Phụng.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Ngày Xanh - Archibald Joseph Cronin
 Archibald Joseph Cronin sinh tại Tô Cách Lan năm 1896.  Ông học Y khoa ở đại học Glasgow.  1916, thế chiến thứ nhất ông tình nguyện gia nhập hải quân với cấp bậc Trung úy Y sĩ.    Chiến tranh kết thúc, ông trở lại tiếp tục học Y khoa.  Rồi ông tập sự bốn năm trong những khu vực hầm mỏ phía nam vùng Wales.    Thời gian này ông thu thập được rất nhiều tài liệu về đời sống cơ cực của dân lao động nghèo, nhất là đời sống của thợ thuyền trong hầm mỏ.  Sau đó, ông chuyển hẳn về Luân Đôn và mở phòng mạch tại khu vực phía Tây khá nhiều năm.  Kế đến, vì sức khỏe kém ông buộc phải ngừng làm việc để dưỡng bệnh.    Là bác sĩ, A. J. Cronin có nhiều dịp tiếp xúc với đủ hạng người, đầu óc tinh nhạy không chỉ trong lĩnh vực nghề nghiệp nên ông hiểu rõ tâm tình, cá tính, mặt tốt cũng như mặt xấu của từng người. Nhờ vậy, ông đã tích lũy được số vốn lớn, rất quý cho việc trước tác về sau, khi phải bỏ nghề y, vào năm 1930.    Văn nghiệp của ông bắt đầu… và vừa đặt bút, ông thành công ngay ở tác phẩm thứ nhất: “Lâu đài người bán nón” (1931). Những tác phẩm khác kế tiếp ra đời cũng đều được đón tiếp nồng nhiệt, không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài.    Tại Việt Nam, chúng ta được đọc khá nhiều sách ông qua các bản dịch, tiêu biểu nhất, ngoài “Lâu đài người bán nón” còn có “Thành trì”, “Gươm công lý”, “Số phận của Robert Shannon” v.v…  Ông có lối viết giản dị, chân thật, chính xác, đầy hấp lực. Từ kẻ hung bạo, vô lương, thâm độc đến người thuần phác, đôn hậu, vị tha, qua ngòi bút tinh sắc của ông họ đều như sống thật, đi lại, nói năng, hành động… Cá tính họ nổi bật rất tự nhiên, không chút gượng ép. Văn ông giàu tình tiết, hết sức lôi cuốn mà không sa đà. Ông tả hạng người thế nào thì phong cách biểu hiện đúng như thế. Điều đáng kể nhất là tác phẩm ông chan chứa lòng nhân mà không hề có giọng dạy đời, công thức.  Hiển nhiên, chúng tôi không xác quyết là văn ông hay nhất. Tuy vậy, có một điều quan trọng để người thưởng ngoạn đánh giá tác phẩm, ấy là sau khi đọc xong ta cảm thấy yêu đời hơn lên, muốn phấn đấu chớ không nản lòng, bỏ cuộc.    Với niềm tin ấy, chúng tôi gửi đến bạn đọc quyển sách nhỏ này.                                                    MINH QUÂN – MỸ LAN *** Nhiều năm kế tiếp trôi qua... Mấy cây anh đào trước nhà xum xuê hơn trước. Buổi chiều tháng 4 năm 1910, tôi rời trường, lòng vui vẻ, hãnh diện. Mặt trời hồng rực rỡ lặn sau ngọn Ben. Chiều nay tôi cảm thấy tôi chính là tôi, bởi đôi lúc tôi ngờ ngợ như mình là kẻ nào khác, vâng! Đôi lúc tôi xa lạ với chính tôi. Sáng hôm kia ở hiệu Baxter ra, tôi chợt nhìn trong tủ kính, giật mình vì hình ảnh phản chiếu cho tôi thấy một thiếu niên 15 xanh xao, gầy ốm, tay chân dài ngoằng, nét mặt u trầm, buồn bã... Tôi đã giật mình tự hỏi: mình đó sao, trời? Nhưng hôm nay thì tôi hết sức phấn khởi, sung sướng vì câu chuyện thầy Reid nói với tôi lúc tôi ra về. Số là chúng tôi sắp được nghỉ lễ Phục Sinh, trước khi tan học thầy đã giữ tôi lại (thầy còn trẻ, khoảng 30, dáng cao lớn, khỏe mạnh, một cái sẹo dài nằm vắt ngang ở môi trên và vì nó, chiếc mũi thầy hơi thấp xuống, khiến người ta thấy đôi mắt xanh thầy to hơn, lộ hơn dưới mái tóc óng ả vàng hoe. Da thầy trắng và hơi nhờn. Râu luôn luôn được cạo nhẵn, hình như ông không cần che giấu vết sẹo trên môi). Thầy ôn tồn bảo tôi: - Robert Shannon! Trò không giống như các bạn cho nên... – ông gõ gõ tay lên bàn trong khi tôi nhìn chăm chú vào ông – ta muốn đề nghị với trò một điều này... Trở về đến nhà, tôi vẫn còn bàng hoàng xúc động vì câu chuyện thầy nói với tôi. Tôi muốn được một mình nghiền ngẫm bí mật này. Song ông tôi đã chờ tôi trước cửa sổ mở rộng, bàn cờ "dame" trước mặt. Giọng nóng nảy, ông hỏi: - Sao con về trễ thế? Có gì hở? -Thưa ông, không có gì. Ít lâu nay tôi trở nên khép kín đối với ông, vả chăng ông khôngcòn là bậc anh hùng đối với tôi và bí mật quý báu này tôi không muốn chia sẻ với ông. Phải công bình mà nhận rằng ông ít thay đổi hơn tôi: vẫn còn khỏe mạnh, tuy râu ông ngả bạc và chiếc áo ghi lê càng ngày càng nhiều vết bẩn hơn. Gần đây, bạn ông, ông Peter-Dickie đã vào Viện dưỡng lão. Song về phần ông, ông rất ghét nghe ai nói đến chết chóc cũng như nhắc đến tuổi tác đè nặng người ông. Càng lúc ông càng tỏ ra yêu đời, vui vẻ nhất là trong lúc này, theo lệ thường, bà cố tôi đã đi Kilmarnoch. Ông không vui vì cảm thấy tôi không hăng say chơi cờ với mình, cái thú ông vẫn say mê: - Robert, con làm sao vậy? Y như ngồi trên lửa... Tôi nén lòng đến ngồi trước mặt ông, ông cúi đầu nhíu mày nhìn bàn cờ, chú chú chăm chăm tính nước và ông giăng bẫy tôi bằng cách đi một nước cờ với vẻ hết sức lơ đãng, tay còn gõ gõ ống điếu nữa chớ. Còn tôi, tôi đầu óc đâu mà nghĩ đến trò chơi: tôi đang bị ám ảnh về cái đề nghị tốt đẹp của thầy Reid. Trước mắt tôi tương lai rộng mở. Như tất cả các bạn đồng học, tôi hết sức lo lắng, bối rối khi sắp rời trường để chọn nghề. Tôi có tham vọng, muốn trở thành một nhân vật đặc biệt, nhưng hoàn cảnh tôi chỉ cho tôi rất ít hy vọng để trở thành mẫu người tôi ao ước. Ở trung học tôi luôn luôn nhất lớp và các giáo sư đều tiên đoán tôi sẽ tiến xa. Song chưa một vị