Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tội Ác Của Sylvestre Bonnard

Sylvestre Bonnard, một học giả già lỗi lạc đang gặp các vấn đề bất ngờ khi ông bắt tay vào tìm kiếm một vài tài liệu văn học cổ xưa của Giáo Hội để mang từ Paris đến Sicily và ghi dấu vào lịch sử cuộc đời của chính mình. Vì lợi ích của công lý và tình yêu, ông cố gắng hoàn thành công việc sao cho tốt nhất nhất là tính hợp pháp nghi ngờ. Với "Tội phạm của Sylvestre Bonnard", Anatole France (1844-1924) đã viết một cuốn tiểu thuyết vừa thông minh và khôn ngoan và theo cách thức của các bậc thầy vĩ đại của phong cách văn học - một cuốn sách đầy đủ lẫn hồi hộp từ đầu đến cuối. *** Một câu chuyện cảm động và kết thúc đẹp như mong ước, một cái kết gần giống như kết của 'Những người khốn khổ' (Les Miserables), với một đôi trẻ hạnh phúc, nhưng không kém phần hồi hộp khiến ta phải lo âu theo dõi. Sylvestre Bonnard, người kể chuyện, một ông lão tuổi ngoài 60 sống tại Paris, nước Pháp nửa sau thế kỷ XIX, sống cuộc sống độc thân giản nhị nhưng không quá túng thiếu với Thérèse người quản gia cũng già đã phục vụ ông qua mấy chục năm. Một con người khá cô độc nhưng không ghét loài người, sống bình lặng với người quản gia, con mèo, cùng công việc yêu thích là nghiên cứu các văn bản cổ, và dịu dàng, nhân ái với mọi người. Phần 1 - 'Khúc củi' với diễn biến về sau khá bất ngờ, khi ông theo đuổi một bản thảo cổ từ Ý trở lại Paris, trong quá trình đó gặp một người phụ nữ bí ẩn, và cuối cùng bản thảo bị người phụ nữ bí ẩn trả giá cao trong cuộc bán đấu giá. Người phụ nữ, hóa ra từng là vợ của một người nghèo khổ sống cùng tòa nhà với ông, nay đã là mệnh phụ, sẵn lòng mua bản thảo với giá cao để đáp lại ân tình của Bonnard khi trước. Một kết thúc theo kiểu gieo nhân nào gặp quả nấy. Phần 2 - 'Tiểu thư Jeanne Alexandre' là sự quyến luyến của ông lão Bonnard đối với Jeanne, cô bé là cháu gái của Clementine, người con gái mà ngày còn trẻ ông mến mộ. Do phá sản, bố mẹ cô khi mất đã để Jeanne bơ vơ giữa đời phải sống trong một trường nội trú với những điều kiện khắc nghiệt và người giám hộ không được tử tế. Nhờ danh vị thành viên Học viện mà Bonnard được cô Préfère nể trọng đón tiếp tử tế và cuộc sống của Jeanne đỡ khổ ải hơn. Nhưng khúc quanh của câu chuyện khá bất ngờ khi cô cấm ông Bonnard không được đến thăm Jeanne tại trường và cô bé lại tiếp tục chịu cuộc sống hà khắc dưới quyền cô. Người đọc hồi hộp theo dõi liệu ông lão Bonnard có thể phạm tội ác gì (theo hướng chống lại cô Préfère) nhằm giành giật lại cô bé mà ông yêu quý và muốn bù đắp cho. Kết cục, như ta đã biết là tốt đẹp, và cô bé Jeanne cũng đã có hạnh phúc lứa đôi với chàng công chức cùng nghề với Bonnard, khi còn là sinh viên đã tìm đến ông để trao đổi về học thuật. Trong Phần 2 này những trao đổi giữa ông lão Bonnard và chàng sinh viên Gélis về lịch sử (trang 224 - 225 - 226, Bản dịch của Nguyễn Xuân Phương, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, tháng 4.2001) là khá thú vị, hay trao đổi giữa Bonnard và cô Thèrése về giáo dục (trang 156) đến bây giờ vẫn hoàn toàn đúng đắn. Cũng ở Phần 2 này theo lời kể của Bonnard ta cũng thấy nước Pháp những năm 1800 vẫn còn chia rẽ khá sâu sắc giữa những người ủng hộ Napoleon (những kẻ cướp vùng Loire) và những người bảo hoàng Bourbons. - Con người (mặc giáp sắt thời Trung cổ) được bọc sắt như con bọ hung. Sự yếu đuối của họ là ở bên trong. (trang 18) - hãy đối xử rộng lượng với đồng loại để họ rộng lượng với chúng ta (trang21) - Người nghèo không tham vọng là có món tài sản vĩ đại nhất, hắn tự kiềm chế được mình, còn người giàu mà thèm muốn thì chỉ là một tên nô lệ khốn khổ (trang 22). - cái thú chuyện trò với một trí tuệ ưu việt và ôn hòa, cái thú ăn tối với một anh bạn thân (trang 22) - những thèm muốn thuở hoa niên là ghê gớm biết bao nhiêu (trang 22) - chúng cháu (tuy là người lớn) mãi mãi là trẻ con, chúng cháu không ngừng đuổi theo những đồ chơi mới lạ (trang 28) - người thiếu phụ ấy không trở nên xấu cũng không trở nên tốt. Hãy đợi chị ta kết thúc cuộc đời mới nên phán xét (trang 29) - điệu bộ bạo dạn ở những kẻ nhát gan (trang 37) - với ba xu, tôi có thể ăn, uống và rửa mặt tất tần tật với một lát dưa hấu bày trên chiếc bàn con (trang 38) - Phải thương xót họ: của cải vây quanh lấy họ mà không thấm thấu vào họ; họ đáng thương, nội tâm cùng quẫn. Sự khốn khổ của người giàu thật thê thảm. (trang 43) - Những người yêu tha thiết không viết về hạnh phúc của mình (trang 45) - người ta có học được đôi điều qua sách vở, nhưng người ta càng học tập được nhiều hơn khi đi đây đi đó. (trang 47) - những nỗi buồn, đó là một cách tiêu khiển quan trọng. (trang 51) - người mà ta yêu thương mãi mãi chỉ là một hình bóng, nhưng kỷ niệm về nàng mãi mãi là niềm mê say của đời ta. (trang 76) - con người chỉ làm chủ thời gian khi chia no ra thành giờ, thành phút, thành giây, nghĩa là thành những khoảng cách cân đối với đời người ngắn ngủi, bởi vì thời gian chính là cuộc đời. (trang 81) - đối với phái yếu, mọi việc đều đượcphép, mọi hành động của họ là đặc ân, là sủng ái. (trang 90) - Có trí thức chẳng là gì hết, tưởng tượng sáng tạo mới quan trọng. Chỉ cái gì người ta suy nghĩ sáng tạo ra mới tồn tại. (trang 91) - Nhân loại hầu như toàn là người chết. So với số người đã chết thì người còn sống chẳng là bao nhiêu. Cuộc đời này là gì, ngắn ngủi hơn trí nhớ, ngắn ngủi hơn con người. (trang 100) - cuộc đừi là vĩnh hằng, ta phải yêu quý nó trong những hình thái không ngừng đổi mới (trang 100-101) -điếc như bao than, chậm chạp như tổ chức tư pháp. (trang 108) - Hãy trù liệu cho những việc lớn, nên biết rằng ý định là thực tế duy nhất trên đời. (trang 109) - Hãy coi trọng vỏ bánh mì khô trong chiếc đãy hai túi của anh hơn những chim sẻ vườn được quay trong bếp của lãnh chúa. (trang 110) - Tất cả chúng ta đều có trong người một Don Quixote và một Sancho mà chúng ta nghe theo, và cả đang khi Sancho thuyết phục chúng ta thì chính là Don Quixote mà chúng ta phải khâm phục. (trang 110) - Thời gian chỉ êm dịu đối với những ai khoan thai thận trọng đón nhận nó. (trang 112) - thực tế vũ trụ là phản ảnh của tâm hồn chúng ta. (trang 113) - Goethe ví đại có sức sống lạ thường, thực sự tin rằng người ta chỉ chết khi người ta muốn, nghĩa là khi tất cả sức mạnh chống lại sự phân hủy cuối cùng, khi toàn bộ khí lực làm nên sự sống bị hủy diệt đến tận cùng. Nói cách khác, ông nghĩ rằng người ta chỉ chết khi khôn muốn sống nữa. (trang 141-142) - tôi vẫn thích sự đam mê điên rồ hơn sự đứng đắn dửng dưng. (trang 144) - một thằng ngu, không phải bằng ba chữ mà đúng là bằng mười hai tập. (trang 147) - Những kẻ không có nhược điểm thì thật ghê gớm; không ai tác động đến họ được. (trang 150) - điều thực sự xấu xa trong thời đại chúng ta là khôn ai bằng lòng địa vị của mình, trong xã hội, trong mọi tầng lớp, từ trên xuống dưới, bao trùm sự túng thiếu, nỗi khắc khoải lo âu, sự khát khao hạnh phúc. (trang 153) - Không có thời đại nào con người lại thèm muốn sự túng thiếu. Họ luôn luôn tìm cách cải thiện địa vị xã hội của mình. Sự cố gắng kiên trì này đã sản sinh ra những cuộc cách mạng trường kỳ. Nó tiếp tục, thế thôi. (trang 153) - nghệ thuật giảng dạy chỉ là nghệ thuật kích thích tính tò mò ham biết của những tâm hồn non trẻ, tiếp đó là thỏa mãn tính tò mò ham biết đó, và tính tò mò ham biết chỉ mãnh liệt và lành mạnh trong những đầu óc sung sướng. Dùn quyền lực nhồi nhét kiến thức vào những đầu óc thông minh là bịt chúng lại, bóp nghẹ chúng. Trí thức phải được nuốt vào một cách ngon lành thì mới tiêu hóa được. (trang 155-156) *** Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm 1844 – 13 tháng 10 năm 1924) sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas. Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học).   Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”…   A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.     Tác phẩm chính:   - Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, 1881), tiểu thuyết.   - Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký.   - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, 1894), tiểu thuyết.   - Vườn Epicure (Le jardin d'Epicure, 1894), tập cách ngôn.   - Lịch sử hiện đại (L'histoire contemporaine), gồm 4 tiểu thuyết:    + Cây du trên đường dạo chơi (L'orme du mail, 1897)   + Hình người bằng cây liễu (Le mannquin d'osier, 1897)   + Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'anneau d'amethyste, 1899)   + Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)   - Hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, 1912), tiểu thuyết   - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, 1914), tiểu thuyết.     