Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Một Câu Chọi Vạn Câu

Lưu Chấn Vân đã phải ấp ủ, thai nghén ba năm mới cho ra đời tiểu thuyết này. Đây cũng là tác phẩm chín nhất, hay nhất của ông từ trước đến nay. Phong cách kể chuyện của tác giả giống với nhật ký dã sử thời Minh, Thanh. Câu chữ chắt lọc, tình tiết rõ ràng, giọng kể mạch lạc, văn phong có dáng dấp như những bậc tiền bối lớn như: Uông Tăng Kỳ, Tôn Lê... Chỉ với ngôn ngữ như vậy, tác giả mới có thể đối ứng và thể hiện được nội hàm tác phẩm: nền văn hóa phương Tây đối thoại với Thánh Thần và nền sinh thái của nhân loại. Để thoát khỏi sự cô độc và mệt mỏi, những nhân vật trong tác phẩm đã cố gắng tạo ra thanh âm và niềm vui riêng. Đọc cuốn tiểu thuyết, chúng ta cảm nhận được sự bền bỉ và ngoan cường của sự sống. Nhận định "Rũ bỏ vẻ hào nhoáng bên ngoài quay về với bản chất mộc mạc bên trong. Ngòi bút tác giả luôn theo sát mảnh đất khổ nạn cùng những con người phận cái rơm cây cỏ thuộc tầng lớp đáy xã hội. Kết cấu chuyện đơn giản mà phong phú, hồi hộp căng thẳng mà xúc động lòng người. Nhân vật chính thường rơi vào bước đường cùng, nhưng vẫn dũng cảm tiến về phía trước. Đây là cuốn tiểu thuyết chính nhất, hay nhất của Lưu chấn Vân kể từ trước tời nay." (Nhà phê bình nổi tiếng Ma La) "Cuốn tiểu thuyết dùng hai câu chuyện ở các thời khác nhau và số phận những con người bình thường có quan hệ máu mủ ở các thời khác nhau để nói về hai chủ đề lớn của đời người. Đó là “Ra Đi” và “Quay Về”… (Nhà phê bình nổi tiếng Trương Di Vũ) "Tác phẩm này của Lưu Chấn Vân vừa là một lời giải thích cá nhân hóa, vừa là một mẫu mực điển hình hóa cho câu hỏi “Vì sao tiểu thuyết lại được coi là nghệ thuật ngôn ngữ.” (Nhà phê bình văn học nổi tiếng Bạch Diệp) *** Một câu hơn cả nghìn năm Lưu Chấn Vân đã phải ấp ủ, thai nghén ba năm mới cho ra đời cuốn tiểu thuyết này. Đây cũng là tác phẩm chín nhất, hay nhất của ông kể từ trước đến nay.. Phong cách kể chuyện của tác giả giống với nhật ký dã sử thời Minh, Thanh. Câu chữ chắt lọc, tình tiết rõ ràng, giọng kể mạch lạc, văn phong có dáng dấp của những bậc tác gia tiền bối như: Uông Tăng Kỳ, Tôn Lê1... Bởi vậy từng câu, từng chữ trong tác phẩm đều mang nghệ thuật biểu đạt, thấm đẫm mồ hôi tác giả. Quan trọng hơn, chỉ với ngôn ngữ như vậy, tác giả mới có thể đối ứng và thể hiện được nội hàm của tác phẩm: nền văn hóa phương Tây đối thoại với Thánh Thần và nền sinh thái của nhân loại, bởi sự hiện hữu mọi nơi của Thánh Thần mà người ta vui vẻ, tự tại. Người với người tuy quan hệ, qua lại không nhiều, nhưng không bị cô độc. Tiếp nữa, văn hóa Trung Quốc đối thoại với con người và kiếp người phù du lại vì sự chú trọng cực đoan đến hiện thực và truyền thống Nho gia, vì sự khác nhau về quần xã, địa vị và lợi ích, vì sự trắc trở, khó đoán của lòng người và mất mát niềm tin, nên những người bạn có thể dốc bầu tâm sự, sưởi ấm tâm hồn mình không nhiều, vậy nên phải sống trong nỗi cô độc nghìn năm. 1. Uông Tăng Kỳ: sinh năm 1920 tại tỉnh Tô Giang. Là nhân vật tiêu biểu cho thế hệ nhà văn đương đại, nhà viết kịch, tản văn... Cuộc đời ông trải qua nhiều sóng gió, trắc trở, phải chịu đựng nhiều sự đối đãi bất công. Nhưng dù vậy ông vẫn luôn giữ thái độ bình tĩnh, khoáng đạt và sáng tác ra rất nhiều những tác phẩm văn học theo chủ nghĩa lạc quan tích cực. Tôn Lê: sinh năm 1913 tại tỉnh Hà Bắc. Là người đi đầu trong tầng lớp những nhà văn đương đại Trung Quốc. Các tác phẩm của ông nhận được sự đánh giá rất cao của mọi người. Sau khi đọc xong tác phẩm của ông, Mao Trạch Đông từng viết: “Đây là một tác giả rất có phong cách.” Mỗi một người Trung Quốc đều có trải nghiệm về niềm cô độc như vậy. Thế nhưng, kể từ Ngũ Tứ đến nay, đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nhìn thẳng vào người dân thường, quan tâm đến tâm hồn họ và ca ngợi họ như thế. Nửa đầu cuốn tiểu thuyết nói về quá khứ: Ngô Mô-sê cô độc đánh mất cô con gái nuôi - người duy nhất “nói chuyện được” với gã. Vì sự tìm, gã rời khỏi Diên Tân. Nửa cuối tiểu thuyết nói về hiện tại: Con trai con gái nuôi của Ngô Mô-sê là Ngưu Ái Gia cũng vì để thoát khỏi sự cô độc, muốn tìm một người bạn “nói chuyện được”, mà đi tới Diên Tân. Rời và Tới ròng rã mất trăm năm. Trong tác phẩm này, mọi mối quan hệ tình tiết và kết cấu nhân vật, mọi sự hài hòa trong tổ chức quần xã và gia đình, thậm chí đến ngay cả nhục dục và tình yêu cũng đều liên quan đến chuyện người với người có nói chuyện được với nhau hay không; liên quan đến chuyện lời nói ra có thể chạm đến tâm hồn, mang lại hơi ấm, hóa giải xung đột, kích thích đam mê hay không. Lời nói, một khi đã trở thành thứ duy nhất để tương thông giữa con người với con người, thì sự tìm kiếm và cô độc liền đi kèm theo nhau suốt đời. Sự đuối sức của tâm hồn và sự rệu rã của sự sống, và cả sự mịt mù, mệt mỏi vô bờ bến liền sản sinh, gắn với nhau như hình với bóng. Từ đó, chúng ta chợt nhận ra, người Trung Quốc sao lại phải sống mệt mỏi đến vậy! Sự mệt mỏi ấy, giống như đêm dài đằng đẵng, mài cứa vào thần kinh chúng ta, hết đời này sang đời khác. Để thoát khỏi sự cô độc và mệt mỏi ấy, những con người trong tác phẩm đã cố gắng tạo ra những thanh âm và niềm vui riêng. Thế là, hô tang liền trở thành nghề mà nhân vật chính Dương Bách Thuận tôn thờ. Thủ đàm với con hát trở thành sở thích cá nhân của huyện trưởng... Nhưng điều ấy vẫn không thể thay đổi được số phận của nhân vật trong truyện. Bởi vậy, đọc cuốn tiểu thuyết này, ta thấy nặng nề, đau đớn. Tâm trạng ấy khiến chúng ta không ngừng bị quẩn quanh giữa “Luận Ngữ” và “Kinh Thánh”, quanh quẩn trong mối trăn trở nghìn năm là đối thoại với Thánh Thần hay đối thoại với con người... Đương nhiên, đọc cuốn tiểu thuyết này, chúng ta cũng cảm nhận được sự bền bỉ và ngoan cường của sự sống. Để có được một chỗ dựa và an ủi về tinh thần, con người bất giác lại theo đuổi bóng dáng trong “Một câu chọi vạn câu”, rất giống với tấm lưng còng của tổ tiên và vòm trời được ghép bởi vô vàn những tấm lưng ấy. -An Ba Thuấn *** Bố Dương Bách Thuận bán đậu phụ, người ta gọi lão là lão Dương bán đậu phụ. Ngoài đậu phụ, mùa hè, lão còn bán cả mỳ nguội. Lão Dương bán đậu phụ và lão Mã đánh xe ngựa ơ Mã Gia Trang là bạn thân với nhau. Thật ra hai người vốn không nên là bạn, bởi lão Mã thường bắt nạt lão Dương. Bắt nạt ở đây không phải ý bảo lão ta đánh, hay mắng chửi, hay bắt chẹt lão Dương về khoản tiền bạc, mà là coi khinh từ trong trứng nước. Khi đã coi khinh một ai đó thì có thể không cần phải đi lại, quan hệ với người ấy, nhưng lão Mã hễ nói chuyện tếu táo là lại không thể thiếu được lão Dương. Lão Dương khi kể với mọi người về bạn mình, người đầu tiên lão nhắc đến là lão Mã. Còn lão Mã khi kể về bạn mình, kể đây là kể sau lưng, thì cấm có lần nào lão ta đả động đến lão Dương bán đậu phụ và mỳ nguội ở Dương Gia Trang. Nhưng người ngoài không biết nội tình bên trong lại cứ tưởng hai người là bạn thân. Năm Dương Bách Thuận 11 tuổi, lão Lý thợ rèn ngoài thị trấn làm tiệc mừng thọ mẹ. Lò rèn của lão Lý tên là “Lò rèn Đới Vượng”, chuyên làm mấy thứ như: thìa, dao thái, lưỡi rìu, lưỡi cuốc, lưỡi liềm, răng bừa, lưỡi xẻng, chốt cửa... Cánh thợ rèn, mười người thì có đến tám chín người tính tình nôn nóng. Nhưng lão Lý lại đủng đỉnh. Một cái đinh bừa thôi mà lão ta cũng phải làm hai canh giờ mới xong. Chậm đây, nhưng là chậm chắc, chậm tinh xảo, cái đinh bừa ấy thể nào cũng góc cạnh sắc nét. Trước khi đem tôi, những thứ: thìa, dao thái, lưỡi rìu, lưỡi cuốc, lưỡi liềm, lưỡi dao, chốt cửa... đều được lão in lên hai chữ “Đới Vượng”. Trong bán kính vài chục dặm, tuyệt nhiên không có một gã thợ rèn nào hành nghề. Không phải vì tay nghề họ kém lão Lý, mà vì chẳng ai có thế lọ mọ, tẩn mẩn được như lão. Người đủng đỉnh thường kỹ tính. Người kỹ tính dễ thù dai. Lão Lý là dần làm ăn, lò rèn ngày nào cũng có người qua lại, chắc chắn không tránh khỏi có câu này câu kia đắc tội với lão. Ấy thế nhưng lão không thù người ngoài, chỉ thù mỗi mẹ. Mẹ lão là người nóng tính, cái tính đủng đỉnh của lão là do bị tính nóng nảy của bà mẹ đè nén mà ra. Hồi tám tuổi, Lý ăn vụng một miếng bánh táo, liền bị mẹ giơ chiếc muôi sắt lên giáng thẳng vào đầu. Chậc... một hố sâu hoắm hiện ra, máu chảy ròng ròng. Người khác, khi vết thương đã lành thường quên đau, còn lão bắt đầu từ tám tuổi đã thù mẹ. Cái sự thù của lão không phải vì vết thương sâu hoắm, mà vì bà mẹ lão, sau khi làm ra vết thương ấy vẫn cười cười nói nói, tung tẩy đi cùng mọi người tới phố huyện xem tuồng. Cũng chẳng phải vì thù cái sự xem tuồng, mà vì sau khi lão trưởng thành, một người tính đủng đỉnh, một người tính nôn nóng, cách nhìn nhận về mỗi sự việc đều khác nhau. Mẹ lão bị viêm vành mắt. Năm lão 40 tuổi, bố lão mất. Năm lão 45 tuổi, mẹ lão bị mù. Sau khi bà mẹ bị mù, lão Lý trở thành ông chủ của Lò rèn Đới Vượng . Sau khi thành ông chủ rồi, lão Lý cũng vẫn chẳng hề này kia với bà mẹ. Chuyện ăn, chuyện mặc của bà vẫn giống như lúc trước, có điều bà mẹ nói gì, lão đều bỏ ngoài tai. Làm nghề rèn, bữa ăn ngày thường rất đạm bạc, nhưng bà mẹ lão vẫn lớn tiếng: - Nhạt miệng quá đi mất! Mau đi làm miếng thịt bò về đây cho tôi nhai tạm. Lão Lý: - Hẵng cứ đợi đấy. Đợi cũng chỉ là đợi suông thế. Mẹ lão: - Buồn quá đi mất. Mau dắt con lừa ra đây để tôi ra phố huyện chơi một lát. - Hẵng cứ đợi đấy. Đợi cũng chỉ là đợi suông thế. Không phải lão cố ý chọc giận mẹ, mà là để hãm dần cái tính nôn nóng của bà. Mẹ lão nôn nóng đã nửa đời người, giờ đã đến lúc phải thong thả lại. Nhưng lão cũng sợ, làm như thế phiền phức e sẽ ngày càng nhiều. Năm mẹ lão 70 tuổi, lão Lý muốn làm lễ mừng thọ cho mẹ. Bà mẹ: - Sắp xuống lỗ đến nơi rồi, khỏi phải thọ thiếc gì cả. Ngày thường, cứ tử tế với tôi thêm một chút là được. Rồi lại gõ chiếc gậy xuống đất: - Anh định làm lễ mừng thọ cho tôi à? Hay lại âm mưu gì cũng không biết chừng. Lão Lý: - Bà chỉ nghĩ lẩn thẩn. Nhưng lão Lý vẫn làm lễ mừng thọ cho mẹ, thật ra không phải vì mẹ lão. Tháng trước, có một thợ rèn họ Đoàn, người An Huy, đến thị trấn và cũng mở một lò rèn. Lão Đoàn béo mập. Lò rèn của lão có tên là “Lò rèn Đoàn béo”. Nếu lão Đoàn cũng tính tình nôn nóng, thì lão Lý chẳng sợ. Ai dè, lão Đoàn béo cũng là một tay đủng đỉnh. Một chiếc đinh bừa mà cũng phải làm mất hai canh giờ đồng hồ. Lão Lý phát hoảng. Muốn nhân dịp mừng thọ mẹ tổ chức một bữa tiệc thật linh đình để dằn mặt lão béo. Mượn cái sự đông khách khứa để lão béo phải hiểu rằng: đất có thổ công, sông có hà bá. Nhưng mọi người chẳng ai hiểu cái nội tình ấy. Chỉ biết, trước đầy, lão Lý chẳng hiếu đễ gì với