Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Tuyết

“Vô cùng phức tạp và cực kì giải trí.” - The New York Times Book Review “Một tập trinh thám siêu hạng – thông minh, phong cách, tính toán tỉ mỉ và giữ nhịp hài hòa.” – Newsday “Nếu bạn còn chưa biết Jo Nesbø là ai, giờ đã đến lúc rồi.” - USA Today Với Người Tuyết, Jo Nesbø không dừng lại ở việc vạch ra một bản đồ tội ác hoàn hảo, mà còn đặt ra một hành trình cá nhân đầy thách thức cho nhân vật được ưu ái nhất của ông: Harry Hole. Giữa những sáng-tối, thiện-ác đối lập xuyên suốt quyển sách, khi thanh tra Hole lần theo những dấu chân trên tuyết để tìm kẻ thủ ác cũng chính là lần theo quá khứ và những mảnh vỡ của chính bản thân mình. TÓM TẮT: Năm 1980, một người phụ nữ có gia đình chở theo con trai trên một chiếc Toyota Corolla chạy đến một căn nhà riêng ở miền quê. Cô dặn con mình chờ ở trong xe rồi vào nhà gặp người tình. Khi cô và tình nhân ân ái với nhau, họ cảm giác như ai đó đang nhìn lén từ ngoài cửa sổ. Họ nhìn ra ngoài và chỉ phát hiện một người tuyết to. Hôm cô đến cũng là ngày tuyết bắt đầu rơi. Hai mươi bốn năm sau, thanh tra Harry Hole phải lần theo dấu vết của một kẻ sát nhân hàng loạt với những thủ đoạn anh chưa từng gặp. Khả năng suy luận nhạy bén, sự cứng đầu cộng với những kĩ năng học được từ khóa nghiệp vụ FBI thúc đẩy Harry tìm ra kết nối giữa các vụ án, anh nhận ra hai điểm chung: tất cả nạn nhân đều là những phụ nữ đã có gia đình và ở mỗi hiện trường vụ án đều có một người tuyết. *** JO NESBØ là nhà văn Na Uy, nhạc sĩ và cựu chuyên gia kinh tế. Tác phẩm của ông đã được dịch sang hơn 50 ngôn ngữ, bán 45 triệu bản. NESBØ chủ yếu được biết đến qua xê ri tiểu thuyết tội phạm về thanh tra Harry Hole, nhưng ông cũng là ca sĩ chính và nhà soạn nhạc cho ban nhạc rock Di Derre của Na Uy. Là một người thích vận động, JO NESBØ còn có sở thích leo núi. Các tác phẩm khác của JO NESBØ đã được Nhã Nam xuất bản: Chim Cổ Đỏ - Jo Nesbo Người Con Trai - Jo Nesbo Kẻ Báo Thù - Jo Nesbo Người tuyết Ngôi Sao Của Quỷ *** [Review Sách] “Người Tuyết”: Tuyết Rơi Lạnh Lẽo Hay Lòng Người Giá Băng? Năm 1980, một phụ nữ có gia đình chở theo con trai trên một chiếc Toyota Corolla chạy đến một căn nhà riêng ở miền quê. Cô dặn con mình chờ ở trong xe rồi vào nhà gặp người tình. Khi đang yêu nhau, họ cảm giác có ai đó đang nhìn lén từ ngoài cửa sổ. Họ nhìn ra ngoài và chỉ phát hiện một người tuyết to. Hôm cô đến cũng là ngày tuyết bắt đầu rơi... Những tinh thể tuyết rơi, trắng xóa. Những con đường phủ màu trắng toát bởi lớp tuyết dày, trơn trượt. Những căn nhà đóng kín cửa mờ ảo trong cơn bão tuyết ùa về, rét buốt. Vậy mà nào ai ngờ được rằng, đó chính là điểm khởi đầu của một chuỗi án mạng gây rúng động toàn Na Uy với kẻ sát nhân máu lạnh mang tên Người Tuyết. Kẻ thủ ác là ai? Động cơ nào khiến hắn ta gây án một cách liên tục xuyên suốt hơn hai chục năm? Tại sao trong ngần ấy năm không một ai nhận ra sợi dây xích móc nối giữa các vụ án mạng xảy ra rải rác vào mỗi mùa tuyết rơi? Tất cả chỉ được Jo Nesbø hé mở dần dần thông qua hơn 500 trang sách của Người Tuyết. Và với cuốn sách này, bạn chắc chắn sẽ phải giật thột cho tới trang sách cuối cùng. Được coi là cuốn trinh thám hay và thành công nhất của tác giả Jo Nesbø, cũng như rất nhiều các trang truyện trinh thám khác, Người Tuyết tái hiện lại hành trình phá án của vị thanh tra tài ba mang tên Harry Hole thông qua cả quá trình dài suy luận và lần theo từng dấu vết. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại tại đó, Người Tuyết sẽ còn gây ấn tượng và để lại dư vị nơi người đọc bằng cách tác giả hé mở bức màn đen tối nơi góc khuất con người. Khi ấy, cuốn sách sẽ như tia sáng le lói giữa làn tuyết lạnh dày đặc, bóc tách từng tầng lớp của sự thật bị ẩn giấu để đưa độc giả tới tận cùng của chuyến hành trình tìm ra công lý. “Càng nhiều tuổi, tôi càng nghiêng về quan điểm cái ác dù thế nào đi nữa vẫn cứ là cái ác, bất kể anh có mất trí hay không. Phàm là con người, hầu như ai cũng có thể bị cái ác chi phối, nhưng không thể lấy lý do đó ra để biện minh cho hành động của mình. Thực sự mà nói, những bệnh rối loạn nhân cách đang ẩn náu trong mỗi chúng ta, và chính những việc ta làm sẽ nói lên mức độ nặng nhẹ của bệnh. Ai chẳng biết trước pháp luật mọi người đều bình đẳng, nhưng điều đó nào có nghĩa lý gì khi mà trong cuộc sống vốn dĩ không tồn tại sự bình đẳng. Vào thời Cái chết Đen hoành hành, thủy thủ chỉ cần ho vài tiếng là lập tức bị ném xuống biển. Cũng phải thôi, vì công lý là con dao cùn, xét theo cả khía cạnh triết học lẫn khía cạnh pháp luật. Những gì chúng ta có chỉ là viễn cảnh bệnh tình tươi sáng hay đen tối mà thôi, các bạn thân mến ạ.” Người Tuyết và hành trình 24 năm một tội ác âm ỉ Như một mạch máu lặng lẽ chảy sâu bên trong các tế bào, Người Tuyết là dòng chảy của một chuỗi án mạng kéo dài 24 năm với tổng cộng 6 người chết với các khoảng thời gian và tại các khoảng không gian khác nhau. Xuyên suốt hơn hai mươi năm, chẳng ai nhận ra sự tương đồng giữa các vụ án ấy cho tới khi thanh tra Harry Hole, người được gửi một bức thư nặc danh có bóng hình Người Tuyết, vào cuộc.  Nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài thì có lẽ khó ai nghĩ rằng toàn bộ cuốn sách dày tới hơn 500 trang này chỉ diễn ra vỏn vẹn trong hơn hai mươi ngày. Hai mươi hai ngày với hai điểm nhìn lại quá khứ nơi mọi sự bắt đầu, thứ Tư ngày 5 tháng Mười một năm 1980 và hiện tại, tháng Mười hai năm 2004. Lật giở từng trang của Người Tuyết, người đọc như đang được chứng kiến một bộ phim trinh thám xen lẫn hành động và kinh dị xuất sắc được đạo diễn bởi một người nghệ sĩ tài ba.  500 trang sách với tổng cộng 5 phần và 38 chương này sẽ là một hành trình theo vòng tròn khép kín nơi độc giả sẽ xuất phát tại điểm khởi đầu và sau một hành trình dài lại quay về lại chính điểm đó. Cái hay của Người Tuyết là ở chỗ nghệ thuật ngắt cảnh của tác giả Jo Nesbø. Tương tự như một bộ phim với các cảnh quay luân phiên một cách linh hoạt giữa vai chính diện và phản diện thì ở Người Tuyết, bạn đọc sẽ được trải nghiệm cảm giác sự thật như gần ngay trước mắt và tưởng rằng chỉ cần vươn tay là ta có thể chạm tới ngưỡng cửa của sự thật thì đột nhiên PHỤT..., ánh đèn sân khấu chợt tắt và nhường sàn diễn cho các cảnh quay khác.  