giáo sư nào, trừ thầy Reid để ý đến tôi đặc biệt. Thầy là người chú ý đến năng khiếu tôi, đứa học trò say mê sinh vật có cái gì khác hơn là sự giải trí suông. Tóm lại, thầy có biệt nhãn đối với tôi. Tôi còn nhớ rõ... Một hôm vào mùa hè, một đôi bướm xanh loại thông thường nhất bay qua khung cửa sổ mở rộng, vào lớp. Cả lớp đều ngẩng lên, nhìn. Giọng mơ màng như là đặt câu hỏi cho chính mình chứ không phải cho bọn môn sinh, thầy Reid nói: - Tại sao chúng bay thành cặp, nhỉ? Im lặng giây lâu và rồi, tôi rụt rè đáp: - Thưa thầy, vì bây giờ là mùa chúng ghép đôi. Thầy nhìn tôi hỏi thêm: - Có phải trò nghĩ rằng bướm cũng biết yêu nhau không? - Thưa thầy, vâng! Chúng nhận ra nhau cách xa hàng dặm nhờ một mùi thơm do chúng tiết ra. - Chuyện khá lý thú đấy! – Thầy tiếp, vẻ nghi ngờ về sự hiểu biết của tôi – Này, Robert! Trả lời tôi câu nữa: làm sao chúng nhận ra mùi của nhau? - Thưa, nhờ những gai thịt ở đầu mấy sợi râu... Thấy thầy nhìn tôi, mỉm cười có vẻ tán thưởng và khuyến khích, tôi thêm: - Thưa thầy, điều này cũng chưa có gì là mới lạ, so với loại Amrial pourpre, giống này ngửi bằng cẳng kia... Bạn học tôi cười lên như phá, nhưng chúng bị thầy cắt ngang: - Im đi, lũ ngu! Ít nhất trò ấy còn khá hơn các trò. Này, Robert! – Ông tiếp tục hỏi tôi. – Trò có thể cho biết chúng có thể nhận ra nhau không, nếu không có cái mùi đặc biệt kể trên? - Thưa thầy, mắt của loài bướm lạ lắm: nó gồm khoảng ba ngàn phần tử, mỗi phần gồm có đủ giác mô, võng mô, thủy tinh thể, nhưng dù chúng có tài phân biệt màu sắc, chúng chỉ có thể thấy rất gần, không quá một thước hai. Khi tôi dứt lời, nét mặt thầy rạng rỡ hẳn lên song thầy không hỏi tiếp gì nữa. Cuối giờ học, trong khi sắp hàng, thầy mỉm cười với tôi. (Ôi chao! Làm sao quên được cái cười thân mật đó!). Kể từ ấy, không những khuyến khích tôi tiếp tục học thêm về Sinh vật học, thầy còn dạy tôi Vật lý, trình độ cao hơn các bạn tôi. Vài tháng kế đó, thầy dắt tôi vào phòng thí nghiệm, hướng dẫn tôi thêm. Nhờ vậy, tôi thường rất cô đơn, trở nên mến phục thầy rất mau và những lời thầy dạy trong lớp, tôi xem ngang như Kinh Thánh. Gavin đã theo lời cha vào trường nội trú Larchfield năm ngoái. Điều này làm tôi đau đớn không ít. Đó là một trường Trung học trưởng giả nổi tiếng, học phí rất đắt, khó có con nhà trung lưu nào học nổi. Tôi chỉ còn một điều an ủi là: tuy Gavin được cảm tình của nhiều bạn mới, nó vẫn quý mến nhất có mình tôi không thay đổi. Mỗi trưa hè, mượn xe đạp thầy Reid, tôi vượt 15 dặm đến để xem bạn tranh giải cho trường. Thoạt thấy tôi, tức thì Gavin bỏ hết đám bạn vây quanh, can đảm chạy lại với tôi. Tôi, kẻ phá đám, khép nép đứng chờ bạn ở một góc sân thể thao, cái sân sang trọng, Gavin, áo thun sọc, quần nỉ mềm trắng, buông mình xuống cỏ cạnh tôi, bứt cọng cỏ đưa lên miệng, hỏi: - Sao? Ở Lenvenford có gì lạ không? Và nhìn sâu vào mắt nhau, chúng tôi biết rằng không gì chia rẽ được chúng tôi, trừ cái chết, nhưng chúng tôi còn trẻ quá, lo gì? Song dù tình bạn chúng tôi khăng khít, mãnh liệt, dù suốt ngày nghỉ nào cũng có mặt bên nhau, chúng tôi vẫn cam chịu xa nhau hàng tháng dài vì bận học. Phần tôi, đáng lẽ thay vì bằng lòng với một thằng bạn kém hơn Gavin đôi chút, tôi thà cô độc thui thủi một mình. Một mình, tôi rong ruổi khắp các vùng quanh tỉnh, tôi quen thuộc từng tổ chim, từng phiến đá, từng lối mòn trên các ngọn đồi Winton. Cho đến nỗi mấy bác gác rừng quen mặt và cho phép tôi tự do đi lại, đó là một đặc ân hiếm có. Bộ sưu tập của tôi tăng dần. Tôi có cả những loại sâu bọ hiếm nhất, như con chuồn chuồn đặc biệt thuộc loại Pantala flavescens, theo tôi biết thì chưa bao giờ được thấy ở Tô Cách Lan này, trước đây. Nhờ tìm tòi thám hiểm, tôi không hề ao ước "nghỉ hè trên bãi bể" như các bạn. Trí tưởng tượng mang tôi ra xa hơn mấy bờ bể nhỏ. Đồng hoang đối với tôi trở thành rừng hoang vu, nơi tôi mạo hiểm xông pha với nhiều thận trọng. Nhưng thưa các bạn, đừng ngỡ là ngoài giờ học tôi được tự do theo đuổi đàn bướm suốt ngày đâu. Ba tôi luôn luôn trông coi cho giờ rảnh rỗi của tôi trở thành hữu ích. Từ lúc ông cho là tôi đã đến tuổi có thể làm việc được, ông kiếm việc cho tôi ngay. Hiện nay, sáng sáng tôi phải đến lò bánh mì Baxter, lấy xe ba bánh đạp đi giao bánh nóng cho thành phố đang còn ngái ngủ. Số tiền kiếm được, ba tôi cất hết, viện lý do chính đáng: để trang trải một phần phí tổn nuôi tôi. Ông không ngừng thúc bách mẹ tôi giảm chi, dù bà đã giảm chi đến mức tối đa. Thời gian gần đây, ba tôi đích thân thanh toán mọi chi phí trong tháng, ông luôn luôn đòi bớt, bớt, bớt cho đến nỗi người bán phát khùng lên; mua bất cứ vật gì ông cũng cò kè lâu lắc. Mỗi khi nghe bán đấu giá, bán xôn một vật gì xem ra có ích (theo ý ông) ông liền quyết định đi mua. Nhưng tính hà tiện của ông thường thắng: trở về với hai tay không, ông vui vẻ reo lên rằng tiền vẫn còn nguyên! Một tiếng kêu thích thú làm tôi chợt tỉnh, tiếng kêu của ông tôi. Đầu óc bay bổng đâu đâu nên tôi đã thua nốt hai con cờ chót. Ông tôi cười hả hê: - Ta thắng được con rồi, thấy chưa? Thắng cậu học trò thông minh nhất tỉnh đâu phải chuyện chơi? Tôi vội vàng rời ông ngay, chỉ nơm nớp sợ ông giữ lại bày ván nữa. ... Mời các bạn đón đọc Những Ngày Xanh của tác giả Archibald Joseph Cronin.