mẹ, giờ đột nhiên lại có hiếu, bèn đoán chắc lão ta đã hiểu ra bổn phận làm con. Trưa hôm ấy, mọi người đều mang quà đến dự tiệc mừng thọ mẹ lão Lý. Lão Dương và lão Mã đều là bạn của lão Lý, nên hôm ấy cũng đến. Lão Dương phải dậy sớm đi bán đậu phụ ở xa, nên đến hơi muộn. Mã Gia Trang gần thị trấn, nên lão Mã có mặt rất chuẩn giờ. Lão Lý biết lão Dương bán đậu phụ và lão Mã đánh xe ngựa chơi thân với nhau, nên dành một chỗ cho lão Dương ngay cạnh lão Mã. Lão Lý những tưởng mình sắp đặt thế là chu toàn lắm, nào ngờ lão Mă có vẻ bực mình: - Ấy chớ! Bác đổi lão ta ra chỗ khác ngồi đi. Lão Lý: - Hai bác ngồi cạnh nhau nói chuyện tếu cho không khí nó rôm rả. Lão Mã hỏi: - Hôm nay có chất cay không? Lão Lý: - Mỗi bàn ba chai. Không chơi rượu can, nhá. Lão Mã: - Thì thế. Không uống rượu, nói chuyện vui với lão ta còn được. Chứ hễ cứ nốc rượu vào, là lão ta toàn móc ruột móc gan. Móc xong, hể hả lắm, nhưng lại khổ cái thân tôi. Lại tiếp: - Cũng chẳng phải một đôi bận đâu. Lúc ấy, lão Lý mới biết, đôi bạn này không phải là tri kỷ. Hoặc giả, lão Dương coi lão Mã là tri kỷ, nhưng lão Mã lại không thế. Lão Lý đành bèn chuyển chỗ lão Dương tới bàn khác, cạnh lão Đỗ làm nghề môi giới buôn bán gia súc. Dương Bách Thuận bị bố sai sang quẩy nước giúp nhà lão Lý từ hôm trước, nên đã nghe hết câu chuyện. Ngay sau hôm tiệc mừng thọ, lão Dương bán đậu phụ ngồi nhà ca cẩm cỗ nhà lão Lý ăn chán quá, mất quà oan. Chán ở đây không phải vì cỗ bàn không thịnh soạn, mà vì nói chuyện với cái tay Đỗ không hợp. Đầu tay Đỗ đã hói, lại còn bốc mùi, gàu rụng đầy vai. Lão Dương tưởng vì mình tới muộn, nên chẳng may phải ngồi cạnh lão Đỗ. Dương Bách Thuận liên đem câu chuyện nghe được hôm qua kể với bố. Nghe xong, lão Dương giáng ngay cho thằng con một cái bạt tai: - Bác Mã đời nào nói thế. Mày chỉ tầm bậy tầm bạ! Dương Bách Thuận tức tưởi. Còn bố nó ôm đầu ngồi sụp xuống cửa quầy đậu phụ, chẳng nói chẳng rằng. Suốt nửa tháng sau đó, lão Dương cũng chẳng hề đả động đến lão Mã nữa. Thê nhưng, sau nửa tháng, lão Dương lại qua lại với lão Mã, lại nói chuyện tếu táo, có việc lại tìm đến lão Mã trao đổi, bàn bạc. Bán hàng thường phải rao, nhưng lão Dương lại chẳng thích rao gì cả. Rao hàng chia làm hai loại: thô và tinh. Rao thô nghĩa là: bán gì rao nấy, chẳng hạn đã là đậu phụ thì cứ đậu phụ mà rao “Đậu phụ đêêêê...” “Đậu phụ Dương Gia Trang đêêêê..” Còn rao tinh nghĩa là rao có nhạc có điệu hẳn hoi, tâng đậu phụ của mình lên mấy bậc: “Bạn rằng là, đậu phụ này ý a, có phải là đậu phụ? Xin thưa rằng là, đậu phụ này ý a, là đậu phụ. Nhưng không thể ý a coi là đậu phụ...” Thế thì coi là gì? Là bạch ngọc, là mã não chứ còn gì nữa! Lão Dương mồm miệng vụng về, không biết ngân nga thành giai điệu, nhưng lại không muốn rao thô. Thật ra, lão đã từng rao thô, nhưng cũng đặc sắc đáo đế ra phết: “Đậu phụ mới làm, không phải lăn tăn về chất lượng đâyyyyy...” Lão biết đánh trống, dùi trống nện vào mặt trống, gõ vào thành trống, tạo ra nhiều âm thanh khác nhau, vui tai đáo để. Lão ta liến chơi độc , lúc bán đậu phụ, không rao, mà gõ trống. Đánh trống bán đậu phụ, mới mẻ, sáng tạo quá còn gì! Người trong làng hễ nghe tiếng trống là biết ngay lão Dương bán đậu phụ ở Dương Gia Trang đã tới. Ngoài những lúc bán đậu phụ ở làng, vào dịp chợ phiên trên thị trấn, lão cũng lên đó bán. Vừa bán đậu phụ, vừa bán mỳ nguội. Lão ta lấy nan tre cắt mỳ nguội thành từng sợi, cho vào bát, rắc hành, cho thêm mấy nhánh kinh giới, rồi trộn với tương vừng. Bán bát nào, làm bát ấy. Bên trái hàng lão Dương là lão Khổng ở Khổng Gia Trang bán bánh nướng nhân thịt lừa. Bên phải là lão Đậu ở Đậu Gia Trang bán súp cay và thuốc lá sợi. Ở làng, lão Dương đánh trống để bán đậu phụ và mỳ nguội. Ở chợ phiên trên thị trấn, lão cũng giở chiêu ấy. Tiếng trống liên hồi kỳ trận, suốt từ sáng đến tối. Lúc đầu, mọi người thấy mới lạ, nhưng sau độ một tháng, đám lão Khổng, lão Đậu đều phát ngấy. Lão Khổng: - Chốc lại “tùng tùng”, chốc lại “cắc cắc”. Bác Dương này, cái đầu tôi bị bác gõ thành mỳ nguội nhà bác rồi đấy. Buôn bán cỏn con mà cứ làm như xuất quân đánh trận không bằng. Có cần phải ầm ĩ đến thế không? Lão Đậu tính nóng. Chẳng nói chẳng rằng, mặt hằm hằm sấn đến, đá một phát rách trống của lão Dương. 40 năm sau, lão Dương bị trúng gió, nằm liệt giường. Mọi việc trong nhà giao cho con trai cả là Dương Bách Nghiệp cầm trịch. Người khác hễ bị trúng gió là không điều khiển được trí não, mồm miệng cũng vượt khỏi tầm kiểm soát, lắp ba lắp bắp không thành câu. Nhưng lão Dương lại khác, chỉ bị liệt người, trí não và mồm miệng đều không sao. Hồi chưa bị liệt, mồm miệng vụng về, nói chuyện nọ xọ chuyện kia, hoặc gộp hai chuyện thành một. Nhưng sau khi bị liệt, đầu óc tự dưng minh mẫn, mồm miệng lại hóa trôi chảy. Gặp chuyện đều xử lý rất bình tĩnh, đâu ra đấy. Sau khi bị liệt, cả ngày phải nằm trên giường, hơi tí lại phải nhờ vả người khác. Về khoản này, rõ là không bằng lúc trước được, đã thế lại còn thiệt mắt, thiệt mồm. Hễ có bóng người vào, là lão vội đánh ánh mắt nghênh đón, lấy lòng. Sau đấy, người ta hỏi gì, lão đáp nấy. Hồi chưa bị liệt, lão thường nói dối, nhưng sau khi bị liệt, câu nào cũng móc ruột móc gan. Uống nước nhiều, đêm cũng sẽ trở dậy nhiều, nên bắt đầu từ chiều là lão không uống