Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đừng Bao Giờ Buông Dao

Hỗn Mang #1 - Đừng Bao Giờ Buông Dao - Patrick Ness Chẳng có thị trấn nào giống như thị trấn Prentiss. Nơi không còn bóng dáng phụ nữ. Nơi mọi suy nghĩ trở thành Tiếng Ồn mà bất kỳ sinh vật nào cũng có thể nghe thấy.Dòng chảy Tiếng Ồn ầm ĩ không bao giờ dứt.Không tâm tư thầm kín nào còn là bí mật.Ngay cả trong giấc ngủ.Vậy mà khi sự im lặng không tưởng xuất hiện, vẫn có một bí mật tồi tệ đến mức khiến Todd, thằng nhóc chỉ còn một tháng nữa là trở thành đàn ông, thằng nhóc cuối cùng chưa trở thành đàn ông, phải bỏ chạy hòng giữ lấy mạng sống. Cùng con chó biết nói. Sự im lặng. Và con dao.Nhưng làm sao để chạy thoát khi những kẻ săn đuổi có thể nghe được mọi suy nghĩ trong đầu ta? *** Ý nghĩa tên sách Chaos Walking - Hỗn mang: tên toàn bộ series đến từ câu thoại the Noise is a man unfiltered, and without a filter, a man is just chaos walking. Tiếng Ồn là tổng hòa suy nghĩ, các bí mật thầm kín, ký ức phức tạp của đàn ông, vậy nên tác giả mới có sự so sánh rằng Tiếng Ồn là một người đàn ông không được sàng lọc, mà khi không được sàng lọc, đàn ông chỉ là một mớ hỗn độn biết đi. Bộ Sách Hỗn Mang gồm có: Đừng Bao Giờ Buông Dao Câu Hỏi Được Trả Lời Những Con Quỷ Người The Knife of Never Letting Go - Đừng bao giờ buông dao: đến từ câu thoại I'll never let go of the knife được lặp lại nhiều lần trong tập 1 của nhân vật chính, con dao cũng là một chi tiết then chốt, nắm vai trò đưa ra và thực hiện các lựa chọn (giết/không giết) nhằm định hình tính cách và nhân sinh quan của nhân vật chính trong tập này. Thậm chí có lần nhân vật còn tưởng tượng ra con dao đang nói never let go of me - đừng bao giờ buông tôi. Nhận xét “Hãy đọc nó một mình, hãy đọc nó thâu đêm.” - Chicago Tribune “Điên cuồng, kinh hãi, đầy phấn khích và làm tan vỡ con tim.” - Sunday Paragraph *** Patrick Ness - sinh năm 1971, là tác giả người Mỹ, hiện đang sống ở Los Angeles. Ngoài 12 cuốn sách đã xuất bản, anh còn là nhà báo và nhà biên kịch, đã tham gia chuyển thể tác phẩm Quái vật ghé thăm (A Monster Calls) của mình thành phim điện ảnh. Đừng bao giờ buông dao là tập đầu tiên trong bộ sách Hỗn mang (Chaos Walking), ra mắt từ năm 2008 đến 2010. Tập cuối trong bộ ba tác phẩm đã đem về cho anh Huân chương Carnegie năm 2011. Các tác phẩm khác của Patrick Ness được Nhã Nam xuất bản: - Quái vật ghé thăm (Huân chương Carnegie 2012) - Câu hỏi được trả lời (Hỗn mang #2) - Những con quỷ người (Hỗn mang #3 - Huân chương Carnegie năm 2011)   *** "ĐỪNG BAO GIỜ BUÔNG DAO" - PHẢI LÀM GÌ TRONG THẾ GIỚI KHÔNG-BAO-GIỜ IM LẶNG?  “Đừng Bao Giờ Buông Dao" là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong bộ ba tiểu thuyết mang tên “Hỗn Mang" của nhà văn Mỹ Patrick Ness. Bản... Sâu Sách - 2 tháng 6 2021      “Đừng Bao Giờ Buông Dao" là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong bộ ba tiểu thuyết mang tên “Hỗn Mang" của nhà văn Mỹ Patrick Ness. Bản tiếng Anh của cuốn sách - “The Knife Of Never Letting Go” được ra mắt độc giả từ tháng 5 năm 2008 và mới được Nhã Nam phát hành phiên bản Việt vào đầu năm 2021. Cuốn sách được viết theo thể loại "kỳ ảo, giả tưởng" nên sẽ khá phù hợp cho bạn nào thích cốt truyện phiêu lưu theo hành trình nhân vật.     “Đừng Bao Giờ Buông Dao" - ngay từ nhan đề, tác giả đã nhắc nhở người đọc về không khí căng thẳng, khẩn trương, cảnh giác cao độ của một hành trình đầy rẫy hiểm nguy. Quả vậy, gần 500 trang của cuốn sách, người đọc như hoà mình vào trong những bước chạy không ngừng của nhân vật tôi, Todd, một cậu nhóc "sắp trở thành đàn ông". Đồng hành cùng Todd là chú chó Manchee. Cứ như vậy, một người, một chó, một dao đã khám phá ra những bí mật cực kì đen tối trong thế giới mà họ đang tồn tại.     Điểm đặc biệt nhất của cuốn sách chính là thế giới mà tác giả đã xây dựng. Một thế giới gần như không có bóng dáng phụ nữ. Kỳ dị hơn, đó là thế giới mà mọi suy nghĩ đều trở thành Tiếng Ồn khiến bất kỳ sinh vật nào cũng có thể nghe thấy và nhìn thấy, kể cả trong giấc ngủ. Bạn có thể tưởng tượng được không khi mọi ý niệm của bản thân sẽ hiện lên ngay phía trên quầng đầu của mình, ai cũng thấy, ai cũng đoán biết được. Không tâm tư thầm kín nào còn là bí mật. Chúng ta phải lựa chọn xem ai đáng tin, ai dối trá. Chúng ta phải học cách giấu sự thật trong những suy nghĩ nguỵ tạo để tồn tại. Và giữa thế giới ấy, làm thế nào để chạy thoát khi những kẻ săn đuổi có thể nghe được mọi suy nghĩ và sẵn sàng đoạt mạng ta bất cứ lúc nào?     Được xây dựng theo trường phái "Dystopia", tạm dịch là “Phản Địa Đàng", có thể nói “Đừng Bao Giờ Buông Dao" đã tái hiện một cách chân thực nhất tất cả những hiện thực mà một thế giới “Phản Địa Đàng" có thể tồn tại: chính phủ bạo tàn, tư tưởng suy đồi, những giá trị về nhân tính bị đảo ngược... Chúng ta dễ dàng bắt gặp những hiện thực ấy trong những trang miêu tả của cuốn sách. Thị trấn khởi đầu của câu chuyện, Prentiss, lấy tên theo kẻ lãnh đạo, là một thị trấn bạo tàn đúng nghĩa. Prentiss sẵn sàng chà đạp lên tất cả để thực hiện lí tưởng vô nhân đạo của mình. Lí tưởng ấy được truyền lại cho cả thế hệ của “Prentiss-con". Và thậm chí khiến những kẻ truyền giáo như Aaron cũng sẵn sàng dùng nắm đấm để phán quyết những người yếu thế.      Thế nhưng, giữa ngục tù đen tối ấy của hiện thực, vẫn thực sự có những ánh sáng le lói của niềm tin, của tình yêu thương. Đó là sự chở che, sự hi sinh vô bờ bến của hai người chú của Todd: Ben và Cillian. Là lá thư để lại của mẹ Todd. Là những ân cần của sự “im lặng” đồng hành cùng Todd... Có thể nói, đó chính là những "kim chỉ nam" giúp Todd luôn đi đúng hướng, là "cán cân đạo đức" giúp Todd luôn chiến thắng tư tưởng bạo tàn trong thế giới của mình. Và đó cũng chính là "kim chỉ nam" mà tác giả Patrick Ness muốn nhắc nhở và cảnh tỉnh người đọc, rằng không có sự khủng hoảng nào thực sự đáng sợ bằng sự khủng hoảng của lương tri. Chúng ta phải thực sự sống bằng niềm tin để vượt qua bất cứ nghịch cảnh nào.     Để đánh giá chung về cuốn sách này, mình nghĩ mình sẽ dùng từ “gọn gàng". Tất cả những phần trần thuật về bối cảnh rất ngắn gọn. Cốt truyện chuyển biến logic và rất hợp tâm lí nhân vật, không rơi vào kể lể. Những “phản ứng hoá học" trong tình cảm của các nhân vật cũng xây dựng vừa đủ để người đọc nhận ra những nét tình ý nhưng không đi quá sâu để tạo cảm giác sến súa, sa đà. Truyện có những plot-twist đủ để người đọc cảm thấy hiểu hơn về bối cảnh đã mở ra lúc đầu. Những lời giải đáp sẽ được trải dài từ từ ở những trang phía cuối truyện. Tuy nhiên, đây cũng không phải là cuốn sách có plot-twist đến độ bất ngờ và ám ảnh như nhiều cuốn sách khác. Thậm chí, nếu ai tinh ý, hoàn toàn có thể đoán ra khi truyện đi được nửa chặng đường. Có lẽ, vì đây cũng là cuốn sách đầu tiên trong bộ sách gồm ba tập nên những tình tiết vừa đủ ấy sẽ là tiền đề hợp lí để mở ra thế giới của hai tập sau này.     