Những tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:     - Quyển truyện của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Vũ Thị Hay và Lê Ngọc Trụ dịch, Trung tâm Học liệu xuất bản, 1962, tái bản 1972   - Sách của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Hướng Minh dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, 1988, tái bản 2009.   - Đảo Panhgoanh (L'Île des Pingouins tiểu thuyết), Nguyễn Văn Thường dịch, NXB Văn Học, 1982.   - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, tiểu thuyết), Đoàn Phú Tứ dịch, NXB Văn Học, 1987.   - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, tiểu thuyết), Nguyễn Trọng Định dịch, NXB Phụ Nữ, 1989.   - Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, tiểu thuyết), Trần Mai Châu dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1990.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1996.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.   - Thais-Vũ nữ thoát tục, (Thaïs, tiểu thuyết), Hoàng Minh Thức dịch, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1989.   - Mối tình người thợ gốm, (tập truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội 1987. ***  Tôi xỏ chân vào giày vải, khoác lại áo mặc trong nhà rồi lau giọt nước mắt do cơn gió bấc thổi ngoài bến tàu làm cho tôi tối tăm mặt mũi. Lửa rực sáng trong lò sưởi phòng làm việc của tôi. Những tinh thể băng tuyết hình lá dương xỉ phủ đầy bên ngoài mặt kính các cửa sổ, che lấp con sông Seine, các cây cầu và cung điện Louvre des Valois.   Tôi đẩy ghế bành và bàn di động đến gần lò sưởi chiếm lấy chỗ của chú mèo Hamilcar. Nó nằm khoanh tròn trên chiếc ghế lông, bốn chân ôm lấy mũi, ở đầu các thanh gác củi. Một làn gió đều đều phe phẩy bộ lông dày và nhẹ của nó. Thấy tôi đến gần, nó hé hai hàng mi, đưa cặp mắt mã não ra nhìn dịu dàng rồi nhắm lại ngay, nghĩ rằng: “Không hề gì, đó là bạn ta.” “Hamilcar!”. Tôi vừa kéo chân vừa gọi nó – “Hamilcar, ông hoàng ngủ gà của khu nhà sách, người canh gác ban đêm ơi! Mày chống lũ gặm nhấm hèn hạ, bảo vệ những bản thảo và ấn phẩm mà nhà bác học già nua đã mua với số tiền dành dụm ít ỏi là lòng nhiệt thành không mệt mỏi. Hamilcar, trong chốn thư viện im lặng này được các đức tính nhà binh của mày bảo vệ, mày hãy ngủ ung dung đài các như một bà hoàng! Bời vì ở mày hội tụ được dáng vóc tuyệt vời của một quân nhân Hung Nô với vẻ yêu kiều của một phụ nữ phương Đông. Hỡi chú Hamilcar anh hùng và thích khoái lạc, hãy vừa ngủ vừa chờ cơ hội lũ chuột nhảy múa dưới ánh trăng, trước giáo đường của nhà thông thái giáo phái Bông-lăng”.   Lời mở đầu bài diễn văn này làm vui lòng con Hamilcar, nó phụ theo bằng một tiếng khò khò trong họng như tiếng reo trong ấm nước sôi. Nhưng khi tôi cất cao lời nói, con Hamilcar cụp tai xuống, nhăn cái trán vằn, có ý cảnh cáo tôi nói năng cầu kỳ hoa mỹ như vậy là nghe chướng và nó nghĩ:   “Con người sách vở này nói năng chẳng đâu vào đâu, còn bà quản gia thì bao giờ cũng chỉ tuôn ra những lời lẽ đầy ý nghĩa, chứa đựng sự việc, hoặc báo tin một bữa ăn hoặc một trận đòn. Người ta biết chắc điều gì bà nói. Còn ông già này ghép lại những âm chẳng có ý nghĩa gì hết”.   Con Hamilcar nghĩ như vậy đó. Để mặc cho nó suy tư, tôi mở một cuốn sách và chăm chú đọc. Đó là cuốn danh mục các bản thảo. Tôi thấy không có gì dễ dàng hơn, thú vị hơn, êm đềm hơn bằng đọc một cuốn danh mục. Cuốn danh mục tôi đọc, do ông Thompson, cán bộ thư viện của ngài Thomas Raleigh, soạn thảo vào năm 1824 là cuốn sách hỏng, đúng thế, vì sự vắn tắt quá đáng và không thể hiện chút nào thứ chính xác mà các nhà lưu trữ thế hệ tôi đầu tiên đưa vào các tác phẩm về ngoại giao và về khoa chữ cổ. Nó chưa hoàn hảo, phái đoán mò. Có lẽ vì thế mà khi đọc nó, theo một bản tính tưởng tượng phong phú hơn bản tính của mình, tôi có cái cảm giác đáng được gọi là sự mơ mộng. Tôi lâng lâng thả mình trong dòng suy tư lơ mơ thì chị quản gia bằng một giọng cáu kỉnh bảo tôi biết có ông Coccoz yêu cầu nói chuyện với tôi.   Quả nhiên, một người nào đó lặng lẽ theo chị đi vào thư viện. Đó là một con người bé nhỏ, một con người bé nhỏ thảm hại, vẻ mặt ốm yếu, mặc chiếc áo mỏng dài đến đầu gối. Anh tiến về phía tôi, cúi chào mỉm cười nhiều lần, một cách tự tin. Anh rất đỗi xanh xao, tuy còn trẻ và nhanh nhẹn, nhưng hình như đang ốm. Nhìn anh, tôi nghĩ tới một con sóc bị thương. Anh cầm trong tay một mảnh vải bọc hàng màu xanh, đặt lên ghế, rồi mở bốn đầu mối của mảnh vải, để lộ một lô sách màu vàng.   - Thưa ông – lúc ấy anh cất tiếng – tôi không có hân hạnh được ông quen biết. Thưa ông, tôi là người môi giới cho hiệu sách. Tôi làm việc này cho các nhà buôn chính ở thủ đô, và với hy vọng rằng ông vui lòng cho tôi được hết sức tự hào về sự tin cậy của ông, tôi xin tự tiện mời ông một vài cuốn sách mới.   Trời đất ơi! Sách mới gì mà con người Coccoz nhỏ bé này mời tôi mua thế. Tập thứ nhất anh ta đặt vào tay tôi là cuốn Lịch sử tháp chiến Nesle với những chuyện dan díu giữa Margurite de Bourgogne và đại tá Buridan.   - Đó là cuốn sách lịch sử. – Anh vừa cười vừa bảo tôi. – Một cuốn sách đích thực.   - Trong trường hợp này – tôi đáp – thì chán lắm, bởi vì những cuốn sách lịch sử mà không nói láo thì đều buồn thiu buồn thỉu. Chính tôi đã viết những sách xác thực kia và nếu chẳng may cho anh, anh đi từ nhà này sang nhà khác giới thiệu cuốn nào, anh sẽ có nguy cơ suốt đời giữ nó lại trong cái bọc vải xanh của anh, không bao giờ tìm ra một chị cấp dưỡng nào khá kém chín chắn mua cho anh.   - Thưa ông, tất nhiên – Con người nhỏ bé đáp lại hoàn toàn chiều theo ý tôi.   Và vừa cười, anh ta đưa cho tôi cuốn Những chuyện dan díu của Héloise và Abeilard, nhưng tôi làm cho anh hiểu ngay rằng ở tuổi tôi, tôi chẳng làm gì với một chuyện tình.   Vẫn nụ cười trên môi, anh đề nghị tôi mua cuốn Luật về trò chơi đông người bài pikê, bài béji, bài các tê, bài uýt, bài súc sắc, bài con đam, cờ tướng.   - Chao ơi! – Tôi bảo anh ta – nếu anh muốn tôi nhớ lại luật chơi bài béji, anh hãy trả lại ông bạn già Bignan của tôi đã cùng tôi chơi bài mỗi buổi chiều, trước lúc ông ấy được năm viện hàn lâm long trọng đưa đến nghĩa địa, hoặc anh hãy làm xẹp sự thông minh trang trọng của con Hamilcar mà anh thấy nằm ngủ trên chiếc gối này, đối với chuyện phù phiếm về các trò chơi của con người, vì ngày nay, nó là người bạn duy nhất trong các buổi tối của tôi.   Nụ cười của con người nhỏ bé trở nên mơ hồ và hốt hoảng.   - Đây – anh bảo tôi – một tập mới xuất bản về các trò giải trí đông người, những câu pha trò, những trò chơi chữ, với những cách đổi một hoa hồng đỏ thành hoa hồng trắng.   Tôi bảo anh rằng từ lâu tôi đã rối lên với những hoa hồng, còn đối với những câu pha trò thì tôi chỉ cần những câu nào tôi được phép dùng một cách tự nhiên trong quá trình tiến hành các công việc khoa học.   Con người bé nhỏ lại đưa cho tôi cuốn sách cuối cùng với nụ cười lần chót. Anh nói:   - Đây là Sách giải mộng, giải thích tất cả mọi giấc mộng của người đời: mộng được vàng, mộng thấy mình là kẻ trộm, mộng thấy mình chết, mộng thấy từ trên cao trơi xuống… Đủ cả!   Tôi cầm cái gắp than, vung mạnh và trả lời ông khách luôn:   - Đúng, anh bạn ạ, nhưng những giấc mơ đó và muôn nghìn giấc mơ khác, vui có, buồn có, tóm lại chỉ là một mà thôi, đó là giấc mộng cuộc đời, và cuốn sách bìa vàng nhỏ của anh có cho tôi cái chìa khóa để giải giấc mộng đó không? Mời các bạn đón đọc Tội Ác Của Sylvestre Bonnard của tác giả Anatole France.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bến Bờ
