Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nguyễn Du - Trên Đường Gió Bụi - Hoàng Khôi

Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều chỗ “mờ”! Mười năm gió bụi là cả một khoảng thời gian dài Nguyễn Du ở Thái Bình làm gì, hay còn đi đâu nữa? Nguyễn Du có chống Tây Sơn không và chống như thế nào? Mối tình Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương kéo dài ba năm là lúc ông ở độ tuổi bao nhiêu? Nguyễn Du theo Gia Long có phải là tự nguyện? Rồi Truyện Kiều sáng tác ở thời điểm nào? Tại sao nhiều bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du viết về cảnh vật, con người Trung Hoa lại không trùng với con đường mà ông đi sứ?... Tất cả những điều đó, các nhà nghiên cứu đều đang gắng sức giải mã. Cũng đã có những giả thiết, những đoán định hợp lý, hợp tình, song vẫn cần những chứng cứ chính xác để tìm sự đồng thuận cao. Nhưng không phải vì thế mà người ta bớt yêu Nguyễn Du, bớt yêu Truyện Kiều, bớt yêu Văn tế thập loại chúng sinh và hàng trăm bài thơ, bài văn của Nguyễn Du bằng chữ Nôm, chữ Hán. Trái lại, các công trình nghiên cứu Nguyễn Du và tác phẩm của ông càng ngày càng thu hút giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Người Mỹ, người Anh, người Pháp, người Nga, người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ… đều có những tổ chức, những chuyên gia nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều. Người Việt hải ngoại hướng tới quê hương cũng tiếp cận Nguyễn Du và tác phẩm của ông không ít. Ở trong nước, di tích Tiên Điền, quê hương Nguyễn Du được xem là di tích cấp đặc biệt của quốc gia. Đặc biệt năm 2011, một tổ chức nghiên cứu Truyện Kiều của các nhà khoa học và những người yêu mến Nguyễn Du, yêu mến Truyện Kiều được thành lập, gọi là Hội Kiều học Việt Nam. Tất cả những điều ấy cho thấy Nguyễn Du và Truyện Kiều luôn là một ma lực, hấp dẫn. Đặc biệt Truyện Kiều được phổ biến, quảng bá bằng rất nhiều hình thức, phương thức từ bác học đến dân gian. Sinh hoạt về Kiều là một sinh hoạt văn hóa và Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa. Trong khi chờ để bổ sung một niên biểu chuẩn xác về Nguyễn Du, đã có những nhà văn thả trí tưởng tượng để tái hiện hình ảnh Nguyễn Du, đắp thịt, đắp da cho nhân vật mà mình yêu mến với mong muốn bè bạn cảm thông hơn về số phận, về nhân cách, về tâm hồn của một con người, một thi nhân nổi tiếng. Sự thực, người dựng chuyện về Nguyễn Du không nhiều. Ngoài một đôi mẩu giai thoại được loan truyền, chuyện về danh nhân Nguyễn Du chỉ mới có cuốn Ba trăm năm lẻ của Vũ Ngọc Khánh xuất bản năm 1988 và cuốn Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang xuất bản năm 2010. Cả hai cuốn trên đều nói rất sơ lược, thậm chí không nhắc tới khoảng thời gian mười năm Nguyễn Du lưu lạc. Là người đi sau, chúng tôi may mắn được tiếp xúc với nhiều công trình nghiên cứu và phát hiện mới, có điều kiện gặp gỡ và học hỏi nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia ở Hội Kiều học Việt Nam, cùng với mong muốn được góp một chút gì cho quê hương Nghi Xuân của mình, nên mạnh dạn dựng một Nguyễn Du theo cách mình hiểu. Nhà viết tiểu thuyết lịch sử lừng danh người Pháp, Alexandre Dumas từng khẳng định: Lịch sử chỉ là chiếc đinh để tôi treo bức tranh của mình. Tôi rất