Điểm đáng khen cũng là điểm hạn chế lớn nhất của cuốn sách đến từ ngôi trần thuật. Truyện được tái hiện dưới ngôi kể “tôi" của Todd, thế nên những tình tiết, những chuyển biến của câu chuyện hiện lên đầy chân thật và cảm xúc. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều cuốn truyện khác, vì ngôi kể là “tôi" nên có nhiều tình tiết, câu chuyện sẽ diễn ra hơi thiếu khách quan. Đồng thời, người đọc sẽ khá khó để theo dõi diễn biến tâm lí của nhiều nhân vật khác, những người mà mình tin sẽ có khá nhiều đất diễn để khắc hoạ sâu hơn hình tượng của mình nếu được xây dựng rõ hơn như Viola, chú Ben, thị trấn trưởng Prentiss… Bên cạnh đó, sự cố chấp và cứng đầu của Todd trong một vài tình huống sẽ khiến người đọc có đôi lần hơi tức giận. Điều này đặc biệt được thể hiện trong một chi tiết mà mình tin khi đọc xong, thậm chí đến lúc gấp cuốn sách lại, bạn sẽ thấy nhức nhối và buồn lòng về Todd mãi.     Nhưng tựu chung lại, “Đừng Bao Giờ Buông Dao" là một cuốn sách rất đáng đọc để giải toả căng thẳng. Mình biết đến cuốn sách này vì rạp chiếu phim thời điểm đó ra mắt bộ phim chuyển thể từ cuốn sách mang tên “Hành Tinh Hỗn Loạn". Tình cờ, Nhã Nam cũng phát hành đồng thời cuốn sách nên mình đã ra mua ngay. Và chỉ mất đúng ba ngày để mình hoàn thành xong cuốn sách này. Được biết, Nhã Nam đã mua bản quyền hai phần tiếp theo của cuốn sách mang tên: “Câu Hỏi Được Trả Lời" và “Những Con Quỷ Người", sẽ ra mắt trong năm nay nên chúng mình sẽ không sợ mạch truyện bị ngắt quãng đâu.      Ngay bây giờ, chúng mình hãy ra ngay hiệu sách gần nhất, tìm mua “Đừng Bao Giờ Buông Dao" và sẵn sàng cùng chuyến hành trình với cậu bé Todd nhé. Đảm bảo sẽ không phí hoài thời gian của các bạn đâu. *** LỖ HỔNG TRONG TIẾNG ỒN ĐIỀU ĐẦU TIÊN BẠN NHẬN RA khi chó của bạn biết nói là chó không có gì nhiều để nói. Về bất cứ điều gì. “Mót ị, Todd.” “Im đi, Manchee.” “Ị. Ị, Todd.” “Tao bảo im đi mà.” Chúng tôi đang đi qua những cánh đồng hoang ở phía Đông Nam thị trấn, những cánh đồng dốc chạy xuôi xuống sông và về phía đầm lầy. Ben sai tôi đi hái cho chú vài quả táo ở đầm lầy và bắt tôi phải dẫn Manchee theo, dù tất cả đều biết tỏng Cillian chỉ mua con chó này để lấy lòng thị trưởng Prentiss, nên bỗng nhiên nó trở thành món quà sinh nhật của tôi năm ngoái, dù tôi chưa bao giờ nói mình muốn có một con chó, trong khi tôi có nói tôi muốn Cillian sửa xe đạp cho để tôi không phải cuốc bộ tới mọi chốn đổ nát của cái thị trấn ngu ngốc này, nhưng ồ, không, chúc mừng sinh nhật, Todd, đây là con chó vừa dứt sữa, Todd, và dù mày không muốn nó, dù mày không đòi nó, thì cũng cứ đoán xem ai sẽ cho nó ăn, dạy dỗ nó, tắm cho nó, đưa nó đi dạo, và nghe nó lải nhải khi giờ đây nó đã đủ lớn để liến thoắng không ngừng? Đoán xem ai? “Ị,” Manchee lặng lẽ sủa với chính mình. “Ị, ị, ị.” “Thì cứ ị đi và thôi lải nhải ngay cho tao nhờ.” Tôi ngắt một nhánh cỏ ven đường và quất Manchee. Tôi không đánh trúng nó, tôi không định đánh trúng nó, nhưng nó chỉ phá lên cười ăng ẳng và chạy tiếp trên con đường mòn. Tôi đi theo, quạt nhánh cỏ của mình lên đám cỏ hai bên đường, nheo mắt vì nắng, cố để đầu óc trống rỗng. Thú thực, chúng tôi không cần táo ở đầm lầy. Ben có thể mua táo ở cửa hàng của ông Phelps nếu chú ấy thực sự muốn ăn. Cũng thú thực: đến đầm lầy hái vài quả táo không phải là việc của một người đàn ông, vì đàn ông không được phép an nhàn đến vậy. Tôi sẽ chính thức trở thành đàn ông sau ba mươi ngày nữa. Tôi đã sống mười hai năm, mỗi năm mười ba tháng, và thêm mười hai tháng nữa, cộng lại thì vẫn còn một tháng mới đến ngày sinh nhật trọng đại. Kế hoạch đang được lên, công cuộc chuẩn bị đang được tiến hành, tôi đoán sẽ có một bữa tiệc, dù tôi bắt đầu thấy được vài hình ảnh kỳ quái về nó, vừa u ám vừa quá đỗi xán lạn, nhưng dẫu sao tôi cũng sẽ trở thành đàn ông, và đi hái táo ở đầm lầy không phải là việc của đàn ông, hay của một thằng sắp-trở-thành-đàn-ông. Nhưng Ben biết chú ấy có thể sai tôi đi, và rằng tôi sẽ đồng ý, vì đầm lầy là nơi duy nhất gần thị trấn Prentiss ta có thể tạm thoát khỏi tất cả những Tiếng Ồn mà con người xả ra, tất cả những xôn xao và ầm ĩ không bao giờ dứt, ngay cả khi họ ngủ, con người và những suy nghĩ họ thậm chí không biết mình đang nghĩ, dù ai cũng có thể nghe thấy chúng. Con người và Tiếng Ồn của họ. Tôi không biết họ làm thế nào để chịu đựng được nhau. Con người là những sinh vật Ồn Ào. “Sóc!” Manchee sủa rồi chạy bắn đi, nhảy khỏi đường mòn, dù tôi đã hét lên gọi nó lại, rồi đến lượt tôi phải chạy theo, băng qua cánh đồng (tôi nhìn quanh để đảm bảo không có ai ở gần) chết tiệt, vì Cillian sẽ nổi khùng nếu Manchee ngã xuống một lỗ rắn chết tiệt nào đó và dĩ nhiên đây sẽ là lỗi chết tiệt của tôi dù ngay từ đầu tôi đã không muốn có con chó chết tiệt này. “Manchee! Quay lại ngay!” “Sóc!” Tôi phải lội qua đám cỏ, những con sâu bám vào giày tôi. Một con bẹp gí khi tôi đá nó ra, để lại vệt màu xanh dọc đôi giày thể thao, mà theo kinh nghiệm của tôi thì sẽ không thể giặt sạch. “Manchee!” tôi điên tiết gầm lên. “Sóc! Sóc! Sóc!” Nó sủa quanh một gốc cây và con sóc nhảy lóc chóc trên thân cây, chế giễu Manchee. Đến đây, chó ngu, Tiếng Ồn của nó vang lên. Đến đây, đến đây, đến đây mà bắt Ngu Ngu Ngu. “Sóc kìa, Todd! Sóc!” Chết tiệt; động vật thật ngu ngốc. Tôi chộp lấy vòng đeo cổ và tét mạnh vào chân sau của Manchee. “Ối, Todd? Ối?” Tôi lại đánh nó. Rồi lại đánh nó. “Ối? Todd?” “Đi nào,” tôi nạt, Tiếng Ồn của tôi rền vang đến nỗi tôi chẳng thể luận ra được mình đang nghĩ gì, một việc khiến tôi sắp phải hối hận, bạn cứ chờ xem sẽ biết. Thằng nhóc ngu, thằng nhóc ngu, con sóc nghĩ về tôi. Đến đây mà bắt, thằng nhóc ngu. “Mày cũng biến mịa đi,” tôi trả đũa, chỉ có điều tôi không nói “mịa” mà nói thẳng cái chữ tục tĩu hơn nhiều kia ra. Đáng lẽ tôi nên nhìn quanh trước khi nói. Vì Aaron đây rồi, ngay tại đây, bất thình lình nhào ra khỏi bãi cỏ, nhào ra và tát vào mặt tôi, chiếc nhẫn lớn của anh ta làm rách môi tôi, rồi anh ta vung tay thêm phát nữa, tay nắm lại thành đấm, trúng gò má tôi, nhưng ít nhất cũng không trúng mũi vì tôi đang ngã xuống cỏ, cố tránh cú đấm của anh ta, và vì thế phải buông dây buộc cổ Manchee ra, nó lại chạy đi tìm con sóc, sủa ầm ĩ, đồ phản bội, tôi ngã bò lăn bò càng xuống cỏ, trét vệt sâu xanh lên khắp người. Và tôi nằm đó, trên mặt đất, thở hổn hển. Aaron đứng trước mặt tôi, từng mảnh rời rạc của Tiếng Ồn và những lời giảng đạo từ anh ta lao tới, Cẩn thận lời ăn tiếng nói đó, nhóc Todd và phải biết hy sinh và vị thánh tự chọn con đường của mình và Chúa nghe thấy đấy và hàng loạt những hình ảnh có trong Tiếng Ồn của tất cả mọi người, những điều quen thuộc và những ký ức thoáng qua của… Cái gì? Cái quỷ quái gì…? Nhưng những đoạn ồn ào hơn trong bài giảng đạo của Aaron đã lao tới và che cái quỷ đó lại, tôi ngẩng lên nhìn vào mắt anh ta, rồi đột nhiên tôi không còn muốn biết nữa. Tôi đã nếm thấy vị máu từ vết nứt trên môi do chiếc nhẫn của Aaron gây ra và tôi không còn muốn biết nữa. Anh ta không bao giờ đến đây, đàn ông không bao giờ đến đây, họ có lý do của họ, đàn ông có lý do của đàn ông, nên ở đây lúc nào cũng chỉ có tôi và con chó của mình, nhưng giờ anh ta lại ở đây và tôi không, không, không muốn biết lý do. Anh ta mỉm cười nhìn xuống tôi, nụ cười ẩn sau bộ râu quai nón, mỉm cười khi tôi vẫn nằm trên cỏ. Nắm đấm mỉm cười. “Nhóc Todd, lời ăn tiếng nói,” anh ta lên tiếng, “trói buộc chúng ta như những tù nhân bị trói bởi cùng một sợi xích. Cậu không học được gì từ nhà thờ sao?” Rồi anh ta thốt lên những lời thuyết giảng quen thuộc nhất của mình. “Một người sa ngã, tất cả cùng sa ngã.” Vâng, Aaron, tôi nghĩ. “Dùng mồm mà nói, Todd.” “Vâng, Aaron,” tôi đáp. “Và những lời chửi thề ấy? Đừng nghĩ ta không nghe thấy chúng. Tiếng Ồn tiết lộ con người cậu. Tiết lộ con người tất cả chúng ta.” Không phải tất cả, tôi nghĩ, nhưng đồng thời vẫn nói, “Xin lỗi, Aaron.” Anh ta cúi xuống tôi, môi kề sát mặt, và tôi có thể ngửi thấy hơi thở đang phả ra từ miệng anh ta, ngửi thấy sức nặng của nó, như những ngón tay đang chộp lấy tôi. “Chúa nghe thấy,” anh ta thì thầm. “Chúa nghe thấy đấy.” Aaron lại giơ một bàn tay lên và tôi co rúm người, anh ta cười rồi biến mất, quay về thị trấn, mang theo Tiếng Ồn của mình. Tôi run rẩy, vì cảm giác rần rật do bị đánh, vì tức giận và ngạc nhiên, quá tức giận, quá chán ghét thị trấn này và những người đàn ông ở đây đến nỗi mất một lúc tôi mới có thể đứng dậy đi tìm con Manchee. Mà anh ta đang làm cái mịa gì ở đây? tôi điên tiết nghĩ, vẫn bừng bừng giận dữ và thù hằn (và sợ, phải, sợ, im đi) đến nỗi không thèm nhìn quanh để xem Aaron có nghe thấy Tiếng Ồn của tôi hay không. Tôi không nhìn. Tôi không nhìn. Rồi tôi cũng nhìn và thấy con Manchee. “Aaron, Todd? Aaron?” “Đừng có nhắc đến cái tên đó nữa, Manchee.” “Chảy máu, Todd. Todd? Todd? Todd? Chảy máu?” “Biết rồi. Im mồm đi.” “Ngu,” nó nói, như thể từ ấy chẳng có ý nghĩa gì, đầu nó cũng rỗng tuếch như bầu trời. Tôi tét mông nó. “Cũng không được nhắc đến từ đó.” “Ối? Todd?” Chúng tôi tiếp tục đi, giữ khoảng cách với con sông bên trái. Sông chảy qua một loạt những khe sâu phía Đông thị trấn, bắt nguồn từ tít phía Bắc nông trại nhà chúng tôi, xuôi về bên hông thị trấn cho đến khi trải rộng ra thành một đầm cỏ rồi cuối cùng trở thành đầm lầy. Bạn phải giữ khoảng cách với con sông, đặc biệt là vùng đầm cỏ trước những rặng cây ở đầm lầy, vì đó là nơi cá sấu trú ngụ, chúng đủ lớn để xơi tái một thằng sắp-trở-thành- đàn-ông và con chó của nó. Những cái vảy trên lưng chúng trông như những cụm lau, và nếu đến quá gần thì, BÙM! - chúng sẽ vọt khỏi mặt nước, phóng thẳng vào bạn với những vuốt sắc nhăm nhe và cái mõm cắn đớp, và khi đó bạn sẽ chẳng có cơ hội sống sót nào đâu. Chúng tôi đi qua vùng đầm cỏ và tôi đón nhận sự yên tĩnh của đầm lầy khi nó hiện ra. Chẳng còn gì để xem ở đây nữa, bởi vậy đàn ông không đến đây. Còn cả cái mùi nữa, tôi không vờ như không ngửi thấy, nhưng mùi không quá tệ như người ta nói. Họ ngửi mùi ký ức, thực vậy, họ không ngửi cái mùi có thực ở đây lúc này, họ ngửi mùi quá khứ. Tất cả những thứ đã chết. Xú và người có quan niệm khác nhau về mai táng. Xú chỉ cần đầm lầy, chỉ việc ném Xú chết xuống nước, để xác chìm, chẳng sao cả vì Xú phù hợp với kiểu mai táng đầm lầy, chắc vậy. Ben kể tôi thế. Nước, bùn dơ và da của Xú Vật hợp nhau, không làm ô uế, chỉ khiến đầm lầy màu mỡ hơn, như con người về với đất. Mời các bạn đón đọc Đừng Bao Giờ Buông Dao của tác giả Patrick Ness & Trần Nguyên (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tử Thần Sống Mãi
“Tiểu thuyết của Lưu Từ Hân cho thấy trình độ thâm hậu và sự chuẩn bị chu đáo. Ông dùng kiến thức khoa học vững chắc làm nền tảng cho trí tưởng tượng, dung hợp cuộc sống chốn nhân gian và cuộc sống trong tưởng tượng với nhau, tạo ra nét thú vị riêng biệt.” - MẠC NGÔN GIỚI THIỆU SÁCH: Đe dọa khu rừng đen tối giúp nhân loại duy trì thế cân bằng chiến lược với thế giới Tam Thể suốt sáu mươi năm. Song rốt cuộc, một đòn tấn công bất ngờ đã làm thay đổi cục diện. Loài người cận kề bờ vực diệt vong, buộc phải phát đi thông tin tọa độ của hệ sao Tam Thể. Nhưng rồi, họ đối mặt với một vấn đề sinh tồn mới: vị trí của Hệ Mặt trời sớm muộn gì cũng bị lộ trước những tay “thợ săn” vũ trụ. Mọi hy vọng đều gửi gắm vào việc giải mã ba câu chuyện cổ tích được truyền về từ một cá thể nhân loại giấu mình trong nội bộ hạm đội người ngoài hành tinh… Tử Thần sống mãi là kết thúc hoành tráng và hoàn hảo cho tam bộ khúc của Lưu Từ Hân, như một thiên sử thi về hành trình của mỗi nền văn minh, từ khi thức tỉnh, “chập chững bước ra ngoài, bay lên, bay càng lúc càng nhanh, bay càng lúc càng xa, cuối cùng thì hòa làm một với vận mệnh của vũ trụ.” TÁC GIẢ: Lưu Từ Hân, sinh năm 1963, người Dương Tuyền, Sơn Tây, là công trình sư cấp cao, một trong những tác giả đại biểu cho dòng tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Trung Quốc. Tác phẩm tiêu biểu: Kỷ nguyên sao băng Sét hòn Tam thể *** "Tam thể 3: Tử Thần sống mãi" là một trong những tiểu thuyết sci-fi ăn khách nhất Trung Quốc nay đã trở lại với một kết thúc hoành tráng và hoàn hảo cho tam bộ khúc "Tam thể", như một thiên sử thi về hành trình của mỗi nền văn minh, từ khi thức tỉnh tới khi "hòa làm một với vận mệnh của vũ trụ". Đây cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Châu Á từng đoạt giải Hugo cho Tiểu thuyết hay nhất, từng được đề cử Giải Nebula cho Tiểu thuyết hay nhất, có thể nói "Tam thể" là bộ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đáng đọc với tất cả những độc giả khao khát được đọc một cuốn tiểu thuyết sci-fi có tầm vóc lớn lao. Tờ New York Times từng nhận xét tiểu thuyết Tam thể đã giúp phổ biến khoa học viễn tưởng của Trung Quốc ra ngoài biên giới và lan rộng khắp toàn cầu. Cuốn sách cũng được rất nhiều người nổi tiếng yêu thích, trong đó phải kể tới nhà sáng lập Facebook Mark Zuckerberg và cựu tổng thống Mỹ Barack Obama. “Tiểu thuyết của Lưu Từ Hân cho thấy trình độ thâm hậu và sự chuẩn bị chu đáo. Ông dùng kiến thức khoa học vững chắc làm nền tảng cho trí tưởng tượng, dung hợp cuộc sống chốn nhân gian và cuộc sống trong tưởng tượng với nhau, tạo ra nét thú vị riêng biệt.” - Mạc Ngôn Đe dọa khu rừng đen tối giúp nhân loại duy trì thế cân bằng chiến lược với thế giới Tam Thể suốt sáu mươi năm. Song rốt cuộc, một đòn tấn công bất ngờ đã làm thay đổi cục diện. Loài người cận kề bờ vực diệt vong, buộc phải phát đi thông tin tọa độ của hệ sao Tam Thể. Nhưng rồi, họ đối mặt với một vấn đề sinh tồn mới: vị trí của Hệ Mặt trời sớm muộn gì cũng bị lộ trước những tay “thợ săn” vũ trụ. Mọi hy vọng đều gửi gắm vào việc giải mã ba câu chuyện cổ tích được truyền về từ một cá thể nhân loại giấu mình trong nội bộ hạm đội người ngoài hành tinh… "Tử Thần sống mãi" là kết thúc hoành tráng và hoàn hảo cho tam bộ khúc của Lưu Từ Hân, như một thiên sử thi về hành trình của mỗi nền văn minh, từ khi thức tỉnh, “chập chững bước ra ngoài, bay lên, bay