nữa. Sau 40 năm, bạn bè trước của lão, người thì mất, người còn sống thì mỗi người một việc. Sau khi lão bị liệt, chẳng có ma nào đến thăm lão. Ngày Rằm tháng Tám năm ấy, lão Đoàn khi đó bán hành ở chợ xách hai phong bánh đến thăm lão. Lâu không gặp cố nhân, lão Dương cầm tay lão Đoàn rưng rưng. Thấy người nhà đi vào, lão vội lấy tay áo lau nước mắt. Lão Đoàn: - Ông còn liệt kê được những người buôn bán ở chợ phiên năm xưa, từ đầu đông sang đầu tây không? Đành rằng đầu óc lão Dượng còn tỉnh táo, nhưng đã 40 năm trôi qua, lão cũng đã quên hơn nửa những người bạn cùng buôn bán với lão dạo ấy. Lão xòe bàn tay đếm, đến người thứ năm là chịu. Nhưng lão vẫn nhớ đến lão Khổng bản bánh nướng nhân thịt lừa và lão Đậu bán súp cay và thuốc lá sợi lắm, bèn nhảy cóc qua rất nhiều người, đến thẳng đến hai lão ấy. - Lão Khổng nói năng nhỏ nhẹ. Lão Đậu thì tính tình nóng nảy. Hồi ấy, lão ta còn đá rách cả trống của tôi. Nhưng đời nào tôi chịu thua, tôi cũng đạp một phát vào quầy hàng của lão, làm súp cay đổ lênh láng xuống đất. Lão Đoàn: - Ông còn nhớ lão Đổng ở Đổng Gia Trang làm nghề thiến lợn không? Ngoài thiến lợn ra, lão ta còn vá nồi thuê ấy. Lão Dương chau mày nghĩ ngợi, không nhớ ra lão Đổng vừa thiến lợn, vừa và nổi thuê. Lão Đoàn: - Thế còn lão Ngụy ở Ngụy Gia Trang? Ở mé ngoài cùng phía tây chợ phiên, bán gừng tươi, hay cười tủm ấy. Chốc lão ta lại tủm tỉm, chốc lại tủm tỉm. Chẳng biết cười cái gì. Lão Dương vẫn chẳng nhớ ra nổi. Lão Đoàn: - Thế còn lão Mã ở Mã Gia Trang làm nghề đánh xe ngựa, chắc ông vẫn nhớ chứ hả? Lão Dương thở phào: - Lão ấy thì tôi nhớ chứ sao không. Chết hơn hai năm rồi. Lão Đoàn cười: - Năm xưa, lúc nào ông cũng chỉ có lão Mã, chẳng thèm để ý đến ai. Nhưng ông đâu biết rằng, ông coi người ta là bạn, nhưng người ta toàn bỡn cợt ông đằng sau lưng. Lão Dương vội chuyển đề tài: - Chuyện bao năm rồi, mà ông vẫn nhớ à. Lão Đoàn: - Tôi không nói đến chuyện ấy, mà nói đến cái lý. Kẻ chẳng coi ông là bạn, thì ông cứ săn đón người ta cả đời, còn người coi ông là bạn, thì ông lại chẳng xem vào đầu. Hồi ấy, người trên chợ đều bực mình chuyện ông gõ trống, mỗi tôi là thích nghe. Để được nghe tiếng trống, tôi đã mua không biết bao nhiêu là mỳ nguội của ông. Có bận, muốn lân la đôi ba câu với ông, nhưng ông có thèm bắt chuyện đâu. Lão Dương vội nói: - Làm gì có chuyện ấy. Lão Đoàn phẩy tay: - Đấy, ông xem. Đến bây giờ ông vẫn còn chưa coi tôi là bạn. Hôm nay tôi đến đây là muốn hỏi ông một câu. - Ông hỏi gì? - Sống cả đời rồi. Ông có được một người nào đáng tấm bạn không? Lại nói: - Trước đây chưa nghĩ ra. Nhưng bây giờ, nằm trên giường thế này, chắc hẳn ông đã thông rồi chứ hả? Lúc ấy, lão Dương mới hiểu. Thì ra, sau 40 năm, tay Đoàn thấy mình nằm liệt giường, còn chân tay hắn vẫn nhanh nhẹn, nên tìm đến để trả thù. Lão Dương nhổ nước miếng: - Ông Đoàn, khi xưa tôi đã không nhìn lầm ông. Ông là đồ tồi. Lão Đoàn cười, bỏ đi. Lão ta đi rồi, lão Dương vẫn còn nằm trên giường mắng chửi lão. Con trai cả Dương Bách Nghiệp đi vào, ông ta là anh của Dương Bách Thuận, tuổi đã ngoài 50. Hồi nhỏ, Dương Bách Nghiệp đần độn, toàn bị lão Dương đánh. Sau hơn 40 năm, lão Dương nằm liệt giường, ông ta trở thành chủ gia đinh. Lão Dương giờ có muốn động chân động tay, cũng phải nhìn sắc mặt ông con cả. Bách Nghiệp tiếp tục đề tài của lão Đoàn, hỏi: - Lão Mã đánh xe ngựa. Ông bán đậu phụ. Hai người chẳng dây mơ rễ má gì với nhau. Hồi ấy, người ta chẳng coi ông là người, cớ sao ông lại cứ phải săn đón làm bạn với lão ta? Không hiểu ông có lý do gì? Lão Dương dám nổi nóng với lão Đoàn, nhưng không dám nổi nóng với Bách Nghiệp. Ông ta hỏi câu gì, lão phải trả lời câu ấy. Đành thôi chửi lão Đoàn, than: - Có chứ. Nếu không, bố cũng cóc sợ cái lão ấy. Bách Nghiệp: - Ông ăn chặn của lão ta thứ gì à? Hay có quả phốt nào bị lão ta bắt thóp? Lão Dương: “Giả có ăn chặn hay bị phốt thì lão ấy cũng chẳng bắt thóp được bố. Kiếp sau, không chơi bời, qua lại với lão ấy là được chứ gì. Chẳng là, ngay lần đầu tiên chạm nhau, bố đã bị lão ấy át vía. Bách Nghiệp: - Át thế nào? Lão Dương: - Lần đầu bố gặp lão ấy là ở phiên chợ bán gia súc. Lão ấy đi chợ mua ngựa, còn bố bán lừa. Cả bọn tán gẫu với nhau. Cùng một câu chuyện, nhưng bố chỉ có thể nhìn được một dặm, còn lão ấy thì nhìn được mười dặm. Bố chỉ nhìn được một tháng, nhưng lão ấy có thể nhìn được tới mười năm. Cuối cùng, bố không bán được lừa. Về khoản lời lẽ, bố bị lão Mã át vía. Lại lắc đầu: - Việc không bắt người, nhưng lời bắt người. Lại nói: - Sau này, hễ gặp việc gì, bố đều tìm lão ấy để bàn bạc. Bách Nghiệp: - Con hiểu rồi, vẫn là ông muốn ăn chặn người khác. Gặp việc, không tự mình quyết định được, muốn mượn thêm đôi mắt của người khác cho tinh tường. Nhưng con vẫn không hiểu, lão ấy đã không coi ông ra gì, nhưng sao vẫn cứ qua lại với ông nhỉ? Lão Dương: - Trong chu vi trăm dặm, tìm đâu ra người có thể nhìn được mười dặm, nhìn thấu một năm? Lão Mã cả đời cũng chẳng có bạn. Lại cảm thán: - Đời lão Mã không nên đánh xe ngựa. Bách Nghiệp: - Không đánh xe ngựa thì làm gì? Lão Dương: - Lão Giả mù thầy bói đã xem cho lão ấy, bảo đáng ra lão ấy phải là đám Trần Thắng, Ngô Quảng ấy, nhưng lão không có gan, trời vừa tối là đố dám ra khỏi nhà. Thực ra, cả đời lão ấy đánh xe ngựa, nhưng