Những Năm Ảo Mộng - Archibald Joseph Cronin
ARCHIBALD JOSEPH CRONIN sinh năm 1896 ở Cardross (Scotland), làm y sĩ ở một khu kỹ nghệ xứ Galles rồi làm thanh tra mỏ (1924). Ông đã trình một luận án có giá trị về y khoa tại Đại học Glasgow (1925). Sau đó, ông đến hành nghề ở Londres, phòng mạch rất đông khách. Rồi vì quá lao lực, ông bắt buộc phải nghỉ việc. Để giải trí, ông viết cuốn: Người thợ làm nón và lâu đài của ông ta (1931), quyển truyện đã tạo được một thành công đáng kể. Tiếp theo, thành công đã được lập lại với các tiểu thuyết Thành trì (tác phẩm phần lớn như một tự thuật), Chìa khóa mở thiên đường, Những năm tóc còn xanh… Trở thành một nhà viết truyện nổi tiếng trên thế giới, A.J. Cronin bắt đầu chia thời gian cho việc viết văn và du lịch. Cho tới nay, ông đã xuất bản hơn hai mươi tác phẩm. Bạn đọc Việt Nam đã từng làm quen với tác phẩm Thành trì và Thanh gươm công lý; nay chúng tôi xin giới thiệu Những năm ảo mộng (The valorous years) nhằm giúp cho các bạn trẻ yêu thích văn học hiểu biết thêm về một tác giả lớn của văn học Anh hiện đại. *** Xuất thân từ một gia đình lao động nghèo ở Levenford, Duncan Stirling, nhân vật chính của tác phẩm có thể được xem là từ nhân dân mà ra, và với nghị lực, đôi bàn tay trắng, tài ba trời cho của mình, anh đã vượt qua bao thử thách, trở lực để giành lấy học bổng trường Y và cuối cùng trở thành bác sĩ. Nhưng cũng chính vào lúc đó, anh đứng trước một sự lưa chọn: ở lại làm một chuyên gia tại thành phố lớn, tìm ra các phát minh mới, nổi danh và giàu có nhưng xa cách bệnh nhân, không dùng đến trí tuệ mình mà chỉ dựa vào máy móc hiện đại, hay trở về nông thôn hẻo lánh làm một thầy thuốc khiêm nhường cả về chức vị lẫn tiền bạc, phương tiện y khoa chỉ gồm thuốc men và dụng cụ cổ lỗ sĩ, nhưng lại rất gần người bệnh, lại ấm tình người, chăm sóc bệnh nhân đến phút cuối. Tác phẩm đã lý giải một cách thỏa đáng đầy xúc động về sự lựa chọn của Duncan. Đây có lẽ cũng là câu hỏi dành cho các bạn trẻ khi sắp rời mái trường Y, đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. *** Thứ sáu. Duncan ra khỏi bệnh viện sau một ngày thật bận rộn. Ngay sáng, anh đã nộp đơn ứng cử vào chức viện trưởng, và bây giờ tâm trí đầy ắp dự tính, anh đi ngược đường Công Chúa để về nhà. Anh chợt dừng lại. Một bóng dáng quen thuộc đi về phía anh. - Hamish! - Vâng, chào bác sĩ, chính tôi đây! Họ bắt tay nhau thật chặt. Rõ ràng là Hamish có vẻ không được tự nhiên trong bộ quần áo diện ngày chủ nhật màu sậm, mặt đỏ au lên vì cái cổ cồn cao trắng. Anh ta rụt rè nhận xét: - Thưa bác sĩ, đã lâu rồi tôi không gặp bác sĩ. Nhân dịp ghé qua Edimbourg, tôi định sẽ qua thăm bác sĩ một lát. Bây giờ, bác sĩ đã là người thành danh, chắc bác sĩ không còn thì giờ tiếp những người như bọn tôi. - Thật là vớ vẩn, Hamish ạ! Ông bạn già ôi, mình thật mừng gặp lại cậu. Hãy vào phòng tôi đi, mình sẽ cụng ly. Chỉ lát sau, Hamish đã ngồi ở trong phòng Duncan, mũ kết trên gối và một ly whisky cầm ở tay. - Xin chúc sức khỏe bác sĩ! - Mình cũng chúc sức khỏe cậu, Hamish ạ! Có gì lạ không? Cậu lên Edimbourg làm gì thế? - À …ờ mà! Tôi phải lên mua mấy thứ. Thuốc men, vài thứ vặt vãnh… Duncan ngạc nhiên: - Tôi tưởng dưới nhà mua thuốc ở Saint Andrews chớ? - Vâng, hồi xưa. Nhưng bây giờ mua ở một tiệm khác, rẻ hơn. - À ra thế! Duncan chợt thẳng người lại. - Vả lại… (anh chàng cao lớn này có vẻ lúng túng) tôi không chỉ đến Edimbourg vì mỗi việc ấy, tôi đi bán vài quyển sách cũ của bác sĩ Murdoch. - Lại có chuyện đó nữa cơ à? Duncan nhìn sững người khách đến thăm. Rồi