càng lúc càng nhanh, bay càng lúc càng xa, cuối cùng thì hòa làm một với vận mệnh của vũ trụ. *** Những chuyện xưa nằm ngoài dòng thời gian (trích) LỜI TỰA Những câu chữ này vốn dĩ nên gọi là lịch sử, song những điều mà người viết dựa vào chỉ có ký ức của chỉnh bản thân mình mà thôi, nên viết ra thiếu đi tính nghiêm cẩn của lịch sử. Kỳ thực, gọi là chuyện xưa cũng không chính xác, vì tất thảy không phải xảy ra trong quá khứ, không phải xảy ra trong hiện tại, mà cũng không phải xảy ra trong tương lai. Người viết không muốn đi vào chi tiết, chỉ muốn đưa ra một cái khung cho lịch sử hoặc chuyện xưa mà thôi. Vì những chi tiết được bảo tồn chắc chắn đã phong phú vô cùng rồi, hầu hết những thông tin này đều được lưu trữ trong các chai thông điệp, mong rằng có thể đến được vũ trụ mới và được giữ gìn lâu dài. Bởi vậy, người viết chỉ vạch ra phần khung chính, để một ngày nào đó có thể đem tất cả thông tin và các chi tiết trám vào đó - tất nhiên, đấy không phải việc của chúng ta. Mong rằng ngày đó sẽ đến. Điều khiến người viết lấy làm tiếc nuối là, ngày đó không ở trong quá khứ, không ở trong hiện tại, mà cũng không ở trong tương lai. Tôi dời Mặt trời về phía Tây, khi ánh nắng thay đổi góc chiếu, những giọt nước trên lá mạ non ngoài cánh đồng bỗng chốc sáng lên lấp lánh, tựa hồ vô số con mắt đột nhiên mở bừng ra. Tôi cho ánh nắng tối đi một chút, mang hoàng hôn đến sớm hơn, sau đó dõi mắt nhìn bóng lưng chính mình trên đường chân trời. Tôi huơ tay, cái bóng trước vầng tịch dương kia cũng huơ tay. Ngắm nhìn bóng hình ấy, tôi có cảm giác mình vẫn còn rất trẻ. Đây là một thời điểm tốt, rất thích hợp để hồi tưởng. *** Tháng Năm năm 1453: Cái chết của mụ phù thủy Hoàng đế Constantines XI tạm ngưng dòng suy tư, đẩy đống bản đồ hệ thống phòng ngự thành phố trước mặt ra xa, quấn chặt áo choàng tím, lặng lẽ chờ đợi. Ước tính thời gian của ông ta rất chuẩn xác, chấn động quả nhiên ùa đến đúng giờ, tưởng chừng như đến từ một nơi sâu thẳm trong lòng đất, nặng nề mà dữ dội. Đế chân nến bằng bạc rung lên phát ra tiếng ong ong, một ít bụi trên trần nhà rơi xuống, những hạt bụi này có lẽ đã lặng lẽ ở trên nóc Đại Cung cả nghìn năm. Chúng rơi xuống ngọn lửa nến, làm tóe lên một đám hoa lửa. Chấn động này là do một quả đạn pháo bằng đá hoa cương nặng một nghìn hai trăm pound bắn trúng tường thành gây ra, mỗi lần cách nhau ba tiếng đồng hồ, đây là thời gian mà đại pháo Orbán của Đế quốc Ottoman cần để nạp đạn. Đạn pháo khổng lồ bắn vào tường thành kiên cố nhất thế giới do Hoàng đế Theodosius II xây dựng hồi thế kỷ thứ 5 Công nguyên, sau đó lại không ngừng được mở rộng và gia cố, nó chính là chỗ dựa chủ yếu của triều đình Byzantium trước những kẻ thù hùng mạnh. Nhưng lúc này, mỗi viên đạn pháo khổng lồ đều bắn thủng một lỗ lớn trên tường thành, giống như một miếng cắn của gã khổng lồ vô hình. Hoàng đế có thể hình dung ra cảnh tượng ấy: đá vụn trên không trung vẫn còn lơ lửng, binh lính và thường dân trong thành tràn về lỗ hổng như một đàn kiến anh dũng giữa bụi cát mù trời. Họ dùng đủ thứ lấp kín lỗ hổng, có gạch ngói, gỗ khối dỡ ra từ các tòa nhà trong thành, có những bao tải nhét đầy đất cát, còn có cả những tấm thảm Ả Rập đắt tiền... Ông ta thậm chí có thể hình dung ra cảnh tượng đám mây bụi mù mịt ngấm đẫm ánh vàng trong cảnh tà dương chầm chậm bay vào, trông như tấm vải liệm màu vàng nhẹ nhàng phủ lên thành Constantinopolis. Trong năm tuần thành phố bị vây đánh, mỗi ngày tường thành chịu chấn động này bảy lượt, giãn cách rất đều đặn, như tiếng báo giờ của một cái đồng hồ khổng lồ sừng sững giữa đất trời... Đó là thời gian của một thế giới khác, là thời gian của những kẻ dị giáo; so với nó, tiếng chuông từ chiếc đồng hồ bằng đồng hình chim ưng hai đầu đánh dấu thời gian của thế giới Cơ Đốc nơi góc tường kia nghe thật yếu ớt, bất lực. Chấn động đã lắng xuống được một lúc, Hoàng đế Constantinos XI mới khó nhọc bắt suy nghĩ của mình trở về với hiện thực, ra hiệu cho gã thị vệ trước cửa cho người đang đợi bên ngoài vào. Viên đại thần Phrantzes dẫn một cô gái gầy gò lặng lẽ đi vào. “Thưa bệ hạ, đây chính là Helena.” Viên đại thần chỉ vào cô gái phía sau mình, sau đó ra hiệu cho cô gái đang nấp sau lưng bước lên phía trước mặt. Hoàng đế vừa liếc nhìn qua đã nhận ra thân phận của cô gái. Phong cách ăn mặc của tầng lớp quý tộc thượng lưu và bình dân Byzantium có sự khác biệt rất lớn, thông thường trang phục của phụ nữ quý tộc được gắn đầy các món trang sức hoa lệ, còn phụ nữ bình dân thì chỉ mặc áo dài rộng thùng thình màu trắng, cùng với áo khoác có tay trùm kín cả người, nhưng trang phục của Helena lại là sự kết hợp giữa xa hoa của giới thượng lưu lẫn bảo thủ của bình dân: bên trong cô ta mặc áo trắng liền tay, bên ngoài lại khoác một chiếc áo choàng có mũ đắt tiền, loại áo choàng này lẽ ra phải được khoác bên ngoài chiếc tunica thêu kim tuyến mới đúng. Đồng thời, cô ta không dám dùng màu tím và màu đỏ tượng trưng cho tầng lớp quý tộc, chiếc áo choàng có màu vàng. Gương mặt cô gái toát lên một vẻ đẹp đẽ dâm đãng, khiến người ta nghĩ đến một đóa hoa thà rằng xinh đẹp rồi thôi nát còn hơn ủ rũ héo khô - một ả kỹ nữ, lại còn là loại cao cấp. Hai mắt cô gái cụp xuống, toàn thân run rẩy, nhưng Hoàng đế Constantinos XI để ý thấy đôi mắt cô ta đang sáng lên như thể phát sốt, lộ ra vẻ hưng phấn và kỳ vọng hiếm khi thấy được ở lớp người đó. “Ngươi có phép thuật?” Hoàng đế hỏi Helena, ông ta chỉ muốn nhanh chóng kết thúc chuyện này. Phrantzes làm việc luôn chắc chắn và ổn thỏa, trong hơn tám nghìn quân sĩ giữ thành hiện nay, ngoài đội quân thường trực không lấy gì làm đông đảo và hai nghìn lính đánh thuê Genoa, phần lớn đều do vị đại thần giỏi giang này trưng tập khẩn cấp từng tốp từng tốp một từ hơn trăm nghìn dân cư trong thành. Hoàng đế không có nhiều hứng thú với cô gái này, chỉ nề mặt vị đại thần mà thôi. “Đúng vậy, thưa bệ hạ, tôi có thể giết chết Sultan.” Helena khom gối run rẩy trả lời, giọng nghe mỏng mảnh như một sợi tơ. Năm ngày trước, Helena đến trước cổng cung điện xin gặp Hoàng đế, bị đám vệ binh ngăn cản, cô ta đột nhiên lấy từ trong ngực ra một vật giơ lên, đám vệ binh sững sờ, bọn chúng không biết đó là thứ gì, từ đâu mà có, nhưng đều biết chắc đó không phải vật tầm thường. Helena không gặp được Hoàng đế, cô bị bắt lại giao cho viên quan phụ trách trị an, và bị tra khảo xem cô ta trộm vật đó ở đâu. Helena đã khai nhận, họ cũng đã chứng thực, sau đó cô ta được đưa đến chỗ đại thần Phrantzes. Phrantzes mở túi vải đay cầm trên tay ra, cẩn thận đặt vật bọc bên trong lên bàn đọc sách của Hoàng đế, ánh mắt Hoàng đế Constantinos XI chợt sững sờ giống hệt đám vệ binh khi trông thấy vật đó năm ngày trước - khác với bọn chúng, ông ta biết đây là thứ gì. Đây là một chiếc Chén Thánh bằng vàng ròng, bên trên khảm nạm đầy đá quý, sắc vàng óng ánh khiến tâm hồn người ta phải run rẩy. Chén Thánh này được đúc ra vào thời Justinian Đại Đế hồi chín trăm mười sáu năm