đồng tình với quan niệm này nên đã đặt nhân vật của mình với những thăng trầm lịch sử, đặt nhân vật của mình trong tương quan với những con người có thực cùng thời, chiếu ứng với những bài thơ của chính nhân vật viết ra rồi dựng lên một khung cảnh tôi cho là hợp lý. Truyện được dựng trên tinh thần như thế và tác giả chỉ tái hiện nhân vật Nguyễn Du trong khoảng thời gian từ thơ ấu đến ngoài tuổi 30 (khoảng năm 1793). Tôi cho rằng Nguyễn Du không chỉ có mười năm gió bụi mà cả cuộc đời ông sau trước đều trong cõi phong trần. Cuốn sách này được viết để bày tỏ tình yêu của tôi với quê hương và văn hào Nguyễn Du, để góp tiếng nói của một thành viên Hội Kiều học chào mừng ngày kỷ niệm 250 năm sinh của ông và cũng để nhớ tới thân phụ tôi, người đã nhiều năm gắn bó với Nguyễn Du và Truyện Kiều. Tôi xin cảm ơn những người thầy, những bạn bè đã gián tiếp gợi ý cho tôi qua các công trình mà tôi được tham khảo. HOÀNG KHÔI *** Cuốn sách Đoạn Trường Đoàn Nguyễn Tuấn chỉ tập bản thảo viết tay Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du đang đặt ngay ngắn trên án sách của chú em và hỏi: -Hai chữ “Bất uất” ghi ngoài bìa sách liệu có ăn nhập gì với câu chuyện của chú đang viết ra? Nguyễn Du giãi bày: -Ở cuối sách, em chỉ mong mua vui cũng được một vài trống canh nhưng bác biết đấy, thế nào trong truyện chẳng gửi gắm ít nhiều tâm sự. Hẳn sẽ có người chê, người cười! Vậy nên dẫn ra ngoài bìa hai chữ của cụ Khổng. Cụ dạy nhân tri bất uất, bất diệc quân tử hồ (người khác không hiểu tôi, tôi cũng không oán hận). Em viết vậy là để cho rộng đường dư luận, mong sao được nhiều người mặc sức khen, chê. -Chú quả là người rộng lượng và lo xa. Truyện này rất lôi cuốn! Anh nghĩ nếu sách này được phổ biến rộng ra, thiên hạ sẽ còn nhiều chuyện để bàn. -Đa tạ anh quá khen. Xin được anh chỉ dẫn thêm nữa. -Anh em mình đều là người đọc sách, lại rất hiểu nhau nên anh xin nói thật lòng mình. Cuốn sách của chú không chỉ phê bình trong một vài buổi là đủ. Riêng anh, mấy hôm nay suy ngẫm rất nhiều, lại nhớ lần anh em trò chuyện ở Hà Bắc nên đã mạn phép viết mấy lời đề từ. Chú xem rồi bổ chính nhé! Nguyễn Du trân trọng đón nhận tờ hoa tiên Đoàn Nguyễn Tuấn trao. Bài đề từ chỉ có tám câu bằng chữ Hán rất cô đọng nhưng đúng là một nhận xét tổng quát, chuẩn xác, lại bộc lộ được cảm xúc chân thành. Từ đàn lệ ngữ Duyên các kiều tình Kiến kiếm bất kiến nhân Thần hồ ký hĩ Thái hoa nhường mật Tân khổ vi thùy Thị phong khởi ngữ Diệc lãnh đố ngữ. Tạm dịch: Lời mĩ lệ chốn văn đàn Tả mối tình đáng yêu nơi lầu gác Khác nào kiếm thuật cao siêu thần diệu Chỉ thấy kiếm mà không thấy người Hái hoa để gây mật Đắng cay gian khổ là ai nhỉ? Mà nổi gió nên lời Vậy mà cũng lắm điều đố kỵ lạnh nhạt. ... Mời các bạn đón đọc Nguyễn Du - Trên Đường Gió Bụi của tác giả Hoàng Khôi.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Kí Ức Của Một Người Lính Trinh Sát Sư 307 - Võ Văn Hà