cũng chẳng đâu vào đâu. Đánh xe ngựa mà không dám đánh xe đi ban đêm, để lỡ biết bao nhiêu là việc! Rồi nổi giận: - Nhát như chuột nhắt mà dám coi thường tao à? Mẹ kiếp, có tao coi thường lão ấy thì có! Cả đời không coi tao là bạn à? Có mà tao không coi lão ấy là bạn thì có! Bách Nghiệp gật gù. Gã hiểu rằng, hai lão ấy phải là bạn của nhau suốt đời. Đã đến giờ ăn trưa. Hôm ấy là ngày Rằm tháng Tám, bữa trưa ăn bánh bột mỳ rán, canh rau hầm thịt. Bánh bột mỳ rán là món lão Dương khoái khẩu nhất. Nhưng hơn 60 tuổi, răng rụng quá nửa, không nhai nổi, phải có thêm món canh rau hầm thịt. Rau và thịt được đun lâu, rau nhừ, thịt cũng nhừ, nước canh nóng bỏng. Xé bánh thả vào nước rau hầm thịt, ngâm đến độ bánh vừa cho vào miệng là đã tan ra. Hồi lão Dương còn trẻ, vào dịp lễ tết đều ăn bánh bột mỳ rán. Nhưng sau khi lão bị liệt giường, chuyện có được ăn hay không, lão không quyết được. Vốn dĩ, Bách Nghiệp đã quyết định bữa trưa sẽ ăn món bánh bột mỳ rán và canh rau hầm thịt. Nhưng lão Dương lại tưởng vì vừa rồi mình nói thật, nên Bách Nghiệp mới cho ăn, coi như phần thưởng. Ăn một bữa bánh mà lão Dương mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Trong hơi nóng của bát canh rau hầm thịt, lão ngẩng mặt lên, cười lấy lòng cậu con cả, ý bảo: - Lần sau anh hỏi gì, bố cũng sẽ nói thật. Mời các bạn đón đọc Một Câu Chọi Vạn Câu của tác giả Lưu Chấn Vân.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Cánh Thư Chưa Khép (P. S. I Still Love You) - Jenny Han
Trong tập truyện này, cô gái nhỏ thứ hai nhà họ Song thực sự đã trưởng thành. Đó là lúc cô không đặt mình nặng nhẹ với bất kỳ ai nữa. Và là lúc cô hiểu rằng thời gian luôn chạy về phía trước. Những tình cảm của quá khứ rất đáng trân trọng, nhưng nó là để hồi tưởng, không phải là để sống mãi trong ấy. Chính hiện tại mới là một món quà cần trân trọng, con người ở hiện tại mới là người mình cần nắm lấy, và những tình cảm ở hiện tại mới là cái cần nỗ lực xây đắp nhất. Với Những cánh thư chưa khép, một lần nữa các tín đồ trung thành của Jenny Han sẽ không phải thất vọng về câu chuyện tình yêu, tình bạn mà cây bút này kể lại. Từ giọng văn tới "kịch bản" chuyện tình đều mang một nét đặc trưng của tác giả, điều khiến các tác phẩm của nữ văn sĩ gốc Hàn luôn là best-seller khi ra mắt. *** Lara Jean không kỳ vọng rằng mình sẽ thực sự thích Peter. Cô và Peter chỉ đang giả vờ thôi. Trừ việc là bỗng nhiên, họ… chẳng giả vờ nữa. Giờ thì Lara Jean bối rối hơn bao giờ hết. Khi một anh chàng khác từ quá khứ bỗng quay trở lại cuộc sống của cô, cảm xúc của Lara Jean dành cho cậu ta cũng quay lại. Liệu một cô gái có thể yêu hai chàng trai cùng lúc không? Tình yêu chẳng bao giờ là dễ dàng. Nhưng có lẽ đó là một phần lý do khiến tình yêu lại tuyệt vời đến thế. Những cánh thư chưa khép - tập tiếp theo của Những chàng trai năm ấy sẽ không khiến cho bạn thất vọng. Thứ nhất: Bạn sẽ yêu sự gắn bó gia đình rất mạnh mẽ mà tác giả Jenny Han "dệt" nên trong bộ sách hai tập này. Lara Jean rất thân thiết với chị gái Margot và em gái Kitty, cùng bố của họ. Mối quan hệ chị em này chính là điểm sáng của cuốn sách, mặc dù hơn nửa cuốn sách tập trung vào chuyện tình cảm của Lara Jean và Peter. Bạn sẽ thấy gia đình của Lara Jean mạnh mẽ ra sao, gắn kết và quan tâm đến nhau thế nào - điều mà ít cuốn sách tình cảm tuổi teen làm được. Thứ hai: Sự lãng mạn của Lara Jean và Peter - họ đang hẹn hò thực sự. Họ cũng có những lúc thăng trầm. Và câu chuyện của họ rất mang tính thời đại: có người đã quay video Lara Jean và Peter, và video đó lan truyền khắp trường. Việc tác giả Jenny Han thêm chi tiết này vào cuốn sách (và "làm to chuyện") khiến cho câu chuyện trở nên rất hiện đại và gần gũi, kể cả cách mọi người phản ứng theo kiểu "tiêu chuẩn đôi" trước chuyện này (Lara Jean là con gái nên "mang tiếng" hơn, trong khi Peter vì là con trai nên chẳng sao cả!). Rồi chàng trai thứ hai xuất hiện. Đó là một trong năm anh chàng mà Lara Jean đã gửi thư. Mà lúc này, Lara Jean lại đang ở giai đoạn "nhạy cảm". Tuy nhiên, điều tưởng như là một "chuyện tình tay ba" này sẽ không rắc rối và gây khó chịu theo kiểu nhân vật chính chẳng biết là mình yêu ai. Nó chỉ là một thứ gia vị cho câu chuyện dễ thương này mà thôi. Điều thứ ba mà bạn sẽ rất thích thú chính là sự phát triển trong mối quan hệ giữa Lara Jean và Peter. Họ rất ngọt ngào, đôi khi họ cùng là lửa, đôi khi họ cùng là băng. Họ học cách tin tưởng nhau trong khi họ làm tổn thương nhau. Họ học cách phải cẩn thận khi ở bên cạnh nhau trong khi họ quan tâm đến nhau. Lara Jean đã trưởng thành hơn rất nhiều trong tập sách này, và cuối cùng, cô ấy đã làm điều phù hợp cho mình. Điều thú vị thứ tư là cách tác giả Jenny Han viết về tình dục. Nhiều cuốn sách dành cho giới trẻ có đề cập đến tình dục. Nhưng Lara Jean chưa sẵn sàng cho việc này. Cô ấy nghĩ nhiều về điều đó, nhưng cô ấy biết là mình chưa sẵn sàng. Chi tiết này là một thông điệp hữu ích: Rằng chưa có quan hệ tình dục là chuyện rất bình thường, dù người khác nói gì đi nữa; rằng nói "không" với một chàng trai cũng là chuyện bình thường - nếu cậu ta đủ quan tâm, cậu ta sẽ đợi được. Kết luận lại, bạn sẽ thực sự, thực sự hài lòng với cuốn sách này. Có vừa đủ kịch tính, lãng mạn, gia đình, và những chủ đề chung khác