Bến bờ là câu chuyên tình nhuốm máu bi tráng của Điền, công an điều tra và Khanh, cô diễn viên xinh đẹp. Cao trào của tiểu thuyết diễn ra khi Khanh suýt bị gã đàn ông con riêng của mẹ kế cưỡng bức. Còn Điền bị ông Hói, thủ trưởng trực tiếp của anh, lộ mặt đê hèn, lợi dụng cơ hội hạ nhục anh. Điền và Khanh sẽ phản ứng và tiếp tục sống ra sao sau những cay đắng ấy? Tâm hồn cao thượng và lòng quả cảm có giúp anh đứng vững và đối mặt với cái ác hiển hiện trong cuộc sống? *** Mưa buông hạt từ lúc con tầu khởi hành. Những hạt mưa cuối thu hiền lành, nhỏ li ti, không trọng lực, bay lơ lửng, kết tụ như bụi, như ở bên kia xứ sở, ở bên ngoài cảm giác. Chúng chỉ hiện diện mỗi khi con tầu tăng tốc độ, hắt số nước tích đọng trên mui sang hai bên, thành những làn nước mỏng tanh; và dựa vào đà chạy của con tàu, chúng quay đảo, đè rạp đám cỏ dại cùng lau lách mọc ở hai bên lề đường. Không gì hắt hiu hơn là những bông lau trắng xám, chúng tự nở hoa, tự bạc đầu. Quẫy động trong luồng gió con tầu tạo ra, những bông lau tỏa ra bóng đêm sớm hơn những ngày thông lệ. Xuất phát từ lúc sáu giờ chiều ở một ga nhỏ biên giới, con tầu cảm nhận ngay được thân phận lẻ loi trên dặm đường xa. Nó hú còi liên tục và dàn bánh xe guồng rối rít tít mù như trốn chạy khỏi ám ảnh của một cuộc đuổi bắt hãi hùng. Nó làm dậy lên cuộc sống hoang dã hai bên đường. Hai bên đường thuần núi đất và rừng cây gỗ tạp chợt như được đánh thức và lập tức náo loạn lên với những tiếng gào thét, rên rỉ hoặc khoái trá của loài rắn rết, lũ côn trùng đang bắt đầu vào cuộc sát hại lẫn nhau hoặc cặp díp nhau, giẫy lên đành đạch vì lạc thú điên rồ khi trời sửa soạn vào phần đêm. Náo động từ hai bên đường, ở trong con tầu. Bao giờ cũng vậy, lộn xộn, hỗn loạn là trạng thái thường tình của con tầu ở mấy ga đầu. Người lên tầu còn chưa ổn định được chỗ ngồi, lại bỡ ngỡ trước môi trường mới. Dọc theo các lối đi xẻ giữa hay ở bên cạnh toa, nầm nập khách ngược xuôi đi lại và chỉ cần một người dừng chân để ngó nghé, hỏi han gì đó là đủ gây nên cảnh ùn tắc và ngay tức khắc ồn lên những lời mắng mỏ tức tối rồi. Cảnh sát dã chiến và người nhà tầu vung vẩy cây đèn pin hoặc đèn hiệu trong hộp kính mầu, nổi bật như các hồng huyết cầu trong dòng người chuyển động này, bao giờ cũng len lách vượt lên trong tinh thần chủ động. Rẽ vào một toa nằm để soát vé, giải quyết khiếu nại về sự trùng lắp của một vé ngồi, nhiều nhất là xử lý tình trạng đi tầu không vé, việc này bao giờ cũng gặp khó khăn, khúc mắc. Cũng giống như việc đi lại trên con tầu, lát sau tuy đã thưa người di chuyển, nhưng mọi việc diễn ra cũng không dễ dàng gì, vì con tầu bắt đầu phóng nhanh hơn. Nhất là khi bóng đêm đen tuyền đã phủ trùm toàn bộ cảnh vật. Không hề biết đến việc gì khác, con tầu dường như chỉ có mỗi một nỗi lo là hoàn thành lộ trình càng nhanh càng tốt. Đầu tầu chắm chúi lao hồng hộc và dàn bánh thép của nó càng lúc càng như tự trôi trượt trên mặt đường ray về đêm đã ướt nhoáng nước mưa. Như không có người lái, nó tự động chạy, vẻ như bất cẩn, ở những khúc quanh, vành xe chỉ còn mớm nhẹ vào mặt ray, như sắp buột ra khỏi khẩu độ, phát ra tiếng thép xiết như liếc dao, nghe ghê cả người. Nhiều đoạn, đường gập ghềnh như đường trâu đi trong làng bản, tầu nhảy chồm chồm, các điểm nối giữa các toa chỉ chực buột ra khỏi khớp khóa. Ngồi trong toa tầu mà dập dềnh như ngồi thuyền đè sóng sang ngang sông mùa lũ, như ngồi võng, như cưỡi ngựa. Đường xấu vì làm ẩu, làm vội để lấy thành tích báo cáo, để kiếm chác là một chuyện. Mặt khác, nó xấu kém còn vì bọn trộm cắp phá phách gần đây bỗng hoạt động rộ lên. Đạo chích là những kẻ nhạy cảm vô cùng đối với các khoản sinh lợi. Mà con đường thì cứ phô ra cả trăm, cả ngàn cây số, toàn bộ số tài sản khổng lồ không người canh giữ của mình. Đá có thể lấy về để rải đường, lát sân, đổ bê tông làm móng nhà, trần nhà. Ray, tà vẹt, lập lách, cóc đều có thể bán được tiền. Còn những chiếc guốc hãm các dàn bánh xe ở các toa tầu thì xứng đáng là nguyên liệu loại một để đúc nồi gang, chảo gang cỡ đại hoặc chân bàn máy khâu Trung Quốc, Nga, Phần Lan, loại máy công cụ khi nhập vào nước này vốn chỉ có mỗi cái đầu máy. Khủng khiếp! Nhiều chỗ đá bị moi, hai thanh ray như hai sợi thép căng giữa khoảng trống không điểm tựa đỡ. Ở những đoạn xuống dốc, con tầu mất lực hãm, lao sầm sập vô phương kìm giữ, nó chỉ dừng lại, khi các toa đang trôi tự do bỗng đâm vào nhau loảng xoảng chùn cả lại, vì sức cản của chiếc đầu tầu nặng như một quả núi đá chẹn đường. Tuy vậy, xóc lắc đều đều thì cũng là một kiểu nhịp điệu. Hiểm nguy liên tục thì cũng trở nên bình thường. Hơn nữa, lúc này vòng bánh xe quay theo cánh tay truyền lực phát tiếng kêu xục xịch đều đặn và tiếng hẫng hụt đứt gẫy cách quãng mỗi khi bánh xe qua điểm nối giữa hai thanh ray đã tạo nên trạng thái điều hòa trong cảm nhận mọi người. Dao động nhịp nhàng tác động vào thính giác hóa ra cũng thành một điệu ru. Hành khách được con tàu ru. Điền được con tàu ru. Duỗi thẳng chân, ở thế nằm nghiêng, úp mặt vào vách ngăn, trong con tầu xóc lắc liên tục, Điền đã tách mình ra khỏi hiện tại, để con người có thói quen đóng kín của mình trở nên trơ trụi, ở ngoài dòng thời gian. Vốn không dễ ngủ, nhưng Điền đã ngủ. Nói đúng hơn là Điền vừa chủ động vừa bị dìm nghỉm vào mớ tạp âm phát ra của con tàu và hơi mưa mát rượi chốc chốc lại tạt nhẹ vào khuôn cửa sổ tối mờ. Hơi mưa giải tỏa oi nồng trong toa tầu. May mà có mưa. Vì toa tầu đã chật hẹp lại đầy người. Mà người thì phát xạ như một hành tinh giầu năng lượng. Đã chật lại oi ngột. May mà có mưa. Mưa tắm mát vỏ con tầu. Mưa xóa nhòa các đường biên không gian, tạo nên cái hư giác là con tầu đang trôi trượt vào bóng đêm mung lung không thanh sắc, hình tướng. Trong mưa, tiếng va đập, rít xiết của con tầu trở nên phẳng bẹt, nhòa mờ, loang rộng. Mưa ru Điền vào giấc ngủ của kẻ lữ hành có cuộc sống phiêu tán đó đây đang rất cần những khoảng khắc tĩnh lặng để nghe được tiếng nói dịu dàng bên trong của một đời sống bình dị, lâu bền. Thiếp đi thật sâu, nhưng lát sau Điền đã thức giấc bất chợt. Nằm yên, lọc qua mớ tạp âm va đập, nhận ra tiếng hạt mưa đậu nhè nhẹ trên mui tầu, Điền có cảm giác như đã chạm tới nỗi quạnh vắng mênh mang của đời người, lòng chợt dịu mềm đi vì như gặp được niềm tâm cảm; nỗi lo âu có sẵn từ sâu xa bỗng chập chờn ẩn hiện. Trong Điền từ lâu rồi đã tồn tại một cơ chế cảnh báo tự động. Đời sống luôn khắc khoải muôn nỗi lo toan. Điền đã thức giấc vì tiếng quát tháo, hò hét vừa chợt rộ lên ở đâu đó trong con tầu. Giữa đêm đen mù mịt, trên con tầu chạy hộc tốc như bị săn đuổi, tiếng người quát tháo, hò hét như được khuếch đại lên nhiều lần, lại như nhiễm thêm nỗi kinh sợ bàng hoàng. Ở ga Phố Lu đã xảy ra một vụ cướp giật. Một viên thiếu tá bị mất chiếc túi dết đựng ba trăm mười lăm triệu đồng tiền lương mới lĩnh của đơn vị. Bọn cướp giật được túi tiền từ toa số 6. Cảnh sát đuổi chúng tới toa số 2, toa Điền nằm, thì mất tích. Chúng đã nhảy xuống tầu hay trà trộn vào mấy chục hành khách cùng toa với Điền vừa thất thần thức giấc? Điền ngồi dậy, nhìn vào khoảng không mờ mờ ánh đèn điện trong toa tầu chỉ thấy những bóng người qua lại mặt mày ngác ngơ hốt hoảng. Người trong khoang tầu nằm cùng Điền đã lục sục thức giấc. Nằm trên chiếc giường cạnh anh, ở tầng dưới cùng là một người đàn ông trung niên. Ông ngáp một cái rõ to rồi nhìn anh, lắc lắc đầu cười: “Thôi, các chú công an chào thua các ông kẻ cướp Việt Nam đi!”. Một người cảnh sát cầm súng ngắn đi qua, lườm người nọ, lướt mắt qua mặt Điền. Mắt anh ta đánh một tia chớp. Hình như anh ta nhận ra nét quen thuộc trên mặt Điền. Hay là đã có hồi anh ta cùng Điền tham gia chiến dịch săn bắt băng cướp trên các chuyến tầu Nam Định - Vinh? Chà, cuộc sống chứa chất bao điều quái dị. Có thể nào tin rằng bọn lưu manh chuyên nghề này xây nhà, sắm đài, mua xe đạp, xe máy... thuần bằng tiền móc ví hành khách? Buồn thay, cả băng hơn hai chục tên toàn là dân cày nghèo khổ và thợ thuyền. Người đàn ông trung niên đã leo lên tầng giường trên, gọi mấy ông bạn mình dạy chơi bài và uống trà. Chả còn ai ngủ nữa. Canh bạc ăn nhau về sáng. Bọn bất lương sang nửa phần đêm còn lại càng hoành hành dữ dội. Ở ga Lâm Giang một bà nạ dòng và một cô thiếu nữ Tày bị giật hai sợi dây chuyền vàng. Tên cướp nhảy tầu thật lành nghề, tầu đang chạy với tốc độ sáu mươi cây số giờ, thế mà nó cũng chỉ hơi chuệnh choạng khi chân chạm đất. Trong ánh đèn pin dọi ngược chiều, còn nhìn thấy cái mặt gồ ghề và bộ râu quai nón lục lâm thảo khấu của nó, thấy nó nhe răng cười và giơ hai sợi dây chuyền lên để giễu cợt những người định đuổi bắt nó thò cổ ra ngó nó từ trên các cửa sổ con tầu. Chuyến tầu đầy những sự cố bất thường. Vì đoạn đường nào cũng có người trình báo mất hành lý, mất ví tiền, sắp vào ga Ngòi Hóp, tầu hãm độc giật cục bất thình lình. Có một người nằm vắt ngang đường tầu. Tài xế phụ và một cảnh sát nhảy xuống. Người nọ là một gã đàn ông trẻ, mặt mũi bặm trợn. Bị dựng dậy, gã nhe răng: “Thằng chủ tịch xã nó chiếm đất nhà em, nó cướp cả vợ em. Em chán đời, em muốn chết. Với lại em muốn thử tài các bác lái đầu tầu anh hùng!”. Đúng là trò lưu manh dở. Anh tài xế phụ túm cổ gã, vung quả đấm: “Tài của tao đây!”. Gã nọ lăn ra đường, giẫy đành đạch, gào: “Ôi giời ơi, nó giết tôi. Mày nôn tiềnđền ông đi không có ốm nặng với ông đấy”. Thật là chẳng còn ra kỷ cương, phép tắc gì! Thật chẳng còn ra kỷ cương, phép tắc gì. Vì từ ga Cổ Phúc tràn lên cả bọn hơn chục tên thiếu niên ngổ ngáo nhất loạt trọc đầu, áo may ô đen bỏ ngoài quần, tay xăm hình đàn bà cởi truồng. Trưởng tầu đeo xà cột đến hỏi vé thì một thằng lên tiếng, rồi cả đám nhao nhao phụ họa: “Tầu của nhà nước chứ của riêng ông à!”