Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vì Em Yêu Anh

Stephanie có sắc đẹp cổ điển, nhưng hơn thế, nàng có một trái tim đam mê. Ham thích mạo hiểm, nàng dám lao đầu vào những cuộc tình cuồng nhiệt và cũng sẵn sàng chịu trả giá cho những mối tình của mình. Một tính cách như vậy lại ra đời trong thời đại bão táp của nước Pháp nửa cuối thế kỷ XIX với những cuộc tranh giành quyền lực trong nước, chiến tranh ở ngoài nước, những cuộc xâm lược thuộc địa và sự phát triển nhanh chóng của các công ty liên quốc gia, ắt cuộc đời nàng phải bảy nổi ba chìm với ... yêu đương. Số phận éo le đã đẩy Stéphanie lưu lạc khắp năm châu và rơi vào đủ những mối tình hết sức khác nhau: - Nhà kinh doanh trẻ tuổi Armand Dytteville có tài sản lớn ở Nam Thái Bình Dương. - Chàng sĩ quan điển trai, tùy tùng của hoàng đế Napoléon III. - Chàng quý tộc Nga hào hoa Boris tại kinh thành Saint Petersburg. - Một thanh niên bản xứ tại miền đất hoang vu, Yann Kendelec. - Và ... văn hào Victor Hugo, cây bút vĩ đại đồng thời cũng nổi tiếng là thuộc số những đàn ông có nhu cầu tình ái mãnh liệt nhất trong lịch sử thế giới ... STEPHANIE lấy nhân vật cùng tên làm trung tâm, được viết thành 4 cuốn với tên gọi như sau: 1. Bốn mùa yêu. 2. Vì em yêu anh. 3. Cái giá của tự do. 4. Ngọn lửa tình. Tuy là bốn cuốn cùng viết về một nhân vật, song cũng như bộ tiểu thuyết Angelic đã quen thuộc với bạn đọc, mỗi cuốn đều là những câu chuyện hoàn chỉnh, độc lập với nhau, không nhất thiết phải đọc toàn bộ tác phẩm hoặc đọc theo trình tự nhất định mới thấu hiểu được nó. Tất nhiên, hy vọng rằng bạn đọc sẽ gắn bó và say mê với số phận của Stéphanie để không bỏ sót một cuốn, một tập nào, như đọc giả phương Tây đã hết sức hoan nghênh STÉPHANIE khiến bộ sách được tái bản liên tục trong vòng 10 năm nay kể từ khi nó ra đời. *** Vậy là Stephanie đã trở về nhà bếp của trường quân chính, nơi ngày nào nàng đã rời đây để cùng với Pompette lên đường ra trận, cốt đuổi theo René. Bây giờ nàn cũng sắp phải rời bỏ nơi này để trở thành phu nhân Dytteville, trở về thành phố Paris với các con, với gia đình của nàng, lấy lại vị trí của nàng trong gia đình cũng như trong xã hội thượng lưu và trong công việc kinh doanh. Nghĩ tới việc lại phải tiếp xúc với "giới dân sự" Stephanie hoang mang vô cùng, không phải chỉ bây giờ vì nàng phải bắt đầu mọi thứ từ đầu vì nàng đã bị mang cái tiếng là "làm cấp dưỡng" trong trung đoàn lính Bắc Phi. Trong đáy thâm tâm, Stephanie coi đó là vinh dự, một thứ đáng để nàng tự hào. Nhưng mọi người xung quanh nàng lại không nghĩ như thế. Stephanie sẽ phải "đương đầu" với họ. Tuy nhiên nàng thầm nghĩ, bất cứ trước mặt ai, dù vị trí là thế nào đi nữa, nàng sẽ không bao giờ từ chối việc nàng đã tham gia chiến trường Crimée, bên cạnh Pompette, trong trung đoàn lính Bắc Phi số 3. Hôm qua Stephanie đã may một tấm áo dài, một chiếc mũ, đôi giày, chiếc xắc, bởi nàng không thể mặc đồng phục cấp dưỡng quân đội để đến nhà Amélie. Chỉ chị là người có thể khuyên bảo nàng đôi điều cần thiết. Hôm nay, trước lúc đi, Stephanie ngập ngừng đôi chút rồi cuối cùng nàng quyết định cởi áo dài ra, mặc lại bộ đồng phục cấp dưỡng quân đội vào người. Nàng thầm tự nhủ: - Để mai... mai mình hãy đi. Để lấy lại can đảm, Stephanie nhớ lại câu Amélie đã nói với nàng một lần. Hôm đó phu nhân Resmont bảo nàng: - Tôi quý chị hơn chị tưởng đấy, Stephanie. Tôi muốn nói với chị rằng bao giờ chị cũng có thể coi tôi là người bạn tin cậy, tận tụy và thông cảm với chị. Hai chữ "bao giờ" của Amélie nói ra hàm nghĩa "bất kể hoàn cảnh nào". Nhưng Stephanie đã không viết lá thư nào trả lời bạn. Nàng chỉ đọc ba lá thư của Amélie nàng nhận được đầu tiên. Từ lá thư thứ tư cho đến tất cả các lá tiếp theo, Stephanie đều xé vứt đi, mặc dù Amélie gửi thư rất đều đặn cho nàng. Do đó Stephanie hoàn toàn không biết tin tức gì ở nhà, bây giờ trở về gia đình nhà chồng, nàng chưa biết, sau khi nhận được tin nàng tử trận, ông bà Dytteville liệu có còn giữ lại căn hộ của nàng không. Suốt thời gian nàng ở ngoài mặt trận, bà Francoise Dytteville không hề viết thư cho con dâu, vì Amélie đã nói với bà rằng Stephanie không muốn nhận thư ai, ngoài thư của chị. Và mẹ chồng nàng đã tôn trọng ý muốn ấy của Stephenie. Nhưng rất có thể Amélie đã báo tin của nàng cho hai ông bà Dytteville. Vậy thì nàng phải gặp Amélie đã. Nhưng liền sau đó Stephanie lại chợt nghĩ "Bố mẹ chồng ta không thể không nhận ta. Ta là mẹ của hai cháu nội họ: Armand và Charles. Và là con dâu, ta vẫn là một cổ đông của công ty". Cho dù bố mẹ chồng tiếp đón nàng ra sao, Stephanie quyết định không làm điều gì ảnh hưởng xấu đến hai con nàng. Stephanie kết luận, người duy nhất nàng có thể hoàn toàn tin cậy là Amélie. Chắc chắn khi nghe tin cuộc chiến tranh Crimée kết thúc, chị đã nóng lòng mong gặp mặt bạn. Vấn đề chỉ còn là Stephanie không đến một mình mà có thêm con chó Cesar. Thôi được, nàng sẽ đến gặp Amélie trước. 8 giờ sáng hôm sau, tay dắt con chó, Stephanie bước ra khỏi cổng trường quân chính, nàng rất khó chịu trong tám áo bó chặt trên ngực, dưới lại xòe rộng với khung lồng bên trong vướng víu. Thêm nữa, đôi giày chật, bó đã lâu nàng không dùng, bây giờ khiến nàng bước đi rất khó khăn. Stephanie quen ở mặt trận, mặc áo quần rộng rãi, thoải mái, đi giày quân nhân mềm mại. Dọc đường nàng đi ngang qua một cửa hàng đồ chơi thấy có dòng chữ rất to làm nàng ngạc nhiên vô cùng "Cuộc phong tỏa Sebastopol - Trò chơi lý thú cho mọi lứa tuổi, giá thấp nhất: 6 franc!" Thì ra cuộc chiến tranh đẫm máu đã được dân chúng Paris khai thác thành trò chơi. Stephanie nhìn vào tủ kính thấy bày đầy các kiểu hộp carton to nhỏ màu sắc sặc sỡ với các hình thành lũy, pháo đài, quân Đồng minh đang tấn công, cũng như quân đội Nga đang tự vệ... Stephanie muốn văng ra một câu chửi tục tĩu của binh lính Bắc Phi, nhất là của bác Tubosiquoi. Nhưng nhàng cố gắng ghìm lại, cay đắng và nhẫn nhục đi tiếp về phía biệt thự của gia đình Resmont. Một gia nhân nàng không biết tên ra mở cổng. - Bác vào báo Phu nhân Resmont