về xã hội, khiến cho cuốn sách trở nên độc đáo và dễ đọc. Một lần nữa, tác giả Jenny Han lại chinh phục khán giả trẻ bằng tài năng xuất sắc của mình. Đến mức, kể cả những người không phải là fan của kiểu sách chic-lit, cũng sẽ coi đây là bộ sách ưa thích của họ. Thật đó! *** Tác giả trẻ Jenny Han sinh ngày 3-9-1980 tại Thành phố Richmond, bang Virginia- Hoa Kỳ. Là Tác giả trẻ sinh thuộc cung Xử Nữ, cầm tinh con (giáp) khỉ (Canh Thân 1980). Jenny Han xếp hạng nổi tiếng thứ 40448 trên thế giới và thứ 70 trong danh sách Tác giả trẻ nổi tiếng. Tổng dân số của Hoa Kỳ năm 1980 vào khoảng 227,224,681 người. Tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất như Để Tất cả The Boys Tôi đã Loved Trước và P.S. I Still Love You, người trước đó đã viết một bộ ba bao gồm các chức danh The Summer I Turned Pretty, Nó Không Summer Without You và chúng tôi sẽ luôn có mùa hè.  Bà đã làm việc với các nhà văn đồng Siobhan Vivian người mà cô đã gặp trong khi tham dự New Trường.   Cô sẽ tham dự Đại học Bắc Carolina trước khi thu Masters of Fine Arts của cô tại New School. cuốn tiểu thuyết đầu tay của cô được gọi là Shug. Mời các bạn đón đọc Những Cánh Thư Chưa Khép (P. S. I Still Love You) của tác giả Jenny Han
Tấm Ảnh Tình Yêu Và Một Câu Chuyện Khác - Ichikawa Takuji
"Về tình yêu thì tôi có kinh nghiệm đầy mình. Dĩ nhiên phải chú thích là tình yêu đơn phương thôi...   Không phải chỉ những mối tình đơm hoa kết trái mới có ý nghĩa. Tình đơn phương tự bản thân đã là một phần ngoại truyện hoàn mỹ trong cuộc đời." -  Tấm ảnh tình yêu và những câu chuyện khác *** Takuji Ichikawa sinh ngày mùng 7 tháng Mười năm 1962 tại Tokyo. Ông tốt nghiệp trường đại học Dokkyo. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, Separation, xuất bản năm 2002. Cuốn Em sẽ đến cùng cơn mưa (xuất bản tại Nhật với tên Ima Ainiyukimasu) in lần đầu năm 2003, là một trong những tiểu thuyết thành công nhất Nhật Bản, được chuyển thể thành truyện tranh, kịch, phim truyền hình ở Nhật và điện ảnh tại Mỹ. Một số tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt nam: Nơi em quay về có tôi đứng đợi Tôi vẫn nghe tiếng em thầm gọi Nếu gặp người ấy cho tôi gửi lời chào Em sẽ đến cùng cơn mưa Bàn tay cho em Tấm ảnh tình yêu và một câu chuyện khác ... Ichikawa Takuji là một trong những tác gia người Nhật thành công hiện nay, lối viết của ông đặc biệt tạo dấu ấn riêng nhờ tìm được hướng khai thác mới cho những đề tài quen thuộc. Sách của Ichikawa Takuji thiên về tình cảm nhẹ nhàng, nhưng thấm thía và bền vững, thường để lại nhớ thương lâu dài trong lòng người đọc. Độc giả Việt Nam biết đế cái tên Ichikawa Takuji qua hai cuốn tiểu thyết Em sẽ đến cùng cơn mưa và Nếu gặp người ấy cho tôi gửi lời chào. Vẫn giọng văn nhẹ nhàng pha chút hài hước, như thể một cậu bé mới lớn đang thủ thỉ kể chuyện, Ichikawa Takuji một lần nữa khắc họa bức tranh tình yêu và sự chia ly bằng những gam màu trong sáng và thuần khiết. Những tác phẩm của ông khiến tâm hồn người đọc trở nên tươi sáng hơn.   Mời các bạn đón đọc Tấm Ảnh Tình Yêu Và Một Câu Chuyện Khác của tác giả Ichikawa Takuji.
Tiếu Lâm Việt Nam - Cử Tạ
Truyện cười (còn gọi là truyện tiếu lâm) là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước... Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vô thức phát ra do phản ứng của cơ thể một cách đơn thuần. Trong khi, tiếng cười tâm lý xã hội biểu thị thái độ, bộc lộ tư tưởng, tình cảm con người. Tiếng cười tâm lý xã hội có hai loại nhỏ: tiếng cười tán thưởng và tiếng cười phê phán. Tiếu Lâm Việt Nam gồm có: 1. CHẾT VÌ CƯỜI 2. LÀNG SỢ VỢ 3. GIỐNG GIAN TỰU VỊ 4. CUA CẮP 5. GIÁ GẶP TAY TAO 6. PHẢI LÀM THEO 7. THÈM QUÁ 8. CHỒNG NÀO VỢ NẤY 9. TRA CÁN 10. ĂN MẤT RỒI 11. HÂN HẠNH 12. MỒ HÔI MỰC 13. CHỮ ĐIỀN 14. NGHE SAO LÀM VẬY 15. TÀI NÓI LÁO 16. ĐỒ PHẢN CHỦ 17. MÈO HOÀN MÈO 18. VỎ QUÝT DẦY MÓNG TAY NHỌN 19. TIỀN « ĐỒNG-MÔN » 20. QUÝT LÀM CAM CHỊU 21. TƯỚNG CÔNG KỴ BÀ LÃO 22. THIÊN SINH TỰ NHIÊN 23. CẮM CỔ XUỐNG, THÒ ĐẦU RA 24. TAM ĐẠI CON GÀ 25. CHẾT CÒN HƠN 26. CHẾT VẪN LƯỜI 27. CÂY BẤT 28. CÁ RÔ LÁCH NGƯỢC 29. THÀY ĐỒ ĂN VỤNG CHÈ 30. ĐƯỢC CẢ ĐƠN LẪN KÉP 31. ĐÊM KHUYA GÀ GÁY 32. NƯỚC MẮM HÂM 33. HÁN-VƯƠNG ĂN ỚT 34. THUA GÌ ĐƯỜNG HÁN 33. TỘI HÒA THƯỢNG 36. BUÔN VỊT TRỜI 37. HỌC GÌ NỮA 38. SỢ MA 39. GÌ CŨNG ĐƯỢC 40. TRỪ CHỒN 41. GỚM QUÁ 42. NHANH NHẢU ĐOẢNG 43. HẬU UYỂN 44. TRÊN DƯỚI 45. VỊT HAI CHÂN 46. PHÁT ĐIÊN 47. NGŨ PHÚC LÂM MÔN 48. TRỜI SINH THẾ 49. ẤY ĐI XEM 50. THƠ QUAN VÕ 51. ĐƯỜNG LÊN TRỜI 52. NGỦ VỚI AI 53. KIÊNG CỮ 54. THƠ CON CÓC 55. TÔI ĐÁNH CON CHA 56. MUA PHÂN 57. CÂY CỘT MỐI 58. THEO SAO KỊP 59. ĐÊM KHUYA GIÓ LẶNG… 60. TÔI LÀ AI ? 61. CAN CAN ĐAO THỔ… 62. NHƯ MẶT VUA 63. RỂ QUÍ 64. CÁI GÌ CỨNG NHẤT 65. RẮN VUÔNG 66. VỠ VÒ RƯỢU 67. BẮT VỀ CHO TRẺ CHƠI 68. XỎ GẶP XỎ 69. TUẦN TỰ 70. LẨY KIỀU 71. PHÊ ĐƠN 72. KHÔNG CƯỜI, CÓ ÔNG THÁNH !… 73. HỌC ĐI CÀY 74. CHỈ LIẾM THÔI 75. MUỐN CHẾT THÌ ĐÂY 76. HẾT HÁCH !!! 77. VÔ-ĐỊCH 78. ĐỂ ĐO ĐÃ 79. LÁI MỘT CHÚT 80. QUÁ CẨN THẬN 81. MỖI THỨ MỘT NỬA 82. CAN ĐẢM CHƯA ? 83. MÊ NGỦ 84. TRẮC NGHIỆM 85. LẮM THẦY NHIỀU MA 86. ĐỂ VÀO DĨA 87. NGÓN SỞ TRƯỜNG 88. THỰC TẾ 89. GÓP PHẦN 90. CẤP BỰC 91. CẢ ĐỜI NGƯỜI 92. GIỎI LẮM 93. BÍ MẬT NHÀ NGHỀ 94. ÁI TÌNH CAO THƯỢNG Mời các bạn đón đọc Tiếu Lâm Việt Nam của tác giả Cử Tạ​​​​​​​.