. Được giải thích ôn tồn thì đồng loạt giả ngây: “Nhưng mà bố em bỏ mẹ em đi với con bồ nhí của ông, không cho em tiền mua vé”. Các bà buôn đường dài chứng kiến vở bi hài kịch cười ré lên: “Thôi các anh nhà tầu mấy lỵ cảnh sát ơi! Quên cha nó thằng cùn đi”. Trưởng tầu và mấy anh cảnh sát hợp lực kéo đẩy, dồn cả bọn vào một chỗ để lát nữa tới ga gần nhất sẽ đưa xuống. Thì chúng xô họ, ùa sang toa bên, sau khi phanh ngực áo, nghiến răng: “Tao nhớ cái bản mặt chúng mày nhé. Còn gặp nhau nhiều, nghen”. Ngồi ở tầng giường trên, người trung niên ngó xuống, như nói với Điền: “Thời kỳ mạt thế là đây. Đám dân Việt này hỏng từ gốc rồi, đến Khổng Tử cũng chẳng giáo dưỡng được chúng đâu, có phải không, các vị?”.   * *          *   Ngoài trời, bóng đêm đang rã ra từng mảng. Và tình trạng hỗn độn hình như đã bớt đi. Vậy mà con tầu thi thoảng vẫn giật đùng đùng. Có lúc nó như một linh hồn bất an, chợt rít ré lên, chợt hùng hùng hổ hổ rồi sau đó lại uể oải lờ ngờ lê dịch từng vòng bánh xe, như một kẻ kiệt lực. Đèn trong khoang tầu đã tắt. Người trung niên và mấy người ở tầng giường trên sau một hồi uống trà, chơi bài đã nằm ngủ lại. Điền nằm lắng nghe tiếng bánh xe quay vòng, cố tìm thấy ở đó một tiếng nói nội tâm của chính mình. Điền rất thích sự yên tĩnh. Có lẽ vì đối với Điền, sự ồn ào là quá thừa thãi rồi. Điền cần yên tĩnh để thư giãn, để lập lại thế cân bằng giữa thân thể và trí óc. Để có được sự yên hòa giữa cái hỗn tạp, nhộn nhàng, để nhận ra cái mênh mang, thăm thẳm của đời sống tinh thần và cái bến bờ bí ẩn của cuộc đời mỗi người. Điền có cảm giác đã tìm được sự yên tĩnh và thấy mình đang ở trong cuộc phiêu du của con tầu, đang đi tới cái bến bờ xa xăm trừu tượng và rất khó hiểu nọ. Chính lúc ấy, Điền đã phải bật dậy. Ở tầng giường trên Điền, người trung niên vừa giật thột mình, chồm dậy, giọng mê hoảng như vừa qua cơn chiêm mộng. - Cái gì thế? - Tôi... tôi... Mấy người ở tầng giường trên đã thức cả, và sau câu hỏi với người trung niên, họ liền vội vàng kiểm tra mấy bọc hành lý của mình. May, không ai bị mất mát gì. - Tôi nghe thấy, ông kêu la cái gì kinh hoảng lắm? - Tôi mơ mà hình như không phải chỉ là mơ. Tôi thấy, rõ ràng là thấy như là có một con bướm. Một con bướm rất to, lọt qua cửa sổ toa tầu, vào khoang tầu này. Con bướm đậu lên mặt tôi. - Bật đèn lên xem nào! Tiếng công tắc bật khô khan tiếp ngay sau tiếng một ông già. Con tầu vọt tăng tốc trên quãng đường thẳng. Dàn bánh thép dội lên từ nền đường làn âm thanh như đá đổ. Qua môt cây cầu dài, có cảm giác con tầu đang bị hút xuống một chiều dốc thăm thẳm và mọi người như mất tri giác, cũng bị lôi theo và phó mặc. Bóng đêm đã tan loãng trong những dao động nọ. Ngoài cửa sổ đã thấy lờ mờ khung cảnh miền trung du đồi đất trập trùng, cùng những vạt mây xám nặng nề như những nỗi buồn đau vón cục không thể tiêu tan. - Tôi có bà cô chết trẻ thiêng lắm. Cứ mỗi khi tôi sắp gặp tai nạn, bà lại hiện về để báo trước. Lần thì bà hiện thành hoa, lần bà hóa thành bướm. Bà hiền lắm. Từ nhỏ đến lớn không cãi nhau với ai một lời. - Bác năm nay đã bảy mươi chưa? - Tôi già đến thế kia ư? - Xin lỗi bác. - Vừa tròn sáu chục. Nhưng tôi về hưu được năm năm rồi. Vừa rồi là lên Lao Cai thăm đơn vị cũ. Nghề coi tù mệt mỏi, chóng kiệt lực lắm. Anh tính: suốt ngày tiếp xúc với cái bẩn tưởi. Ông Các Mác chia người thành giai cấp, là căn cứ vị trí của mỗi người trong hệ thống kinh tế - chính trị. Đúng! Còn tính khí con người thì có thể chia hai bậc chính: quân tử và tiểu nhân, hiền lành và độc ác. Tôi không phủ nhận hoàn cảnh xã hội. Còn bất công thì còn nổi loạn. Nhưng, có những người tiên thiên hiền hậu, hảo tâm, thánh thiện như bà cô tôi. Lại có những kẻ vốn sinh ra đã ác độc rồi kia. Cạnh nhà tôi có một thằng bé mà từ lúc nó sáu bảy tuổi tôi đã thấy nó là đứa trẻ tàn bạo. Đồ chơi nào vào tay nó, nó cũng đập phá tan tành mới thỏa thích. Không con mèo con nào sống nổi với nó. Lớn hơn gặp dịp là nó đánh đập bè bạn không tiếc tay. Bố nó nuôi một con béc giê để giữ nhà. Mới mười bốn tuổi đầu mà nó đã nhiễm có cái thú tính tàn ác là đánh chó. Nó xích con chó lại rồi cứ cái roi da đầu có mấu quất. Chuých! Bụp! Chuých! Bụp! Trăm phát không sai phát nào! Con chó sợ rúm lại, thậm chí phát điên mà nó cứ lì ra, như không. Ngày nào không đánh con chó một trận là nó ăn không ngon. Sau này, tôi gặp nó ở xà lim tử hình. Tội nó là giết vợ, giết nhân tình. Hỏi nó, nó cứ nhơn nhơn, chẳng chút ân hận. Mặt nó cũng dị hình dị tướng lắm. Độc ác hiện ra từ cái đầu hói khi mới có ba chục tuổi. Mắt thì mắt rắn. Mũi thì khoằm khoặm. Lại rỗ nữa mới kinh! Chết! Chết! Nó thuộc loại nhân chi sơ, tính bản ác, các anh ạ.   * *          *   Vậy là ngay ở trong khoang tầu có mấy người nằm, chạy từ Lao Cai về Hà Nội đêm nay đã có ít nhất là hai người làm công việc có quan hệ hàng ngày với bọn tội phạm, với cái ác. Điền cũng là nhân viên của ngành công an nhưng khác với ông già giám thị trại tù, Điền đóng vai người trinh sát, điều tra các tội phạm hình sự tức bọn cướp của giết người, gây rối loạn trật tự xã hội và gây nguy hiểm cho đời sống người dân. Hai mươi tư tuổi, Điền tốt nghiệp khóa đào tạo đại học chuyên ngành, tới nay Điền đã già hai tuổi nghề. Câu chuyện của người giám thị Trại giam vừa rồi, khiến Điền nhớ đến vụ án giết người mà tội phạm là một kẻ vị thành niên. Đây là vụ án đầu tiên anh giữ vai đảm trách chủ yếu trong đời. Anh đã tóm được nó. Đúng thế! Nó là một thằng nhóc, nói đúng hơn là một thân xác vừa trẻ con vừa còi cọc. Nó mới mười sáu tuổi. Người nhỏ tóp, chân tay ống sậy. Mặt choắt, trán dô, mắt lỗ đáo. Thằng lỏi này gọi người lái xe Honđa ôm tên là Ngạc, hai mươi tám tuổi, bảo anh chở nó từ Gốc Riếu đi Cam Đồng. Đi được chừng tám cây số, nó rút búa đập liên tiếp vào đầu anh. Anh chết, nó hất xác anh xuống vực, lấy xe đem về Yên Bái bán lấy tiền ăn chơi. Điền hỏi. Nó kể, kể rất thản nhiên. Rằng em ngồi sau anh ấy. Đến cây số tám, đường xấu, xe bị xóc, nên đi chầm chậm. Trời lúc này đã tối. Em bảo: “Cho xe dừng lại đi, em đánh rơi dép rồi!”. Xe vừa dừng, em liền rút cái búa để sẵn ở túi áo Natô đập mấy nhát vào sọ anh ấy. Anh ấy kêu ối. Em nghĩ: chưa chết đâu. Thế là em đập mấy cái nữa cho chết hẳn! Uất tức, Điền quát và bật đứng dậy, hai con mắt như hai tia lửa điện phóng thẳng vào mặt tên hung thủ trẻ con. Nó cũng giật mình đứng dậy, sợ hãi run lẩy bẩy. Nó choắt cheo, lép kẹp một khúc xương khô, đứng chỉ đến vai anh. Chỉ cần một quả đấm của anh là nó có thể nằm liệt cả tuần. Thế mà nó lại có thể giết người! Nó cần tiền, nó vốn hư đốn, quen ăn chơi lêu lổng? Không! Không chỉ có vậy! Còn một nguyên nhân nào nữa khiến thằng ranh nổi cơn hung đồ và tợn tạo như thế? Hay nó là đứa lãnh cảm, vô hồn, vì sau khi xác định nó là thủ phạm, theo dõi nó suốt mấy hôm, anh vô cùng kinh ngạc vì thấy nó quá thản nhiên, không hề lộ ra mảy may mặc cảm, áy náy gọi là, điều mà những tên sát thủ già đời cũng khó tránh khỏi. Lúc dẫn nó đi qua mộ người lái xe ôm ở bên đường, anh hỏi nó: “Mộ ai đấy?”. Nó đáp thản nhiên: “Mộ anh lái xe Hon đa ôm đấy mà!”. “Mày có biết là anh ấy người Hải Dương, đi bộ đội về, gia đình nghèo khổ, phải đem thân lên tận miền rừng núi này làm nghề lái xe ômđể kiếm tiền nuôi vợ con không? Tại sao mày lại giết anh ấy?”. Điền đã gào thét và túm cổ áo nó giật. Nó giẫy, nó kêu: Đau quá! Mặt nó nhăn nhúm. Má nó vạc hai nét vạc sâu hoắm. Điền nhìn hai nét vạc ấy, bỗng sợ hãi, buông tay, sờ lên mép mình. Nó ngồi xuống lí nhí: Em không hiểu tại sao em lại giết anh ấy ạ. Nó đã khai thật. Vì lúc ấy, như có một linh hồn xa lạ nào đó nhập vào nó. Nó bỗng thấy người nó nổi gai xù xì rồi phồng lên to tướng và chân tay bỗng ngứa ngáy, bứt rứt, chỉ muốn đập phá giết chóc. Thế là nó rút cái búa đóng đinh buổi chiều đi làm thuê ở phòng triển lãm thị xã còn để trong túi. Giang tay Điền đã cho nó một cái tát. Nó ngã nghiêng xuống đất, tay đưa lên che má, người co rúm lại, không dám đứng dậy. Còn Điền bỗng thấy người rơn rởn như chạm phải lông sâu róm. Thằng khốn! Một hồn ma bóng quỷ đã nhập vào nó, điều khiển nó, xui khiến nó. Nó không nhận thức được nó. Nó chỉ nhận ra cái bóng chạy ở phía trước nó và lưu lại ở sau nó thôi. Nó là một thực thể chưa hoàn chỉnh, một quái trạng, một thai nhi lọt lòng chưa đủ năm đủ tháng, một thể xác lỏng lẻo hồn vía, trống rỗng và bỏ ngỏ. Nó là đứa trẻ bị đẻ non. Nó chưa hoàn thiện. Và anh lái xe Hon đa ôm buồn thay, con người là vậy đó, cuộc đời thì quá ngắn ngủi, bến đợi thì xa tắp mịt mùng mà cái chết lại rập rình ngắt đoạn bất cứ lúc nào. Mời các bạn đón đọc Bến Bờ của tác giả Ma Văn Kháng.