tôi là phu nhân Dytteville đến thăm. - Bà chủ tôi sáng nay không tiếp khách. - Chính vì vậy mà tôi đến gặp phu nhân. - Nhưng hôm nay không phải là ngày tiếp khách của bà chủ tôi. - Tôi cũng hy vọng như thế. - Tôi không biết bà chủ tôi có... -... có tiếp tôi không chứ gì? Bác cứ nói tên tôi với bà chủ bác sẽ thấy. Tôi là phu nhân Dytteville. Con chó Cesar của Stephanie nhảy bổ đến bác gia nhân, nhưng bị sợi dây níu lại nên nó chỉ sủa vang giận dữ. Bác gia nhân tỏ vẻ khó chịu, đưa mắt lườm "mụ khách" và con chó hung dữ, rồi bực dọc khép cánh cổng, đi vào trong. Stephanie đứng đợi bên cạnh một cửa sổ. Nàng đang ngắm vườn hoa, sân trời, chuồng ngựa và cố không nghĩ đến điều gì làm nhụt ý chí. Tiếng một cánh cửa trên gác đóng lại, tiếng sột soạt váy áo trên cầu thang làm Stephanie quay đầu lại. - Stephanie! Stephanie! Ôi, mình mừng quá! Con chó Cesar gầm gừ. - Im, Cesar! Amélie lao đến ôm chầm lấy Stephanie, hôn vào má bạn. Con chó Cesar vẫn còn gầm gừ nhưng lúc này không còn nhe răng hung dữ nữa. Nó đã cảm nhận người lạ kia là bạn thân của chủ nó. - Vào đây, bạn thân mến! Vào đây! Amélie mừng rỡ đến mức Stephanie phải xúc động. Chị định kéo nàng vào phòng khách, nhưng Stephanie ngăn lại, trỏ con chó: - Tôi còn con chó này. - Ôi, chó của chị đấy à, Stephanie? Chị đem nó ở mặt trận về sao? Ôi, trông nó có vẻ quý chị lắm nhỉ? Thì có sao đâu, dắt cả nó vào! Đi! Amélie bao giờ cũng nói những câu đáng nói. Stephanie thấy nhẹ cả người. Bao nhiêu căng thẳng, bao nhiêu chua chát, bao nhiêu tự ái về cách người dân Paris coi thường những anh hùng từ chiến trận trở về đột nhiên tan biến hết. Đối với Amélie mọi thứ trở nên đơn giản lạ thường. Chị tiếp bạn mới như hôm qua hai người vẫn còn gặp nhau. Con chó Cesar đã thôi không gầm gừ nữa. Nó như lắng nghe người phụ nữ lạ kia cầm tay trò chuyện huyên thuyên với chủ nó. Dường như nó đã thấu hiểu tính tình hiền hậu và tốt bụng của bà ta còn hơn cả Stephanie. Amélie đã tước đi mọi thứ vũ khí phòng ngự nàng chuẩn bị sẵn để đối phó. Amélie không đòi hỏi gì ở nàng. Chị kể mới tối hôm qua hai vợ chồng chị còn nhắc đến Stephanie. Achille đã hoàn toàn bình phục những vết thương ngoài chiến trường. Đứa con trai của chị là niềm vui khôn tả của hai vợ chồng chị.   Amélie kể hai con Stephanie là Armand và Charles đều khỏe mạnh, ngoan ngoãn và bà Dytteville, mẹ chồng nàng, thường xuyên đưa hai cháu nội đến đây. Chị cho biết hai ông bà Dytteville hiện ở lâu đài tại nông thôn, nơi có các khu rừng vẫn đẹp tuyệt vời và chắc chắn mọi người đều rất mong Stephanie về. - Nhưng chị phải ở lại đây với hai vợ chồng tôi vài ngày. Ôi, anh Achille và tôi mong chị vô cùng. Bao giờ chị thuê được đầy tớ, sắm được xe, tậu được ngựa, chị hãy về nhà. - Nhà tôi ấy à? Amélie? - Chứ còn gì nữa? Nhà chị vẫn y nguyên như cũ, chỉ có mấy bức rèm hơi bạc màu đôi chút. Chị thấy chưa nhỉ? Rèm ở nhà tôi, tôi đã phải thay rồi đấy. Stephanie lúc này mới kịp nhìn những tấm rèm cửa sổ của Amélie. - Đẹp quá! - Nàng khẽ nói. Trong những câu nói của Amélie, Stephanie không hề thấy một lời trách móc, một câu hỏi nào, chứng tỏ chị biết rõ tất cả mọi chuyện liên quan đến nàng. Tất nhiên Amélie cũng muốn hỏi bạn thêm chi tiết, nhưng chị nghĩ hãy đợi đến lúc Stephanie ổn định cuộc sống mới, hòa nhập được vào xã hội Paris đã. Sau khi huyên thuyên cho bạn biết những chi tiết chủ yếu tại đây và thấy Stephanie đã trở lại thoải mái, Amélie mới khẽ rụt rè câu hỏi đầu tiên: - Ôi, nhưng bây giờ chị kể đi, Stephanie. Chị nói về chị đi, Stephanie thân yêu. - Tôi đã về. Chiến tranh đã kết thúc, có vậy thôi. - Tôi biết ngoài mặt trận chị được mọi người rất quý. Achille đã kể tôi nghe rồi. Chị biết tính Achille không bao giờ nói dối. Tuy nhiên tôi cảm thấy anh ấy chưa kể hết. Bây giờ gặp chị tôi muốn nghe chị kể về chiến trường, những gian nan, thiếu thốn mà tôi biết là rất ghê gớm. Chị là người chứng kiến và bản thân chịu đựng tất cả những thứ đó. Tôi muốn nghe chính miệng chị kể. - Ôi, tất cả những thứ đó đã lùi vào dĩ vãng rồi - Stephanie khẽ đáp, trìu mến đặt tay lên đầu con Cesar. - Tôi không muốn làm chị buồn, Stephanie thân mến. Tôi chỉ muốn để chị thấy là vẫn theo dõi chị, vẫn là bạn tận tuỵ và quý mến chị. Chị có thể thổ lộ nỗi lòng tất cả chuyện gì, bất cứ lúc nào. Tôi sẵn sàng nghe và chia sẻ với chị mọi kỷ niệm vui buồn. - Ôi, chị tốt quá, Amélie. Stephanie thở dài, cúi đầu thầm nghĩ "Vậy là Amélie mạnh hơn mình. Chị ấy đã chinh phục được mình". Amélie im lăng, tôn trọng dòng suy nghĩ thầm kín của bạn. Đột nhiên Stephanie ngẩng đầu, nói rành rọt: - Tôi muốn biết tại sao anh ấy cưới Agnès. - Nhiều nguyên nhân thúc đẩy lắm, Stephanie thân mến ạ - Amélie bình thản đáp, dường như chị đã đoán trước được Stephanie thế nào cũng sẽ hỏi câu đó - Lúc ở ngoài chiến trường trở về, René rất yếu. Vết thương ở chân mãi không lành. Chỗ xương gãy mãi vẫn chưa lành lại bình thường. Phải mổ đi mổ lại bao nhiêu lần. Thế là phu nhân Lomanais mời anh ấy về nhà họ để chăm sóc. Tôi đã viết trong thư kể chị biết rồi đấy. - Chị có viết à, Amélie? Tôi không nhận được lá thư đó. - Tôi biết. Thư bị trả lại cho người gửi với dòng chữ "Người nhận mất tích". Ít lâu sau tôi nhận được bản danh sách chính thức do René đưa xem. Chẳng là hôm ấy tôi đến biệt thư gia đình Lomanais thăm René và anh ấy thấy vẻ mặt tôi buồn bã đã đưa tôi xem. Anh ấy rất đau khổ vì cho rằng chị bị thiệt mạng là do lỗi của anh ấy. Achille và tôi đã tưởng René không sống nổi. Bệnh tình anh ấy kéo dài quá lâu và anh ấy dường như tuyệt vọng. Hôm đầu tiên anh ấy dậy được và tập đi, tiểu thư Agnès Lomanais đã dìu anh ấy và sau đó... - Tôi hiểu. Từ bước thứ nhất đến bước thứ hai! Chuyện ấy là tất nhiên rồi. Duy có điều anh ấy biết rằng tôi còn sống, sao anh ấy không... - Lúc ấy René đã đính hôn với Agnès rồi. Đính hôn chính thức! Lợi dụng lúc René đang yếu, đang cần chăm sóc, bà mẹ Agnès, phu nhân Lomanais đã...  - Ôi, bà ấy là người nào tôi biết rồi! - Trong khi đó phu nhân Guichamp khánh kiệt, bán đến cả chiếc trâm cuối cùng...  - Tôi biết đấy là kỷ vật duy nhất còn lại của bà Guinchamp. - Bà ta phải bán để sắm nhẫn cưới cho con dâu... một cái nhẫn rất đẹp, rất sang. - Xứng đáng với cô ta! - Stephanie chua chát nói. - René cảm động trước sự hy sinh của mẹ, không nỡ thoái hôn. Sau khi René và Agnès cưới nhau được vài tháng thì phu nhân Guinchamp qua đời. - Bà ấy đã hoàn thành sứ mạng. - Kìa, Stephanie! - Amélie kêu lên. - Bà ta, phu nhân Guinchamp, đã làm tròn công việc là gây đau khổ cho con trai và cho tôi, vậy mà chị muốn tôi đền ơn bà ta chăng? Chị còn muốn tôi cầu nguyện cho linh hồn bà ta được yên ổn dưới suối vàng hay sao? - René đã viết thư báo tin đó cho chị, Stephanie. Anh ấy có đưa tôi nhờ tôi gửi, bởi anh ấy chưa đi ra khỏi nhà được. Chính tôi đã gửi bưu điện lá thư đó cho chị. Nhưng chị không hề viết thư trả lời, cho tôi cũng như cho René. Stephanie nhắm nghiền mắt lại. Nàng dường như còn nghe rõ tiếng giấy bị nàng xé hôm đó và nàng còn nhìn thấy tất cả những mảnh giấy bay lả tả theo chiều gió. Hôm đó nàng đã xé cùng với lá thư, cả số phận cuộc đời nàng. Lúc đó Stephanie bị ma quỷ nào xui khiến, nàng đã đập một đòn tan tành mọi thứ. Nàng thầm nghĩ "Làm sao chàng thay đổi được? Cũng như mình, làm sao mình thay đổi tính nết được? Tính tình bao giờ cũng vẫn thế: sôi nổi, mãnh liệt, trong khi René bao giờ cũng vậy: hời hợt, nông cạn và nhu nhược. Trong khi mình vẫn say mê chàng thì chàng lại tin là mình đã chết, dựa ngay vào hai mẹ con Agnès. Có gì lạ đâu? Cả ta lẫn chàng đều 'trung thành' với bản chất của mình". Đột nhiên Stephanie thấy mệt mỏi vô cùng. Toàn thân nàng rã rời, nàng chán chường đến mức không còn muốn cưỡng lại gì nữa. Lúc này nàng chỉ ao ước một điều là trốn biệt đi đâu đó, lánh xa tất cả mọi người ở đây, chui vào một xó xỉnh nào để được một mình. Hoặc là quay về nhà bếp của trường quân chính, đấy mới thực sự là "nhà" của nàng, là "gia đình" của nàng. Stephanie lẩm bẩm một lời cáo lỗi rất khẽ: - Amélie, tôi phải về thôi. Mai tôi lại đến thăm chị, có lẽ thế. - Tôi hiểu, Stephanie. Nhưng... Achille sẽ buồn lắm đấy. Anh ấy rất mong gặp chị. Tôi đã tưởng có thể giữ chị lại ăn bữa trưa với vợ chồng tôi. - Tôi ở lại thế nào được, tôi phải về nấu ăn cho mọi người. Amélie không nằn nì. Chị chỉ thở dài thông cảm: - Achille sẽ trách tôi ghê gớm là không giữ chị ở lại. Nhưng chị nói đúng, bao nhiêu người ở đó đang chờ chị. Không có ai ở đó có thể thay chị được. - Chúng tôi có hai người, Amélie. Ngoài tôi còn có cô Marinet. Nếu tôi không về, cô ấy sẽ "quán xuyến" mọi công việc. Lúc đi tôi có dặn cô ấy là có thể tôi đi xa và không về kịp. - Tuỳ chị, Stephanie. Chị ở lại với chúng tôi thì Achille và tôi sẽ rất mừng. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, Achille bước vào phòng khách. Anh sững người lại khi nhìn thấy Stephanie. Sau đó anh reo lên và chạy đến bên nàng:   - Stephanie! Sao mà tuyệt vời thế này! Từ hôm được tin cô bình yên, ngày nào vợ chồng tôi cũng nhắc đến cô và mong gặp cô. Đúng thế không em, Amélie?  Amélie gật đầu, mỉm cười nhìn chồng và bạn bắt tay nhau mạnh mẽ như hai quân nhân bắt tay nhau ngoài chiến trường. - Ôi, tôi sung sướng vô cùng được gặp lại cô, Stephanie! Hay quá, vậy là cô đã trở về!  - Và chúng ta phải giữ chị ấy ở lại đây. Đúng không anh? Stephanie sẽ ở lại nhà mình. - Đúng quá đi rồi. Bé Quille đâu? - Achille quay sang hỏi vợ.  - Sao lúc nào anh cũng hoảng hốt như vậy? Anh yên tâm, nó hoàn toàn khỏe mạnh - Amélie âu yếm đáp.  - Quille là con trai chúng tôi - Achille nói rồi nhìn con chó - Còn bạn này tên là gì?  - Cesar - Stephanie đáp.  Nghe đến tên mình, con chó sủa lên vài tiếng.  - Im nào, Cesar.  - Vậy là một tù binh chó được cô đem vềParis? - Achille vui vẻ nói.  - Nó đã cứu sống tôi đấy, Achille!  - Ôi, nếu vậy thì nó đáng được tất cả chúng ta trân trọng.  Stephanie bật cười. Câu của Achille hàm ý "Nhờ nó mà chúng tôi được hưởng niềm hạnh phúc gặp cô hôm nay".  - À, nhưng cô thấy bé Quille của chúng tôi chưa?  Amélie vội đáp thay bạn:  - Ôi, em mừng quá đâm quên béng đi mất, chưa đem con ra cho Stephanie xem mặt.  Nói xong, Amélie chạy ra ngoài và quay vào liền, bế trên tay một đứa bé xinh xắn, đang nép đầu vào cổ mẹ nó.  Stephanie bỗng nhói đau trong lồng ngực. Nàng chợt nhớ đến hai con và muốn bay đến đó gặp chúng ngay. Nhưng không được. Đành phải chờ. Phải để Amélie tiến hành các bước đi cần thiết. Achille xuất hiện làm đảo lộn mọi ý nghĩ của Stephanie. Nàng nhớ đến vết thương của anh nhưng không dám hỏi thăm, không biết vết thương đó có làm cho Achille đau đớn không? Mọi chuyện đều phải gác lại đã. Nàng nhớ lần cuối cùng nàng gặp Achille. Hôm đó anh bị nhát kiếm chém suốt từ bả vai đến háng, người đầy máu, nằm giữa những xác chết, những thương binh rên rỉ. Rồi nàng nhớ lại Achille trong bộ quân phục sĩ quan hồi chưa xảy ra chiến tranh và bỗng thấy bãi chiến trường Crimée xa vời vợi. Bây giờ Achille đã trở lại hình dạng của anh xưa kia, điều đó gợi lên trong lòng Stephanie bao ý nghĩ quay cuồng.  Sự xuất hiện của Achille gợi lên trong lòng Stephanie cảm giác nàng sắp phải trở lại cuộc sống ngày xưa. Nàng cảm thấy mình như con cá đang chui vào rọ và sẽ không bao giờ thoát ra được nữa. Mọi người xung quanh đã chuẩn bị để đưa nàng vào tròng. Cả Achille và Amélie cũng đang đan những mắc rọ để nhốt nàng vào trong. Họ đan một cách lặng lẽ, không phải chỉ vì tình bạn mà phải nhận đó là tình yêu, lòng quý mến tận tình. Stephanie vừa hỏng sợ, vừa xúc động.  Nàng thầm nghĩ "Họ đang trói buộc ta chính vì họ yêu ta. Ta chẳng nên làm họ thất vọng. Ta là ai? Chỉ là một kẻ bị ruồng bỏ, một nữ cấp dưỡng. Họ băn khoăn cho ta trong khi ta chẳng hề băn khoăn chút nào! Sẽ không bao giờ ta từ bỏ cô cấp dưỡng Phanie, Phanie Mourlon, từ bỏ Pompet, Tuboisquoi cũng như các đồng đội Bắc Phi. Nhưng ta lại là phu nhân Dytteville. Bao nhiêu người mong đợi ta. Rồi hai đứa con yêu quý của ta, chúng cũng mong mẹ chúng trở về. Vì các con, vì gia đình, ta đành phải chui vào cái rọ ấy. Không còn cách nào khác".  