Mình thực sự ấn tượng bởi cách ngắt cảnh của Jo Nesbø vì nó không những không khiến độc giả cụt hứng mà trái ngược lại còn thôi thúc người ta phải lật giở từng trang sách nhanh hơn nữa, đọc truyện và theo dõi câu chuyện với một nhịp điệu hồi hộp và dồn dập hơn nữa.  Khởi đầu bằng một mớ bòng bong và rời rạc Với cách chuyển cảnh và đan xen thời gian mà Jo Nesbø sử dụng trong Người Tuyết thì có lẽ phần đầu tiên của cuốn sách sẽ gây không ít bối rối cho độc giả.  Là phần mở màn của câu chuyện nhưng phần một lại là phần có dòng thời gian và tuyến nhân vật phức tạp nhất. Từ điểm khởi đầu, thứ Tư ngày 5 tháng Mười một năm 1980 nơi vụ án đầu tiên với người phụ nữ đầu tiên mất mạng, độc giả sẽ trở về với đất nước Na Uy thực tại với bối cảnh năm 2004, đến với sở cảnh sát nơi thanh tra Harry Hole quay trở lại làm việc sau chuỗi ngày chìm đắm trong bia rượu và lụy tình. Nhưng Jo Nesbø chẳng để độc giả có thời gian suy ngẫm và làm quen với bối cảnh, ngay lập tức ông đưa độc giả về 12 năm sau thời điểm bắt đầu, nơi những scandal và sự mất tích bắt đầu. Cột totem, điện thoại di động, số liệu ẩn, vực thẳm,... một chuỗi sự kiện và nhân vật rời rạc. Thế nhưng quả thực là sai lầm nếu như chỉ vì thế mà bạn gấp lại Người Tuyết tại đây.  Tên sát nhân và quá tam ba bận mừng hụt  Với Người Tuyết, Jo Nesbø chỉ thực sự làm khó độc giả ở phần đầu tiên vì với các phần còn lại ông tập trung vào quá trình điều tra tên tội phạm. Và bạn hãy yên tâm rằng từ phần hai trở đi dòng thời gian sẽ quay về đúng trật tự. Tuy nhiên, đây lại có thể coi như phần kinh dị nhất vì là đoạn tập trung nhiều thi thể và là nơi lật tẩy mánh khóe nhiều nhất.  Có hơn nửa số vụ án xảy ra với xác chết được tìm thấy khi hình hài không còn vẹn nguyên và sừng sững một nhân chứng duy nhất - một Người Tuyết -  gần hiện trường. Người Tuyết có máu, có thi thể thậm chí chỉ tìm thấy phần đầu, có hung khí gây án hoặc nằm lại hiện trường hoặc biến mất không dấu vết vào hư không. Nhưng còn hay hơn nữa khi ở Người Tuyết còn xuất hiện cả những đoạn đối thoại và hình dung giữa nạn nhân và hung thủ. Sẽ có lúc bạn cảm tưởng như bạn đang đứng nói chuyện trực tiếp với kẻ sát nhân. Cảm giác bị rình rập, thâu tóm, cảm giác có bóng đen phía sau đang rón rén bước tới gần bạn, cảm giác một giọng nói không rõ thực hay mơ đang vọng vào tai bạn,... Chắc chắn Người Tuyết sẽ khiến bạn phải nín thở.  Có thể nói đây là cuốn trinh thám mang tới cho mình nhiều “cú lừa” nhất trong số các cuốn sách cùng thể loại mình từng đọc vì có tới ba lần bạn tưởng chừng như đã tìm ra hung thủ. Các tình tiết, sự kiện và dấu vết trùng khớp tới mức dù bạn có tự mình suy luận hay lựa chọn dõi theo hành trình vị thám tử truy tìm kẻ thủ ác thì rất có thể bạn vẫn sẽ bị lừa.  Lần thứ nhất, tất cả chứng cứ và dòng suy luận đổ dồn vào một gã bác sĩ mang tên Idar Vetlesen. Khi ấy, kể cả tên sát nhân vẫn còn ẩn giấu cũng như tác giả Jo Nesbø, người đứng đằng sau tất cả đã thực sự thành công khi dẫn dắt được Harry Hole đi vào lối cụt đầu tiên của mê cung. Và lẽ dĩ nhiên, như một trò chơi tàu lượn siêu tốc, độc giả cũng bị cuốn theo guồng quay của câu chuyện mà không mảy may nghi ngờ.  Lần thứ hai, sự việc trở nên rối rắm và phức tạp hơn bởi đối tượng tình nghi có sự liên quan hết sức mật thiết và tương đồng với các nạn nhân, một tên chủ tòa soạn mang tên Arve Støp. Lối đi thứ hai này thuyết phục người đọc hơn ở chỗ tác giả đã lồng ghép các yếu tố tâm lý và sự đan xen giữa kí ức và thực tại. Tại đó, thay vì cuốn vào guồng quay của suy luận và chứng cứ thì độc giả lại được tiếp cận với những bức màn bí mật được ẩn giấu, nơi quá khứ của con người và những bí mật chưa hề (và có lẽ sẽ chẳng bao giờ) được bật mí. Thế nhưng, một lần nữa chúng ta lại bị tác giả xoay mòng mòng.  Lần thứ ba, khi cả độc giả và nhân vật chính đều trải qua hai lần mừng hụt vì tưởng như đã thâu tóm được kẻ thủ ác thì với các chứng cứ thu được kết hợp với kẽ hở từ hai lần trước, chúng ta đã có đối tượng lọt vào tầm ngắm mang tên Người Tuyết. Và đó không ai khác chính là nữ thanh tra Katrine Bratt, người cùng đội điều tra với thanh tra Harry Hole và bấy lâu vẫn luôn theo sát quá trình tìm ra kẻ thủ ác.  Đúng là con người thường vô tình phơi bày lời nói dối của chính mình thông qua những biểu hiện bề ngoài; thế nhưng đừng bao giờ hy vọng lật tẩy được một kẻ thấu cáy lão luyện trừ phi anh ta giữ được cái đầu lạnh và tính toán thật kỹ để sàng lọc ra tất cả những biểu hiện đó của từng người chơi.  Thế nhưng, tất cả mới chỉ như ba mảnh ghép còn thiếu của tấm bản đồ. Và thứ thực sự ẩn giấu đằng sau, để tìm ra kẻ sát nhân thực sự, chúng ta cần phải xâu chuỗi lại sự việc và nhìn nhận bức tranh ở góc nhìn tổng thể. Có lẽ chúng ta sẽ phải đồng tình thừa nhận rằng cả tên sát nhân và Jo Nesbø đều thực sự vô cùng tài tình với câu chuyện lần này. Có tới ba lần người ta phải bị thuyết phục và sau ba lần mừng hụt ấy, khi chân tướng cuối cùng lộ diện thì các chuỗi sự kiện, manh mối và câu chuyện vẫn trùng khớp nhau tới lạ lùng. Ba lần chúng ta bị đánh lạc hướng và đi chệch khỏi quỹ đạo nhưng sau cùng thì đường ray vẫn về lại tuyến đường chính, trơn tru và hết sức khéo léo, như chưa hề có chuyện gì xảy ra.  Dòng chảy của góc khuất con người Nếu ví Người Tuyết như một dòng sông thì có lẽ dòng chảy của nó sẽ là sự hòa lẫn của nhiều nguồn nước khác nhau, trong có và đục cũng có, hạ nguồn đổ về mà thượng nguồn cũng góp phần chảy vào.  Tại sao mình lại ví như vậy? Bởi lẽ nếu bỏ qua mạch truyện chính và các yếu tố trinh thám thì Người Tuyết như tập hợp của một loạt những góc khuất trong cuộc đời của mỗi người.  Với kẻ thủ ác, lẽ dĩ nhiên, những bí mật và tổn thương tâm hồn luôn đóng một vai trò lớn tác động tới hành động và nhận thức của hắn. Sẽ có lúc thay vì thù hằn, biết đâu bạn sẽ thương cảm cho hắn. Bạn kinh hoàng và hãi hùng tột độ về cách hắn nhớ lại hành vi tội lỗi của mình, nhưng khi bạn chứng kiến lý do ẩn giấu đằng sau, có khi bạn lại thương hại nhiều hơn.  