với lấy cái tẩu để trên mặt lò sưởi, anh bắt đầu nhồi thuốc. - Tôi mong rằng mọi việc đều tiếp tục tốt đẹp ở Strath Linton chứ? - Vâng, vâng, Hamish vội trả lời, mọi việc cũng chạy vậy thôi. Hiển nhiên là cụ chủ không được khỏe lắm từ ít lâu nay. Chao ôi, bảy chục chứ ít gì, cũng phải mệt chứ! - Đáng lý cụ phải có một phụ tá. - Phụ tá! Hamish nhắc lại, môi bĩu ra dè bỉu, cụ đã thay bốn bác sĩ phụ tá chỉ trong có sáu tháng! - Sao thế? Hamish e dè mỉm cười: - Họ làm mọi việc đều trái khoáy hết cả. Họ không chịu đi khám nếu có bệnh nhân gọi lúc ban đêm, họ nhầm thuốc. Chao ôi! Họ làm cụ chủ gần phát điên lên, vì vậy cụ đã tống họ ra cửa hết người này đến người khác. (Anh ta dừng lại giây lát) Có thể nói là chẳng gặp ai ra hồn cả, ngoại trừ bác sĩ, bác sĩ ạ. Duncan quẹt mạnh một que diêm: - Chắc chắn ta có thể tìm ra một người tốt. Tôi biết khối bác sĩ trẻ rất có khả năng. Tôi sẽ gửi về một người. Rượu Whisky đã làm Hamish hoạt bát hẳn lên: - Không cần nữa đâu bác sĩ ạ. Bây giờ thì số khách không còn nhiều đủ để phải có một phụ tá. Duncan quay lại và bắt đầu đi tới đi lui. - Trời đất! Sao lại thế? - Thế này, bác sĩ ạ, ở nhà đang có sự cạnh tranh. Có một bác sĩ, ông Bailey, do đích thân Overton mang tới. Ông ta nhận lệnh của tên cướp có giọng đường mật đó và đáp lại, ông ta được một ngàn hai trăm công nhân của nhà máy đúc nhôm và nhà máy thủy điện. Họ bắt buộc phải đến phòng khám của ông ta, dù họ ưng hay không. Vì đó là người của công ty! Bác sĩ cũng biết là cụ chủ không bắt trả tiền mặt. Cụ chỉ nhận ít tiền qua các phiếu bảo hiểm xã hội đem lại. Thế mà bậy giờ cụ chỉ còn khoảng nửa tá phiếu, chỉ đủ chi tiêu theo kiểu giật gấu vá vai thôi, chật vật lắm! Bác sĩ cứ tin tôi đi. Duncan thảng thốt hình dung ra tình cảnh túng quẫn của ông thầy thuốc già. - Ôi dào! Rồi cũng có lối thoát chứ! Hamish tiếp thêm đầy vẻ lạc quan. Dẫu sao tôi cũng rất mừng gặp lại bác sĩ. Cô Jeanne dặn tôi nhắn với bác sĩ là bác sĩ luôn luôn là vị khách quý của nhà nếu có khi nào bác sĩ có dịp ghé thăm cái nơi chó ăn đá gà ăn muối của chúng tôi. Khi nghe nhắc đến Jeanne, Duncan cứng người lại. Anh mường tượng thấy cô đấu tranh chống lại thù nghịch, làm việc vất vả với lòng can đảm bình thản và vui vẻ biết chừng nào! Anh hiểu ra là anh chưa bao giờ hết yêu cô, và anh cũng lại nhớ ra một điều khác. - Tôi tưởng cô ấy thường gặp cậu Aigle. - Đúng vậy! Alex vẫn lảng vảng đến nhà. Cậu ấy nghĩ rất tốt về cô. Hai tháng sau này, cậu ấy ở Canada. Nhưng chúng tôi chờ cậu ấy trở về vào cuối năm nay. - Có lẽ khi ấy mọi việc sẽ được dàn xếp cho bác Murdoch. Và cho cả cô Jeanne. - Là cái chắc rồi! (Hamish mỉm cười đầy ngụ ý) Alex muốn lấy cô, bác sĩ biết chứ! Sau khi Hamish ra về, Duncan ngồi thừ ra nhìn những món quà đạm bạc mà gia đình Mac Kebre gửi tặng anh. Anh nhớ lại thật rõ căn nhà nghèo nàn của người gác rừng trong đêm tối đầy tuyết với người phụ nữ đang hấp hối, người phụ nữ mà anh đã cứu sống. Đêm đó mới thật sự có ý nghĩa, thật sự tuyệt vời. Anh thả mình vào suy tư “Trời ơi! Tôi đã thật sự làm được điều gì có ích chưa kể từ thời kỳ đó tới giờ?” Nhưng bây giờ, tấn bi kịch trong tuyết đó có nghĩa lý gì? Những rủi ro của một vị thầy thuốc nông thôn già nua và tầm thường liên quan gì đến anh? Đã từ lâu, anh gột bỏ ngoài đời mình mọi xúc cảm. Tương lai và sự nghiệp của anh tùy thuộc vào sự gột bỏ cảm xúc ấy. Vả lại cuộc hôn nhân giàu có sắp tới sẽ xóa đi rất nhanh những lo âu phiền muộn của gia đình Murdoch. ... Mời các bạn đón đọc Những Năm Ảo Mộng của tác giả Archibald Joseph Cronin.