trước, tổng cộng có một đôi, ngoài hình dạng và bố trí các viên đá quý trên đó thì hoàn toàn giống nhau. Một trong hai chiếc Chén Thánh được các đời hoàng đế gìn giữ đến ngày nay, chiếc còn lại được cất vào một gian mật thất nhỏ bị niêm phong tuyệt đối ở sâu dưới nền móng đại giáo đường Hagia Sophia cùng với các thánh vật khác, khi giáo đường này được xây xong vào năm 537 Công nguyên. Chiếc Chén Thánh đang ở trước mắt ông ta hiển nhiên là chiếc thứ hai, vì chiếc còn lại đã hằn lên dấu vết của thời gian, ảm đạm lu mờ - đương nhiên, phải so sánh với chiếc đó thì mới nhận ra được chiếc Chén Thánh này trông mới tinh khôi như thể vừa được đúc ngày hôm qua vậy. Vốn dĩ không ai tin lời Helena, mọi người đều cho rằng đây là đồ cô ta trộm được của một khách làng chơi giàu có, vì tuy có rất nhiều người biết chuyện bên dưới đại giáo đường có phòng bí mật, nhưng biết được vị trí chính xác của căn phòng ấy lại rất ít; vả lại, giữa những khối đá khổng lồ bên dưới nền móng giáo đường không có cánh cửa nào, thậm chí cả đường hầm dẫn đến căn phòng bí mật ấy cũng không có, không hao tốn nhân lực và thời gian thì hoàn toàn không thể nào vào đó được. Bốn ngày trước, xét đến cục thế nguy nan của thành phố, Hoàng đế ra lệnh đem hết mọi văn kiện và thánh vật quý hiếm đóng gói lại để khi khẩn cấp có thể nhanh chóng chuyển đi, mặc dầu trong lòng ông ta biết rõ đường bộ, đường biển đều đã bị cắt đứt, tường thành mà bị phá thì không còn nơi nào có thể đi được nữa. Ba mươi người phu mất trọn ba ngày mới vào được mật thất, họ thấy các khối đá quây lại thành căn phòng này cơ hồ lớn ngang với đá xây kim tự tháp Kheops. Các thánh vật đều được đặt trong một quan tài đá nặng nề bên trong mật thất, chằng ngang dọc mười hai đai sắt to tướng, phải mất hồi lâu mới mở ra được. Khi tất cả các đai sắt đều đã bị cưa đứt, năm người phu bị đám lính vũ trang xung quanh giám sát chặt chẽ, dốc hết sức lực đẩy nắp quan tài nặng nề ra, thứ đầu tiên thu hút ánh mắt của mọi người không phải các thánh vật và châu báu đã bị niêm phong nghìn năm kia, mà là một chùm nho vẫn còn tươi đặt trên cùng! Helena nói, chùm nho là do cô ta để vào năm ngày trước, hơn nữa đúng như cô ta nói, chùm nho đang ăn dở, chỉ còn lại bảy quả. Sau khi vệ binh kiểm tra hết thánh vật, đối chiếu với danh sách khắc trên một tấm bảng đồng gắn dưới nắp quan tài, họ xác định quả có thiếu một chiếc Chén Thánh. Nếu không phải đã tìm được Chén Thánh ở chỗ Helena đồng thời có lời khai của cô ta, dù tất cả những người có mặt tại hiện trường đều chứng nhận trước đó mật thất và quan tài đá hoàn toàn lành lặn, e rằng cũng có người khó mà thoát chết. “Sao ngươi lấy nó ra được?” Hoàng đế chỉ vào chén Thánh hỏi. Mời các bạn đón đọc Tử Thần Sống Mãi của tác giả Lưu Từ Hân & Lục Hương (dịch).
Phù Sinh Lục Ký
Nhà văn hàng đầu Trung Quốc – Phùng Ký Tài khi được hỏi: “Nếu phải ở trên một hòn đảo cách biệt được chăm lo đầy đủ, nhưng chỉ được mang theo một cuốn tản văn yêu thích, thì ông sẽ mang theo cuốn sách nào? Vì sao?”, Phùng Ký Tài đã không ngần ngại trả lời ngay rằng: “Cuốn sách ấy là Phù sinh lục ký, vì nó có thể đọc đi đọc lại, giống như thơ vậy, đọc lên thấy thích thú và gợi cho mình nhiều suy nghĩ khác nhau”. Sách giáo khoa của Trung Quốc còn trích một số đoạn trong Phù sinh lục ký để làm chuẩn mực về cổ văn cho học sinh trung học. Nhiều tác giả Trung Quốc xem Phù sinh lục ký như một điển phạm khi viết văn. Phù sinh lục ký là tác phẩm kinh điển của Trung Quốc được in đi in lại cả trăm lần ở Đại Lục, được dịch ra mấy chục thứ tiếng trên toàn thế giới, riêng tiếng Anh có đến vài bản dịch, nhưng đây là lần đầu tiên được dịch giả Châu Hải Đường dịch ra tiếng Việt. *** Người ta ngày nay có bao nỗi lo toan bủa vây, thế nên nhiều khi mình chẳng còn nhớ lần cuối cùng tri kỉ đàm đạo nhân tình thế thái là khi nào, cũng quên luôn cả lạc thú tiêu dao tự tại của tao nhân mặc khách đời xưa. Trong số các văn nhân Trung Hoa kinh điển, Thẩm Phục là một cái tên lạ lẫm đối với độc giả Việt Nam, nhưng những tác phẩm của ông được coi là mẫu mực cho cổ văn Trung Hoa cũng như được giảng dạy phổ biến trong các trường học. Phù sinh lục kí là tác phẩm giá trị nhất của Thẩm Phục, gồm những bài ký giàu chất thơ, trong những lời văn uyển chuyển đầy tình ý, ta nghe nhịp nhàng như có phách nhạc phụ họa. Ông đã ghi chép lại những chuyện đời thường một cách đầy say mê, hào sảng nhưng cũng không kém phần nho nhã. Trong từng trang sách, hình ảnh vợ cắm một bình cúc, chồng pha một ấm trà, thưởng ngoạn cảnh đẹp nhân gian với nhau rõ mồn một và rất sinh động. Duyên cầm sắt đâu chỉ là sống bên nhau, còn là sự hòa hợp đồng điệu về tâm hồn, phu thê ăn ý tấu lên khúc nhạc thú vui khuê phòng. Một trích đoạn trong Phù sinh lục kí để thấy rõ tình cảm vợ chồng: Tôi từng nói: “Tiếc rằng nàng là phận gái, chứ nếu có thể hoá nữ thành nam, rồi chúng ta cùng đi thăm danh sơn, tìm thắng tích, ngao du thiên hạ, chẳng cũng thích lắm ư?” Vân nói: “Việc ấy có gì khó, đợi đến khi thiếp bạc mái đầu rồi, tuy chẳng thể xa chơi Ngũ Nhạc, nhưng những chỗ gần đây như Hổ Phụ, Linh Nham, nam đến Tây Hồ, bắc đến Bình Sơn, thảy đều có thể cùng chàng tới chơi được.” Tôi nói: “E là khi nàng đầu bạc thì một bước đi cũng khó.” Vân nói: “Kiếp này chẳng thể, thì hẹn kiếp sau.” Tôi nói: “Kiếp sau nàng nên là con trai, còn ta là gái theo nàng.” Đọc Phù sinh lục kí, độc giả sẽ bắt gặp nhiều điển tích, điển cố cổ của văn học Trung Hoa. Nó vừa thể hiện vốn kiến thức uyên thâm của tác giả, vừa thể hiện được sự uyên bác cùng tình cảm trân quý với những giá trị tinh hoa từ ngàn đời của tác giả. Có thể nói, Phù sinh lục ký là một bông hoa lạ tròn khu vườn văn học Trung Quốc. Tác giả là một người có tình cảm phong phú, tính cách hào sảng, tài hoa dồi dào, có thể gầy nên một tình điệu cao nhã, và phát hiện ra những điều thú vị độc đáo ngay từ cuộc sống bình thường. – Ngân Nga Hoàng Nhân, “Phù sinh lục ký” – Một tác phẩm đặc sắc của văn học Trung Quốc vừa được Châu Hải Đường dịch xong, và sắp được xuất bản – song vẫn có nhiều bạn băn khoăn về nội dung và nhầm lẫn với cuốn “Phù sinh lục ký” (Có lẽ lấy lại từ cảm hứng của tác phẩm cổ điển nói trên) của một tác giả trẻ đương đại, vì vậy dịch giả xin có đôi lời thưa thêm về tác phẩm này để các bạn có thêm thông tin. Xin trân trọng cám ơn. “Phù sinh lục ký” là một tiểu thuyết tản văn, thể tự truyện đặc sắc của nhà văn đời Thanh – Thẩm Phục. Thẩm Phục tự Tam Bạch hiệu Mai Dật, xuất thân trong một gia đình sĩ tộc ở Tô Châu. Theo như tự thuật trong tác phẩm, ông sinh năm 1763, không rõ năm mất (Theo các nghiên cứu, có thuyết cho ông mất vào năm 1832) . Đáng tiếc rằng, do tác giả của nó không có danh vị cao trong xã hội, kinh tế lại khốn quẫn, nên tác phẩm đã không được ấn hành ngay khi ông sinh tiền, mà chỉ có bản chép tay lưu truyền ở đời. Cho đến năm Quang Tự thứ 3 (1877), tức là gần 50 năm sau khi ông qua đời, Độc Ngộ am chủ nhân – Dương Dẫn Truyền, người Ngô Huyện, Giang