Với thanh tra Harry Hole, thứ ám ảnh và giết chết tâm hồn anh hơn cả là tình yêu. Có thể nói, các yếu tố hồi tưởng và suy ngẫm về tình cảm của Harry Hole như một điểm sáng xoa dịu tâm hồn người đọc giữa bối cảnh đầy tàn bạo và chết chóc, mặc dù câu chuyện tình ấy, dẫu vấn vương và mãnh liệt thật đấy nhưng lại chẳng phải đẹp đẽ và màu hường như người ta vẫn tưởng.  “Vậy nguồn cơn nỗi bất hạnh của anh là gì hả Harry?” Câu trả lời thốt ra khi anh còn chưa kịp nghĩ kỹ. “Yêu một người yêu tôi.” Katrine bật cười. “Tội chưa. Thuở mới vào đời anh cũng ngây thơ yêu đời phơi phới nhưng sau này vỡ mộng à? Hay là ngay từ đầu anh đã thế rồi?” Harry đăm đăm nhìn chất lỏng màu nâu vàng trong ly của mình. “Đôi lúc tôi cũng tự hỏi như vậy. Nhưng không thường xuyên lắm. Tôi cố gắng nghĩ đến những điều khác.” Đối với các nhân vật khác cũng vậy, họ tưởng như những con người xa lạ, vì dòng đời xô đẩy mà câu chuyện và bí mật của họ giao nhau. Để sau cùng nếu gạt bỏ màu sắc đỏ thẫm của máu thì ai cũng là những con người đa cảm và thật đáng thương. Xã hội hào nhoáng và mặt trái của lương tâm Phía sau những câu chuyện kia, phía sau bóng đêm của tội ác và góc khuất của lương tâm, dưới góc nhìn tổng thể, Người Tuyết còn phản ánh một bức màn hào nhoáng của xã hội Na Uy lúc bấy giờ.  Một xã hội có tới “hơn 20 phần trăm đứa trẻ không phải con ruột của cha nó”, những gia đình mà cả vợ và chồng đều ngoài mặt hòa thuận nhưng sâu trong thâm tâm, mỗi người đều có những thù hằn, ghét bỏ và ham muốn vụ lợi ở đối phương. Một hệ thống nhà cầm quyền sẵn sàng kiếm tìm và biến một thanh tra tài năng thành một con tốt thí mạng để che mắt giới báo chí và dư luận vì hành vi của mình. Một thế giới hào nhoáng nơi báo chí và màn ảnh dần dần thâu tóm và dẫn dắt dư luận một cách quá đỗi dễ dàng.  Với Người Tuyết, người ta có thể thấy những cánh “diều hâu” săn tin khi trời rạng và đêm về thì rầu rĩ với guồng quay của deadline và công việc, người ta được nhập tâm vào một tên MC để trải cái cảm giác thâu tóm công chúng, người ta lụi dần trong nỗi khổ sở vì danh tiếng đã mất… Hơn cả một tiểu thuyết gia, Jo Nesbø thuyết phục người đọc bởi nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật mang chiều sâu tới lạ lùng. Cùng một cuốn sách nhưng độc giả được chứng kiến từ tên nhà báo cho tới vị thanh tra, từ chủ tòa soạn cho tới suy nghĩ vẩn vơ của một cậu bé lên 10. Tất cả đều được miêu tả rất chân thực và rất chậm. Mạch văn chậm như trêu ngươi nỗi lo sợ của kẻ ác khi bệnh tật diễn biến ngày càng nhanh, chậm để người đọc kịp ngẫm nhưng vẫn khiến người ta phải quay cuồng vì chính cái mớ hỗn loạn do tên tội phạm, hay nói đúng hơn là Jo Nesbø gây ra. Idar Vetlesen đã phải vật lộn với thứ ma quỷ gì? Anh ta mang theo chúng đến đây, hay căn phòng này là nơi trú ẩn, là thiên đường bình yên? Có lẽ anh đã tìm ra cho mình một vài câu trả lời, nhưng chừng đó vẫn chưa đủ. Không bao giờ là đủ. Chẳng hạn như sự điên rồ và cái các có phải hai phạm trù khác nhau, hay cứ khi nào không hiểu nổi mục đích của việc giết chóc thì ta mặc nhiên quy kết nó là điên rồ. Ta có thể hiểu lý do một người muốn ném bom nguyên tử xuống thành phố toàn những người dân vô tội, nhưng lại không hiểu vì sao kẻ khác muốn phanh thây những gái điếm reo rắc bệnh dịch và sự suy đồi trong những khu ổ chuột ở London. Bởi vậy ta mới gọi trường hợp thứ nhất là chủ nghĩa hiện thực còn trường hợp thứ hai là sự điên rồ. Thay lời kết Người Tuyết, thực chất, không phải một cuốn sách khó đọc nhưng cũng không nằm trong thể loại bạn có thể nuốt trọn từng chi tiết. Có quá nhiều thứ để người ta phải ngẫm thay vì chỉ đơn giản nhìn vào hay mong đợi về một câu chuyện trinh thám giật gân. Nếu ngoài trời đang có tuyết thì lời khuyên cho bạn là hãy đóng thật kín cửa lại, bởi chỉ mình Người Tuyết là quá đủ rồi. Tuyết rơi lạnh lẽo hay lòng người giá băng, câu hỏi này có lẽ bạn sẽ phải tự mình giải đáp. Người Tuyết của Jo Nesbø không phải là một cuốn sách để bạn có thể đọc ngấu nghiến trong ngày một ngày hai nhưng nếu bạn đọc và nhập tâm được cùng nhân vật thì xin chúc mừng bạn, thế giới này vốn không như bạn tưởng và chuyến hành trình lột bỏ lớp vỏ bọc hào nhoáng kia, từ giờ phút này, chính thức bắt đầu… “Không lâu nữa tuyết đầu mùa sẽ đến. Và lúc ấy hắn sẽ lại hiện ra. Người tuyết. Khi tuyết tan là lúc hắn bắt đi một kẻ khác. Hãy tự hỏi bản thân điều này: “Ai đã tạo ra người tuyết? Ai đã đắp nên những người tuyết? Ai đã sinh ra Murri?” Bởi điều ấy người tuyết nào có hay.” Tác giả: Annie - Bookademy Mời các bạn đón đọc Người Tuyết của tác giả Jo Nesbo & Matryoshka (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Người Thích Đùa - Azit Nexin
Khóc mà cười, cười mà lại trào nước mắt - những câu chuyện chỉ có thể là của Aziz Nesin luôn đọc người đọc vào cái trạng thái lạ lùng như vậy. Tin rằng nhà văn trào phúng như người khổng lồ có sứ mệnh nâng đỡ cả thế giới trên vai, Aziz Nesin không viết những truyện cười vô thưởng vô phạt. Ông viết để xóa đi những bất công, phi lý trong xã hội con người. Tập truyện cười Những Người Thích Đùa này gồm có: Cái Kính Điệp Viên Ox - 13 Quê Ta Vạn Tuế Có Nên Làm Bác Sĩ Không Con? Không Thể Thành Ngưới Phải Ho Lao Mới Được Xót Tiền Dân Thanh Tra Sắp Đến Cả Một Ổ Nếu Tôi Là Đàn Bà Xin Mời Bác Cứ Đến Chơi... Những Điều Trớ Trêu Của Kỹ Thuật Những Người Thích Đùa Secmenđi Sinh Ngày Nào? Chuyện Vợ Chồng Hội Cứu Vớt Gia Đình Giá Không Có Ruồi! Nhỏ Và Đẹp Những Người Thích Đùa Cơn Ác Mộng Những Người Thích Đùa Anh Lính Mêmét Làng Êmét Lỗi Là Tại Anh! Nghĩa Vụ Đối Với Tổ Quốc Diễn Văn Trong Lễ Khánh Thành *** Aziz Nesin, đọc là Azit Nexin hay Azit Nêxin, (tên khai sinh là Mehmet Nusret; 20 tháng 12 năm 1915 — 6 tháng 7 năm 1995) là một nhà văn châm biếm được ngưỡng mộ ở Thổ Nhĩ Kỳ và là tác giả của hơn 100 cuốn sách. Thường được gọi với cái tên "Aziz Nesin", đây nguyên là tên cha ông, được Nesin sử dụng làm bút danh khi bắt đầu sáng tác. Ông đã sử dụng hơn năm mươi bút danh, như "Vedia Nesin", tên người vợ đầu, cho những bài thơ tình được xuất bản trên tạp chí Yedigün.   Mời các bạn đón đọc Những Người Thích Đùa của tác giả Azit Nexin.