Stephanie quay nhìn Achille và đứa con trai xinh xắn đang đứng nhìn nàng như chờ đợi điều gì đó.  - Cô cầm lấy quả bóng đánh ki này, Stephanie. Rồi lăn bóng đến cho cháu.  Stephanie đỡ quả bóng nhỏ trong tay Achille, liệng nhẹ trên sân nhà về phía đứa trẻ. Khi quả bóng lăn đến gần chân nó, thằng bé reo lên mừng rỡ.  - Đánh ki! Đánh ki! - Vừa hét nó vừa vỗ tay đôm đốp.  Bây giờ Stephanie mới hiểu tại sao hai vợ chồng Achille và Amélie gọi con trai họ là Quille: Môn đánh ki!  - Cô thấy chưa, Stephanie? Từ hôm đi chơi trên đại lộ Champs Elysees thấy người ta đánh ki, thằng bé không thích chơi gì khác ngoài môn này. Cô liệng tiếp quả bóng cho nó và nó yêu cô ngay đấy. Bây giờ mọi người đều quen gọi nó là thằng Quille.  - Cesar! - Stephanie sai con chó - Ra cầm bóng về đây. Nhẹ nhàng thôi... Nhẹ nhàng thôi.  Cesar quay đầu nhìn quả bóng, rồi như thể do dự, bước tới cầm quả bóng về đặt dưới chân cô chủ, rồi ngẩng đầu nhìn nàng vẻ chờ đợi.  - Con chó của cô khôn quá - Achille lẩm bẩm nói.  - Đúng thế. Vài hôm nữa, khi nó đã quen với bé Quille, tôi sẽ bảo nó trông nom bé và không ai trêu chọc gì được bé nữa đâu. Hồi ở chiến trường, nó canh cổ xe cấp dưỡng cho tôi rất chu đáo. Nó chỉ có một khuyết tật là rất ghét ngựa. Cứ chơi kiểu này thì chẳng mấy chốc con Cesar sẽ quen với bé Quille và bé cũng sẽ quen với con chó.  - Có nghĩa, cô đến đây bao giờ cũng phải dắt theo con Cesar?  - Đúng thế.  - Tốt thôi, nhưng lúc nào cũng phải buộc dây cẩn thận đấy.  Stephanie bật cười, tiếp tục chơi bóng với đứa bé. Con Cesar chừng như hiểu biết, mỗi lần đến gần đứa bé nó đều tỏ vẻ hết sức hiền lành để khỏi làm đứa bé sợ. Thấy vậy, Achille dần dần cũng mến con chó và thấy nó không xấu xí như lúc đầu anh nhìn thấy nữa.  Stephanie thấy rõ Achille muốn chìu chuộng nàng. Suốt bữa ăn, anh ta luôn miệng kể đủ thứ chuyện về thành phố Paris, coi như nàng chưa hề rời khỏi đây một ngày nào. Khi nói đến những bạn bè của nàng, Achille nói như kiểu nàng vẫn thường gặp họ trong những ngày qua.  Lúc ngồi ăn tráng miệng và uống cafe sau bữa ăn, Stephanie nói:  - Sau đây tôi phải về trường quân chính. Bởi tôi đã xuất ngũ đâu? Tôi vẫn còn ở trong quân đội kia mà.  - Ôi, chuyện ấy chẳng khó khăn gì hết. Chị cứ yên tâm, Stephanie - Achille nói - Tôi sẽ đến đó và nếu cần, cha tôi can thiệp thêm nữa.  - Tôi sẽ trao cho anh giấy tờ nhập ngũ của tôi - Stephanie nói, tay nhấc chiếc xắc - Nếu cần tôi phải làm chứng trong nửa tháng, một tháng, tôi xin sẵn sàng. Tôi cần có giấy tờ hợp pháp, đầy đủ mọi văn bản chứng nhận, nhưng anh đừng quên, tên tôi ở quân đội là Stephanie Mourlon đấy nhé.  Amélie hiểu rằng việc chị và Achille bảo trợ cho Stephanie cần được sự đồng ý của gia đình nhà chồng nàng. Chị bèn thảo một bức thư gửi Dytteville, mẹ chồng Stephanie, báo tin con dâu bà đã trở về, khỏe mạnh và hai vợ chồng xin phép bà đề Stephanie sống tạm với họ, trong khi chờ đợi sửa sang ngôi nhà của nàng.  Ngay sau đấy Amélie cho người đem thư đến bà Dytteville và mời bà ngày mai đến gặp hai vợ chồng chị. Mời các bạn đón đọc a của tác giả Marcel Gobineau.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bùn Pha Sắc Xám - Anthony Grey
Cho đến khi người Anh trao miền Nam Việt Nam lại cho người Pháp đầu năm 1946, thì đã có hơn hai ngàn người Việt bị quân Anh sát hại. Tại miền Bắc, lực lượng giải giới Trung Hoa cuối cùng chịu rút khỏi Việt Nam vào tháng 3 năm 1946 qua một thỏa ước mà họ đã ký kết với Pháp, theo đó Trung Hoa nhường cho Pháp đưa một số quân vào miền Bắc Việt Nam, ngược lại người Pháp phải trả cho Trung Hoa tất cả những Tô giới mà họ đang chiếm giữ. Chính phủ Hồ Chí Minh lúc này vẫn còn yên ổn đóng tại Hà Nội, và mặc dù Paris đã chính thức công nhận chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ của Việt Minh trong Liên Hiệp Pháp, nhưng Việt Minh vẫn hết sức dè dặt chào đón sự trở lại của lực lượng Pháp. Trước đó, đã có nhiều cuộc thảo luận giữa Hồ Chí Minh và Pháp diễn ra, cho mãi đến mùa Thu năm này, nhưng Pháp vẫn ù lỳ cương quyết không chịu trao trả nền Độc Lập hoàn toàn cho Việt Nam. Cũng kể từ đó, việc xung đột giữa đôi bên không còn cách nào tránh khỏi được. Việt Nam lúc bấy giờ vẫn không được thế giới bên ngoài chú ý tới, trong khi đó Nga Xô lại nới rộng vùng ảnh hưởng của mình tại Đông Âu và Trung Âu. Tổng Thống Harry Truman của Hoa Kỳ quyết định ủng hộ nước Pháp, vì Pháp hiện đang đóng một vai trò rất quan trọng trong lãnh vực chiến tranh lạnh tại Âu Châu. Hồ Chí Minh đã nhiều lần viết thơ cho Tổng Thống Truman để xin Hoa Kỳ ủng hộ mình, nhưng tất cả thư từ đó, đều không được Hoa Kỳ phúc đáp. Việc Hoa Kỳ ủng hộ Pháp thật ra đối với bộ Ngoại Giao của quốc gia này vẫn không có gì thay đổi, nhưng vì lúc bấy giờ sự thắm thiết giữa cơ quan OSS (Cơ Quan Tình Báo Chiến Lược của Hoa Kỳ) và Việt Minh vào những ngày chót của cuộc chiến tranh thứ hai vừa qua đã làm cho nhiều nhà ngoại giao của Hoa Kỳ phải khó chịu. Washington đã bất ngờ chính thức tuyên bố là Hoa Kỳ sẽ tôn trọng chủ quyền của người Pháp tại Đông Dương và chấm dứt nhiệm vụ của OSS tại Việt Nam, đồng thời cho rút khỏi Hà Nội vào tháng 10 năm 1945. Mãi cho đến về sau này, các nhà lãnh đạọ Hoa Kỳ mới thấy tiếc rẻ là họ đã bỏ mất một cơ hội bằng vàng để có thể biến Hồ Chí Minh thành một Tito của Á Châu thân Tây Phương. Trong thời gian lên cầm quyền, Hồ Chí Minh đã nắm vững tình hình của dân chúng và khi cuộc chiến tranh với Pháp bộc phát trở lại trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào ngày 19 tháng 11 năm 1946, Hồ Chí Minh lại một lần nữa rút vào các hang núi đá vôi miền thượng du Bắc Việt, nơi mà cách đây mười sáu tháng trước ông ta đã bỏ nơi này để nhảy ra cướp chính quyền. Trong khoảng thời gian ngắn đó, chính phủ Hồ Chí Minh đã khắc phục được nạn đói tại miền Bắc bằng cách vận động toàn dân tức tốc trồng trọt trên bất cứ khoảnh đất trống nào, và chính phủ của ông ta đã thắng được dễ dàng cuộc bầu cử tại Nam và Trung phần. Ưu thế của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội đã khiến cho Việt Minh không ngần