Những Điền Chủ Nếp Xưa - Nikolai Vasilyevich Gogol
Nikolai Gogol một cái tên khá quen thuộc với độc giả Việt Nam với những tác phẩm như “Những Linh hồn chết”, “Quan thanh tra”. Thậm chí nó còn được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy ở các trường phổ thông. Cách nay mấy năm, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nikolai Gogol đã có hẳn một cuộc hội thảo về các tác phẩm của Gogol tại Trung tâm Khoa học và Văn hoá Nga ở 501 Kim Mã. Hà Nội với nhiều tham luận có giá trị của các dịch giả, các nhà nghiên cứu Văn học Nga như Phạm Vĩnh Cư, Vũ Thế Khôi, Hoàng Thuý Toàn, Phan Hoàng Giang, Cao Xuân Hạo, Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Trường Lịch… Trên tay tôi đang có cuốn truyện vừa “Những điền chủ nếp xưa” của Nikolai Gogol qua bản dịch của dịch giả Nguyễn Thị kim Hiền. Với người đọc, chắc cái tên Nguyễn Thị Kim Hiền cũng khá quen thuộc với những tác phẩm như: “Trở về E-Đen”, “Thế giới ngược”, “Sonechka”… Xin trân trọng giới thiệu với các bạn cuốn truyện song ngữ Việt-Nga “Những điền chủ nếp xưa” của Nikolai Gogol qua bản dịch của Kim Hiền, chúc các bạn mọi điều tốt lành!!! Lê Thanh Minh *** Tôi rất yêu cuộc sống giản dị của những chủ nhân các làng quê xa xôi mà ở Tiểu Nga người ta thường gọi là điền chủ nếp xưa, những người hệt như những ngôi nhà hữu tình già nua cũ kỹ, đáng yêu bởi vẻ tạp sắc loang lổ, hoàn toàn đối lập với kiểu nhà tân thời phẳng phiu nhẵn nhụi, khi mà tường nhà còn chưa bị nước mưa xói tẩy, mái chưa hề phủ rêu xanh và thềm nhà còn chưa bị tróc vữa để phô ra những viên gạch đỏ. Thi thoảng tôi vẫn thích được lạc vào nơi ấy, dù chỉ phút giây thôi, vào cái môi trường cuộc sống biệt lập lạ thường ấy, nơi không một ước muốn nào có thể vượt qua dãy bờ giậu quanh khoảng sân nhỏ, ra khỏi hàng rào của ngôi vườn đầy những cây táo cây mận, vượt khỏi những ngôi nhà gỗ quê mùa lung lay xiêu vẹo xung quanh khu vườn, được những cây liễu, cây cơm cháy và cây lê nghiêng bóng che chở. Cuộc sống của các vị chủ nhân khiêm nhường ấy bình lặng quá, êm ả quá, đến nỗi trong phút chốc dường như bạn bỗng quên lãng đi và bạn nghĩ rằng hoàn toàn không hề tồn tại những niềm say mê, những ước vọng và những sản phẩm bất an của hung thần vốn thường làm nhiễu loạn trần thế, chẳng qua là bạn chỉ thấy tất cả những thứ đó trong những cơn mơ sáng chói và lấp lánh mà thôi. Từ nơi đây tôi thấy ngôi nhà nho nhỏ thâm u có hàng hiên với những cột gỗ nhỏ đen xỉn bao quanh toàn bộ nhà, để mỗi khi sấm sét và mưa đá thì có thể ra đóng cửa chớp mà không bị ướt. Đằng sau nhà có cây dã anh thơm ngát, những hàng cây ăn quả thấp lè tè, lúc lỉu quả anh đào đỏ thắm với cả một biển những trái mận màu hồng ngọc mờ phấn xám, cây phong lòa xòa, dưới gốc có trải tấm thảm để ngồi hóng mát; trước nhà là chiếc sân rộng thênh thang với lớp cỏ tươi xén ngắn, một lối mòn dẫn từ vựa lúa mì đến bếp và từ bếp đến phòng ngủ của các vị chủ nhân; con ngỗng cổ dài đang uống nước với bầy ngỗng con lông mịn như tơ; hàng dậu treo đầy những xâu táo xâu lê phơi khô và những tấm thảm đang hong gió; chiếc xe ngựa chở đầy dưa bở bên cạnh vựa lúa mì, con bò thiến được cởi dây buộc đang lười biếng nằm bên cạnh – đối với tôi, tất cả những cái đó có một vẻ gì đó tuyệt mỹ không sao cắt nghĩa được, có thể do tôi chẳng thể nào gặp lại chúng nữa, hoặc cũng có thể đối với chúng ta tất cả những gì đã xa cách thì đều đáng mến đáng yêu. Trong mọi trường hợp, ngay cả thưở ấy, khi chiếc xe ngựa của tôi gần đến bậc thềm của ngôi nhà nhỏ đó, tâm hồn tôi bỗng dâng trào một trạng thái dễ chịu và yên tĩnh lạ thường; những con ngựa vui vẻ chạy tới trước thềm nhà, người xà ích rất bình thản nhảy từ trên ghế xuống và rất bình thản nhồi thuốc vào tẩu, như thể bác ta vừa về đến nhà mình, ngay cả tiếng sủa mà mấy con chó barbos, brovka và zhuchka1 lãnh đạm cất lên cũng khiến tôi thấy vui tai. Nhưng hơn tất thảy những cái đó, tôi thích nhất các vị chủ nhân của góc nhỏ giản dị ấy, những ông lão, bà lão ân cần, vồn vã bước ra chào đón khách. Cho đến tận bây giờ, đôi khi tôi vẫn hình dung ra họ trong tiếng ồn ào giữa đám đông những người mặc áo đuôi tôm theo mốt, và những lúc đó tôi lại như thấy mình dường như đang trong giấc mơ dở dang về một thời quá khứ đã qua. Trên gương mặt những ông bà già đó lúc nào cũng thể hiện lòng nhân từ, sự vồn vã chân thành đến nỗi dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, bạn vô tình từ bỏ những mơ ước táo bạo của mình và dần dần toàn tâm toàn ý chuyển sang một cuộc sống yên bình phẳng lặng. Đến tận thời điểm này tôi vẫn không thể nào quên được đôi vợ chồng già thế kỉ trước, những người mà than ôi, nay đã không còn nữa, nhưng cho đến bây giờ tâm hồn tôi vẫn tràn đầy thương cảm, và tôi thấy lòng mình thắt lại một cách lạ thường mỗi khi hình dung rằng đến một lúc nào đó mình lại đến khu tư thất xưa của họ mà nay đã thành hoang vắng, và sẽ thấy hàng loạt nhà cửa đổ nát, mảnh ao đã bồi lấp, đoạn hào bị cây cỏ trùm khuất tại cái nơi xưa kia từng có một ngôi nhà xinh mái thấp của họ - và ngoài ra chẳng còn gì khác nữa. Chao ôi là buồn! Chưa chi tôi đã thấy trước là buồn quá mất rồi! Nhưng thôi chúng ta hẵng quay lại câu chuyện. ... Mời các bạn đón đọc Những Điền Chủ Nếp Xưa của tác giả Nikolai Vasilyevich Gogol.