Tô, tìm thấy một cuốn sách viết tay nhan đề “Phù Sinh Lục Ký” ở một tiệm sách nhỏ trong thành Tô Châu, tuy sách đã nát, nhưng có thể đọc thấy tài tình rất mực của tác giả. Sau khi được nhà thơ, học giả nổi tiếng Vương Thao gửi thêm cho xem sáu bài thơ tuyệt cú, ghi là “Đề Phù Sinh Lục Ký” của Quản Thụ Thuyên (Di Ngạc) người Dương Hồ, Dương Dẫn Truyền đã đem cuốn sách in chung vào bộ “Độc Ngộ am tùng sao” của tòa soạn “Thân Báo”, và một bộ kỳ thư ấy đã lần đầu tiên được xuất hiện ở đời. Năm Quang Tự thứ 32 (1906), Hoàng Nhân tiên sinh khi dạy ở đại học Đông Ngô – Tô Châu đã cho đăng “Phù Sinh Lục Ký” trên tạp chí “Nhạn Lai Hồng”. Cuối đời Quang Tự, Vương Văn Nhu lại cho in trong “Thuyết khố”. Năm 1923, Du Bình Bá căn cứ vào văn bản trên “Độc Ngộ am tùng sao”, Tạp chí “Nhạn Lai Hồng”, hiệu điểm in lại tác phẩm, do Khai Minh Thư Cục phát hành. Năm 1935, Lâm Ngữ Đường tiên sinh đã dịch tác phẩm ra tiếng Anh, đăng nhiều kỳ trên nguyệt san “Thiên hạ” và “Tây phong”. Từ đó “Phù Sinh Lục Ký” bèn nổi danh khắp thiên hạ. Nội dung “Phù sinh lục ký” gồm có sáu “ký”, trong đó Thẩm Phục đã viết lại tự truyện của cuộc đời mình, nhưng không theo dòng thời gian biên niên như những cuốn tự truyện thường thấy, mà theo một cách khác: Theo mạch cảm xúc của cuộc sống. Sáu thiên ký ấy là: “Vui Khuê phòng”, “Thú nhàn tình”, “Sầu Trắc trở”, “Thú lãng du”, “Trải Trung Sơn”, và “Nhàn dưỡng sinh”. Trong đó, nổi bật lên là những ghi chép về tình cảm và cuộc sống của ông và người vợ – Trần Vân, với đầy đủ mọi sắc thái hỉ – nộ – ai – lạc, qua đó, có thể thấy tác giả là một người có tình cảm phong phú, tính cách hào sảng, tài hoa dồi dào, có thể gầy lên một tình điệu cao nhã, và phát hiện ra những điều thú vị độc đáo ngay từ cuộc sống bình thường. Cho nên, tuy phải sống trong cảnh nghèo khó, trải qua nhiều nỗi trắc trở, ông vẫn có một tâm thái lạc quan trước cuộc đời, khiến cho cuộc sống bình thường trở nên tràn đầy xúc cảm nghệ thuật. Trên một trình độ nào đó, cuốn sách đã trở thành kim chỉ nam cho việc phẩm vị hóa cuộc sống cũng như nhã thú của văn nhân. Kể từ lần đầu tiên ấn hành cho đến nay, “Phù sinh lục ký” đã được xuất bản hơn 120 lần ở Trung Quốc. Quyển 2 – “Thú nhàn tình” của tác phẩm còn được trích một đoạn dùng trong sách Ngữ văn cho học sinh phổ thông Trung Quốc như là một khuôn mẫu về cổ văn. Đồng thời, tác phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ như: Anh, Đức, Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Nhật Bản, Mã Lai … và xuất bản ở nhiều nước. Ở Việt Nam, thực ra cái tên “Phù Sinh Lục Ký” đã xuất hiện trong tác phẩm “Sống Đẹp” của Lâm Ngữ Đường – do Nguyễn Hiến Lê dịch. Tuy nhiên, có thể nói đây là lần đầu tiên tác phẩm được dịch và giới thiệu một cách đầy đủ ở Việt Nam. Có thể nói, “Phù sinh lục ký” là một bông hoa lạ trong khu vườn văn học Trung Quốc. Từ sau khi tác phẩm được phát hiện đến nay, đã giành được sự chú ý của vô số những nhà văn hóa nổi tiếng trong và ngoài Trung Quốc. Đã có rất nhiều những lời nhận xét khen ngợi tác phẩm của nhiều danh nhân văn hóa cổ kim, như Lỗ Tấn, Du Bình Bá, Lâm Ngữ Đường, Phùng Ký Tài … nhưng có lẽ, tốt hơn hết là chúng ta hãy tự mình đọc, thưởng thức, và cảm nhận bằng chính cảm xúc của mình, qua ấn bản Phù Sinh Lục Ký lần đầu tại Việt Nam này. – Châu Hải Đường *** Lời giới thiệu Cách đây ít năm, tôi tình cờ đọc một bài trả lời phỏng vấn trên báo của nhà văn nổi tiếng Trung Quốc - Phùng Ký Tài về công việc sáng tác tản văn, trong đó có một đoạn hỏi đáp khiến tôi chú ý; khi phóng viên hỏi: “Nếu phải ở trên một hòn đảo cách biệt được chăm lo đầy đủ, nhưng chỉ được mang theo một cuốn tản văn yêu thích, thì ông sẽ mang theo cuốn sách nào? Vì sao?” Phùng Ký Tài đã không ngần ngại trả lời ngay rằng: “Cuốn sách ấy là Phù sinh lục ký, vì nó có thể đọc đi đọc lại, giống như thơ vậy, đọc lên thấy thích thú và gợi cho mình nhiều suy nghĩ khác nhau.” Câu trả lời ấy của Phùng Ký Tài khiến tôi rất tò mò về cuốn Phù sinh lục ký mà ông nhắc đến, đồng thời, cũng thấy một cảm giác rất quen thuộc, tựa hồ mình đã được nghe về cuốn sách đó ở đâu rồi. Sau khi lục soát lại trí nhớ của mình, tôi mới à lên một tiếng: Hóa ra tôi đã từng được nghe đến tên cuốn sách, và được đọc một vài phiến đoạn của nó qua cuốn Sống đẹp của Lâm Ngữ Đường, được Nguyễn Hiến Lê dịch. Trong tôi chợt dấy lên một mong muốn tìm hiểu trọn vẹn tác phẩm mà Lâm Ngữ Đường Phùng Ký Tài đều đánh giá cao, thậm chí dẫn dụng trong tác phẩm của mình này, cũng như về tác giả của nó. Phù sinh lục ký là một tiểu thuyết tản văn, thể tự truyện đặc sắc của nhà văn đời Thanh - Thẩm Phục. Thẩm Phục tự Tam Bạch hiệu Mai Dật, xuất thân trong một gia đình sĩ tộc Tô Châu. Theo như tự thuật trong tác phẩm, ông sinh năm 1763, không rõ năm mất. Có thể nói, Phù sinh lục ký là một bông hoa lạ trong khu vườn văn học Trung Quốc. Tác giả là một người có tình cảm phong phú, tính cách hào sảng, tài hoa dồi dào, có thể gây lên một tình điệu cao nhã, và phát hiện ra những điều thú vị độc đáo ngay từ cuộc sống bình thường. Cho nên, tuy phải sống trong cảnh nghèo khó, trải qua nhiều nỗi trắc trở, ông vẫn có một tâm thái lạc quan trước cuộc đời, khiến cho cuộc sống bình thường trở nên tràn đầy xúc cảm nghệ thuật. Trên một bình diện nào đó, cuốn sách đã trở thành kim chỉ nam cho việc phẩm vị hóa cuộc sống cũng như nhã thú của văn nhân. Tiếc rằng, do tác giả của cuốn sách không có danh vị cao trong xã hội, gia cảnh lại khốn quẫn, nên tác phẩm đã không được ấn hành ngay thời ông còn sinh tiền, mà chỉ có bản chép tay lưu truyền ở đời. Đến năm Quang Tự thứ ba (1877), khi Dương Dẫn Truyền lần đầu tiên ấn hành tác phẩm, thì “sáu ký đã mất hai”, khiến cho bản Phù sinh lục ký truyền thế giống như bức tượng thần Vệ Nữ bị mất cánh tay, chỉ còn lại bốn ký đầu mà thôi. Tuy nhiên, văn chương của Phù sinh lục ký đã lập tức khiến văn đàn sửng sốt và hâm mộ, đến nỗi không lâu sau đó, trên thị trường đã xuất hiện một bản được gọi là Túc bản Phù sinh lục ký (Phù sinh lục ký bản đầy đủ), bổ sung thêm quyền kỷ thứ 5: Trải Trung Sơn, và thứ 6: Nhàn dưỡng sinh. Song, qua khảo chứng của rất nhiều học giả, thì đều có một nhận định chung rằng: hai quyển ký bổ sung ấy đều là ngụy tác. Có thể nói, trong lịch sử văn học Trung Quốc, các tác phẩm, hoặc một phần tác phẩm nguy tác là không ít, song một tác phẩm xuất hiện muộn, ngay trong đời Thanh mà có những phần được ngụy tác, cũng là hiếm có và phải vô cùng đặc biệt. Lâm Ngữ Đường, trong lời tựa bản dịch tiếng Anh cuốn Phù sinh lục ký năm 1936, có nói: “Tôi đoán chừng rằng, trong các tầng thư gia đình ở Tô Châu, hay các tiệm sách cũ, nhất định sẽ có một bản toàn vẹn, nếu có may mắn ấy, thì có thể chúng ta sẽ phát hiện được.” Đến nay, tuy chưa ai phát hiện được một bản toàn vẹn như Lâm Ngữ Đường nói (không tính bản ngụy tác), nhưng cũng rất may mắn, vào năm 2005, nhà sưu tập Bành Lệnh, đã sưu tầm được một cuốn sách viết tay có nhan đề là Ký sự