Người Đàn Bà Trong Cồn Cát - Kobo Abe
“Người đàn bà trong cồn cát” được xuất bản vào năm 1961 và đem về cho tác giả Kobo Abe (1924-1993) giải văn chương danh giá Yomiuri của Nhật, đã đưa tên tuổi của Abe lên hàng quốc tế sau khi bản dịch Anh ngữ được phát hành. Ông là tác giả Nhật được dịch ra tiếng ngoại quốc nhiều nhất. Một cuốn phim cùng tên, do chính tác giả viết truyện phim và Hiroshi Teshigahara (1927-2001) đạo diễn, được trình chiếu vào năm 1964, cũng đã đoạt giải Special Jury Prize tại Cannes Film Festival, 1964. Năm sau, cuốn phim đã được đề cử, nhưng không trúng, giải Oscar cho Best Foreign Language Film Oscar, và giải Oscar cho Best Director. Đó là câu chuyện về một anh giáo viên vô danh tiểu tốt ở Tokyo, tên Niki Jumpei, và là một tay sưu tập côn trùng tài tử. Tuy nhiên, anh ta cũng có một tham vọng, đó là có thể tìm được một con côn trùng nào mà chưa ai kiếm ra, để tên anh sẽ được gắn liền với con côn trùng đó và được đi vào bách khoa tự điển. Ước vọng này đã đưa anh đến một làng ven biển vào một dịp nghỉ. Mải mê tìm côn trùng, anh không để ý là đã lỡ chuyến xe buýt cuối cùng về thành phố. Khi ngỏ ý với ba người đàn ông anh gặp trên đụn cát là liệu anh có thể nghỉ qua đêm tại nhà một dân làng nào đó để sáng mai tiếp tục đi kiếm côn trùng, họ liền tỏ ra sẵn sàng giúp và đưa anh ta tới một căn nhà xiêu vẹo ở duới sâu trong lòng một cái hố cát, phải leo xuống bằng thang giây. Tại căn nhà đó, một người đàn bà còn trẻ đã đón tiếp và cơm nước cho anh. Niki không ngờ đấy là một cái bẫy mà định mệnh đã dành cho anh. Nguyên ngôi làng này bị nạn bão cát đe dọa chôn vùi. Ngôi nhà của người đàn bà ở bìa làng sát biển, như một thứ tiền đồn, cần phải giữ cho đừng bị cát chôn vùi, vì nếu một khi cát chôn căn nhà đó thì sẽ tiến tới căn nhà kế và rồi dần dà cả làng sẽ bị xóa sổ. Xúc cát là công việc hàng đêm - phải làm ban đêm vì lúc đó cát ẩm, dễ xúc vào xô, để người ta tới kéo những xô cát này lên và đem đi bán. Ngoài sứ mệnh bảo vệ làng, qua tinh thần "Yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình”, châm ngôn của làng, người đàn bà được trả công bằng thực phẩm, nước và những thứ cần thiết khác. Từ ngày chồng và con của chị ta bị bão cát chôn sống một năm về trước, chị làm việc xúc cát một mình không xuể. Và người ta đã lừa bắt cóc Niki để điền vào chỗ nhân sự thiếu hụt đó. Khi biết ra, Niki đã tìm mọi cách để thoát. Thoạt đầu anh ta trói người đàn bà lại làm áp lực dân làng. Đáp lại, dân làng ngưng cung cấp nước và thực phẩm cho hai người. Niki đành làm cái việc xúc cát trong khi âm mưu tìm cách trốn. Một lần anh ta đã leo lên được trên miệng hố và tìm cách thoát khỏi ngôi làng, nhưng bị bắt lại và buộc phải tiếp tục cái việc xúc cát ban đêm để rồi ban ngày cát khô bị gió thổi tiếp tục đe dọa ngôi nhà của người đàn bà, như nhân vật Sisyphe trong huyền thoại Hy Lạp bị buộc làm cái việc vô tận: đẩy một hòn đá lên đồi, chờ nó lăn xuống chân đồi, rồi lại đẩy lên, cứ thế, không được ngừng. Dù vậy, Niki cũng vẫn chưa bỏ cuộc. Biết rằng nước là vũ khí dân làng dùng để khuất phục anh, nếu anh không chịu ngoan ngoãn làm theo ý họ, họ sẽ cúp nước, Niki tìm cách triết nước từ cát ẩm. Cũng trong thời gian âm thầm nghiên cứu việc này, Niki và người đàn bà, như lửa gần rơm lâu ngày phải bén, trở nên gần gũi hơn, sống với nhau như vợ chồng. Khi người đàn bà mang bầu và khám phá ra là đã mang thai ngoài dạ con, dân làng phải thòng cái thang giây xuống để kéo chị ta lên đưa đi nhà thương cấp cứu. Niki ở lại cái hố. Anh ta đã không tin ở mắt mình khi thấy dân làng sau khi đưa ngưòi đàn bà đi nhà thương đã không rút cái thang lên. Anh mon men lại bên cái thang, rồi leo lên mà không gặp một trở ngại nào. Lần đầu từ khi bị bắt cóc bỏ xuống hố cát, anh ta nhìn thấy biển. Niki đi lang thang trên miệng hố, rồi lại leo trở xuống hố cát. Anh xem xét công trình triết nước và thấy nước uống được giữ lại trong thùng chứa, như vậy dự án triết và trữ nước của anh đã thành công. Anh ta không cảm thấy có nhu cầu phải thoát thân ngay. Anh nghĩ anh sẽ ở lại để cho dân làng biết về việc này. Cuốn truyện kết thúc bằng một án lệnh của tòa tuyên bố người đàn ông đã chết sau bảy năm có tên trên danh sách người bị mất tích, để lại cho người đọc một câu hỏi “tại sao Niki chọn ở lại” to lớn, và những nhà nghiên cứu về tác giả và tác phẩm mặc sức lý giải tại sao! *** Trong khi Haruki Murakami và Banana Yoshimoto là những nhà văn đang nổi lên trên văn đàn Nhật Bản và là hai nhân vật hết sức quen thuộc ở Việt Nam hiện nay, tôi muốn lưu ý bạn đọc về một xu thế mới có lẽ tồn tại như một dòng chảy ngầm. Khi nói về xu thế này, vào năm 1990 nhà văn danh tiếng Kenzaburo Oe (1935 - 2007), tác giả đạt Giải thưởng Nobel Văn chương năm 1998, có viết: “Lớp nhà văn này đã tích lũy trong mình cảm nghĩ về thực hạng xã hội và sức mạnh của văn học. Trong số họ nổi lên hàng đầu là Kobo Abe, một trong những gương mặt quan trọng nhất, nổi bật nhất sau chiến tranh. Ông sáng tác với ý thức tách khỏi truyền thống Nhật Bản, tuy gắn bó với việc xây dựng thế giới ảo tưởng, nhưng vẫn in đậm một lối nhìn riêng tư mà nghiêm túc về đời sống hiện đại”. Khi còn trẻ, Abe rất hứng thú với môn toán học và sưu tập côn trùng. Cũng giống nhiều nhà văn Nhật Bản hiện đại nổi tiếng thế hệ trước như Mori Ogai, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro, v.v., ông tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các nhà tư tưởng bậc thầy của phương Tây, có lẽ nhiều năm sống ở nước ngoài và đời sống văn hóa đương đại của nó đã thôi thúc ông, nghiên cứu