Quãng Đời Đánh Mất
Quãng Ðời Ðánh Mất” là quyển tiểu thuyết thứ ba của Dương Thu Hương do nhà xuất bản Hải Phòng in năm 1989, sau “Bên Kia Bờ Ảo Vọng” (1987) và “Thiên Ðường Mù” (1988) – hai tác phẩm đã đưa tên tuổi của bà lên vị trí sáng chói nhất trên văn đàn Việt Nam suốt mấy năm qua. Bộ ba tiểu thuyết này tạo thành một bức tranh hoành tráng công phu của xã hội Việt Nam ngày nay, với biết bao khung cảnh, hình ảnh, nhân vật, tình tiết…Nghệ thuật miêu tả và phê phán hiện thực sắc bén và can đảm, cùng với nỗ lực phản kháng và giải ảo trong các tác phẩm của Dương Thu Hương, đã giúp bà trở thành nhà văn được tìm đọc nhiều nhất, và nổi tiếng nhất cả trong và ngoài nước… sống cuộc đời mình một cách độc lập, can đảm đối diện và chống lại những quyền lực phi lý, nhìn cho đúng và phá vỡ những ảo tưởng xa lạ, yêu thương cuộc đời và con người chân thành…Ðó là một vài thông điệp chính mà “Quãng Ðời Ðánh Mất” gửi đến người đọc…” Nhà văn Dương Thu Hương sinh năm 1947 tại Thái Bình, cư ngụ nhiều năm tại Hà Nội, sau đó lưu trú tại Paris, Pháp. Dương Thu Hương là đảng viên Ðảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng đã bị khai trừ ra khỏi Ðảng năm 1989, vì đấu tranh cho dân chủ, vì phê bình nhà nước. Những tác phẩm của Dương Thu Hương không được phép lưu hành tại Việt Nam, vì lý do chính trị. Bà từng bị vào tù vì viết sách, vì phê bình việc áp dụng chủ nghĩa Marx-Lenin tại Việt Nam, vì phản đối độc quyền của Ðảng Cộng Sản. Năm 1994, Bộ Trưởng Văn Hóa Pháp Jacques Toubon trao tặng nhà văn Dương Thu Hương Huân Chương Văn Hóa Nghệ Thuật Chevalier Des Arts Et Des Lettres. Năm 2008, bốn tác phẩm “Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Những Thiên Ðường Mù, Tiểu Thuyết Vô Ðề, Chốn Vắng” của bà được đưa vào bộ sách Bouquins. Năm 2009, Giáo Sư Tiến Sĩ Joseph Pivato dạy môn Văn Chương Anh Ngữ tại Ðại Học Athabasca ở Alberta, Canada, đề cử nhà văn Dương Thu Hương vào danh sách xét duyệt Giải Nobel Văn Chương. Dương Thu Hương nhận định: “Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, sự bất khả tri không chỉ xảy ra giữa hai nền văn hoá Ðông-Tây mà còn xảy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một giòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới. Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu. Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.” [“Sức Mạnh Của Chủ Nghĩa Ngu Dân.”] “Quãng Ðời Ðánh Mất” của hai nhân vật Trọng và Bích để lại âm hưởng vi diệu trong lòng độc giả: “…Khi con người đã quen sống kiếp mù lòa, ai vạch ra sự ngu dốt tối tăm trong kiếp sống của họ sẽ bị họ coi là quỷ dữ, vì điều đó chứng tỏ cái hèn kém của bản thân họ, và đặt ra những lời thách đố nguy hiểm. Mà chắc chắn họ không đủ khả năng vượt qua…Tình yêu cũng cần lòng can đảm. Giữa bao nhiêu dục vọng của đời sống phải chọn lấy một thứ, phải dập tắt mọi đám cháy để nuôi dưỡng duy nhất ngọn lửa của riêng mình. Tình yêu, hơn mọi thứ tình cảm khác, cần lòng hy sinh và sự trung thực…” (trích) *** Mặt trời mù sau lớp mây bạc, nhưng vòm trời và mặt đất trắng ánh lên. Các đồi cây đan tiêu hớn hở nô giỡn trước gió, ném vào không trung ngọn lửa cuồng nhiệt và thất thường của những vòm lá đỏ như đồng. Trên con lộ chạy vắt qua những trái đồi ngoại ô, chợt xuất hiện một cỗ xe thổ mộ. Nó tiến thẳng vào thành phố, tiếng vó ngựa và tiếng lục lạc mỗi lúc mỗi rõ dần. Lão già Ngạn dỏng tai nghe. Rồi từ trong bếp, hấp tấp lao ra sân, đưa mắt dõi theo, cỗ xe ngựa vượt qua tòa biệt thự trắng, xưa là nhà nghỉ của quan công sứ Pháp, nay lũ trẻ đọc sách và chơi đu quay. Rồi cỗ xe lăn qua khuôn viên, khu trường phổ thông, nhà trẻ... Vượt qua hai cánh cổng để ngỏ của lão, nó đi hút về cuối phố. Lão già bất giác thở dài, đôi vai như còng xuống. Từ mảnh sân bên kia, phân cắt bởi hàng đỗ leo, một ông già cao lớn bước sang. Đưa mắt nhìn khuôn mặt ủ ê của lão Ngạn, ông cất tiếng: - Thôi đi, đừng mất công vô ích. Về được, nó khắc về. - Nhưng tôi nóng ruột... Lão Ngạn đáp, vẻ hằn học không che đậy: Ông có con đâu mà ông biết xót?... Ông già hàng xóm không mảy may phật ý, đáp: - Tôi không có con nhưng trên đời này chẳng riêng ông được quyền làm cha. Không người cha nào xử sự như ông cả...Nhưng thôi, đừng cãi cọ nhau buổi sớm. Pha ấm trà đi. Nói xong, ông kéo ghế ngồi, đôi chân bắt chéo lại. Lão Ngạn súc ấm, bỏ trà pha nước mới. Vừa làm, lão vừa nghĩ: Lúc nào hắn cũng đàng hoàng, mạnh mẽ hơn ta. Dù ngồi ở xó rừng hay ngồi trên ghế của người khác...Trông kìa, dường như chính hắn mới là chủ nhân ngôi nhà này, bộ bàn ghế mây đáng tiền này, cả bình trà bằng sứ đời Thanh này nữa. Đến con trai ta cũng thuộc về hắn. Nó tin hắn như dân đạo tin Chúa Jesu. Cái thằng khốn... Ông già láng giềng vẫn ngồi yên lặng, mắt đăm đăm nhìn dãy đồi đan tiêu nơi chân trời. Tóc ông dày và đen, lưng thẳng. Lão Ngạn đặt bình trà xuống bàn: - Được rồi đây. Ông già rót nước: - Ông uống luôn cho nóng. Lão Ngạn gật đầu: - Phải...Nhưng tôi vào bếp đã. Chặn lại cái thớt kẻo sổng mấy con cua. Chúng nó cạo nồi cả đêm, không ngủ được. Lão vào bếp vì không muốn người láng giềng đọc được ý nghĩ của mình. Thực tình, lão căm ghét ông Hai đến mức thầm ước rằng bỗng dưng có cơn gió độc thổi tới, ông Hai trúng phong ngã lăn quay trên mảnh sân này, lão sẽ hả hê bao nhiêu. Trong chiếc nồi đồng lớn, lũ cua biển giương những đôi mắt lồi tí xíu nhìn lão. Móng cua sắc cạo xào xạo nghe rợn tai. Bất chợt, lão già đập chiếc thớt gỗ lên miệng nồi: - Lũ khốn, trưa nay ta đem luộc ráo. Lão quay ra sân. Ông già Hai đã uống xong chén trà, khoan thai bước về mảnh sân bên kia. Lão Ngạn nhìn theo, nghẹn cổ. Trưa hôm ấy, lão luộc cả mớ cua biển. Một mình, ăn mãi tới nửa đêm mới hết. Dù uống nửa lít rượu, lão vẫn bị đau bụng. Từ hai giờ rưỡi đêm, lão chạy đi chạy lại từ nhà trên xuống chuồng tiêu như con thoi. Lũ nhặng đêm kêu như ong trong không, gian hôi thối. Lão đành uống năm viên rửa có á phiện. Rồi sau đó, khoảng bốn giờ sáng, lão ngủ thiếp đi cho tới non trưa ngày hôm sau. Giữa đám sương bồng bềnh, lãng đãng những vệt nắng vàng. Lão già nghe tiếng xe lăn ngoài phố. Lần này, xe dừng lại trước cổng. Đứa con trai bước xuống, nện gót giày trên sân: - Chào ba, con đã về. Nó giơ cao chiếc mũ dạ xanh thẫm, đính mỏ neo vàng. Mắt lão hoa lên. Lão ngắm nghía bộ đồng phục bó sát tấm thân trai trẻ của nó, nước mắt rớt xuống má... - Thình thình...thình...Thình thình... - Ba ơi i i... Hai cánh cửa rung bần bật. Và giọng một người đàn bà: - Chú Hai, ba cháu ốm à? - Không rõ. Đêm qua tao thấy ông ấy chong đèn tới ba giờ sáng. - Mọi ngày ông cụ tỉnh ngủ lắm, ho khẽ đã trở dậy rồi. - Có thể ngủ mệt không nghe được. - Cháu phá cửa đây. - Hãy gọi thêm lát nữa xem sao?... Tiếng gọi cất lên: - Ba ơi, ba ơi i i... Lão Ngạn rùng mình. Không phải tiếng nói của thằng Cường, đứa con trai lão chờ đợi. Giọng của một người đàn bà, như từ cõi âm vọng tới. Lão già cố mở mắt, nhìn thấy cánh tay xanh nhợt của mình vắt trên ngực. Lão cố định thần, lắng nghe tiếng gọi: - Ba ơi... Lão Ngạn thầm kêu: - Con Bích. Rồi chống tay ngồi lên, lão lê từng bước ra mở cửa. Bàn tay lão lạnh ngắt, run run đặt trên quả đấm sứ: - Tao đây. Cánh cửa bật mở. Cô con gái kêu: - Ba làm sao vậy? Thay vì trả lời con, lão Ngạn quay sang người hàng xóm: - Tôi bị tháo dạ, vì lũ cua biển hôm qua. Ông Hai hỏi: - Ông có cần thuốc không? - Không. Giờ cầm rồi. - Có cần gì thì gọi tôi. Người láng giềng quay đi. Lão Ngạn lần về giường nằm, chút nữa bật tiếng rên thất vọng: - Mình mong thằng bé. Lại hóa ra con trời đánh này. Mời các bạn đón đọc Quãng Đời Đánh Mất của tác giả Dương Thu Hương.