ngại cho áp dụng các chiến thuật khủng bố đối với những người Quốc Gia chống đối với họ. Cộng Sản đã mưu sát hầu hết các lãnh tụ thù nghịch nổi tiếng của họ vào những ngày đầu của cuộc hỗn loạn này. Điều rõ ràng nhứt là Việt Minh đã được đại đa số quần chúng chấp nhận, cho nên sau khi chiến tranh với Pháp bộc khởi trở lại, người Pháp đã thấy rằng dù với một trăm năm chục ngàn quân có mặt tại đây, thì họ cũng chỉ có thể kiểm soát được các vùng trung tâm thị tứ và các trục giao thông chính mà thôi, trong khi đó Việt Minh đặt thế lực của họ tại các làng mạc hẻo lánh, các đồng ruộng và các vùng rừng rú. Sau khi Pháp thắng được vài trận trên các chiến trường thì tình hình quân sự của Pháp được nới rộng hơn và kéo dài cho đến tháng 10 năm 1949, khi mà Cộng Sản Mao Trạch Đông thắng thế tại Trung Hoa thì người ta thấy cục diện thế giới có nhiều thay đổi. Chỉ trong vòng một đêm, bỗng dưng lãnh thổ của Trung Hoa đã trở thành căn cứ an toàn cho Hồ Chí Minh ém quân và là nơi huấn luyện lý tưởng cho các binh sĩ dưới quyền của Tướng Võ Nguyên Giáp. Chỉ trong vòng vài tháng, lực lượng của Việt Minh bành trướng thành một quân đội được trang bị với đại bác tối tân của Hoa Kỳ do Cộng Sản Trung Hoa tịch thu được của tàn quân Tưởng Giới Thạch. Cũng từ đó trở đi, việc Pháp có thể chiến thắng Việt Minh trên các chiến trường đã trở nên không còn cách nào thực hiện được nữa. Cuối năm 1950, Việt Minh tung bốn mươi ba Tiểu Đoàn mới vừa thành lập vượt biên giới Trung Hoa và Việt Nam, đánh thốc vào các tiền đồn yếu ớt của Pháp, gây nên một sự thất bại nhục nhã cho Pháp chưa từng thấy kể từ khi Tướng Montcalm của Pháp bị bại trận và bị giết dưới tay quân Anh ở Québec vào năm 1795. Sáu ngàn quân Pháp bị giết và một số lớn quân xa, vũ khí bị lọt vào tay quân đội Việt Minh. Từ đó, dưới sự ủng hộ của Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, Việt Minh kiểm soát được một khu vực từ biên giới Hoa Việt cho tới gần một trăm dặm chung quanh Sài Gòn, chỉ trừ một vài vùng tại châu thổ sông Hồng và Hà Nội là quân Pháp còn giữ được mà thôi. Lúc bấy giờ thế giới bên ngoài, ai nấy đều lo ngại trước cuộc chiến thắng của Mao Trạch Đông và lo sợ cuộc chiến thắng này sẽ ảnh hưởng đến chủ nghĩa Cộng Sản hiện đang trên đà bành trướng mạnh trên thế giới, cho nên cuộc chiến tranh ở Đông Dương mà từ trước đến giờ hầu như không làm một ai chú ý tới, nhưng trước đà thuận lợi cho Cộng Sản hiện tại ở Đông Dương đã khiến cho một số các quốc gia tư bản khác trên thế giới phải để tâm vào. Tháng Giêng năm 1950, Nga Sô và Trung Cộng thừa nhận chính phủ Hồ Chí Minh lúc này đang có mặt tại các căn cứ địa của họ trên vùng thượng du Bắc Việt, và chính điều này đã làm cho Hoa Kỳ vội vã lên tiếng công nhận một chính phủ Việt Nam do Pháp đỡ đầu và do Bảo Đại lãnh đạo. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Ancherson cho biết là Nga Sô và Bắc Kinh đã kéo lá bài chót để đưa ra cái ảo ảnh giả vờ của Hồ Chí Minh trong tư thế quốc gia, cho thấy y là một kẻ thù không đội trời chung của Hoa Kỳ, để từ đó Hoa Kỳ bắt đầu ồ ạt viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam cũng như các quốc gia khác tại Đông Dương nhằm giúp Pháp ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản. Kể từ đó, Pháp biến cuộc chiến tranh Thuộc Địa của mình thành một cuộc chiến tranh với sứ mạng ngăn chặn Cộng Sản bành trướng tại Á Châu. Đầu tháng 6 năm 1950, thế giới Tây Phương bắt đầu chú ý đến phần đất này nhiều hơn khi Bắc Hàn xua quân tấn chiếm Nam Hàn, và các lực lượng Tây Phương đã cùng chung nhau phục vụ dưới cờ Liên Hiệp Quốc nhảy vào vòng chiến đối đầu với quân Cộng Sản gồm Bắc Hàn và Trung Cộng. Song song với nhiệm vụ này, Tổng Thống Truman bắt đầu gửi một phái bộ quân sự từ Washington qua Sài Gòn vào mùa hè năm đó để sát cánh với Pháp, và chính hành động này đã đưa tới sự liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau này: Dưới hĩnh thức viện trợ kiểu lăn banh tuyết, tính cho đến năm 1954 thì Hoa Kỳ đã đổ vào cho Pháp ba tỷ mỹ kim để Pháp tự đào lỗ chôn mình tại Đông Dương. Năm 1953, cuộc ngưng bắn tại Đại Hàn làm cho Cộng Sản rảnh tay tập trung hết nỗ lực quân sự vào Đông Dương với sự viện trợ hùng hậu của Nga và Trung Cộng cho lực lượng của Võ Nguyên Giáp. Để đáp ứng với tình thế hiện tại, chính quyền thứ 19 tại Pháp, sau chín năm đầy khủng hoảng tại Paris, họ đã đưa ra nỗ lực cuối cùng để cứu vãn danh dự của mình, hầu thoát được cuộc chiến tranh đầy vô vọng này. Pháp đã chấp thuận một kế hoạch do các tay lãnh đạo quân sự đưa ra, theo đó Pháp sẽ dụ lực lượng chính quy của Võ Nguyên Giáp vào một trận chiến quyết liệt bên sau phòng tuyến của Việt Minh tại lòng chảo Điện Biên Phủ hoang vu, hẻo lánh ở Bắc phần, nơi mà Pháp nghĩ rằng với ưu thế thượng phong của Không Quân và uy thế về sức mạnh quân sự của họ, họ có thể tiêu diệt dễ dàng địch quân khi Cộng Sản không có khả năng gì về chiến xa và Không quân hết cả, ngoại trừ một số ít quân dụng vận tải mà thôi. Trước khi lâm trận tại Điện Biên Phủ, Pháp đã đưa ra một đòn nhử bằng cách cho thả dù binh lính xuống một lòng chảo bên sau tuyến của Việt Minh ở Na Sản. Võ Nguyên Giáp không chuẩn bị kịp cho cuộc tấn công này nên đã nướng trọn một Tiểu đoàn giữa các bãi mìn và hàng rào kẽm gai tại đây, vì vậy Pháp vô cùng tự tin là một trận đánh tương tự trong tương lai cũng sẽ đưa tới kết quả tốt đẹp như thế này. Nhưng điều hy vọng đó đã không thành công dễ dàng như người Pháp đã trù định. Và Điện Biên Phủ đã đưa họ tới một sự thất bại chua cay nhất trong lịch sử giữa Đông và Tây. *** Bộ sách SàiGòn gồm có: Sài Gòn Một Nơi Để Nhớ Một Chốn Để Thương Sài Gòn Bùn Pha Sắc Xám Sài Gòn Hai Trăm Năm Cũ *** Anthony Grey là một nhà báo và tác giả người Anh. Là một nhà báo của Reuters, ông đã bị chính quyền Trung Quốc cầm tù 27 tháng tại Trung Quốc từ năm 1967 đến 1969. Ông đã viết một loạt tiểu thuyết lịch sử và sách phi hư cấu, trong đó có một số cuốn liên quan đến việc ông bị giam giữ. Mời các bạn đón đọc Bùn Pha Sắc Xám của tác giả Anthony Grey.