các nhà triết học phương Tây như Heidegger, Jaspers và Nietzsche... Năm 1941, Abe trở về Nhật Bản, năm 1943 ông thi đỗ Đại học Tokyo rồi theo học y khoa tại đây. Luôn ốm yếu do mắc bệnh đường hô hấp nên Abe được miễn quân dịch. Trong chiến tranh, ông tới sống ở Manchuria. Sau khi khỏi bệnh Abe tiếp tục việc học hành và tốt nghiệp vào năm 1948, nhưng ông tự nhủ sẽ không bao giờ hành nghề y. Từ đây Abe đã bước vào sự nghiệp văn học. Ông tham gia nhóm văn chương do Kiyoteru Hamada dẫn dắt. Khuynh hướng sáng tác là hợp nhẩt các kỹ thuật của chủ nghĩa siêu thực với tư tưởng Marxist. Ngay từ năm 1943, Kobo Abe đã cho ra đời một tác phẩm đầu tay. Bạn đọc hẳn đã nhận thấy Haruki Murakami, tác giả Rừng Na Uy, viết với một phong cách bộc trực, giọng điệu trung tính, lạnh lùng, câu ngắn gọn, đôi khi cộc lốc. Ông tránh lối diễn đạt uyển chuyển mà người Nhật hay dùng để câu nói mềm mại hơn khiến ngôn từ trở nên mập mờ. Còn văn phong của Abe lại cô đọng và chuẩn mực, nó cho thấy nỗi bận tâm của ông đối với tư tưởng của tác phẩm hơn là kỹ thuật viết cốt tạo ra phong cách. Những nhà văn chủ chốt có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thẩm mỹ của ông bao gồm Edgar Allan Poe, Samuel Beckett, Rainer Maria Rilke và Fyodor Dostoyevsky, và đặc biệt là Franz Kafka. Ảnh hưởng của Kafka càng rõ rệt trong hai tác phẩm Kabe (Bức tường) và S. Karuma Shino Hanzai (Tội lỗi của S. Karuma) sáng tác vào năm 1951. Tác phẩm này được Giải Akutagawa, giải thưởng văn học cao quý nhất ở Nhật, kể chuyện một người phát hiện ra rằng tấm danh thiếp của anh ta tự hóa thành người và giả dạng anh ta mà phạm tội khiến anh ta bị tòa án lôi ra phán xử. Năm 1947, Abe cho ra mắt một tuyển tập thơ. Abe chi thực sự được coi là một nhà văn nổi tiếng với tiểu thuyết, Owarishi Michi No Shirube Ni (1948), kể về cuộc đời một kẻ nghiện thuốc phiện. Vào những năm 1950, Abe gia nhập Đảng Cộng sản Nhật Bản. Năm 1962 ông xin ra khỏi Đảng bởi những bài báo phê phán chính sách của Đảng Cộng sản Nhật Bản. Những tác phẩm mang tính trải nghiệm của Abe được thế hệ độc giả trẻ hết sức ngưỡng mộ. Abe đã nhận được giải thưởng cho ba truyện ngắn của ông, Aai Mayu (Cái kén đỏ, 1950), Kabe (1951) và S. Karuma Shino Hanzai (1951). Như nhiều nghiên cứu đã đề cập, vấn đề chủ đề và phong cách viết thường là nỗi ám ảnh đối với nhà văn F. Kafka đến mức ông đã phải khai thác nhiều yếu tố qua các truyện khoa học viễn tưởng và trinh thám để xây dựng tác phẩm của mình. Còn các tiếu thuyết và vở kịch của Abe thì đặc trưng ở sự quan sát kín đáo và các kỹ thuật viết tiên phong (avant-garde techniques). Khi đã quen thuộc một số tác phẩm của Kobo Abe bạn đọc sẽ nhận thấy thông thường các cảnh ngộ hay hoàn cảnh mà các nhân vật của ông phải đối mặt, hay đương đầu, thường là kỳ quặc, không thực tế, và thái độ cùng hành vi của họ được bộc lộ qua khái niệm tự do ý chí. Các tác phẩm sau đây của Abe là những minh chứng cụ thể cho nhận định này: Dai - Yon Kampyoki (1959), Moetsukita Chizu (Tấm bản đồ rách, 1967), Mikkai (1977) và Hako Otoko (Người đàn ông trong chiếc hộp, 1974). Ở phương Tây, Abe hết sức nổi tiếng với hai tiểu thuyết The Women in the Dunes (Người đàn bà trong cồn cát, 1962) và The Face of Another (Khuôn mặt người khác, 1964). Chủ đề trung tâm trong các tác phẩm này của Abe là nỗi lạc lõng về thân phận, mặc cảm bị xa lánh và ghét bỏ, nỗi cô đơn cá nhân giữa một thế giới kỳ quặc, và những con người gặp khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. Hai kiệt tác này là các tác phẩm vượt khỏi mỹ quan truyền thống Nhật Bản, sáng tạo mới mẻ, dùng nhiều hình tượng cụ thể hay siêu thực để diễn tả nội tâm và tiềm thức con người bị tha hóa, vong ngã trong xã hội đô thị. Các quan niệm giáo điều hay thành kiến đã bị ông lật ngược lại. Thông thường con người được xem là trung tâm của vũ trụ, chúa tể của muốn loài, nhưng tác phẩm của ông lại chủ trương bình đẳng giữa các loài, không những thế còn có thể biến đổi từ loài này sang loài khác, và ngược lại, con người hóa thân thành sinh vật, sinh vật lại mang nhân cách như con người. Ông đề cao ý thức, lại chủ trương nhục thế chi phối tinh thần, hoàn cảnh xã hội quy định ý thức, và tự do chỉ có thật khi cá thế thoát ra khỏi mọi tập thể như quốc gia hay cộng đồng. Kobo Abe không ngừng thử nghiệm những thủ pháp và tư tưởng mới lạ, kể cả khoa học viễn tưởng, triết lý hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Ở Người đàn bà trong cồn cát, người đọc khó mà phân định được thực hư, người nào là kẻ chạy trốn, người nào là kẻ lùng bắt, ai biết đâu là ranh giới giữa hư ảo và hiện thực. Kobo Abe đã giải thích những vấn đề tâm sinh lý, ý thức và tiềm thức... để cố gắng truyền đạt đến người đọc một cách cụ thế những hiện tượng có thực ở vùng sâu kín trong hay dưới tầng ý thức. Ông chú trọng đến ảnh hưởng của tiềm thức và vô thức đối với hành vi của con người. Kobo Abe đã sử dụng mọi dạng cảm xúc của con người, từ niềm tự hào và nỗi sợ hãi tới những khát khao tình dục và cả nỗi thất bại ê chề - tất cả, tất cả đều dồn vào nhân vật chính trong câu chuyện (Niki Jumpei), rồi thì qua đó mặc cho bạn đọc tiến hành một sự tự nhận thức (self-awareness) về sự phi lý của thân phận con người. [1] Tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát ngay lập tức đã cuốn hút đạo diễn điện ảnh Teshigahara Huoshi, cuốn phim của ông dựa trên tác phẩm kể trên đã giành được thành công to lớn vào năm 1963. Tác phẩm điện ảnh này đã giành Giải thưởng Đặc biệt tại Liên hoan Phim Cannes. Diễn viên Kyoko Kishida, người khởi nghiệp điện ảnh