Giấu Anh Vào Trong Nỗi Nhớ Của Em Đi - Hân Như
Cuối cùng thì phần 3 của Chỉ có thể là yêu sắp đến tay bạn đọc rồi, anh chàng Hải Long lạnh lùng cùng siêu xe Windy và chàng lãng tử Huy Khánh tái xuất sẽ đem lại những bất ngờ gì? Các bạn đón chờ nha Lời tác giả: Thân gửi bạn đọc yêu quý. Cũng đã gần hai năm kể từ ngày cuốn tiểu thuyết “Chỉ có thể là yêu” đầu tiên được đặt lên kệ sách, cũng là ngần ấy thời gian tôi dành hết tâm huyết cho cuốn tiểu thuyết thứ ba có tên là “Giấu anh vào trong nỗi nhớ của em đi” này. Gần hai năm không phải là một thời gian ngắn nhưng cũng đủ dài để tôi suy ngẫm và tìm cho mình một con đường, một lối đi riêng trong sáng tác. “Giấu anh vào trong nỗi nhớ của em đi” chính là bước chuyển trung gian trong sự thay đổi về tư duy đó của tôi. Đây là cuốn tiểu thuyết chính thức đóng lại series tiểu thuyết “Chỉ có thể là yêu”, đóng lại thế giới của những chiếc siêu xe và những con người đam mê bất tận với trò chơi tốc độ. Đồng thời, nó cũng mở ra một tư duy sáng tác mới cho bản thân tôi. “Giấu anh vào trong nỗi nhớ của em đi” sẽ không có câu chuyện tình yêu nhiều ngọt ngào mà cũng đầy mâu thuẫn như “Chỉ có thể là yêu”, cũng không nhẹ nhàng mà đầy đau khổ như “Yêu không hối tiếc”, nó lặng lẽ và giản dị như một chiều trời xanh đầy nắng và gió. Ở cuốn tiểu thuyết này, tôi hy vọng sẽ đem đến cho độc giả cái nhìn rộng mở hơn về cuộc sống, về môi trường, về xã hội, về những mâu thuẫn tưởng chừng rất đơn giản nhưng không hề dễ tháo gỡ, về những câu chuyện tình yêu không phải lúc nào cũng có kết thúc đẹp, về những hạnh phúc mà người ta phải đi một vòng thật lớn, thậm chí đánh đổi rất nhiều thứ mới ngỡ ngàng nhận ra rằng, nó vẫn ở ngay bên cạnh mình. Có nhiều người hỏi tôi, tại sao lại không viết về thế hệ tiếp theo của “Yêu không hối tiếc” mà lại quay ngược về quá khứ của “Chỉ có thể là yêu”? Cuộc sống vốn là một vòng luẩn quẩn giữa những mối quan hệ nhiều chiều, khi một câu chuyện này khép lại, sẽ lại có một câu chuyện mới mở ra. Câu chuyện mới ấy lại là bắt đầu của một câu chuyện khác nữa, và biết đâu, kết thúc của nó lại chính là khởi đầu của câu chuyện đầu tiên. Cứ theo cái vòng tròn ấy, bạn sẽ nhận ra có nhiều điều khá thú vị và bất ngờ trong cuộc sống của chính mình. Khép lại cuốn cuối cùng trong series tiểu thuyết “Chỉ có thể là yêu”, tôi sẽ bắt đầu với một chủ đề mới, ở đó nhân vật cũng có những sở thích và đam mê mới. Vẫn là những câu chuyện tình yêu nhưng ở đó, tôi tìm được sự trưởng thành của chính mình qua các nhân vật của tôi. *** Cuộc đua! Hạ Chi không biết mình ngủ quên từ lúc nào, khi cô mở mắt ra thì trời bên ngoài đã tang tảng sáng. Chăn gối xung quanh đều nhàu nhĩ- hậu quả của việc cô đã khóc rất nhiều trước khi ngủ quên vào đêm qua. Cô chỉ nhớ một điều là lần cuối cùng cô xem giờ thì khi ấy đã gần 2h sáng. Cô đợi Nguyên đến tận lúc đó để có thể nói chuyện với anh, nhưng rốt cục Nguyên đã không về, và lúc này anh đã về hay chưa cô cũng không biết nữa. Chợt cô lắng tai nghe, có tiếng Nguyên đang nói chuyện ở bên ngoài, hình như là qua điện thoại. -Mẹ cư xử như thế rồi làm sao còn mặt mũi mà nhìn bố mẹ đẻ chị ấy nữa. Mẹ nên để thằng Boo ở với chị ấy hơn là giữ khư khư nó bên mình hay để nó sống với một người cha vô trách nhiệm và một bà mẹ kế. -… -Tại chị ấy hay tại anh con? Mà suy cho cùng cũng là tại mẹ. Ngày ấy mẹ biết anh con đã có người yêu mà vẫn ép anh ấy lấy chị Dung. Nếu không phải tại anh ấy sống không đúng trách nhiệm của một người chồng, một người cha thì chị ấy có cần phải đi tìm một chỗ dựa khác hay không? Vì sao bắt chị ấy phải sống như một người vợ góa và thủ tiết thờ một ông chồng còn sống sờ sờ và rất hạnh phúc bên người phụ nữ khác ở trước mắt? -… -Tại con sao? Con đã chấp nhận ra đi cả chục năm trời, chẳng phải cũng vì cái danh dự của gia đình như mẹ nói sao? -… -Được rồi, có phải con lấy vợ và quên hẳn chị ấy thì mẹ sẽ nhượng bộ phải không? -… -Con hy vọng mẹ giữ lời nói ngày hôm nay. Chiều nay con đưa chị Dung về và mong bố mẹ thu xếp ổn thỏa mọi việc. Con chào mẹ. Sau câu chào đó, căn phòng lại trở về với vẻ lặng ngắt đến rợn người. Hạ Chi nhắm mắt lại khi nghe tiếng mở cửa phòng. Nguyên bước vào, ngồi xuống bên giường, khẽ đưa tay gạt tóc cô sang một bên rồi cúi xuống hôn lên thái dương cô. Anh cứ như thế ngồi nhìn cô cho tới tận khi Hạ Chi không nhịn được đành giả vờ cựa mình rồi mở mắt ra. Thấy cô thức giấc, anh cúi xuống nhìn, thấy đôi mắt cô hơi đỏ không biết là do thiếu ngủ hay do cô đã khóc nữa? -Hôm qua Vincent đưa em về lúc mấy giờ?- Anh cười hỏi. -Tầm 11h.- Giả vờ như không hề biết chuyện gì xảy ra, cô đáp lại- Anh uống rượu sao? -Ừ, tối qua có uống hơi nhiều nên anh ngủ ở ngoài salon, em không thích mùi rượu mà. Hạ Chi nhìn nụ cười gượng ép của anh, định hỏi mọi chuyện mà mình vẫn ôm trong lòng từ hôm qua đến giờ, nhưng rồi cô lại cố gắng đè nén nó xuống. Nụ cười như muốn chứng minh rằng anh đã làm gì có lỗi với cô khiến Hạ Chi có phần hơi cay đắng trong lòng. -Mình lấy nhau nhé!