Trong Ánh Lửa Thù - Uyên Thao
Nhà văn Uyên Thao tên thật là Vũ Quốc Châu, sinh năm 1933 tại Hà Nội, bắt đầu viết văn từ năm 1952. Vào Saigon năm 1953, ông cộng tác với nhiều tờ báo cũng như những tập san văn học nghệ thuật. Sở trường của ông là sáng tác và phê bình văn học nghệ thuật. Tác phẩm của nhà văn Uyên Thao gồm đủ thể loại trong đó có những tác phẩm đã in trên báo và xuất bản như hai cuốn tiểu thuyết “Những Con Cọp Cháy Móng” đăng trên Tạp chí Sinh Lực-Sài Gòn từ năm 1959 đến 1961, “Trống Trận” đăng trên Nhật báo Tin Sáng vào năm 1964 và cuốn dã sử tiểu thuyết “Trong Ánh Lửa Thù” đăng trên Nhật báo Người Việt California từ năm 1996 đến 1997, và tập thơ viết trong tù “Không Tên” 1992. Ông cũng là nhà phê bình văn học với hai tác phẩm “Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960” gồm 6 tập do Nhà Xuất Bản Hồng Lĩnh ấn hành tại Sài Gòn năm 1970 và “Các Nhà Văn Nữ Việt Nam 1900-1970” do Nhà Xuất Bản Nhân Chủ ấn hành tại Saigon năm 1973. Ông cũng sáng lập và điều hành nhật báo Sóng Thần từ năm 1970 đến 1974. Ngay từ khi đặt chân lên đất Mỹ vào cuối năm 1999, nhà văn Uyên Thao đã nghĩ đến chuyện thành lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương. Nhà văn Uyên Thao cho biết thêm là Tủ Sách Tiếng Quê Hương nhận được sự cộng tác của rất nhiều bạn bè ngay từ khi ông khởi xướng việc này. “Tôi sang đây hơi trễ nhưng ngay khi mình nghĩ tới tủ sách này thì tôi viết thư cho tất cả những người bạn cũ tôi có được địa chỉ thì hầu như ai cũng sẵn sàng tiếp tay, ai cũng sẵn sàng ủng hộ. Chính vì vậy mình mới có thể thành lập được tủ sách.” Tủ Sách Tiếng Quê Hương được thành hình vào đầu năm 2000 vài tháng sau khi nhà văn Uyên Thao đặt chân lên nước Mỹ và tác phẩm đầu tiên được phát hành vào tháng 9 cùng năm là tập truyện ngắn “Thân Phận Ma Trơi” của Nguyễn Thụy Long. *** S áu năm sau đêm Trung Chính đẫm nước mắt cầm kiếm lệnh phóng ngựa như điên rời Thăng Long, đại quân Thát Đát tràn qua bắc thùy. Giữa mùa đông năm Tỵ, Ngột Lương xua quân từ Quí Châu, Vân Nam tiến vào đất Đại Việt. Kỵ binh Thát Đát xoài vó dọc dẫy Tượng Sơn theo tả ngạn sông Thao ào ạt tiến về xuôi. Các cứ điểm phòng thủ của quân Đại Việt từ Ngã Ba Hạc tới Phù Lỗ bị tràn ngập mau chóng trước sức tấn cônc) như vũ bão. Cuộc chiến đấu giữ nước được chuẩn bị gần mười năm vẫn không ngăn nổi quân Thát Đát tiến thẳng về Thăng Long. Triều đình bỏ kinh thành cho Thát Đát chiếm đóng. Thế nước chông chênh như bánh xe đang lăn trên bờ vực. Nhà vua băn khoăn hỏi Quốc Sư Thủ Độ: - Tình thế này liệu còn cách nào vượt khỏi nguy vong chăng? Vị lão thần nghiêng mái đầu bạc trắng về phía nhà vua. Cặp mắt trĩu ưu tư của ông quắc lên. Giọng ông trầm trầm nhưng quyết liệt, nhấn rõ từng lời: - Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin Bệ Hạ đừng lo! Hơn một tháng sau, quân Đại Việt từ các lộ Hông, Khoái, Trường An, Thiên Trường dồn về phản công địch tại Đông Bộ Đầu, khôi phục kinh thành. Ngột Lương chuyển quân qua hữu ngạn sông Thao, gom lực lượng tại Qui Hoá, chuẩn bị mở đợt tấn công thử nhì về Thăng Long. Các thám tử Thát Đát trong vùng được lệnh cấp tốc về gặp chủ tướng Ngột Lương để tường trình về địa thế và quân tình Đại Việt. Cùng lúc Ngột Lương cho dựng trại chờ hội quân, chủ quán Quốc Oai khách điếm một mình một ngựa băng rừng tiến sâu vào miền tây bắc Qui Hoá, hướng về căn cứ Khau Pho. Hai ngày sau đó, kỵ binh Thát Đát nhận chịu một cuộc tấn công chưa hề gặp trên khắp các chiến trường từng in dấu chân ngựa của họ. Trong lúc cánh quân triều đình của viên tướng trẻ Trần Quốc Tuấn từ lộ Quốc Oai vượt Trung Ha tiến lên, nghĩa binh lộ Qui Hoá dưới sự dắt dẫn của thủ lãnh Lý Trung Chính xuất hiện như tiếng sét bất ngờ nổ giữa trời trong, cắt nát kỵ binh Thát Đát thành từng toán nhỏ. Cuộc phối hợp giữa quân triều đình và nghĩa binh Qui Hoá dồn lực lượng Thát Đát vào thế bị động hoàn toàn từ phút khởi đầu trận đánh. Lần đầu tiên đoàn kỵ binh bách thắng khắp hoang mạc Bắc Á vừa xéo nát đế quốc Ba Tư và chinh phục Đại Lý lâm cảnh tan vỡ kinh hoàng. Những chiến sĩ áo chàm chập chờn biến hiện như những bóng ma và dũng mạnh như một bầy sư tử. Ngột Lương phải ra lệnh mở đường máu thoát thân, cuốn vó chạy dài về phương bắc dưới sự truy sát bén gót của quân Đại Việt. Những ngày cuối cùng của mùa đông năm Tỵ cũng là những ngày cuối cùng của ba vạn chiến binh Thát Đát vừa hung hăng vượt bắc thùy Đại Việt ít ngày trước đó. Ngột Lương chỉ còn vài chục thân tùy cắm đầu chạy không kịp thở, cố tránh thật xa đoàn quân áo chàm của chàng trai có cặp mắt như bốc lửa và cánh tay gươm không hề mệt mỏi. Vào lúc chờ nghĩa binh thu dọn chiến trường để tập hợp về xuôi, Lý Trung Chính trầm ngâm trên yên ngựa nhớ lại những người từng sát cánh bên chàng. Chàng nhớ tới người chú họ Lý Bảo Tuấn hầu như không lúc nào rời chàng nửa bước. Với tuổi già bảy chục, ông vẫn giữ nguyên khí phách của viên tướng trẻ lừng danh Trung Dũng Hầu thuở trước. Luôn luôn xông xáo trên đầu các hàng quân, ông chỉ chịu ngưng khi nhận một mũi tên Thát Đát cắm suốt qua tim. Trung Chính thở dài nhủ thầm: - Dù sao thì chú cũng hài lòng vì đã dự phần làm sống lại trận Như Nguyệt ngày xưa. Mời các bạn đón đọc Trong Ánh Lửa Thù của tác giả Uyên Thao.