Kí Ức Của 1 Người Lính Trinh Sát Sư 307 ra đời chẳng vì cái gì cả, nó chỉ là một cuốn hồi ức sống động của một người lính thầm lặng của một chiến trường khốc liệt. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã lùi dần vào dĩ vãng hơn ba mươi năm, nhưng hãy còn đó những CCB, những anh hùng ngày xưa mà lịch sử đã một thời lãng quên họ, những người anh hùng vô danh ấy, đã sống đã chiến đấu dũng cảm cho đất mẹ yêu thương, những trong số họ đã nằm xuống cho đất nước Chùa Tháp hồi sinh, những người trở về thì lặng yên cố hòa mình vào cuộc sống, nhưng trong họ vẫn âm ỉ cháy một ngọn lửa hồi ức không bao giờ tắt về những ngày tháng chiến đấu bên đồng đội, cùng trèo đèo lội suối chia sẻ nhau chút lương khô trên đường truy kích địch, hay còn nguyên cảm giác không nói nên lời khi tự tay khiêng xác thằng bạn mới hôm qua còn tếu táo với nhau... Tuổi trẻ các anh đã hiến dâng cho tổ quốc nào có ai đòi hỏi gì, đó là những năm tháng không thể nào quên, có những phút nghỉ ngơi sau những tất bật cơm áo gạo tiền, nghĩ lại những giây phút ngày xưa các anh bỗng chợt trào nước mắt vì thương những thằng bạn ra quân sau, mà cứ ngỡ tới tận bây giờ nó vẫn còn nằm chốt bên ấy (lời Trungsy1), để rồi các anh có thêm nghị lực, mà sống cả cho những đồng đội không được sống. Truyện nói lên những dòng hồi ức của một người lính thực thụ, người đã cầm súng chiến đấu cho đất mẹ và cho sự sống của chính mình, qua ngòi bút của chính tác giả, một nhà giáo đã vẽ nên một bức tranh sống động về chiến tranh và cuộc sống người lính trong chiến tranh. Chiến tranh nào phải những con số khô khan lạnh lùng, chiến tranh nào phải trò chơi mà chỉ có thắng với thắng, người lính nào phải chỉ biết đánh nhau… Trăm điều thú vị, nghìn chuyện ngậm ngùi… Tôi đã cùng cười cùng khóc với những dòng hồi ức này, cảm ơn chú Võ Văn Hà nhiều lắm. Giờ thì mời mọi người cùng đọc truyện tuổi teen để hiểu hơn về câu chuyện và Võ Văn Hà gửi gắm. *** Chắc chắn rằng trận đánh đã mang tính chất bất ngờ hoàn toàn với địch. Do địa hình không thuận tiên nên hai khẩu 12.7 và khẩu DKZ phải đặt trước BB và bắn tà âm trực tiếp vào địch. Ngay từ những loạt đạn đầu tiên của DKZ thì căn cứ địch đã bị thiệt hại nặng. Khẩu DKZ của địch nòng vẫn còn quay về hướng bãi mìn đã bị hư nặng nên chúng không phát huy được. Khi dứt đợt hỏa lực đầu tiên, anh em C9 do ở gần nên cơ động nhanh chiếm được một phần trận địa của chúng, và chính vì hai C9 và C10 không đồng bộ trong chiếm lĩnh trận địa nên anh em C9 sau khi chúng định thần lại bị chúng tấn công tới tấp bằng hỏa lực. Cả hai lần C9 bị khựng lại vì anh em không tiến lên được và bị thương khá nhiều. Lúc này hỏa lực của ta đi cùng không phát huy được, nên anh Khánh phải dùng tới cối 120. Không biết thực hư ra sao, nhưng phải công nhận cối rơi vào các điểm trọng yếu của địch và toàn bộ Pốt chết trên tuyến hào này đều do cối. Dù bị địch phản công mạnh, nhưng khi dứt đợt cối thứ hai thì C9 đã có bộ phận vào đến hầm của địch (hai LS cùng một chỗ), địch đã bị dồn tới nước cùng. Có hai hướng chúng định tháo chạy là tây và đông nam. Hướng tây của anh em D10 thì lực lượng mỏng, nhưng kẹt con suối ta đã chiếm sâu vào cứ của chúng. Anh Thìn đang cùng với một B của D10 đang án ngữ hướng này, hơn nữa địa hình hơi khó nên cũng không dễ gì thoát được (một nhóm địch chạy tháo ra bị anh em D10 đánh trả diệt hai tên). Trên các hướng hầm hố đã bị chiếm, và một ít bị cối phá sập nên không còn điểm tựa. Chỉ còn con đường của bãi mìn là con đường lí tưởng của chúng. Cả một lực lượng chúng bị co cụm trên một khu vực hẹp (có lẽ chúng biết bãi mìn của chúng có nơi dày thưa