- Nguyên nắm lấy tay cô và đột ngột đề nghị. Câu nói là Chi sững lại trong mấy giây. Nếu như không nghe được cuộc nói chuyện của anh với mẹ khi nãy, có lẽ cô sẽ cảm thấy hạnh phúc lắm. Nhưng lúc này cô chỉ cảm thấy có chút đau đớn ê chề khi biết anh đề nghị đám cưới chỉ vì thỏa thuận với mẹ anh. Anh chỉ muốn đánh đổi hạnh phúc của cô lấy hạnh phúc của một người phụ nữ khác mà anh cũng rất yêu mà thôi. Sự thực thì một người đa tình như anh sẽ yêu cô được bao nhiêu phần? Cô có thể trói giữ anh được bao nhiêu ngày? Có thể được anh yêu hơn người phụ nữ bị chồng bỏ kia hay không? -Em đang nghĩ gì vậy? Em không tin anh sao?- Nguyên ngạc nhiên khi thấy cô ngồi thẫn người ra. -Không sao. Em chỉ đang nghĩ tới anh Lâm thôi. Nguyên siết lấy tay cô an ủi: -Thanh Lâm sẽ bình an thôi, em đừng lo lắng quá! -Em còn có một mình anh ấy là người thân, nếu anh ấy còn sống thì em muốn đợi đến ngày anh ấy có thể tiễn em về nhà chồng. -Anh có thể đợi cùng em, nhưng đó là trước khi Vincent xuất hiện. Từ khi biết mối quan hệ giữa hai người, anh luôn có cảm giác lo sợ. Anh sợ khi em nhớ lại, em sẽ không còn là của anh nữa. -Chuyện đó để sau đi anh. Em nghe anh Trung nói có gặp chị dâu anh ra đây tìm anh. Ở nhà có chuyện gì sao? -Ừ, cũng có chút rắc rối, chiều nay anh phải về Hà Nội ngay. Em đi cùng luôn chứ? Anh sợ về đó rồi sẽ không ra đây ngay được đâu. Công việc đợi anh sắp ngập cổ rồi. -Em ở lại cho tới cuộc đua của bác sĩ rồi sẽ về cùng chị Hương. -Vậy cũng được. Nhớ về sớm đấy, anh sẽ rất nhớ em. -Vâng. -Nhưng còn chuyện của em và Vincent…- Nguyên ngập ngừng mãi cũng không tìm ra được lời nào thích hợp để nói. -Cho tới khi em nhớ ra, thì em chỉ biết rằng em yêu mình anh mà thôi. Em nghĩ anh ấy sẽ hiểu và thông cảm. -Anh về Hà Nội rồi, em nhất định không được để nó tán tỉnh đâu đấy.- Anh dí một tay lên trán cô, trừng mắt.- Thôi dậy đi, anh đưa em đi ăn sáng và qua chỗ Thiên Anh chút. *** Hạ Chi không nhớ nổi đây là lần thứ bao nhiêu cô gọi cho Quân và đều được thông báo là thuê bao không liên lạc được. Sau khi xuất hiện và đặt cho cô một đống nghi vấn, anh lại biến mất một cách kì lạ như thế. Cô nên tin ai đây? Thiên Anh? Nguyên? Vincent? Hay Quân? Chưa lúc nào cô lại mong gặp lại anh trai mình như lúc này, có lẽ chỉ có Thanh Lâm là người duy nhất không lừa dối cô. Nguyên đã về Hà Nội cùng Dung cách đây hai ngày. Và cho tới tận khi anh đi, cô đã nhiều lần muốn hỏi đêm đó anh đã ở đâu, có ở cạnh người phụ nữ kia hay không? Nhưng câu hỏi cứ tới cửa miệng lại bị nuốt chửng trở lại, không sao thốt ra được. Một nửa cô tự an ủi mình rằng Nguyên sẽ không bao giờ làm điều không đúng đó, rằng anh không hề đến và ở bên người đàn bà đó như cô tưởng tượng, nhưng một nửa cô lại hoài nghi lòng tin ấy của mình. Người như anh có thể dễ dàng dứt bỏ tình cảm với người mà anh đã yêu đơn phương suốt mười năm trời hay sao? Và cả Trung nữa. Cô chưa biết phải nói gì với anh về chuyện giữa cô với Nguyên, hoặc cũng có thể Trung đã đoán ra hết nhưng không nói gì. Ngày hôm qua đi cùng Trung dạo khắp đảo nhưng cô vẫn chưa tìm ra cơ hội để nói chuyện đó với anh. Mặc dù cho tới lúc này cô không dám chắc mình và Nguyên sẽ đi được tới đâu, nhưng cô cũng không muốn lừa dối một người như Trung. -Anh có ở khách sạn chứ? -Ừ, anh vừa về tới. Chút anh mời em đi ăn tối nha.- Vincent nhiệt tình đáp lại. -Cũng được. Em đang ở phòng khám, chút nữa sẽ về khách sạn. Em cũng có chuyện muốn nói với anh mà. -OK, vậy lúc nào về tới nơi thì gọi cho anh. -Vâng. Thở dài một hơi, Hạ Chi đứng dậy và quay sang nói với Phượng. -Chị về khách sạn đây. Hôm nay em chịu khó ở lại phòng khám một mình nhé! Ngày mai cuộc đua diễn ra nên chắc đêm nay bác sĩ không về đây đâu. Có gì thì em cứ gọi cho anh ấy, anh ấy sẽ về ngay. -Dạ em biết rồi. Hạ Chi cười chào cô bé rồi ra khỏi phòng khám. Hôm nay thời tiết tương đối dễ chịu, lại đang là buổi chiều nên trời tương đối mát mẻ. Ngày mai đã là lễ ra mắt câu lạc bộ đua xe rồi nên mấy hôm nay Thiên Anh cũng rất bận rộn, hết chạy lên trung tâm làm việc lại ghé qua phòng khám rồi tới khách sạn họp mặt với anh em của đội đua xe. Cũng nhờ có sự kiện ồn ào này mà mấy ngày nay Cát Bà đông khách đột biến. Các khách sạn lớn nhỏ đều hết phòng, xe lớn xe nhỏ chạy ào ào trên phố. Công tác chuẩn bị cho cuộc đua đầu tiên này cũng được giám sát chặt chẽ. Đường từ phòng khám về khách sạn khá xa nên bình thường, nếu Nguyên không đưa cô đi thì Hạ Chi thường đi lại bằng xe bus. Từ nơi xuống xe về đến khách sạn khoảng chừng 1km thì cô đi bộ, coi như ngày hai buổi thể dục. Ngày mai sau khi cuộc đua kết thúc, cô sẽ đi cùng Hương về Hà Nội. Cô sẽ kiếm một công việc nào đó ở thành phố và đợi cho tới khi có tin tức của Thanh Lâm. Mặc dù cho tới nay không có tin tức gì, bản thân cô cũng biết là dữ nhiều lành ít, nhưng cô không tỏ ra vô vọng mà vẫn tin sẽ có một ngày anh trai mình trở về. Từ giờ cho tới lúc đó, cô cần phải tiếp tục sống, tiếp tục tồn tại. Cô cũng không muốn mãi để Thiên Anh hay Nguyên lo cho mình. Cho tới hiện tại, cô cũng đã nợ họ một ân