Chết Chịu
Thật không dễ bắt đầu với Chết chịu khi thực và mơ đan xen lẫn lộn, khi vô số dấu ba chấm xuất hiện liên tiếp giữa các câu ngắn, gây cảm giác cực kỳ khó chịu. Nhưng một khi đã vượt qua nỗi khó ở ấy thì ta không còn muốn ngừng lại chuyến đi cùng Ferdinand tới khắp các xó xỉnh tối tăm của Paris và Luân Đôn trong tuổi thơ của mình. Ngay từ tác phẩm đầu tiên, Céline nghiễm nhiên đứng vào hàng ngũ những nhà canh tân lớn của văn chương Pháp thế kỷ XX khi đưa ngôn ngữ bình dân vào văn chương đồng thời phá vỡ mọi quy tắc cú pháp truyền thống. Đọc Céline cũng như đang thưởng thức một tách trà nóng bỏng rẫy, ta hãy nhấp từng ngụm để cảm, để thẩm và để thấu… một câu chuyện không đầu không cuối… một bước sa bùn lầy và bạo lực… một tiếng kêu hận thù và tuyệt vọng… một Paris đầu thế kỷ XX đầy biến động trước những tiến bộ khoa học… và một cái chết rất đỗi từ từ của những người buôn bán nhỏ buộc phải thu mình để tồn tại. *** Chết chịu và Hành trình đến tận cùng đêm tối có nhiều điểm chung mà phần lớn độc giả coi Chết chịu là phần tiếp theo của Hành trình. Nếu Hành trình mở đầu bằng việc nhập ngũ tham gia Thế chiến thứ nhất của Ferdinand Bardamu, lần theo nhân vật chính qua những cuộc phiêu lưu ở châu Phi, Mỹ, cuối cùng là cuộc hồi hương về làm bác sĩ ở Paris, thì Chết chịu gần như tiếp nối câu chuyện với nhân vật Ferdinand giờ đây cũng là bác sĩ ở những khu ổ chuột của kinh đô ánh sáng, là cựu quân nhân có vết thương ở đầu sau khi tham gia Thế chiến khiến anh lúc nào cũng gặp hoang tưởng. Tuy nhiên sau đoạn mở đầu giới thiệu nhân vật chính, với rất nhiều nhảy cóc về thời gian đi phiêu lưu về các miền ký ức khác nhau, Chết chịu sau đó phần lớn tập trung vào tuổi ấu thơ của nhân vật Ferdinand ở Paris vào cái thời được gọi là Belle Époque - Thời kỳ tươi đẹp. Căn cứ vào những yếu tố tự thuật đậm đặc, độc giả rất dễ nhận thấy vị bác sĩ Louis Ferdinand Auguste Destouches (tên thật của Céline) đã rút tỉa từ cuộc sống thực của chính mình để đổ ụp vào văn chương. Trong khi đó, Ferdinand của Chết chịu là một nhà văn với rất nhiều tiểu thuyết được xuất bản, thậm chí một nhân vật trong truyện còn đọc cả tác phẩm Hành trình. Vì thế, rốt cuộc có thể nói, Ferdinand là phân thân của tác giả, lần lượt xuất hiện làm nhân vật trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông.   Bởi thế mà dịch giả Ralph Manheim lừng danh, người đã chuyển ngữ Chết chịu sang tiếng Anh, coi nó chỉ là tiểu thuyết trên danh nghĩa, đúng hơn phải gọi nó là “những tự thú được sáng tạo”. Céline đã lấy nhiều chi tiết trong ấu thơ của mình đưa thẳng vào tiểu thuyết: một gia đình nghèo đói nợ nần luôn ngấp nghé bờ vực phá sản với một bà mẹ buôn bán đồ đăng ten trong một cửa hàng nhỏ ở một ngõ nhỏ Paris, với ông bố làm cho công ty bán bảo hiểm. Từ những dữ liệu tự thuật ấy, Céline, bằng bàn tay của một phù thủy ngôn ngữ, đã dựng nên một thế giới tuổi thơ dữ dội đầy bạo lực, ở cái ngõ Bérésinas những năm đầu thế kỷ 20, “chốn tù đọng hôi thối không thể tưởng tượng nổi. Đây là nơi được tạo ra cho người ta chết từ từ nhưng chắc chắn, giữa cứt đái của người và của chó, những bãi khạc nhổ và khí gas rò”. Hơn 600 trang sách khổ lớn không phân chia chương hồi, nhưng theo các nhà phê bình, Chết chịu có thể được phân thành 8 phần nhỏ: Phần mở đầu giới thiệu Ferdinand của hiện tại, một bác sĩ kiêm văn sĩ, chuyên khám bệnh không công cho người nghèo, khinh bỉ họ cùng cực, gần như điên loạn vì liên tục nghe thấy đủ loại tạp âm trong đầu. Phần về cuộc sống của Ferdinand lúc còn nhỏ cho đến khi tốt nghiệp tiểu học, quãng 1905, lúc cậu bé tầm 11 tuổi, thường xuyên bị rủa xả và đánh đập trong một gia đình luôn phải chạy đôn chạy đáo kiếm miếng ăn độ nhật. Giai đoạn vào đời với việc chạy chọt kiếm việc, mà phần lớn là chạy việc vặt không công ở cửa hiệu bán ruy băng trang trí và cửa hiệu nạm kim hoàn rồi nhanh chóng bị sa thải. Sang Anh học nội trú ở Trường Meanwell College hơn nửa năm, rồi trường đóng cửa. Quay lại Paris nỗ lực săn việc nhưng lông bông là chính, mâu thuẫn và đánh nhau với bố. Tìm được việc làm trợ lý cho nhà sáng chế Courtial des Pereires ở tòa báo Génitron cho đến khi tòa báo đóng cửa. Đi về vùng ngoại ô Paris cùng nhà sáng chế và vợ của ông. Tham gia dự án ứng dụng khoa học vào nông nghiệp và thất bại thảm hại. Cuối cùng, quay trở lại Paris một mình, tuyệt vọng và quyết định nhập ngũ, vào khoảng năm 1911. Vào cái thời kỳ được coi là đỉnh cao của văn chương, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật ấy ở châu Âu, cuộc sống của Ferdinand hiện lên đầy những túng bấn, bạo lực, tệ nạn, cùng quẫn với những chiếc hoa tai và đồng hồ thường xuyên đi ra tiệm cầm đồ, những bữa ăn lúc có lúc không, những phi vụ buôn bán thường xuyên thất bại của người mẹ tàn tật khi các ngành tiểu thương rơi vào chỗ lụn bại vì lỗi thời, với ông bố chật vật với tiến bộ thời đại, cụ thể ở đây là máy đánh chữ, với ông - nhà sáng chế tin vào khí cầu để rồi sự ra đời của máy bay là chấm dứt cho sự nghiệp của ông. Tất cả đều bị tiến bộ thời đại đè bẹp và đào thải, đẩy một tầng lớp người bị kẹt lại trong kiệt quệ.   