Những Dấu Chân của Mẹ - Hà Khánh Linh
“Những dấu chân của mẹ là tập 3 trong bộ ba tiểu thuyết Người kinh đô cũ (NXB Hội Nhà văn, 2004), Lửa kinh đô và Những dấu chân của mẹ (…). Hai nhân vật chính là Nguyễn Phúc Bửu Toàn và Đoan Thuận đã xuyên suốt tác phẩm. Bửu Toàn là một vương gia Tây học, làm Chánh văn phòng Tòa khâm sứ Trung Kỳ nhưng bí mật hoạt động cách mạng đã góp phần cùng nhân dân Huế và cả nước làm nên Cách Mạng Tháng Tám. Đoan Thuận là nữ sinh Đồng Khánh, nữ sinh Khải Định (thời đó trường Đồng Khánh chưa có ban tú tài), cô giáo trường Việt Anh đã tham gia cách mạng với lòng yêu nước thiết tha và nhiệt tình cháy bỏng của tuổi trẻ” (LTS của tạp chí Sông Hương). *** Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị  là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải Phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, thư ký toàn soạn rồi phó tổng biên tập tạp chi Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức… cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Campuchia… đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú. Trong khoảng 40 năm cầm bút cho đến nay chị đã xuất bản tám tập tiểu thuyết, bảy tập truyện và ký, hai tập thơ. Chị là một nhà văn trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ nên đề tài chiến tranh là đề tài được chị quan tâm nhiều nhất (…). Mấy năm gần đây chị mở rộng đề tài. Chị muốn tái hiện lại một số giai đoạn lịch sử quan trọng của Huế qua các tác phẩm dài hơi như tiểu thuyết Người Kinh Đô Cũ (dày 576 trang), Con gái người cung nữ … Về mảng đề tài này chị cũng đã có những thành công nhất định (…) Hà Khánh Linh là một nhà văn làm việc không biết mệt mỏi. Chị đã vượt qua mọi chông gai, thử thách trên đường đời để tự khẳng định mình. Tôi rất đồng tình với điều mà chị tâm niệm: “Viết là một cách sống, một thái độ ứng xử trước cuộc đời” *** Đi thăm cô Minh Lý về gần ngót hai tháng rồi mà Anh Thi vẫn chưa vơi được cảm giác bàng hoàng lâng lâng bay bổng rất thực mà lại như mơ. Nhất là những ngày bên cô Minh Lý tâm trạng Anh Thi lúc nào cũng chao đảo giữa hai thái cực: hạnh phúc và đau khổ, vui mừng và tuyệt vọng, thỏa mãn và bức xúc... Thậm chí, trong niềm thương yêu kính trọng vào cùng vào hạn đối với mẹ thỉnh thoảng lại cộm lên một chút giận hờn. Rồi giận ba, giận anh Vĩnh Tuấn và giận cả chính mình. Từ sau khi có được Anh Thi - đứa con yêu quý mà Đoan Thuận gửi cho - quan ngài Nguyễn Phúc Bửu Toàn cứ ở nhà đợi Đoan Thuận, chứ không hề cất công đi tìm kiếm như buổi ban đầu Đoan Thuận bỏ nhà ra đi... Vì sao ba hành xử như vậy hở ba? Còn anh Vĩnh Tuấn, những ngày anh ở Sài Gòn, cự ly giữa anh với “dì Đoan Thuận” rất gần mà anh không hề hay biết. Những lần anh qua lại trên đại lộ Lê Lợi thênh thang cái biển hiệu mỹ viện Phúc Toàn ít nhất cũng một lần đập vào mắt anh, mà anh không hề có một chút suy nghĩ liên tưởng gì sao? Chưa bao giờ anh có ý định đi tìm gặp “dì Đoan Thuận” hoặc mơ gặp “dì Đoan Thuận” giữa Sài Gòn hoa lệ một thời sao?!... Khi những câu hỏi này được bật nên lời, thì anh Vĩnh Tuấn suy nghĩ một hồi lâu rồi cất giọng chậm rãi, rành mạch, mắt hơi trừng một chút với cô em gái Anh Thi - như thuở nào cô còn bé bỏng vậy: - Chúng ta ai cũng thương nhớ, mong chờ, day dứt, đau đớn, khắc khoải... không biết dì Đoan Thuận còn hay đã mất, nếu còn thì đang ở đâu? Như thế nào? Ra sao?... Có thể nói mấy chục năm qua không khí gia đình ta chưa có lấy một ngày vui thật sự, vì tâm trạng ấy luôn đè nặng lên tâm thức của mỗi người. Còn dì Đoan Thuận thừa biết tất cả những tình cảm ấy của mỗi một người trong chúng ta dành cho dì, thừa biết chúng ta đang ở đâu, làm gì... Nhưng dì đã chẳng hề coi trọng điều đó. Đối với dì thì những nguyên tắc của Tổ chức là cao nhất! Phương thức sống mà dì chọn lựa là tốt nhất! Dì sống vì lý tưởng mà dì đã chọn, vì ước mơ mà dì đã đạt được, vì nghĩa vụ mà Tổ quốc đã tin tưởng giao phó cho dì... Tất nhiên thiếu dì Đoan Thuận cách mạng vẫn thành công, nhưng chính dì muốn trong bản đại hợp xướng chiến thắng của dân tộc phải có sự góp mặt của dì. Chính dì đã từng nói với ba là dì có thể chết được rồi sau khi ba tiếp nhận tình yêu của dì. Con người khôn ngoan ấy đã không muốn chết bình yên trên chiếc giường của mình, trong ngôi nhà của mình. Con người ấy muốn sống một cuộc đời bằng nhiều cuộc đời cộng lại, nếu không muốn nói là nhân lên! Dì Đoan Thuận là như thế đó! Nếu anh không nhầm thì ngoài hai mươi tuổi ít nhất có một lần dì Đoan Thuận xác định đi vào chỗ chết, nhưng vẫn không chết. Đó là khi dì quyết định gửi em về Huế cho ba nuôi. Lời thư của dì viết cho ba anh đã thuộc lòng, và hẳn là em còn thuộc và nhớ hơn cả anh “... Sắp sửa vào chiến dịch mới. Tôi sợ lần ra đi này có thể không trở về, nên tôi đành phải gửi con tôi cho ngài nuôi dạy giúp...” Đó là mùa hạ năm 1948. Dì xác định mình có thể hy sinh. Nhưng ông trời còn để cho dì sống trên đời hai mươi năm nữa. Dì đã đi du học - như ước nguyện của ba ngày xưa mà vì quá yêu ba, nên dì không rời xa ba để đi học được. Dì học một ngành khoa học để làm đẹp cho bao người đàn bà con gái khác không được đẹp như dì. Cùng lúc, dì trở thành một cán bộ cách mạng hoạt động hợp pháp giữa thủ đô hoa lệ Sài Gòn trong một thời gian dài mà kẻ địch không hề hay biết. Thông minh, từng trải, đầy năng lực và dày dặn kinh nghiệm, hẳn là dì đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng được giao, để rồi cùng với đồng chí đồng bào làm nên một tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 lịch sử. Ngày kết thúc chiến dịch, một tay dì đã cứu sống hai thương binh bị thất lạc, rồi sau đó tự tay đưa các anh ra vùng an toàn, khi trở về dì mới bị địch bắt. Dì mãn nguyện lắm rồi, em không biết đó thôi! Em trách anh ở Sài Gòn lâu sao không nhìn thấy biển hiệu Phúc Toàn, và nếu đã nhìn thấy sao không có chút suy nghĩ, liên tưởng, tìm tòi... Nói thật với em, dạo đó - và cả về sau này - thỉnh thoảng nhìn thấy chỗ của các bà các cô lui tới để làm đẹp, là anh vội vã tránh xa ra! Có thể nói đàn bà con gái cứ mãi lo trau chuốt cái dung nhan cho lắm vào, thì đầu óc càng rỗng tuếch!... Hẳn là dì Đoan Thuận hàng ngày đều có đọc báo Sài Gòn, anh luôn ký tên thật dưới các bài báo, lẽ nào dì không nhận ra? Sao dì không chủ động đến tòa soạn tìm anh? Em biết không, khi em lặn lội cả năm trời đi tìm dấu tích của mẹ - từ tập nhật ký của mẹ để lại - cho đến những vùng miền mẹ đã từng qua, anh thương em lắm, vừa thương ba không còn nữa để biết được tin về mẹ. Nhưng bây giờ anh nghĩ khác. Nếu ba còn sống đến ngày nay để biết tất cả những sự ứng xử như thế của dì Đoan Thuận, chắc chắn ba sẽ buồn lắm. Thà ba không biết được những điều đó. Thà ba nửa tin nửa ngờ rằng dì Đoan Thuận đang còn sống ở đâu đó, hoặc đã hy sinh vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Mời các bạn đón đọc Những Dấu Chân của Mẹ của tác giả Hà Khánh Linh.