khác nhau) và chính diện vẫn là hướng C9. Tranh thủ thời cơ này, C10 tấn công mạnh yểm trợ cho anh em C9, và anh Thìn nhanh chóng thúc D10 vào chiếm lĩnh khu mạn tây của hào địch (tôi quẳng hai quả MK3 vào hầm địch) và buộc chúng phải rút chạy bất chấp là bãi mìn. Theo nhận định, thì nếu chúng cố chống trả chừng mười – mười lăm phút (không bị mất trung tâm) thì chắc chắn ta và địch phải đánh giáp lá cà vì đạn của ta đã hầu như không còn bao nhiêu. Có một anh C9 trong nòng chỉ còn bảy viên AK, khi tiếp giáp với anh em D10 phải xin hai băng AK… một lúc sau cũng gặp anh này, đang nấp vào phía sau cái thùng phuy của địch đang đưa đạn lẻ thu của địch vào băng. Trên hướng D3 ta hi sinh tám và bị thương hơn mười người. D10 bị thương tám do miểng cối của địch. Trận đánh khép lại với những thắng lợi phải nói là giòn giã. Tâm lí anh em đã được giải tỏa rất nhiều trước những tổn thất trong thời gian qua. Cũng không ai có thể ngờ rằng… chính tại cứ điểm này những năm sau ta phải vất vả, tốn quá nhiều xương máu của anh em F307, F2, F315 và những lực lượng trợ chiến của QK5.   Mời các bạn đón đọc Kí Ức Của Một Người Lính Trinh Sát Sư 307 của tác giả Võ Văn Hà.
Nhật Ký Son Môi - Gào
Không chỉ được cư dân mạng biết đến với nickname rất kêu là “Gào”, cô gái trẻ 22 tuổi còn tự khẳng định bản thân khi tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết “Nhật ký son môi”. “Nhật ký son môi” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Gào sau tập truyện ngắn bán rất chạy “Cho em gần anh thêm chút nữa”. Gào tên thật là Vũ Phương Thanh, sinh năm 1988, hiện làm PR Manager cho công ty VAA của diễn viên, ca sĩ Ngô Thanh Vân. Với lối viết “tự ăn mình” – viết dựa vào chính những chiêm nghiệm, cảm nghĩ, cuộc sống của mình, Gào trải lòng mình trong từng trang viết, viết ra những trải nghiệm của riêng cô. Toàn bộ cuốn truyện không phải là những trang nhật ký ghi lại những sự việc, cảm xúc diễn ra theo kiểu từng ngày, từng giờ, trái lại, nó được kết cấu chặt chẽ với cốt truyện rõ ràng và đơn tuyến. Thời gian ước tính kéo dài khoảng 5 tháng, xoay quanh câu chuyện nhân vật “Tôi” – một cô gái hơn hai mươi tuổi xinh đẹp, cá tính, sắc sảo, dám yêu, dám sống và dám chịu trách nhiệm với cuộc sống của mình. Cô có người yêu kém 2 tuổi đang du học nơi trời Tây, chàng trai ấy phản bội cô và cô sống khổ sở trong sự ngăn cấm của gia đình chàng trai, trong tình yêu da diết mãnh liệt và tinh thần thủy chung nhất dù có bao cách trở, cũng như phải đối mặt với những khó khăn trong công việc, cuộc sống và thời kỳ khó khăn “khủng hoảng tuổi hai mươi”. *** Tôi yêu một chàng trai vào đầu năm ngoái. Vậy là tính đến bây giờ chúng tôi đã yêu nhau được gần hai năm. Đủ dài để tôi lưu luyến, nhớ thương, buồn vương và sầu muộn mỗi khi xa cách hoặc cãi vã. Hơn một năm, chúng tôi dính với nhau như hình với bóng. Mặc dù người yêu tôi đi du học, nhưng phần lớn thời gian trong cuộc sống, chúng tôi đều dành cho nhau. Đã qua rồi cái thời khoảng cách địa lý trở thành một bài toán quá khó đối với những mối quan hệ. Người ta dễ dàng gặp nhau mỗi ngày cả khi ở xa nhau nhờ công nghệ. Ví dụ như chúng tôi có thể ngồi nói chuyện với nhau qua skype 24h mỗi ngày. Hoặc nói chuyện điện thoại thâu đêm suốt sáng. Thực sự việc yêu đương này