châu của Tiền Vịnh - học giả, nhà thư pháp nổi tiếng đời Thanh, người sống cùng thời với Thẩm Tam Bạch, trong đó đã tìm thấy có những đoạn ghi chép của Tiền Vịnh về Phù sinh lục ký, đặc biệt là thiên: Sách phong Lưu Cầu quốc ký lược,((1) Lưu Cầu: tức quần đảo Ryukyu, thuộc tỉnh Okinawa, cực nam của Nhật Bản ngày nay.) đã được rất nhiều học giả nhận định là sao lục từ quyển thứ 5 - Trải Trung Sơn (hay còn gọi Hải quốc ký) của Thẩm Tam Bạch. Tuy những phần Tiền Vịnh sao lục chưa đầy đủ quyển kỷ thứ 5 - Trải Trung Sơn - đã thất truyền của Thẩm Tam Bạch, nhưng cũng cho chúng ta thấy phần nào trong nguyên tác của ông. Kể từ lần đầu tiên ấn hành cho đến nay, Phù sinh lục ký đã được xuất hơn 120 lần ở Trung Quốc. Quyển 2 – Thú nhàn tình của tác phẩm còn được trích một đoạn dùng trong sách Ngữ văn cho học sinh phổ thông Trung Quốc như là một khuôn mẫu về cổ văn. Đồng thời, tác phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ như: Anh, Đức, Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Nhật Bản, Mã Lai... và ở nhiều nước khác. Tuy nhiên cho đến nay, tác phẩm vẫn chưa từng được dịch và giới thiệu một cách đầy đủ ở Việt Nam. Trong lần xuất bản đầu tiên này, chúng tôi lựa chọn cách giới thiệu tác phẩm tới các bạn độc giả như là một “Túc bản” với phần chính đầy đủ sáu quyển ký, để độc giả có thể hình dung được diện mạo chung của tác phẩm, dẫu rằng hai quyển sau được cho là ngụy tác. Ngoài ra, chúng tôi có dịch bổ sung thiên Sách phong Lưu Cầu quốc ký lược từ Ký sự châu của Tiền Vịnh, cùng một số lời tựa, lời đề bạt của sách trong phần Phụ lục để độc giả tiện tham khảo. Văn chương Phù sinh lục ký cô đọng, súc tích, giàu chất thơ, dịch giả tuy đã cố gắng, nhưng cũng chưa thể truyền đạt hết được cái hay cái đẹp của tác phẩm, rất mong các bậc cao minh bác nhà lượng tình cảm thông (chỉ giáo giúp thêm ý kiến để tác phẩm có thể hoàn thiện hơn nữa. Tháng đầu thu, Mậu Tuất, 2018 Dịch giả *** Về tác giả Thẩm Phục tự Tam Bạch hiệu Mai Dật, xuất thân trong một gia đình sĩ tộc ở Tô Châu. Theo như tự thuật trong tác phẩm, ông sinh năm 1763, không rõ năm mất. Có thể nói, Phù sinh lục ký là một bông hoa lạ trong khu vườn văn học Trung Quốc. Tác giả là một người có tình cảm phong phú, tính cách hào sảng, tài hoa dồi dào, có thể gây lên một tình điệu cao nhã, và phát hiện ra những điều thú vị độc đáo ngay từ cuộc sống bình thường. Cho nên, tuy phải sống trong cảnh nghèo khó, trải qua nhiều nỗi trắc trở, ông vẫn có một tâm thái lạc quan trước cuộc đời, khiến cho cuộc sống bình thường trở nên tràn đầy xúc cảm nghệ thuật. Trên một bình diện nào đó, cuốn sách đã trở thành kim chỉ nam cho việc phẩm vị hóa cuộc sống cũng như nhã thú của văn nhân.     Mời các bạn đón đọc Phù Sinh Lục Ký của tác giả Thẩm Phục.
Cơn Lốc Núi
Xuân Nguyên (1931-2006) là một cái tên quen thuộc đối với người dân Yên Bái. Ông là một trong số những hội viên đầu tiên tham gia sáng lập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái. Cuộc đời Xuân Nguyên gắn bó với sự hình thành, phát triển của báo chí và văn nghệ Cách mạng ở tỉnh miền núi, biên giới Lao Cai qua hai chặng đường chống Pháp và chống Mỹ gian khổ, ác liệt, sau đó là tỉnh Hoàng Liên Sơn – Yên Bái. Ông đã sớm có tác phẩm được đăng trên báo Văn nghệ - một tờ báo có uy tín lúc bấy giờ với hai truyện ngắn viết về đồng bào các dân tộc năm 1968 – 1969 là: Hai ông già chăn dê và Mùa hoa Đi-O-Khang. Hầu hết các tác phẩm của Xuân Nguyên đều viết về đồng bào các dân tộc ở miền núi Lào Cai – Yên Bái như tập truyện ngắn Hoa đào tháng chín (1975), Người mẹ suối Lũng Pô (1980), Đêm mưa giông (1983), tiểu thuyết Cơn mưa giông (1995), Hạnh phúc chẳng ngọt ngào (2007). Ông là người từng trải, giàu vốn sống, am hiểu phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, ông luôn có ý thức học hỏi ngôn ngữ các dân tộc, nhất là dân tộc Mông. Vì vậy, văn phong của ông gần gũi, giản dị, có sự kết hợp hài hòa giữa lối nói của người Kinh và lời ăn tiếng nói của các dân tộc vùng cao một cách nhuần nhuyễn. Điều này thể hiện ở trong các truyện ngắn như Giàng Tủa, Chiếc vòng bạc... Nhiều truyện của Xuân Nguyên thường là sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại làm nổi lên hình ảnh cuộc sống tối tăm, cơ cực của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới chế độ cũ, quá trình vùng lên chiến đấu của đồng bào dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh gian khổ không kém phần quyết liệt để từ bỏ những hủ tục, tập quán lạc hậu do chế độ cũ để lại, trong các tác phẩm Rừng ma, Hoa đào tháng chín... Đặc biệt, tiểu thuyết Cơn lốc núi đề cập đến nội dung tiễu phỉ, một vấn đề nhạy cảm, hấp dẫn nhưng cũng không hề dễ viết. ***  Lại đến phiên chợ. Hồ Thầu rộn rịch tiếng vó ngựa từ lúc gà gáy. Còn tối đất, tiếng nhạc ngựa đã rung loong coong trên đường mòn.          Sau một đêm thao thức chờ trời sáng, lúc này Vàng Khúa Ly đã trở dậy. Cô ra máng nước ở đầu bếp vã nước rửa mặt. Nước lạnh làm tan hẳn cơn ngái ngủ. Cô rút chiếc khăn chàm còn mới treo trên cái móc bằng mắt tre vấn lên đầu. Sau đó Khua Ly lấy chiếc áo xáo-khỏa và cái quần mới đã gói từ đêm trước để sẵn ở đầu giường bỏ vào mã làn cùng với những thứ hàng mang đi chợ bán.          - Bắt con gà mái vàng béo nhất mang đi mà đổi muối. - Tiếng mẹ cô từ trong buồng nói vọng ra.          - Vâng. - Vàng Khúa Ly đáp.          - Nhớ mà về sớm. Dạo này lính Phăng Ky[1]hay ra chợ cướp gà và trêu con gái đấy ! Bọn con trai các bản cũng hay đi “cướp vợ”, nhớ rủ bạn đi cho đông... Đừng nhẹ dạ tin người buôn ở chợ.          Khúa Ly sửa soạn đi chợ trong tiếng dặn ân cần của mẹ.          Con ngựa buộc ở hiên nhà nghe tiếng hí của những con ngựa đi qua cửa cũng gõ móng cong cóc lên các tảng đá lát chuồng. Ngựa vẫn nhai ngô rau ráu, thỉnh thoảng lại thở phì phì trước cơn gió lạnh.          Vàng Khúa Ly vác cái thồ đã buộc mã làn kềnh càng đặt lên lưng ngựa. Có tiếng gọi :          - Khúa Ly, đi chợ thôi !          - Chị Seo Mỷ đấy à, em đi đây.          Khúa Ly chào mẹ rồi cởi sợi dây thừng bằng móc dắt ngựa ra sân. Cô nhẹ nhàng nhảy lên ngồi giữa hai cái mã làn, hai chân vắt về một bên, rồi giật cương cho ngựa chạy xuống đường.          Con ngựa đã chồn vó suốt đêm, giờ đây mặc sức nện vó trên nền đường đá. Chùm nhạc rung reng theo tiếng vó ngựa.          Trời còn tối mò nhưng Khúa Ly đã nhận ra Seo Mỷ đúng đợi ở giữa đường qua tiếng thở phì phì của con ngựa. Hai con ngựa hí dài chào nhau.          - Đi có sớm quá không ?          - Không sớm đâu. Đến chợ thì ông mặt trời cũng lên quá đỉnh Ngũ Chỉ Sơn rồi. - Seo Mỷ trả lời Khúa Ly.          - Em mới đi chợ lần đầu nên sợ lắm.          - Khúa Ly nói dối chị rồi, có lần chị đã gặp Khúa Ly ở chợ đấy.          - Lần ấy em đi theo bố mẹ. Lần này bố mẹ bảo con gái lớn rồi phải đi chợ một mình cho biết mua bán, cho con trai các bản xem mặt. - Khúa Ly bỗng thấy mặt nóng bừng, may mà trời còn tối nên Seo Mỷ không thấy.         Tiếng vó ngựa nện trên đường núi đá giòn tan xen vào trong câu chuyện của hai cô. Họ say sưa ngắm cảnh bình minh đang đến.         Thoạt đầu bầu trời đằng đông chuyển từ màu đen sang màu xanh nhạt. Rồi trên cái nền xanh cẩm thạch ấy lấp lánh những vẩy mây màu sáng bạc. Phút chốc các vẩy mây màu sáng bạc được ánh bình minh dát vàng rực rỡ. Sau cùng là màu hồng phơn phớt rồi đỏ hồng như mặt người say rượu. Gió núi lành lạnh đưa những tảng mây trắng xốp trôi bồng bềnh trên các đỉnh núi nhọn hoắt.         Con đường xuyên qua những đám nương, ruộng bậc thang trồng toàn anh túc. Anh túc đang độ trổ hoa trông như một tấm vải trắng mênh mông trùm khắp các sườn núi. Những bông hoa anh túc ở ven bờ quệt vào cái mã làn đung đưa, nghiêng ngả.         - Năm nay anh túc lại được mùa. Từ nay đến hết tháng không gặp mưa đá thì nhựa anh túc mùa này để đâu cho hết. - Seo Mỷ nói với Khúa Ly.         Khúa Ly bổng buông tiếng thở dài :         - Cứ nghĩ đến nhựa anh túc em lại lo đến héo cả ruột.         - Sao thế ?         - Lý trưởng Giàng Páo bắt bố em năm nay nộp hai mươi nén nhựa anh túc đủ mười tuổi[2].         - Sao nhiều thế ?         - Nó bảo “Phăng Ky” năm nay lấy nhiều để đưa sang Tầu. Chẳng biết ông trời có cho thu không ?         - Ông trời có cho thu thì đám ruộng ấy cũng không đủ hai mươi nén nhựa kể cả tốt lẫn xấu, chứ đừng nói đến hai mươi nén nhựa toàn loại mười tuổi. Nó cũng là người Mông sao nó không thương người Mông ta nhỉ ?         - Bố em nói, con hổ ở đâu cũng muốn ăn thịt lợn, quan ở đâu cũng muốn ăn của dân. Nó còn muốn cướp cả ruộng trồng anh túc của nhà em đấy.         - Ruộng nương nhà Giàng Páo thiếu gì. Năm nào cũng bắt dân đi làm ruộng nương không công cho nhà nó còn chưa đủ hay sao ?         - Nó bảo ruộng nhà em ở giữa ruộng nhà nó. Bao nhiêu phân bón của nó trôi cả vào ruộng nhà em. Vì thế nó đang bắt bố em đổi đám ruộng ấy lấy đám ruộng ven rừng đá của nó.         - Bố Khúa Ly trả lời ra sao ?         - Bố em không chịu. Giàng Páo cho Giàng Seo Tính đến nói xa nói gần rằng : Là tôi muốn lợi cho ông nên nói mãi quan mới bằng lòng. Ông còn tiếc gì cái cảnh “chung ngựa với nhà quan”, phần thiệt bao giờ chẳng đến mình.            - Giàng Seo Tính là người “nhà trong” của Giàng Páo, nó là em họ của Giàng Páo. Nó vừa là con chó săn vừa là cái đầu của Giàng Páo đấy !            - Bố em cũng biết vậy, nhưng đổi lấy đám ruộng ven rừng đá thì sống làm sao được. Ruộng ấy không trồng được anh túc.            - Cả hai con đường đều cụt cả - Seo Mỷ cất tiếng thở dài thông cảm với Khúa Ly.            Hai người đã đến khu rừng già. Những thân cây cao lớn vươn những cành sần sùi đủ các loài tầm gửi và phong lan buông rủ. Hương phong lan phảng phất ngầy ngậy. Các loài chim rừng ríu rít chào ánh sáng ban mai. Píu ! Píu ! Píu !... tiếng hót của bày họa mi bỗng vút lên lảnh lót, vượt lên hàng trăm thứ âm thanh của thế giới động vật có cánh. Một bầy chim “hoàng tử” dáng thanh mảnh, mang bộ lông đủ năm màu lướt nhẹ nhàng như những con thoi chuyền từ cây này sang cây khác.            - Khúa Ly xem kìa, các “hoàng tử” cũng bắt đầu đi dự hội rồi đấy. - Seo Mỷ chỉ vào bầy chim “hoàng tử” nói đùa với Khúa Ly - Không biết con chim nào sẽ được chọn là “công chúa” nhỉ ?            - Em chịu.            - Nếu chị là những con chim “hoàng tử” thì chị sẽ chọn Khúa Ly làm chim “công chúa” đấy. - Seo Mỷ nói rồi cất tiếng cười giòn.          - Chị Seo Mỷ lại trêu em rồi ! - Khúa Ly thấy mặt nóng ran.          Vượt qua rừng già họ đi vào khu rùng sa mu xanh thắm. Những cây sa mu già trên trăm tuổi thẳng vút, trầm tĩnh tấu bản nhạc đều đều vô tận. Lẫn trong tiếng vi vút của ngàn sa mu là tiếng khèn của những chàng trai Mông đi chợ.        ... Vườn có hoa, ong mới về đậu,[3]            Vì có em, anh mới đến đây.            Nơi có hoa, ong mới về kêu            Thấy bóng em, anh mới về hát            ……             Núi cao sinh cây gì ?             Núi cao sinh cây sa mu.             Đồi thấp sinh cây trúc             Anh với em như sa mu với trúc             Em đi khởi lòng anh nhớ khôn nguôi...          Tiếng khèn lúc trầm trầm thủ thỉ, lúc vút lên như tiếng họa mi trong rặng sa mu. Tiếng khèn cứ như quấn quít lấy vó ngựa của Khúa Ly và Seo Mỷ :          ... Cô em hỡi,             Hoa gì nở thắm tươi ?             Hoa đào mùa xuân nỏ thắm tươi             Em có lòng yêu anh,             Xin hẹn chợ này ta gặp nhau một buổi.             Hoa gì nở chi chít ?             Hoa đào mùa xuân nở chi chít             Em có lòng mến anh,             Xin hẹn chợ này ta gặp nhau một ngày...         Không bảo nhau nhưng cả Khúa Ly và Seo Mỷ cùng sửa lại hai vạt áo xáo-khoả che kín bộ ngực. Khúa Ly cất tiếng hỏi Seo Mỷ :         - Anh Sùng Sử có đi chợ không ?         - Có, nhưng đi sau. Còn bắt con lợn mang đi chợ.         - Tưởng mùa này anh chị cưới nhau.         Seo Mỷ buông tiếng thở dài :         - Ông chú không chịu.         - Ông Hảng A Dềnh ấy à ? Sao ông ấy lại không chịu ?         - Ông ấy bảo con ngựa đắt tiền mới là con ngựa quý. Vì thế ông khăng khăng đòi lấy đủ một trăm đồng bạc trắng. Lợn, rượu thì Sùng Sử còn lo được, chứ bạc trắng thì lấy đâu ra. Mấy lần chị nói xin giảm cho Sùng Sử đều bị ông mắng lấn đi : “Mày đừng như con ngựa động đực, vừa thấy hơi ngựa đực đã cong đuôi chạy theo. Thằng Sùng Sử không đủ bạc trắng thì khối đứa có đủ. Chừng nào tao còn sống thì tao còn làm đúng lời bố mày dặn trước khi nhắm mắt”. Có lúc thương Sùng Sử quá chị đã bảo Sùng Sử rủ bạn “cướp”[4] chị chạy đi thật xa, nhưng Sùng Sử không chịu : “Làm thế còn mặt mũi nào nhìn dân bản, thà chịu phận nghèo, cô đơn còn hơn là mang tiếng xấu”.           - Ôi, cuộc đời sao lắm nỗi éo le ? - Khúa Ly chép miệng thở dài.           Câu chuyện của họ đến đây ngắt quãng. Trước mắt hai cô cái đồn “Phăng Ky” đã hiện ra rõ mồn một với những bức tường đá xám xịt bao quanh. Ngay dưới chân đồn, trên con đường dẫn vào chợ một đám vợ lính đứng đón đường mua hàng của những người đi chợ.           - Tả cố mải lá dảng ?[5]           - Mày bán cho tao đi.           - Kỷ tố sền ?[6]           - Tao có tiền trắng, mày bán đi, hay muốn đổi muối, diêm, thuốc lào ? Thứ nào tao cũng có tất, cứ mang vào đây. Mời các bạn đón đọc Cơn Lốc Núi của tác giả Xuân Nguyên.
Thư Ký Kim Sao Thế?
Sở hữu ngoại hình xuất chúng và bộ óc siêu việt, người đàn ông đứng trên đỉnh cao nhất của thế gian song mắc bệnh “tự luyến” nặng – Lee Young Joon, phó chủ tịch tập đoàn Yoo Il. Chín năm làm thư ký kiêm lái xe riêng và bạn dự tiệc, tài sắc vẹn toàn, luôn tươi cười rạng rỡ – Kim Mi So, thư ký của phó chủ tịch Lee Young Joon. Cặp đôi hoàn hảo với khả năng tương tác kết hợp còn hơn cả vợ chồng bỗng một ngày vấp phải vấn đề nghiêm trọng: Thư ký Kim xin thôi việc! “Thiên hạ đệ nhất” Lee Young Joon sẽ phản ứng như thế nào? Mối quan hệ của họ từ lúc này sẽ thay đổi ra sao? Mời các bạn đón đọc Thư Ký Kim Sao Thế? của tác giả Jeong Gyeong Jun.