Đường Về - Erich Maria Remarque
“Tôi muốn mở cửa, đi vào trong phòng, tôi muốn nằm cuộn mình trên chiếc ghế bành, muốn ủ đôi bàn tay trong hơi ấm của gian phòng để hơi ấm ấy lan tỏa khắp người, tôi muốn nói chuyện, muốn mọi bạo tàn, khốc liệt và quá khứ sẽ tan chảy dưới đôi mắt yên lặng của người phụ nữ kia, và muốn bỏ chúng lại phía sau, muốn cởi bỏ chúng như cởi bỏ một bộ quần áo bẩn.” *** Trở về - là khải hoàn sau những năm chiến chinh, là đoàn tụ sau thời gian xa cách, là khoảnh khắc ấm áp của những con người đã tìm lại được nhau… Nhưng cuộc trở về của những người lính Đức sau Thế chiến I lại là hành trình khắc nghiệt của những cánh chim lạc bầy vật lộn giữa bão giông tìm đường quay lại cố hương, là gánh nặng của lửa đạn chiến tranh chết chóc, là hố thẳm ngăn cách giữa hai phần của cuộc đời. Và cả khi vượt qua tất cả để sang tới bến bờ bên kia, họ cũng chưa chắc sẽ tìm được những gì dấu yêu mình từng để lại sau lưng vào cái năm ly biệt. Đây là lần đầu tiên Đường về, tác phẩm được xem như phần hậu của Phía Tây không có gì lạ bởi sự tái xuất của một số nhân vật, ra mắt tại Việt Nam. Qua bản dịch đầy hồn lính mà vẫn đậm chất thơ của dịch giả Vũ Hương Giang, độc giả sẽ lại được gặp một Remarque rất khác, vừa khắc nghiệt lại mơ màng, trong tuyệt vọng lại hồi sinh hy vọng. *** Remarque (1898 – 1970) là nhà văn lừng danh người Đức. Ông nổi tiếng với Phía Tây không có gì lạ, một trong những tác phẩm hay nhất về Thế chiến I. Các tác phẩm tiêu biểu khác của ông như Ba người bạn, Khải hoàn môn, Đêm Lisbon…cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định tài năng và danh tiếng của ông khắp năm châu. Năm 1931, ông được đề cử cả giải Nobel Văn chương và Hòa bình. Bia mộ đen (Der schwarze Obelisk – 1956) một lần nữa cho thấy thiên bẩm của Remarque trong việc nhìn ra được niềm vui, lạc quan và những điều tốt đẹp giữa khổ đau, tuyệt vọng và xấu xí. Nhận xét về tác phẩm này, cây bút F.T. Marsh của tờ New York Herald Tribune từng viết: “Dí dỏm nhưng đượm buồn, vừa nghiêm túc lại có chút giang hồ, tuyệt diệu trong từng câu chữ nhưng vẫn khó nắm bắt vô vùng”. Những tác phẩm tiêu biểu: Phía Tây không có gì lạ; Khải hoàn môn; Ba Người Bạn Đường về; Tia lửa sống; Bia mộ đen; Chiến Hữu Bản Du Ca Cuối Cùng Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết *** Đám lính còn sót lại của trung đội hai nằm nửa thức nửa ngủ trong chiến hào tan nát vì đạn pháo sau tuyến lửa. "Trái phá gì mà kỳ quái!" Jupp nói. "Sao cơ?" Ferdinand Kosole nhổm lên hỏi. "Thử nghe đi!" Jupp đáp. Kosole khum tay lên tai nghe ngóng. Và cả lũ chúng tôi cùng lắng tai vào màn đêm. Nhưng chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng nổ ì ầm của đại bác và tiếng rít của trái phá. Từ phía bên phải chỉ còn vọng đến tiếng súng máy tạch tạch và thi thoảng một tiếng kêu đơn độc. Nhưng chúng tôi đã quen với tất cả những thứ này từ nhiều năm nay, nên làm quái gì mà phải há hốc mồm ra như thế. Kosole nhìn Jupp ngờ vực. "Nó vừa dừng tức thì rồi," anh chàng kia lúng túng phân bua. Kosole nhìn bạn lần nữa đầy dò xét. Nhưng vì Jupp vẫn tỉnh bơ, anh quay đi càu nhàu: "Có mà bụng cậu sôi réo, chứ trái phá mẹ gì. Cứ ngủ đẫy mắt đi có hơn không." Vừa nói Kosole vừa vỗ vỗ đất thành hình cái gối và thận trọng nằm duỗi dài sao cho đôi ủng không thể tuột xuống nước. "Khỉ thật, trong khi ở nhà mình có hẳn một cô vợ và một cái giường đôi," anh làu bàu, mắt đã díp lại.   "Sẽ có một gã nào đó nằm ghé tí,' Jupp nói chõ ra trong xó của mình. Kosole hé một mắt, ném cho Jupp cái nhìn sắc lạnh. Có vẻ như anh định chồm dậy. Nhưng anh chỉ gầm gừ: "Tao chẳng khuyên cô ta làm vậy, cái đồ cú vọ nhà mày!" Liền sau đó anh đã cất tiếng ngáy. Jupp ra hiệu cho tôi qua chỗ anh ta. Tôi bò qua đôi ủng của Adolf Bethke và ngồi xuống bên Jupp. Cẩn thận ngó chừng anh chàng đang ngáy ngon lành, Jupp nói vẻ cay độc: "Cái ngữ ấy chả có tí học thức nào, nói để cậu biết." Trước chiến tranh Jupp từng làm thư ký cho một luật sư ở Köln. Mặc dù đi lính đã ba năm, anh ta vẫn giữ một tâm hồn nhạy cảm; và vẫn rất xem trọng việc tỏ ra là người có học thức ngoài chiến trường. Điều ấy thực sự có nghĩa gì, cố nhiên chính Jupp cũng chả rõ, nhưng trong tất cả những thứ trước kia anh ta đà từng nghe thì riêng cái từ "học thức" lại bắt rễ trong đầu anh ta, và anh ta bám chặt lấy nó như chết đuối vớ được cọc. Thật ra ai ở đây cũng có thứ gì đó đại loại như vậy: người này là vợ, người kia là cửa hiệu, kẻ nọ lại là đôi ủng, với Valentin Laher là rượu, còn với Tjaden đó là ước muốn được một lần nữa chén đẫy bụng món đậu nấu mỡ muối. Ngược lại, Kosole bao giờ cũng dị ứng với từ "học thức", với anh cái từ đó luôn liên quan đến lũ mặc áo cổ cồn, mà thế là quá đủ. Nên lúc này dù đang ngủ anh vẫn cáu tiết. Vừa ngáy anh vừa văng ra cộc lốc: "Rõ cái đống phân sặc mùi thư lại!" Jupp lắc đầu vẻ nhẫn nhịn và cao thượng. Chúng tôi im lặng ngồi sát bên nhau hồi lâu để sưởi ấm. Đêm lạnh và ẩm ướt, mây mù bao phủ, đôi lúc có mưa. Khi mưa, chúng tôi lôi những tấm vải bạt đang lót dưới người lên che đầu. Chân trời lóa sáng ánh lửa đạn. cảm giác dường như ở đó không lạnh như nơi đây, trông vui mắt dễ chịu thế cơ mà. Những trái phá bay vút lên trên những loạt pháo sáng, tựa những bông hoa sặc sỡ lấp lánh ánh bạc. Mặt trăng khổng lồ, đỏ ối lững lờ trôi trong sương mù bên trên những đống đổ nát của một nông trại. "Cậu có nghĩ là bọn mình sẽ về nhà không?" Jupp thì thầm. Tôi nhún vai. "Thì nghe nói thế..." Jupp thở dài. "Một căn phòng ấm áp, có ghế sofa, buổi tối đi chơi... Cậu còn hình dung nổi hay không?" "Lần về phép gần đây nhất, em đã thử lại những bộ thường phục của mình," tôi trầm ngâm nói, "nhưng đều chật quá rồi. Có lẽ sẽ phải sắm quần áo mới." Những từ: thường phục, sofa, buổi tối... vang lên nơi đây nghe sao lạ lẫm thế chứ. Những ý nghĩ kỳ quái nảy ra trong đầu... Giống như thứ cà phê đen đôi khi nặng vị thiếc và gỉ sắt đến nỗi vừa uống vào sẽ lập tức ọe ra nóng rẫy. Jupp mơ màng ngoáy mũi. "Ui chao, những quầy hàng... những quán cà phê... và đàn bà..." ... Mời các bạn đón đọc Đường Về của tác giả Erich Maria Remarque.