quá đỗi ngọt ngào. Mỗi khi người yêu về Việt Nam, tôi không còn biết trời đất là gì nữa, chỉ còn cái cảm giác tuyệt vời khó diễn tả khi nằm cạnh bên người đó như chú mèo lười nhăn nhó và nhõng nhẽo. Tôi cảm thấy vui với vai trò của một người nội trợ, được nấu ăn và được người ta khen mỗi ngày. Chúng tôi sống chung với nhau ở một căn hộ tại Sài Gòn, tự tay vun vén cho " tổ ấm bé con" của mình với rất nhiều đồ đạc. Những ngày tháng đó, thực sự rất rất rất và vô cùng hạnh phúc. Nhưng niềm vui này không kéo dài được bao lâu. Không phải vì bởi chúng tôi không yêu nhau mà chỉ bởi cuộc sống luôn bắt người ta đương đầu với thử thách. Tôi là một đứa con gái. Nghiễm nhiên một đứa con gái thì cũng giống như một thằng con trai và mọi " đứa" người trên thế giới này, có vô vàn tất xấu. Tật xấu lớn nhất của những người tuổi 20 như tôi là tật "tự kỷ". Tôi hơn người yêu hai tuổi. Hai tuổi chẳng là cái thá gì đới với một thằng đàn ông, nhưng nó giống như một dòng sông dài rộng mênh mông đối với một người phụ nữ. Mới 22 tuổi hàng ngày tôi đã sợ bị những nếp nhăn nuốt chửng. Phụ nữ khi hơn tuổi người yêu thì luôn bị ám ảnh nảy sinh sầu muộn. Hơn nữa, tình yêu ngọt ngào không đồng nghĩa với thiếu đi rào cản. Rào cản của chúng tôi không chỉ là số tuổi cỏn con của tôi. Nó còn là thái độ của những người xung quanh người yêu tôi đối với tôi. Có lẽ, người yêu tôi đủ tốt để kiếm được một cô gái tốt hơn tôi. Thế nên nhiều người thân bên anh ấy, thường nhìn tôi với ánh mắt không mấy hài lòng. Tôi thua kém gì? Nhiều lần tôi tự đặt ình câu hỏi đó. Sau rồi, tôi cũng tự trả lời được: "Mình thua kém nhiều!" …đâm ra sợ. ... Mời các bạn đón đọc Nhật Ký Son Môi của tác giả Gào.
Mở Mắt Khi Hôn - Hà Mạnh
"Cuộc sống luôn cần sự tỉnh táo. Nếu có điều gì thực sự khiến bạn mê đắm hoàn toàn thì đó chỉ có thể là tình yêu chân chính” – tác giả của “Mở mắt khi hôn” chia sẻ. Cách đây 3 năm, cũng vào thời điểm cuối mùa xuân, một cuốn sách có cái tên khá lạ và kích thích trí tò mò Cô gái U80 ra mắt công chúng. Và Hà Mạnh, khi đó là một sinh viên báo chí năm cuối, đã lần đầu tiên được mọi người biết đến với tư cách một nhà văn trẻ. Ra trường, chàng trai sinh năm 1991 dành nhiều thời gian cho các chuyến du lịch và sau đó chuyển vào Sài Gòn để theo đuổi những dự định nghề nghiệp. Dù làm nhiều công việc, từ biên tập viên báo mạng điện tử, sản xuất nội dung cho các chương trình giải trí hay mới đây nhất là giữ vai trò biên kịch cho Bitches in Town, Hà Mạnh vẫn không quên viết sách. Mới đây, anh cho ra mắt cuốn sách thứ hai, cũng với một cái tên lạ và giàu sức gợi - Mở mắt khi hôn. Cuốn sách được xem là dấu mốc tiếp theo với nhiều thay đổi quan trọng trong chặng đường viết lách của Hà Mạnh. Không những thay đổi về văn phong, góc nhìn hay cách khai thác, Hà Mạnh còn bảo, sau Mở mắt khi hôn anh sẵn sàng viết về sex và đồng tính - điều mà cách đây 3 năm anh đã thẳng thừng từ chối.  *** Câu chuyện xoay quanh mối quan hệ tay ba đầy duyên nợ và rắc rối của ba người trẻ tuổi. Ước mơ tuổi trẻ, những vấp ngã đầu đời, những yêu, hận, tình, tiền đan xen với những khao khát và con đường đã chọn. Liệu con đường đó sẽ đi đến đâu? Vinh quang hay vực thẳm? Là kết thúc hay sự khởi đầu? Mời các bạn đón đọc Mở Mắt Khi Hôn của tác giả Hà Mạnh.