MM - Chuyện Về Cô Gái Ấy
“Khi tịch dương chạm vào đường chân trời, chúng tôi trao nhau nụ hôn đầu tiên. Một nụ hôn như trong ước nguyện. Hành tinh xanh vẫn yên lặng chuyển động, màn đêm dần kéo đến từ phía trời Đông. Chúng tôi cùng hẹn ước tình yêu giữa khoảnh khắc giao nhau của ánh sáng và bóng tối. Tình yêu tuổi mười lăm vẫn còn quá non nớt, nhưng chúng tôi đều vô cùng chân thành. Cả hai đều cố gắng tìm ra những gì có thể làm cùng nhau. Phát minh ra một tình yêu mới, khắc sâu mối quan hệ này vào tâm khảm. Chỉ cần mình đủ mạnh mẽ, tôi nghĩ, nhất định sẽ chiến thắng vận mệnh. Có đúng không?” *** 3.5/5 sao. Lâu rồi mình không đọc tiểu thuyết tình cảm, vài tháng trước đọc lại "Mắt biếc" đã quá chán, tiểu thuyết ngôn tình thì ôi thôi đọc xong quên sạch không nhớ tí gì. Nhưng không ngờ rất lâu sau "Bí mật của Ella và Micha" lại có 1 cuốn truyện lãng mạn làm mình thích được. Lúc đầu mình hứng thú với quyển này vì đọc giới thiệu của Nhã Nam có câu "Chỉ cần mình đủ mạnh mẽ, tôi nghĩ, nhất định sẽ chiến thắng vận mệnh. Có đúng không?", chắc câu chuyện sẽ liên quan đến bói toán, tử vi, vượt lên hoàn cảnh,... đại loại là thể loại gay cấn. Nhưng mà không, nhầm hoàn toàn, nó chẳng liên quan gì đến những chuyện mà mình đề cập. Đó cũng là lý do mình khá hụt hẫng khi đọc xong. Nhưng bỏ qua cái kỳ vọng của mình thì nội dung câu chuyện rất ổn. Minamikawa Momo - nàng thơ của câu chuyện, và nam chính (nhân vật tôi) - Sasa Tokio (Momo gọi là Jiro) học chung lớp cấp 2, đều là học sinh chuyển trường nhưng Jiro đến trước Momo vài năm. Tất cả các nhân vật đều liên quan đến xưởng may chi phối đời sống của cả thị trấn vì hầu như học sinh ở đây đều là con em của cán bộ và công nhân trong xưởng may. Momo là con gái của giám đốc xưởng, nghiễm nhiên trở thành nữ hoàng, Jiro sống với mẹ để trốn nợ ở thị trấn này, bà làm thêm ở quán ăn chứ không phải ở xưởng. Hai người chẳng liên quan gì đến nhau bắt đầu mối quan hệ từ lúc Momo nhờ Jiro viết hồi ký 15 năm cuộc đời cho mình (có trả lương), từ đó dần dần hai người hiểu về nhau hơn. Tình cảm trong truyện được miêu tả rất ngây ngô, trong trẻo đúng chất mối tình đầu, không lẩn tránh ngại ngùng mà vô cùng bộc trực, cũng có những hiểu lầm cãi vã, giận dỗi nhưng vô cùng trong sáng. Ngoài cặp chính còn có cặp phụ rất đáng yêu (đoạn cuối truyện họ có thể sắp làm đám cưới) là Tobio và Kikuchi - nữ sinh chuyển trường người ngoại quốc. Kết thúc mở nhưng với mình đấy là Happy ending rồi vì Momo đã trở về trường của Jiro và đọc cuốn sách hồi ký về cô mà Jiro đã hoàn thành, trở nên vô cùng nổi tiếng trong trường. Chuyện gặp lại nhau chỉ là vấn đề thời gian. Câu chuyện xoay quanh Momo nên tác giả xây dựng nhân vật này có vẻ quá hoàn hảo và hơi điêu. Đấy là một điểm trừ. Momo xinh đẹp, cao ráo, con nhà giàu, có bố là giám đốc lắm tiền đẹp trai và mẹ là nữ diễn viên kiêu sa đỏng đảnh, lại vô cùng hào phóng và thông minh. Nhưng chuyện một cô gái 15 tuổi hiểu được bố mình vi phạm pháp luật và dám đứng ra tố cáo bố, đòi quyền lợi cho công nhân, cuối cùng bỏ nhà ra đi và lẩn trốn truyền thông vô cùng hoàn hảo thật khó tin, chưa kể cô gái này còn có suy nghĩ rất sâu sắc về quyền lực, về nghề nghiệp và tương lai. Jiro may mắn hơn vì dù 2 mẹ con phải trốn nợ khắp nơi do bố phá sản nhưng hóa ra ông bao năm vẫn làm mọi cách trả hết nợ nần và âm thầm bảo vệ 2 mẹ con, chuyện đoàn tụ chỉ là sớm muộn. Giọng văn của Ichikawa Takuji rất giàu chất thơ, diễn biến câu chuyện nhanh nhưng không bị gượng, cũng không buồn ngủ. Tuy vậy mình thấy xuất sắc hẳn thì chưa mà phù hợp đọc để thư giãn thôi nên chỉ cho 3.5/5. *** Mỗi lần mỏi mệt tôi lại tìm về với những tác phẩm của Ichikawa Takuji, để được trải lòng, để được bình lặng. “Chuyện về cô gái ấy” vẫn mang nét đặc trưng của tác giả, cái nét trầm trầm, buồn buồn, nhè nhẹ. Momo và Jiro gặp nhau trong một hiệu sách nhỏ, từ đó, hai người trở thành tâm điểm trong mắt nhau, cuộc sống của họ chầm chậm xoay quanh nhau, có những sự việc xảy ra xung quanh, có cảm xúc ngây ngô, vụng dại. Tất cả mọi thứ xảy đến, diễn ra, để viết nên một một câu chuyện không thể quên, về một cô gái dũng cảm và một anh chàng gan dạ, về sự bóc lột giữa các tầng lớp trong xã hội ngày ấy, về những ngày xưa cũ, về những mảnh ký ức nhạt dần theo thời gian. Một tác phẩm êm đềm và nhẹ nhàng, ấm áp. Câu chuyện cứ chầm chậm trôi, thời gian cứ lặng lẽ lướt qua, có hai con người dừng lại, trái tim đập chung một nhịp đập yêu thương. Dù chỉ là những cô cậu bé, dù không mang tầm vóc lớn lao, thế nhưng tâm hồn và suy nghĩ của họ đủ rộng, đủ bao la để khiến bản thân tôi ngưỡng mộ, trầm trồ. Giọng văn của tác giả dịu dàng nhưng không hề nhàm chán mà vẫn luôn cuốn hút. Câu chuyện về cô gái ấy có thực sự chỉ là một câu chuyện bình thường hay chất chứa trong đó có biết bao nhiêu ý nghĩa tác giả muốn gửi gắm?, từng trang giấy, từng câu chữ có chứa đựng nỗi buồn sâu lắng, trầm lặng như bao tác phẩm khác của Ichikawa? Đó là những câu hỏi tôi đặt ra trước khi đọc tác phẩm, may mắn là MM không bi lụy, và buồn như các tác phẩm khác của ông, câu chuyện có nét tươi sáng và vui vẻ hơn, thế nhưng, khép lại tác phẩm, vẫn đọng lại trong lòng sự tiếc nuối mơ hồ và những cảm xúc loáng thoáng chẳng thể gọi tên. |  Trần Lan Hương *** Đôi lời mở đầu Gửi tới các bạn độc giả một ngày nào đó sẽ đọc cuốn sách của tôi. Ngày xửa ngày xưa, xưa rất là xưa, khi nàng còn đang theo học ở ngôi trường này. Cái “ngày xưa” đó cách đây bao lâu, còn tùy thuộc vào việc bạn đọc cuốn sách tại thời điểm nào. Nếu bạn cầm nó lên vào ngày kế tiếp (hay “ngày hôm sau”) cái ngày tôi khẽ khàng đặt nó lên giá sách thư viện (ở góc Hồi ký, nằm giữa cuốn Vua phát minh Edison và Cuộc đời Marie Curie), thì đó mới là chuyện của năm năm về trước mà thôi. Phải rồi, chỉ mới có năm năm thôi đấy, vậy mà tôi lại có cảm giác đã là chuyện xa xưa lắm rồi, tựa như những câu chuyện cổ tích hay thần thoại từ thời tiền sử vậy. Có lẽ vì lý do đó mà trong câu chuyện này, tôi đã tự ý cho thêm vào cả những “hồi ức tưởng tượng” do chính tôi tạo nên. À không, đương nhiên tôi cũng muốn viết cho thật chính xác chứ. Có điều việc hồi tưởng lại quá khứ cũng giống như sáng tác mới vậy, ngay cả những người cùng sống ở thời ấy lúc đọc truyện có khi cũng phải ngạc nhiên, cứ như thể được nghe một câu chuyện hoàn toàn khác. Chúng ta làm đẹp quá khứ, phóng đại mọi chuyện và thổi phồng sự việc lên. Chúng ta tỉa tót thêm cho hồi ức trong vô thức, rồi cứ thế dựng lên cái gọi là “kỷ niệm thời xưa”. Ví dụ như khi viết lại các cuộc đối thoại chẳng hạn, dù cho đã cố tái hiện một cách trung thực nhất có thể, không hiểu sao tôi vẫn cứ trộn lẫn cách nói chuyện của tôi hiện tại vào trong câu thoại của họ. Nếu bạn đọc để ý thấy lời nói của nhân vật có cảm giác già dặn quá, xin cứ xem như đó là lỗi của việc “vô thức tỉa tót thêm cho hồi ức” nhé (nói vậy nhưng thực sự chúng tôi là những đứa trẻ lớn trước tuổi. Chính “hoàn cảnh gia đình phức tạp” đã buộc chúng tôi phải trưởng thành sớm). Nói ra thì giống như lấy cớ vậy, nhưng phải viết lại hết tất cả những chuyện mình đã biết, dưới góc độ khi chưa biết gì cả, quả là khó khăn lắm thay! Phần lớn tôi sẽ viết theo kiểu vờ như mình chưa hề biết đến diễn biến tiếp theo, nhưng có