qua vai thiếu phụ trẻ trong tác phẩm này, sau đó đã trở nên nổi tiếng trong phim Moomin và một số phim khác. Đạo diễn Teshigahara Huoshi còn cộng tác với Kobo Abe để dựng phim cho hai tác phẩm The Pitfall (Cạm bẫy khó lường, 1962) và The Face of Another (Khuôn mặt người khác, 1966). Abe còn sáng tác một số vở kịch và điều hành một công ty biểu diễn do ông thành lập ở Tokyo. Các chủ đề về trạng thái cô độc và bị xa lánh, ghét bỏ trong các vở kịch như Friends (1967) và The Suitcase (1973) của ông được diễn trên sân khâu có một cái gì đó rất gần gũi với các tác phẩm của Samuel Beckett và Harold Pinter. Sau khi nhà văn danh tiếng Yukio Mishima qua đời, Abe được xem như nhà soạn kịch chủ chốt ở Nhật vào những năm 1970. Nhà hát của ông, còn có tên Abe Kobo Studio, được mời lưu diễn tại New York City vào năm 1979. Abe mất vì bệnh tim ngày 22 tháng Giêng năm 1993, giữa lúc đang viết tiểu thuyết cuối cùng The Flying Man (Người bay), tác phẩm vừa mới xuất bản đã ngay lập tức được truy tặng giải thưởng trong năm 1993. Với số lượng tác phẩm to lớn và những đóng góp đặc sắc của ông cho văn học Nhật Bản, Kobo Abe được đánh giá là một trong những tác gia quan trọng nhất của nền văn chương nước này ở thế kỷ XX. Hà Nội, Mùa hạ 2009 Chú thích: [1] J. Thomas Rimes trong A reader’s guide to Japanese literature, 1999. Mời các bạn đón đọc Người Đàn Bà Trong Cồn Cát của tác giả Kobo Abe.
Mặt Chó Sói - Mishima Yukio
Yukio Mishima (1925-1970) được đánh giá là một trong những tác giả quan trọng nhất trong nền văn học Nhật Bản thế kỷ 20. Trước tác của ông bao gồm 40 cuốn tiểu thuyết, 20 tuyển tập truyện ngắn và khoảng vài chục vở kịch cùng với một số bài thơ. Ông là nhà văn 3 lần được coi là ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel Văn học. Hà Linh -  Những tác phẩm xuất sắc của Mishima có The Temple of the Golden Pavilion (Ngôi đình tạ bằng vàng -1956), bộ bốn tác phẩm The Sea of Fertility (Biển cả muôn màu - 1965-70)... Mishima sinh năm 1925, con trai của một quan chức chính phủ. Tên thật của ông là Kimitaka Hiraoka. Bố ông vốn không muốn con trai mình đi theo nghiệp văn chương chữ nghĩa nên ông phải đổi tên để viết trộm. Hiraoka được nuôi nấng và trưởng thành dưới sự giám sát chặt chẽ của bà nội. Trong thế chiến II, nhà văn được miễn nghĩa vụ quân sự, ông làm việc trong một nhà máy. Đây là điều khiến Mishima day dứt suốt cuộc đời. Nhà văn cho rằng mình đã sống sót một cách đáng xấu hổ trong khi rất nhiều người khác phải đổ máu ngoài chiến trường. Sau chiến tranh thế giới II, Mishima học luật tại Đại học Hoàng gia Tokyo. Trước khi dấn thân vào sự nghiệp văn chương, ông làm việc một năm trong Bộ Tài chính. Năm 1946, ông gặp gỡ Kawabata Yasunari, người sau đó đã giới thiệu những truyện ngắn đầu tay của ông với một vài tạp chí văn học uy tín. Confessions of a Mask (Lời thú nhận của người đeo mặt nạ - 1949) là tác phẩm đầu tiên ghi lại dấu ấn tên tuổi của Mishima trên văn đàn. Cuốn sách chính là một lối thoát giúp nhà văn giải tỏa những cảm xúc của chính mình khi phát hiện bản thân là người đồng tính. Trong truyện, nhân vật người kể chuyện thú nhận, ông đã phải tự trang bị cho mình một chiếc mặt nạ "bình thường" để tránh sự xoi mói của xã hội. Mishima chịu ảnh hưởng lớn của chủ nghĩa yêu nước trung quân truyền thống và tinh thần võ sĩ đạo samurai của Nhật Bản, tuy ông vẫn diện đồ tây và ở nhà tây. Năm 1968, ông thành lập Hiệp hội Shield (Tate no Kai - Hội lá chắn) - một tổ chức bán quân sự tập hợp khoảng 100 thanh niên trai tráng với mục đích chấn hưng tinh thần võ sĩ đạo Bushido, tán dương chủ nghĩa quốc gia và bảo vệ Hoàng đế Nhật. Không biết do đâu, Hội lá chắn cũng được quyền tham gia huấn luyện cùng quân đội Nhật. Ngày 25/11/1970, ông cùng những người bạn bao vây Cục Phòng vệ Nhật Bản ở Tokyo, bắt giam Tướng Kanetoshi Mashita và xúi giục quân sĩ tiến hành chính biến. Lời thỉnh cầu này của ông gặp sự phản ứng dữ dội của quân đội. Thất bại, tuân thủ tinh thần võ sĩ đạo, ngày 25/11/1970, ông đã tự sát bằng cách tự mổ bụng moi gan theo nghi thức seppuku. Trước khi chết nhà văn còn hô to: "Hoàng đế muôn năm".   Cũng trong ngày cuối cùng của cuộc đời mình, ông giao nốt cho nhà xuất bản những trang viết còn lại của bộ cuốn tiểu thuyết The Sea of Fertility. Cái chết của Mishima được tác giả Christopher Ross miêu tả trong cuốn sách Mishima's Sword (Lưỡi kiếm của Mishima) như sau: "Lưỡi kiếm đã ngập sâu vào khoang bụng cỡ 10 cm, ông ấn lưỡi kiếm chầm chậm từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, mở toác từng lớp da. Máu tràn ra lênh láng trên sàn nhà. Một cuộn nội tạng màu hồng hồng xam xám nhờ nhờ thòi ra từ vết thương. Mùi tanh nồng xông lên khắp căn phòng". Không thanh lịch, không tao nhã, nghi thức chết của Mishima cũng không hề khoa trương. Nhà văn từng gợi ý cho một nhà báo là nên quay lại cảnh ông tự sát. Nhưng họ cũng không chuẩn bị gì trước để đón nhận sự kiện này. Khoảng 2 giờ trước khi tiến hành nghi thức tự sát, ông gọi điện cho hai phóng viên và úp mở với họ rằng: "Có chuyện sắp sửa xảy ra". Cái chết của nhà văn lúc bấy giờ đã gây nên một chấn động dữ dội không chỉ với Nhật Bản mà đặc biệt là đối với người phương Tây. Nhiều học giả phương Tây đã đến Nhật Bản để tìm hiểu ý nghĩa cái chết của ông: Liệu đó là một bức thông điệp chính trị của nhà văn hay là một tác phẩm nghệ thuật cuối cùng của ông theo tinh thần võ sĩ đạo. Cho đến nay, hầu như họ không có được câu trả lời như mong đợi. Người dân Nhật hiện đại ngày nay coi cái chết phi thường của nhà văn là vô nghĩa, là "ngớ ngẩn" và "không