Vùng Biên Ải - Ma Văn Kháng
Với hàng loạt tiểu thuyết có giá trị, phản ánh đời sống của đồng bào dân tộc miền núi như "Đồng bạc trắng hoa xoè", "Vùng biên ải", "Gặp gỡ ở La pán tẩn"... Ma Văn Kháng được mệnh danh là "nhà văn của núi rừng". Ngoài ra, ông cũng rất thành công với đề tài gia đình như các tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn", "Đám cưới không có giấy giá thú"... Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Ông tham gia quân đội từ tuổi thiếu niên. Tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm năm 1963 và lên dạy học ở tỉnh Lao Cai. Ông viết văn từ năm 1961, từng được nhận giải thưởng Văn học Đông Nam Á 1998, Giải thưởng Nhà nước về Văn Học Nghệ thuật 2001. Hơn 30 năm, ông đã ghi dấu vào dòng chảy văn học VN những tác phẩm đặc sắc. Mới đây NXB Công an Nhân dân phối hợp với công ty Văn hoá Phương Nam xuất bản tuyển tập sách Ma Văn Kháng gồm 10 tập. Xin giới thiệu tiểu thuyết Vùng biên ải của ông. Truyện viết về cuộc đấu tranh tiễu phỉ của quân và dân ta ở vùng biên giới Việt- Trung từ năm 1951 đến năm 1953. Sát cánh cùng đồng bào các dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đã đập tan được ổ phỉ do tên Châu Quán Lồ cầm đầu và được thực dân Pháp nuôi dưỡng. Những kẻ mù quáng theo phỉ được kêu gọi trở về làm ăn lương thiện, những tên ngoan cố, gian ác bị trừng trị thích đáng. *** Khi đọc những sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng ta thấy nó có một hình hài, diện mạo rất riêng, vì ngay từ những sáng tác đầu tay, người cầm bút đã đến với người đọc trong tư cách một nhà văn có ý thức về chỗ đứng trong vương quốc văn chương nghệ thuật. Các nhà nghiên cứu thường nhận xét rằng cho đến nay, tiểu thuyết và truyện ngắn của Ma Văn Kháng vẫn tập trung vào hai đề tài chính là cuộc sống của đồng bào vùng núi cao phía Bắc Tổ Quốc và đời sống thành thị đầy phức tạp trong cuộc chuyển mình mạnh mẽ của đất nước sau chiến thắng một nghìn chín trăm bảy nhăm. Đọc Ma Văn Kháng, thấy xuyên suốt những trang văn một triết luận đời sống hết sức nhất quán. Triết luận ấy là tình người, tính người và sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện về con người và cuộc đời. Các nhà văn thường miêu tả ngoại hình để nói chuyện tính cách. Ma Văn Kháng thường miêu tả tướng hình để thể hiện tính người, tình người. Bởi vì cái tính thường lộ ra ở cái tướng, nhất là ở những kẻ ác tính, ác tâm. Những truyện ngắn, tiểu thuyết hay nhất của Ma Văn Kháng là những truyện nói về dòng đời, mạch sống. Trong truyện ngắn, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng còn có khuynh hướng mở rộng các thành phần mạch trần thuật, hòa văn nói vào văn viết.    Mời các bạn đón đọc Vùng Biên Ải của tác giả Ma Văn Kháng.