đôi khi tôi vẫn nhịn không nổi, lỡ thốt ra những lời thoại như nhà tiên tri. Nếu bạn đọc tới khúc ấy, xin đừng suy nghĩ nhiều quá, hãy cứ nhẹ nhàng lướt qua là được. Mà thôi, gì thì gì tôi cũng đã cố gắng làm tốt nhất rồi. Cũng một phần vì thế mà thành ra mất tới tận năm năm. Nói sao nhỉ, đây là “công việc” của tôi, mà đã là công việc, thì tuyệt đối không được phép qua loa. Chỉ cần bạn đọc cuốn sách này, nhất định sẽ thấy được tôi đã cố gắng đến nhường nào. Mặc dù nó chẳng có vẻ gì giống một quyển hồi ký, nhưng tôi chỉ có thể dùng lối viết như vậy thôi (nói đúng ra đây không phải “hồi ký” theo ý nghĩa thông thường, cũng chẳng phải thứ gì đó giống như hồi ký, dù tôi đã được nhờ cậy viết như thế. Lý do chủ yếu nằm ở chỗ cuốn sách này viết ra cho ai, điều này sẽ được làm rõ hơn trong tác phẩm, vì thế xin các bạn cố chờ thêm một chút). Hy vọng tôi có thể kể lại cho các bạn một cách chân thật nhất về nàng. *** 1 Hôm ấy là một ngày hè nóng nực, độ ẩm cũng cao kinh khủng khiếp. Tôi đang ở trong một hiệu sách nho nhỏ nằm trên con phố trước nhà ga. Mặc cho máy lạnh vẫn đang chạy, phát ra âm thanh như tiếng thở dài của loài khỉ rú (có lúc lại giống như tiếng bị mắc đờm), nhiệt độ trong cửa hàng cũng chẳng đỡ hơn bên ngoài là bao. Tôi vừa dùng vai áo lau đi từng dòng mồ hôi chảy dài trên má, vừa đứng đọc một quyển sách. Một bản dịch tên Con đường ngắn nhất để trở thành biên kịch tại Hollywood. Dù rằng cái tiêu đề nghe như đùa, nội dung bên trong quả thật có viết rất nhiều điều cần thiết để trở thành một biên kịch, nên từ tận đáy lòng tôi cực kỳ muốn có nó. Có điều, đối với quyển sách 600 trang thì cái giá của nó đắt đến mức lố bịch. Vì lẽ đó mà kể từ ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè, hôm nào tôi cũng ghé qua đây (không tới 30 phút mỗi ngày - thì tôi cũng chưa muốn bị cấm cửa mà. Ông cụ chủ hiệu sách tạo cho người ta cảm giác lầm lì bảo thủ, hẳn không phải là người dễ tính thân thiện gì cho cam), và vùi đầu cố gắng đọc xong hết tất cả các trang sách (tiện thể học thuộc hết luôn nếu có thể). Đang giữa lúc tập trung ấy, tôi bỗng giật mình khi bị ai đó vỗ vào vai. Và hình như tôi còn bật thốt lên thành tiếng nữa, “Oái”, chỉ một tiếng rất khẽ thôi. Mình bị ông chủ hiệu sách để ý tới rồi sao, tôi nghĩ. Có lẽ ông cụ sắp hết kiên nhẫn với mình rồi. Dè dặt quay đầu nhìn lại, tôi trông thấy nàng ở đó. Minamikawa Momo. Điều này lại càng đáng ngạc nhiên hơn. Tôi cảm thấy có chút bối rối. Bởi vì mặc dù cùng học chung một lớp, chúng tôi chưa lần nào bắt chuyện với nhau. “Nói chuyện chút được chứ?” Nàng đề nghị. Không hiểu sao trong giọng nói của nàng có vẻ gì đó như tức giận. Nàng mặc một chiếc áo khoác đen tuyền bên ngoài áo sơ mi trắng (đến cả chiếc quần bò bó nàng mang cũng màu đen nốt). Mùa hè mà ăn mặc thế này ư? Ấy vậy mà trông nàng vẫn rất thong dong, thậm chí còn chẳng vương giọt mồ hôi nào. “Nói chuyện ấy à?” Mình có từng làm gì khiến nàng khó chịu không nhỉ? Tôi vắt óc lục lọi ký ức, nhưng tuyệt nhiên không nhớ ra được điều gì. Mà cũng phải thôi, giữa hai chúng tôi hoàn toàn chưa từng có một tiếp điểm nào, tính đến giờ phút này. “Ừm, mình có việc muốn nhờ Sasa.” Nhờ? Nhưng nhờ cái gì nhỉ? Tôi càng thấy khó hiểu hơn. “Việc gì thế?” Tôi hỏi lại nàng. “Đi nơi khác nhé?” Nàng vừa nhìn quanh hiệu sách vừa đáp lời, “Ở đây không tiện cho lắm.” “Ừ, được thôi.” Tôi nói, và thế là chúng tôi cùng nhau tới quán cà phê cách hiệu sách ba căn nhà. Mời các bạn đón đọc MM - Chuyện về cô gái ấy của tác giả Ichikawa Takuji & Mai Mai (dịch).
Bác Sĩ Cuối Cùng Dưới Tán Hoa Anh Đào
[REVIEW] "BÁC SĨ CUỐI CÙNG DƯỚI TÁN HOA ANH ĐÀO" - NIỀM TIN SẼ TẠO NÊN KÌ TÍCH? - CUỐN TIỂU THUYẾT HẤP DẪN VÀ XÚC ĐỘNG KHÔNG THỂ BỎ QUA - "Bác sĩ cuối cùng dưới tán hoa anh đào" của tác giả Atsuto Ninomiya là cuốn tiểu thuyết tâm lí - y học mới được phát hành vào ngày 28/5 bởi Ai Novel. Ngoài phần mở đầu ngắn, cuốn sách gồm 3 chương chính tương ứng với 3 cái chết đặc biệt của nhân viên văn phòng, sinh viên và bác sĩ (được thể hiện ngay ở tên chương). Ung thư hay các bệnh về tế bào thần kinh... nếu chỉ nghe qua hay chưa từng chứng kiến thì sẽ không thể nào tưởng tượng được hết sự kinh khủng, nguy hiểm và cả những xúc cảm mãnh liệt của bệnh nhân. Fukuhara - Viện phó bệnh viện với trái tim nồng cháy, luôn hết mình với bệnh nhân, mong muốn và tin tưởng vào cái gọi là "kỳ tích": giống như sau cơn mưa trời lại sáng, trải qua hành trình chống bệnh gian khổ dài đằng đẵng, kỳ tích nhất định sẽ xuất hiện, căn bệnh quái ác nhất định sẽ bị đập tan. Kiriko - Bác sĩ có biệt danh "Tử Thần", với suy nghĩ sống mà phải chịu đau đớn, dày vò thì thà lùi lại 1 bước để ngắm nhìn cuộc sống tươi đẹp xung quanh và tận hưởng tháng ngày quý báu ít ỏi còn lại sẽ tốt hơn nhiều. 2 bác sĩ, 2 tư tưởng, 2 định hướng... nhưng lại có chung mục đích: tất cả là vì bệnh nhân. Nghe thật lạ lùng nhưng sự thật chính là vậy! Sẽ có người vì không muốn gia đình thương tổn mà chấp nhận chịu đau để thực hiện hóa - xạ trị, sẽ có người lại chấp nhận hy sinh để sống một cuộc sống đúng nghĩa trước khi quá muộn... Lựa chọn theo tư tưởng của vị bác sĩ nào thì cũng chẳng có gì là sai trái hay bất hợp lí cả, vì mỗi bệnh nhân sẽ có thứ đáng giá để coi trọng và suy nghĩa riêng biệt. Cách viết của tác giả vô cùng chân thực và giàu cảm xúc khiến cho người đọc có thể dễ dàng cảm nhận được những chiêm nghiệm và ý nghĩa sâu sắc về sự sống, sức khỏe và thời gian mà tác giả muốn truyền đạt. Chắc chắn là khi đọc xong, bạn sẽ thấy cuốn sách được đánh giá cao trên Amazon là hoàn toàn hợp lí! *** “Ông còn nửa năm để sống…”. Tại một bệnh viện nọ, bác sĩ Kiriko – người được mệnh danh là thần chết – đã nói với bệnh nhân như vậy. Anh giải thích rằng khi đón nhận cái chết, ta sẽ trân trọng những ngày còn lại. Tuy nhiên, phó viện trưởng Fukuhara lại tin vào điều kỳ diệu, anh sẽ không ruồng bỏ ‘sự sống’ cho đến phút cuối cùng. Kết cục của cuộc đối đầu trong thời gian có hạn giữa hai con người đối lập này là? Trước lựa chọn cuối cùng, bệnh nhân có thể quyết định được không? Ánh sáng lấp lánh của sự sống được vẽ theo cách sống của từng người. Câu chuyện về nghề y nghẹt thở và đầy cảm động. *** Atsuto Ninomiya Sinh năm 1985 tại vùng đô thị Tokyo. Tốt nghiệp khoa Kinh tế Đại học Hitotsubashi. Là một tác giả của thế hệ mới được chú ý, có tác phẩm “! (Bikkurimāku)” đã bán ra 200.000 bản, Atsuto Ninomiya liên tiếp xuất bản các tác phẩm mới. *** Bệnh viện trọng điểm khu vực - bệnh viện Musashi no Shichijuuji. Ba tòa nhà chín tầng với những dãy tường trắng dài dằng dặc; ở góc tầng hai, của phòng tư vấn đang hé mở. Bài trí trong phòng vô cùng tối giản. Chỉ đặt bàn, ghế và bảng trắng. Bốn người sắc mặt buồn bã đang ngồi. Một trong số đó là bệnh nhân luống tuổi, mặc bộ pyjama phủ thêm tấm áo choàng. Ba nhân vật còn lại là người nhà gồm bạn đời và hai vợ chồng con trai ông. Họ lắng tai nghe từng tiếng bước chân với nhịp điệu đều đặn, chuẩn xác như đồng hồ quả lắc. “Xin lỗi vì đã để mọi người phải chờ.” Tiếng bước chân dùng lại trước phòng tư vấn. Đấy cánh của và bước vào phòng, Kiriko Shuuji cất tiếng. Khi anh ngồi xuống, tà áo trắng lay động khe khẽ. Vóc người nhỏ nhắn, làn da trắng và đôi mắt mang sắc nâu nhàn nhạt. Vị bác sĩ với ngoại hình hơi mềm mại nữ tính, đâu đó tỏa ra cảm giác lành lạnh này nhìn lướt qua khuôn mặt của bốn người rồi nói: “Bác là bệnh nhân Hashida đã yêu cầu tư vấn cùng người nhà phải không ạ. Cháu là Kiriko.” “Vâng, bác sĩ ơi, chuyện là…” “Bác muốn bệnh viện kiểm tra tình trạng bệnh hiện giờ và nói rõ phương hướng điều trị về sau phải không ạ?” Kiriko không tán chuyện phiếm dù chỉ một câu. Thấy bác sĩ lập tức đi thẳng vào vấn đề, bốn người cùng nín lặng. Không ngập ngừng, không do dự, Kiriko nói tiếp. “Cháu đã xem bệnh án rồi, tình trạng của bác không thể cải thiện được đâu. Một phần do tuổi tác đã cao ạ. Bác còn khoảng nửa năm. Giờ chỉ còn xem trì hoãn thời hạn này được bao lâu thôi ạ.” “Ơ…” Giữa lúc cả gia đình còn đang ngơ ngác, Kiriko nhìn thẳng vào mắt bệnh nhân lớn tuổi, anh hỏi: “Bác Hashida, bác muốn ra đi như thế nào ạ? Kể cả khi dùng thuốc điều trị ung thư bác cũng chỉ sống thêm được vài tháng thôi và sẽ phải nhập viện suốt vài tháng đó. Bác có thế lựa chọn chuyển hẳn sang chăm sóc giảm nhẹ* đồng thời sử dụng thời gian còn lại sao cho có ý nghĩa ạ.” “Chờ, chờ đã!” Anh con trai ngồi bên cạnh hấp tấp chồm hẳn người lên. “Bố tôi đang làm hóa trị*… Bác sĩ phụ trách bảo chỉ số của bố đang khá lên mà.” Kiriko xem tập giấy tờ. “Đúng vậy ạ. Tình trạng của bác không xấu đi, Nhưng chỉ số ở mức độ này thì gia đình không nên kỳ vọng tình trạng bệnh sẽ có khởi sắc đâu ạ. Về mặt y học, trường hợp của bác đã vô phương cứu chữa rồi ạ. Giờ chúng ta chì có thể vừa kéo dài thời gian vừa cầu nguyện sẽ xảy ra một điều kỳ diệu thôi.” “Nhưng, nhưng, bố tôi vừa thi lấy bằng lái thuyền mơ ước từ lâu… Ông ấy đã rất cố gắng dành thời gian mới thi được để từ giờ còn lái thuyền mà. Các cậu phải có cách gì khác chứ? “Không có cách nào đâu ạ. Nếu còn phương pháp chữa trị khác thì tôi đã nói với gia đình rồi ạ.” “Kể cả thế, tôi nghe nói dùng chiết xuất nấm tác dụng rất tốt, liệu pháp Proton*, rồi còn thảo dược nữa… Phải, phải có cách khác chứ? Cậu đã tìm hiểu kĩ càng chưa đấy?” “Không còn cách nào đâu ạ. Phương pháp điều trị có căn cứ khoa học, được nhận định mang lại hiệu quả là thuốc chống ung thư bác đang dùng. Loại thuốc chống ung thư này không thế ngăn bệnh tình tiến triển, chỉ có tác dụng đến thế thôi ạ. Giờ không phải lúc chúng ta nên tranh luận vấn đề bác nhà có tử vong hay không, phí phạm thời gian. Tử vong là chắc chắn. Sang năm bố anh sẽ không còn nữa đâu ạ. Mọi người cần bàn xem nên làm gì trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại trước khi bác mất. Với tư cách là một chuyên gia, tôi sẽ hỗ trợ mọi người hết khả năng ạ.” “Cậu, cậu! Sao cậu lại có thể nói đến chuyện… chết chóc ở đây. Cậu nói gì với chồng tôi vậy hả? Chúng tôi chỉ trông chờ một tia hy vọng. Vậy mà cậu ăn nói như thế, thật quá quắt…” Đến lượt vợ người bệnh lên tiếng, mắt bà đỏ hoe. Kiriko nghiêng đầu, vẻ mặt đầy khó hiểu. “Bác trai rất quan trọng với mọi người phải không ạ?” “Đương nhiên rồi!” “Cháu nghĩ, chính vì bác trai rất quan trọng nên mọi người càng cần nghiêm túc cân nhắc về việc ra đi của bác ấy mới phải.” Giọng điệu lãnh đạm của Kiriko khiến cả gia đình bùng nổ. Ba người họ đều cực kỳ giận dữ. Phòng tư vấn ngập tràn những tiếng tranh cãi. Lông mày không hề máy động, Kiriko lẳng lặng quan sát toàn bộ khung cảnh trước mắt, bình thản như thể mình đang xem kịch. Anh nghĩ mãi vẫn không hiểu vì sao họ phải làm ầm ĩ đến mức này. Chỉ riêng bệnh nhân là không lên tiếng. Ông im lìm cúi đầu, gương mặt trắng bệch. Trời rất đẹp, gió thổi mạnh. Vừa ngắm tán cây tiêu huyền rung rinh Fukuhara Masakazu vừa sải rộng bước chân trên hành lang nối giữa hai tòa nhà. Nước da rám nắng khỏe khoắn, vóc dáng rắn rỏi cứng cáp, gương mặt anh mang những đường nét sắc cạnh và đôi mắt chứa đựng một ý chí mạnh mẽ. Vừa thẳng tiến anh vừa chào hỏi nhân viên bệnh viện và bệnh nhân mình chạm mặt trên đường. “Bác sĩ gì mà không hiểu tâm trạng người bệnh! Chúng tôi sẽ không bao giờ đến cái bệnh viện này nữa!” Đột nhiên có tiếng quát tháo vọng tới. Fukuhara vừa nhìn sang liền thấy người nhà bệnh nhân lao ra từ phòng tư vấn tòa nhà phía bắc. Mặt họ đều đỏ gay lên vì giận dữ. Một người phụ nữ ôm mặt khóc nức nỏ đang được chàng trai ôm vai dìu đi. “Có chuyện gì vậy?” Fukuhara vội vàng đi tới. Thấy Fukuhara cao lớn lại gần, người phụ nữ thoáng giật mình, nhưng thấy tấm bảng tên “Bác sĩ khoa Ngoại Fukuhara Masakazu” đính trên ngực áo anh, bà cất tiếng như nài nỉ. “Bác sĩ chỗ các anh cứ nói chồng tôi sẽ chết.” “Nghĩa là sao ạ?” “Cậu ta hết lần này đến lần khấc khăng khăng bảo chồng tôi sắp chết. Bác sĩ ăn nói kiểu đó, chúng tôi chữa cũng như không… Bác sĩ đã mặc kệ thì chúng tôi còn biết làm thế nào. Các anh định vứt bỏ bệnh nhân đang khốn khổ hay sao?” “Xin bác bình tĩnh đã ạ. À, bác là… bác Hashida ở khoa Huyết học? Bác đang làm hóa trị đợt đầu* phải không ạ?” Đỡ lấy người phụ nữ, Fukuhara nhìn sang bệnh nhân trong bộ pyjama. “Bác sĩ biết bố tôi sao?” Con trai bác Hashida rất bất ngờ vì vị bác sĩ mới gặp mặt lần đầu này lại biết tường tận về bệnh tình của bố anh đến vậy. “Tôi là Viện phó, ít nhiều cũng nên ghi nhớ thông tin bệnh nhân đang nhập viện điều trị chứ.” “Viện phó…?” Nhìn kiểu gì thì Fukuhara cũng chỉ tầm ba mươi mấy tuổi. Nếu đặt vào vị trí người đảm nhận chức vụ Viện phó của một bệnh viện lớn thì anh còn quá trẻ. Con trai bác Hashida tròn mắt ngỡ ngàng. “Chúng tôi nghe nói khoa Ngoại bệnh viện Shichijuuji có một bác sĩ kỳ diệu. Nhờ liên tiếp cứu sống nhiều bệnh nhân nguy kịch cùng thành tích quá xuất sắc nên đã được đề bạt thành Viện phó?” “Không phải đâu, tôi vẫn còn phải học tập nhiều lắm ạ. Bố tôi là Viện trưởng, từ nhỏ bố đã định hướng cho tôi học hành. Mà tôi làm phiền mọi người lâu quá rồi. Tôi sẽ cho tư vấn lại trường hợp của bác nhà ngay. Em ơi, gọi giúp anh bác sĩ phụ trách ca này được không? Bác sĩ Akazono khoa Huyết học ấy.” Sau khi gọi y tá đi ngang qua, Fukuhara đỡ bác Hashida ngồi xuống xe lăn. Y tá gật đầu, nhanh nhẹn đi vào phòng trục của y tá. Fukuhara đứng dậy. Anh cao ráo đến mức người khác phải ngước nhìn, dáng vẻ khiến người ta tin cậy. “Tôi cũng sẽ tham gia tư vấn. Tôi ở khoa Ngoại, tuy chuyên môn khác nhưng biết đâu có thể giúp ích được gì đó. Để tôi cùng mọi người chiến đấu với bệnh tật.” Fukuhara nhìn bác Hashida, ánh mắt cương quyết. “Bác Hashida, chúng cháu không bỏ cuộc đâu ạ. Làm bác sĩ, cháu từng chứng kiến nhiều kỳ tích rồi. Kỳ tích có xảy đến đấy ạ. Không, chúng ta hãy cùng nhau tạo nên kỳ tích nhé.” Cánh cửa sau lưng Fukuhara mở ra. Kiriko Shuuji rời phòng tư vấn. Kẹp giấy tờ vào dưới cánh tay, anh nhè nhẹ nhìn lướt qua bác Hashida ngồi trên xe lăn, người nhà của bác và Fukuhara. “Xin hãy giữ gìn sức khỏe ạ.” Chỉ nói vậy rồi Kiriko xoay gót bỏ đi. Tiếng bước chân đều đều, nhịp nhàng như đồng hồ quả lắc xa dần. Chỉ vào lưng Kiriko, vợ bác Hashida nghẹn ngào. “Chính… chính cậu ta. Nói toàn những điều kinh khủng.” “Cháu rất, rất xin lỗi bác ạ.” “Cậu ta là ai thế? Bác sĩ kiểu gì vậy?” Nhăn nhó như ăn phải thuốc đắng, Fukuhara đáp. “Kiriko Shuuji khoa Da liễu ạ. Cậu ta là nhân vật chuyên gây rối của bệnh viện chúng cháu đấy bác à.”   Mời các bạn đón đọc Bác Sĩ Cuối Cùng Dưới Tán Hoa Anh Đào của tác giả Atsuto Ninomiya & Mai (dịch).