đáng". Tác giả của cuốn sách Mishima's Sword - Christopher Ross - kể: Trong một lần Ross đang ngồi đọc các tác phẩm của Mishima trong một hàng cà phê sách, một nhân viên cửa hàng bảo ông: "Mishima là quá khứ, không phải là hiện tại và càng không phải là tương lai". Dẫu vậy, Yukio Mishima vẫn là một tên tuổi quan trọng trên văn đàn Nhật thế kỷ 20. *** Rodder lao ra ngoài, tay cầm súng lục. Ambler muốn lên tiếng cảnh báo đồng bọn, nhưng muộn rồi: Justus đập cho gã đàn ông một đòn chí mạng. Rodder ngã văng khỏi lan-can và đập mạnh thân hình xuống nước. Hài lòng, Justus theo những bậc thang trèo lên. - Bây giờ đến lượt các người đi tắm! - cậu nói lớn rồi cười. Nhưng chẳng còn mấy thời gian để mà tận hưởng mùi vị chiến thắng, việc đầu tiên là phải giúp Sandy và Bob trèo lên tàu, sau đó lao xuống cabin giải phóng cho Peter. Rodder bận bịu với việc giữ cho Ambler ngoi được cổ lên trên mặt nước. Khẩu súng lục của gã bây giờ nằm thật chắc chắn dưới đáy biển. - Kéo bọn tao lên tàu ngay lập tức, - Rodder ra lệnh. - Lũ chuột cống nhà chúng mầy! Bob lắc đầu, nhưng cũng ném cho Rodder và Ambler hai chiếc phao cứu hộ. Chầm chậm, con tàu bị gió và những dòng nước cuốn dần ra phía biển. Justus lại bước ra ngoài, đi sát phía sau là Peter. Hãnh diện, Thám tử phó cầm " người đẹp Helena" trong tay. - Cảm ơn các bạn, - Cậu nói rồi giơ bức tượng cho nó lóng lánh trong ánh nắng. - Cha, Rodder, gió lại xoay chiều rất nhanh! Rodder buông ra một câu chửi tục, trong khi Ambler loay hoay với chiếc phao cứu hộ. Thất bình tĩnh, Sandy vởi bộ chân nhái của cô. - Bây giờ mình sẽ gọi điện đàm cho cảnh sát, - cô gái nói. - Mình biết sử dụng loại máy đó. Justus gật đầu với cô. - Bạn bảo họ mang theo một cái lưới đánh cá, - cậu nói. - Bọn ta vừa bắt được cả hai con cá to sù. - Cậu ngồi xuống bên mép tàu, để cho hai chân thõng xuống, đu đưa nhè nhẹ. - Cái phương pháp đánh lạc hướng bằng thư gửi đã được ông phát triển nên từ thời còn ở New York, ông Rodder. Nó cũng có phần nhắm chứng tỏ là mình tài năng hơn cảnh sát, những người đã đuổi việc ông. Và chắc vì vậy mà ông cũng sữ dụng mặt nạ chó sói: ông có cảm giác như mình là một con chó sói bị đuổi ra khỏi đàn. Rodder ném cho cậu một cái nhìn huỷ diệt, nhưng chỉ giúp cho Justus nhận rõ là cậu phỏng đoán đúng. - lẽ ra chúng tôi phải nghĩ đến sớm hơn mới phải, - Peter bổ sung. Cậu ngồi xuống bên cạnh Justus. - Theo tắc thì kể cả hai tội phạm đầu tiên, vụ ăn trộm ở cửa hàng Outdoor World và vụ ăn trộm súng bắn tỉa cũng như những lời trích dẫn tứ bài hát đều chỉ nhằm hướng chúng tôi về phía lý thuyết của một vụ ám sát tổng thống. Đấy là hoàn toàn chưa kể đến cái mặt nạ tổng thống kia. Ambler, kẻ vừa chui được người vào giữa chiếc phao cứu hộ, giờ lên tiếng ngắt lời Peter. - Nhưng để tìm ra được lời của bài hát đó, bọn nhóc các cậu cũng phải cần rất nhiều thời gian! - Nhưng vẫn còn nhanh hơn là cảnh sát, - Bob chen vào. - Nhanh hơn cả các chuyên viên tâm lý. Justus cởi chiếc áo lặn ra. Bài báo mà cậu luôn mang trong người bây giờ ướt sũng, dán sát vào da thịt. Thận trọng, cậu gỡ mảnh giấy ra, nhưng lại ngay lập tức bóp nát nó. - Đáng tiếc, - Justus nói. - Giờ tôi không thể cho hai người xem được nữa. Đây là một bức ảnh rất thú vị, anh Ambler. Nó cho thấy anh đã quen ông Rodder từ thời còn ở New York, chắc là thời anh học đại học. Anh đã mê mẩn gã tội phạm kia. kể từ vụ nầy anh muốn kết hợp hai mục đích với nhau. Thứ nhất là vụ ăn trộm bức tượng và thứ hai… tại sao anh không ngửi được chị Harding, Ambler? - Cô ta cuỗm mất chỗ của tôi, - Ambler kêu lên và đạp chân, muốn lại gần con tàu thêm một chút. - Lẽ ra tôi là người nhận được công việc tại Los Angeles. Nhưng rồi đột ngột xuất hiện cái con bé hỉ mũi chưa sạch đó, mới từ trường đại học ra, và ngồi ngay xuống trước mặt tôi. Còn cái tay Cotta nhà các cậu lại chính là kẻ viết thư giới thiệu nó! - Tôi cũng đã đoán như vậy. - Justus gật đầu. - Và anh biết là chị Harding đã làm bài tốt nghiệp về vụ ám sát tổng thống Kennedy. Vì thế mà anh viết những bức thư theo hướng nầy. Nữ chuyên viên tâm lý từ đó không còn nghĩ được đến một thứ gì khác ngoài một vụ ám sát tổng thống. Bản thân chuyên viên tâm lý Harding trong vụ nầy cũng bị đẩy vào một góc tranh tối tranh sáng. Đối với anh, Ambler, dĩ nhiên là một thắng lợi bổ sung. Tôi cũng phải công nhận rằng đến cả bản thân tôi cũng đã có ý nghi ngờ chị Harding. - Có thế chứ, - Ambler nói. - Ta đã khoái trá khôn tả khi nhìn hai con gà trống choai chọi với nhau. Một trận chiến cạnh tranh thật sự! - Nhưng mà chúng tôi có ba người, - Peter lên tiếng sau một cái liếc xéo về phía Justus. - Anh Ambler, làm thế nào mà anh ăn cắp được khẩu súng của cảnh sát? Trò leo tường bình thường ra vốn là đặc sản của Rodder? - Cái đó các cậu phải tìm ra thôi, các cậu thông minh lắm kia mà, - Ambler kêu lên. - Không thành vấn đề! - Justus thẳng lưng dậy. - Anh đâu có vào phòng qua đường cửa sổ. Chỉ giả bộ thế thôi. Anh muốn tô đắp thêm cho cái huyền thoại Mặt Chó Sói. Mãi sau nầy tôi mới hiểu ra. Những miếng kính cửa sổ nằm không đúng chỗ! Anh Ambler, anh đã mở cửa sổ từ phía trong phòng rồi sau đó mới đập vỡ kính. Những miếng kính vỡ đó nằm sát chân tường! - Đúng, đúng, phải! - Ambler mỗi lúc một bực bội hơn. - Bây giờ cho tôi lên. Tôi không ở dưới nầy lâu hơn được nữa! - Thế bằng cách nào mà anh vào được phòng đựng vũ khí? - Peter hỏi, không thèm để ý đến lời đề nghị của đối phương. - Chỉ là cái trò ăn cắp cỏn con thôi, - Ambler uể oải nói. - Tôi đã rút chiếc chìa khoá của tay hạ sĩ trực rồi lại kịp thời đút lại chỗ cũ. Đoạn dây đã được tôi buộc từ trên nóc nhà thõng xuống dưới từ trước. Bob nhận thấy cả đám mỗi lúc một bị cuốn ra xa bờ hơn. - Để mình ném mỏ neo xuống, - cậu nói. Justus gật đầu. Bob giơ cao mỏ neo và ném nó qua thành tàu. Vài giây đồng hồ sau, con tàu rùng mình nhẹ. Bây giờ nó nằm yên. - Ra là bọn mày biết tất cả, - Rodder kêu lên. - Thế bây giờ tao có thể hỏi chút được không? Nầy cái thằng béo lắm lời kia, tại sao mà mày lại chui vào cửa hàng của ông Laurent? Toàn bộ chuyện chó chết nầy khởi đầu từ đó! - Chút nữa đã, Rodder, tôi còn chưa hỏi hết! - Peter, Bob và Sandy nhìn Justus đầy khấp khởi. Cậu nói tiếp. - Tôi nghĩ là tiện thể ở đây, ta có thể giải thích luôn cả một câu chuyện khác nữa, Rodder. Đi cùng với " người đẹp Helena" là bức tượng của hoàng tử Paris, bức tượng đã biến mất cách đây vài năm. Cho tới nay chưa có ai nghi ngờ là ông có liên quan tới vụ ăn trộm đó! Nhưng thủ phạm cũng chính là ông, Rodder! Qua ánh mắt ngạc nhiên của Mặt Chó Sói, Justus thấy rõ: cậu vừa bắn trúng hồng tâm. - Đúng thế, cú điện thoại ban nãy của ông đã khiến tôi nghĩ đến khả năng nầy. Ông đã xoáy Paris trước đây vài năm. Và bây giờ ông muốn bán thêm cho nhà sưu tầm tư nhân giàu có của mình cả bức tượng quý báu thứ hai, người đẹp Helena. Cho một giá tiền đặt trước không nhỏ, ông lại một lần nữa lao vào trò ăn cắp! - Làm sao mà mày biết đó là một nhà sưu tầm tư nhân? - Rodder kêu lên, tiếng kêu đồng thời cũng là lời công nhận. - Chắc chắn phải là một người tư nhân, Mặt Chó Sói, - Justus trả lời. - Mà là một người có rất nhiều tiền. Người ta không thể bán những bức tượng đó ở thị trường tự do. Chuyên gia nào cũng biết chúng. Rodder đầu hàng. - Bọn mày thông minh thật đấy, mấy thằng nhóc! Đó là một người đàn ông giàu có trong ngành làm phim, nhưng tao thậm chí chưa biết tên ông ấy. Thế, bây giờ cho bọn tao lên tàu đi! Sandy trỏ về phía bờ biển, nơi có một con tàu cảnh sát đang lại gần. - Cha, - Justus chuyển sang lời kết luận. - Cái chuyến du lịch dễ chịu của hai người vậy là không thành rồi. Chắc là cú ăn trộm nầy sẽ mang lại đủ tiền để cả hai người sống thoải mái cho đến cuối đời? Hơn nữa vụ ăn trộm bức tượng Paris chắc chắn cũng còn để lại một vài dollar. - Đúng thế!, - Rodder gầm lên. - Và chuyện thối nhất là để cho lũ nhóc con bọn mầy chen vào giữa. Tất cả là lỗi của Scott! - gã nhìn Ambler, kẻ vẫn đang tiếp tục vùng vẫy bên cái phao cứu hộ. - Bây giờ mày vẫn còn tin đám nhóc con nầy là một luồng gió mát chứ? Ambler phun ra một ngụm nước biển, không nói nửa lời. Gã ta quá mệt, không còn sức đâu mà cãi cọ. Justus lại lật cho đoạn thang chĩa xuống nước. Con tàu cảnh sát bây giờ đã đến rất gần. Cậu thấy rõ thanh tra Cotta đứng trên boong. Chị Hannah Harding đứng cạnh ông và vẫy tay về phía họ. ... Mời các bạn đón đọc Mặt Chó Sói của tác giả Mishima Yukio.
Gương Thầy Trò - Hoàng Xuân Việt
Tác phẩm về đạo lý làm người được in lại như lời tri ân cố học giả nổi tiếng. Gương thầy trò là tác phẩm ra đời từ thập niên 1970 ở thế kỷ trước của học giả Hoàng Xuân Việt. Vì vậy, sách có lối hành văn, từ ngữ được xem khá lạ so với gu đọc của nhiều bạn trẻ ngày nay. Trong sách, cố học giả Hoàng Xuân Việt dẫn ra 7 điều làm nên nền tảng căn bản của tình thầy trò, bao gồm các yếu tố như trí tuệ, ý chí, lương tâm, tình cảm, đối nhân xử thế... Trên từng trang viết, tác giả lần lượt điểm lại cuộc đời, tình sư đệ của các danh nhân với môn đồ của họ. Học giả Hoàng Xuân Việt (1928 - 2014) tốt nghiệp cao học tại trường Đại chủng viện Saint Joseph và Saint Sulpice. Ông còn theo học và nghiên cứu nhiều môn như triết học, thần học, xã hội học, thiên văn học... Ông sử dụng thành thạo bảy ngôn ngữ gồm Anh, Pháp, Đức, Hán - Nôm, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và cổ ngữ Latin. Cố học giả sở hữu hơn 200 đầu sách, nhất là những tác phẩm trong tủ sách Học làm người. Ông thường được gọi là "quái kiệt" trong làng sách. Hiện những tác phẩm của ông được luật sư Hoàng Cao Sang - một trong những học trò của ông - làm đại điện pháp lý về tác quyền, thay mặt gia đình cố học giả lưu giữ. *** Ôi tình thầy trò quan trọng quá mà cũng cao cả, thâm trầm quá. Nó là thứ tình tổng hợp tinh hoa của các loại tình người. Khi Socrate tắt hơi cuối cùng, Platon nói tôi khóc không phải cho Socrate mà khóc cho tôi vì từ đây tôi không còn trên dương trần một người cha, một người anh, một người thầy, một người bạn. Lời nầy đúng cho Platon mà cũng đúng cho bất cứ ai trên đời có được minh sư. Có phước lắm, trò mới gặp được một tôn sư với trọn vẹn ý nghĩa của tiếng ấy. Có phước lắm thầy mới gặp được một hai trò để mình đầu thai trong đại chí và đại nghiệp. Thiếu gì người cả đời không gặp được thầy, được trò như ý nguyện. Từ Bossuet đến Fénélon, ông bỏ 10 năm, ông bỏ 6 năm dạy dỗ chí tử công phu, đầu tư bao nhiêu hy vọng, lại trúng thứ trò gì đâu nên kẻ kể như thất bại, người tạm tạm thành công. Hai đệ tử đầu tiên của Đức Phật, phải bỏ hai thầy cũ để theo Đức Phật rồi mới được toại nguyện. Thì ra có khi mình muốn cầu sư, cầu đệ mà đâu phải thầy nào, trò nào cũng là đối tượng như ý. Người cầu học, cầu tiến mà gặp được chân sư còn hơn trúng số. Họ tha hồ khai thác kiến văn, đạo hạnh, kinh nghiệm, mưu cơ. Trên đường đời họ được cố vấn đường khôn nẻo dại, họ được nguồn an ủi, ủy lạo tinh thần nhất là những khi đời họ qua truông, xuống dốc. Người đại chí, bất lực mà gặp ninh đồ trung đệ thì con bầy cũng không bằng vì họ có kẻ làm cho kiến thức, hoài bão của họ đâm chồi kết quả về thiên thu. ... Mời các bạn đón đọc Gương Thầy Trò của tác giả Hoàng Xuân Việt.