Những tưởng câu chuyện như vậy thì văn chương của Céline sẽ nằm gọn đẹp trong trường phái hiện thực tố cáo xã hội (ông là nhà văn yêu thích của phe cánh tả). Nhưng không. Với quan niệm “Tôi không phải là con người của thông điệp, tôi không phải là con người của ý tưởng, tôi là con người của phong cách”, Céline đã đẩy Chết chịu lên đỉnh cao bằng phong cách viết độc nhất vô nhị, một lối viết hiện đại hóa cả nền văn học Pháp. Với ông, “Khởi đầu là cảm xúc, nơi động từ hoàn toàn vắng mặt”, ông viết để chuyển tải cảm xúc, chứ không phải hiện thực. Và đó là thứ cảm xúc quẫn bách, tuyệt vọng, hoảng loạn không lối thoát, một sự hư vô và chán ghét đời sống đến cùng cực. Vào thời kỳ hoàng kim ở Paris, trong những ngõ nhỏ đó, những số phận trả góp cuộc đời mình để nhận phần thưởng cuối cùng là cái chết. Céline viết bằng một thứ sinh ngữ quẫy đạp, gồm những từ ngữ thô kệch sống sít của đường phố, từ lóng của đủ mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là lớp người dưới đáy, những câu chửi thề, những từ vựng mô tả các hoạt động tính giao... Ông sáng chế một loạt từ vựng mới mà ông tự hào coi là cách mạng trong văn chương. Đặt mình sánh ngang các họa sĩ của chủ nghĩa Ấn tượng hay các nhạc sĩ vĩ đại, những người tạo ra khác biệt lớn bằng việc khuấy đảo màu sắc và âm thanh, Céline xáo đổi trật tự ngôn từ, lén đẩy ngôn ngữ nói vào ngôn ngữ viết. Viết là để cho ngôn ngữ sống, bởi ngôn ngữ chết rất nhanh, và bởi thế, ông ban sự sống cho ngôn ngữ bằng cách cho nó sống khi ông sử dụng nó. Con người của phong cách ấy còn thể hiện mình rõ qua những biện pháp lộng ngôn đến kệch cỡm, biến Chết chịu thành tiểu thuyết bợm nghịch đầy chất uy mua (humour), sánh vai cùng bậc thầy François Rabelais, thậm chí ông còn được coi là người mở đầu cho thể loại hài hước đen (humour noir trong tiếng Pháp). Ranh giới giữa hiện thực và hoang tưởng trong tác phẩm luôn bị làm mờ. Biện pháp lộng ngôn còn được hỗ trợ nhờ các mô típ lặp đi lặp lại về bạo lực mà Ferdinand phải chịu đựng trong gia đình. Các nghịch cảnh bi đát trong Chết chịu (lẫn Hành trình), vì thế, đều được ông viết bằng một thứ văn chương hài hước đến lố bịch. ----------------------------------------------- Điểm đặc biệt nhất về phong cách văn chương của Chết chịu có lẽ nằm ở dấu ba chấm. Đã xuất hiện tương đối nhiều ở tiểu thuyết đầu tay, nhưng đến Chết chịu thì dấu ba chấm mới thực sự trở thành một hình thức cách tân táo bạo. Céline coi dấu ba chấm là tối cần thiết, ông đổ vào tiểu thuyết hơn hai mươi nghìn dấu ba chấm. Tác dụng của nó thì vô cùng: để mô phỏng sự trôi chảy liên tục của ngôn ngữ nói và của ý nghĩ, để tạo nên sự gián đoạn, nhưng đồng thời lại thúc đẩy mạch văn, những dấu ba chấm kích thích độc giả theo đuổi mạch văn như một dòng ý thức, thu hút trọn sự chú ý của người đọc. *** Về #Céline – tác giả #CHẾT_CHỊU - Céline hay Louis-Ferdinand Céline là bút danh của Louis Ferdinand Auguste Destouches (1894-1961). - Céline vốn học ngành y và từng hành nghề bác sĩ trong một thời gian. - Céline là nhà văn Pháp có tác phẩm được dịch và phát hành nhiều nhất thế giới trong thế kỷ 20, chỉ sau Marcel Proust – tác giả bộ sách ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT. - Năm 1939, Céline và nhà xuất bản Denoël bị kết tội vu khống, sau khi xuất bản tác phẩm có tên là l'École des cadavres (Tạm dịch: Trường học xác người). Ở đó, có ba trên bốn bài văn đả kích được Céline viết mang đậm tư tưởng bài Do Thái. Công khai các ý tưởng cực hữu, những bài viết này là một chuỗi đả kích nhằm chống lại một thế giới nơi người Do Thái điều hành và khai thác. Ông tỏ rõ thái độ đồng minh với Đức quốc xã và tự coi mình là người cộng tác với phe Quốc xã. Tiểu thuyết đầu tay Hành trình đến tận cùng đêm tối (Voyage au bout de la nuit, 1932/Journey to the End of the Night) ngay lập tức đưa ông lên vị trí ngôi sao trong văn đàn, đến nay vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thế kỷ 20.   Ấy vậy mà kỷ niệm 50 năm ngày mất của ông, năm 2011, người ta tuyên bố tên ông không nằm trong danh sách 500 Biểu tượng văn hóa Pháp. Trong câu cửa miệng của người Pháp, ông được gọi là “một thiên tài và một thằng vô lại”. Ông ủng hộ chủ nghĩa phát xít nhiệt thành và là người bài Do Thái triệt để. Nhưng cũng chính ông, trong bữa ăn tối ở Đại sứ quán Đức tại Paris vào tháng 2-1944, đã khăng khăng khẳng định trước mọi quan khách rằng Hitler thật thực ra đã chết và lãnh tụ của Đức quốc xã hiện nay là một Hitler giả do một người Do Thái đóng thế. Mời các bạn đón đọc Chết Chịu của tác giả Louis Ferdinand Céline.