tình quá lớn rồi. Đó là những điều Hạ Chi dự định sẽ nói cho Trung biết vào tối nay. Anh sẽ về Lang Biang của anh, còn cô có cuộc sống của mình ở Hà Nội, ít nhất cho tới khi cô nhớ ra mọi chuyện. Vừa đi vừa nghĩ thơ thẩn nên chẳng mấy chốc khách sạn Paradise đã xuất hiện trước mắt Hạ Chi. Ở khách sạn hàng đầu này không lúc nào là vắng khách, vắng xe đẹp hay người đẹp ra vào. Mấy ngày này, phóng viên nhà báo cũng tới đây để phỏng vấn thành viên của hội đua xe rất nhiều nên càng nhộn nhịp hơn. Phía trước khách sạn, đèn hoa treo vô cùng tráng lệ, một tấm bảng quảng cáo lớn treo ngay trên mái cao giới thiệu về các thành viên hội đua xe cũng như những chiếc xe con cưng của họ. Không biết những anh chàng công tử của hội chơi xe đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc cho sự kiện ồn ào và vô cùng hoành tráng này, nhưng chỉ nhìn người ta cũng biết đó không phải một con số nhỏ. Mặc dù quen Thiên Anh và Long- hội trưởng và hội phó của câu lạc bộ này nhưng Hạ Chi cũng chưa bao giờ trực tiếp tiếp xúc với các thành viên còn lại. Họ luôn có một vẻ xa lạ và cao ngạo quá đáng khiến cô cảm thấy không muốn làm quen một chút nào. Hơn nữa, cô cũng cảm thấy những anh chàng này càng lắm tiền thì càng nhiều tật, ngoại trừ Thiên Anh ra thì ngay cả Nguyên cũng không tránh khỏi những tật xấu của đám con nhà giàu nói chung. Đang định rẽ vào con đường dẫn vào khách sạn thì cô nghe thấy tiếng còi xe inh ỏi từ phía sau. Hạ Chi ngoảnh đầu lại, chỉ thấy một chiếc Toyota màu đen đang trờ tới, cũng chẳng cần quá ngạc nhiên vì mấy ngày nay xe ra vào ở đây rất nhiều, tới nỗi khách sạn phải thuê thêm hẳn một bãi đậu xe ở cách đó không xa cho khách để xe. Cô khẽ tránh sang một bên để xe đi vào. Chiếc xe chầm chậm tiến tới, nhưng đầu xe vừa vượt qua cô thì nó chợt dừng lại. Hạ Chi ngẩn người khi thấy có mấy người đàn ông từ trên xe bước xuống, không để cô kịp có phản ứng thứ hai, một trong ba người đàn ông nhanh chóng khóa tay cô lại, người thứ hai bịt ngay lấy miệng cô còn người thứ ba thì mở cửa xe. Tất cả các hành động diễn ra quá nhanh, gần như là chớp nhoáng nên Hạ Chi một tiếng cũng không kêu được, một phản ứng cũng không thể có, cô bị bọn họ lôi tuột vào trong chiếc xe màu đen. Và chiếc xe quay đầu chuyển bánh chạy thẳng về phía ngược lại với hướng mà cô vừa đi. Cùng lúc đó… Trường đua xe Ngư Long- trường đua xe chuyên nghiệp đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam. Quãng đường đua dài hơn 10km tạo thành một vòng khép kín quanh nửa hòn đảo. Hai bên đường đua là hàng rào chắn kiên cố bảo vệ để tránh những tai nạn thảm khốc có thể xảy ra. Mặt đường được thiết kế theo tiêu chuẩn của đường đua quốc tế với những đoạn đường thẳng tắp xuyên qua núi hay những khúc cua- được coi là điểm nhấn kinh điển của các đường đua xe men theo bờ biển. Tại những khúc cua này, nếu tay đua không bản lĩnh và quyết đoán thì rất dễ xảy ra tai nạn, thậm chí là lao cả xe xuống vực núi hay biển. Bắt đầu từ ngày khởi công xây dựng cho tới lễ khánh thành vào ngày mai, trường đua này đã trở thành tâm điểm của những hội mê tốc độ cao. Những tay đua xe ô tô hay mô tô đều hướng về nó, khát khao một ngày được bay trên những cung đường này. Ngày cuối cùng trước khi chính thức khai trương đường đua, hầu như không có phóng viên nhà báo nào được phép tới đây vì các tay đua thường xuyên tới đây để thử xe cũng như làm quen với mặt đường và các khúc cua, nếu không cẩn thận rất dễ xảy ra tai nạn. Lúc này, ở vị trí xuất phát của đường đua có ba chiếc xe ô tô đang đỗ, ngoài ra còn có vài chiếc mô tô dừng ở đó không xa. Nổi bật nhất trong số đó là chiếc xe màu trắng, thon dài, mui trần mà bất cứ ai nhìn vào cũng không thể rời mắt ngay sau đó được. Tên chiếc xe là Windy. Ngồi bên trong chiếc xe là một anh chàng vẻ mặt hơi u uất, có chút dữ tợn và lạnh lùng. Chủ nhân chiếc xe này không phải ai khác, chính là người lâu nay nhận lời Thiên Anh để mắt tới Hạ Chi- Hải Long, đồng thời là chủ tịch câu lạc bộ đua xe. Chiếc xe thứ hai có màu xanh da trời- một chiếc Porsche mới coóng, ngồi trong xe là Thiên Anh- anh chàng bác sĩ đa tài. Chiếc xe thứ ba có màu da cam- một chiếc Ferrari được đặt tên là Prince Sun. Nó còn có một tên khác là Hoàng Tử Chói Chang vì màu sắc quá nổi bật luôn khiến người ta phải nóng rực mắt lên vì vẻ hấp dẫn của nó. Ngồi trong chiếc xe thứ ba này là Huy Khánh- một anh chàng đào hoa và lãng tử, đồng thời cũng là một nha sĩ trẻ ở Hà Nội. Ba chiếc xe xếp theo thứ tự đường đua 1, 2, 3, dường như đang chuẩn bị cho một cuộc đua thử. Phía sau họ là vài chiếc mô tô phân khối lớn mang nhãn hiệu của Suzuki- một tập đoàn sản xuất xe phân khối lớn có thương hiệu trên toàn thế giới. Mấy cậu thanh niên đang ngồi vắt vẻo trên xe vẻ ung dung nhàn hạ, có lẽ họ chỉ tới đây để xem cuộc đua của ba chiếc siêu xe trước mặt mà thôi. Hải Long đang chỉnh lại dây an toàn thì đột nhiên điện thoại rung lên. Khẽ cau mày một cái không vừa lòng, nhưng rốt cuộc anh cũng cầm máy lên nghe: -Đại ca, cô gái ấy bị bắt cóc rồi. ...