Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vụ Án Mạng Giám Mục

Những án mạng kỳ lạ và những bức thông điệp chỉ dẫn về các án mạng được gửi đến báo chí như thách thức dư luận. Liệu kẻ bí ẩn có biệt danh là  "Giám Mục", người được cho rằng đã đánh máy và gửi những thông điệp đó, có phải là hung thủ? Rất nhiều lĩnh vực có thể được đưa vào một tiểu thuyết trinh thám đã xuất hiện trong cuốn sách này. Những bài đồng dao gợi cảm hứng cho hung thủ về các án mạng. Công thức toán học tìm thấy bên cạnh xác nạn nhân. Một án mạng liên quan đến cờ vua. Những tình tiết liên quan đến triết học, y học, thiện văn học... cũng có ảnh hưởng khá quan trọng đến diễn biến của câu chuyện. ... Hơn một lần, nghi can đã bị nghi ngờ nhiều nhất bỗng nhiên chết với nhiều nghi vấn. Bất ngời nối tiếp bất ngờ... *** Review Vụ án mạng Giám mục (Philo Vance #4). Về nội dung: quyển sách viết rất ổn, nhìn chung bảo vô cùng đặc sắc thì không phải, nhưng chắc chắn là có những nét riêng của mình. Tuy nhiên, trước hết phải nói nó không dễ đọc, vì hàm lượng kiến thức Toán, Vật lý cao cấp, Lịch sử, Nghệ thuật,… rất nhiều, tương đương với dung lượng dành cho vụ án. Lý do là rất nhiều các nhà khoa học dính líu vào vụ này. Nói đơn giản, nó như một sự pha trộn giữa các tác phẩm thời kì Hoàng Kim và các tác phẩm của H.G.Wells. Bản thân tôi thì đọc được không vấn đề, tuy nhiên độc giả thông thường có thể thấy mệt khi theo dõi. Về bản thân vụ án: không quá khó đoán hung thủ, mặc dù tất cả chỉ là suy đoán vì thủ pháp gây án hoàn hảo không có chứng cứ. Việc có ích duy nhất là xem xét thời gian hoạt động và chứng cứ ngoại phạm của các nhân vật tình nghi, sau đó khoanh vùng hung thủ. Việc còn lại là để sự việc diễn tiến để dùng thủ pháp “loại trừ” (loại trừ đúng nghĩa đen) để đoán ra hung thủ. Có twist cuối truyện, nhưng không thật sự đặc sắc với những ai đọc thể loại này lâu năm, và thật sự là đến lúc đó thì tùy vào diễn biến truyện xem tác giả “chọn mặt” ai để “gửi vàng”. Về việc làm sách: Bìa không tạo được cảm giác thu hút, thấy nghi ngại (cảm giác cá nhân) có thể khiến khó bán sách. Mặc dù nếu xem kỹ thì bìa là bản đồ (không trọn vẹn) hiện trường nên cũng khá thú vị. Dịch thuật ban đầu cảm tưởng như dịch word-to-word nhiều, còn non tay nhưng về sau càng đọc càng vào, dịch càng lên. Sách cũng không có các trang thông tin sau khi truyện kết thúc (trước bìa 3 và 4), hơi khó hiểu. Điều đáng nói ở đây là công sức trong việc chú giải: đây là điều rất đáng ghi nhận vì đội ngũ làm sách đã cố gắng hết sức để giữ cho trải nghiệm của người đọc được như khi đọc nguyên tác. Các chú thích rất nhiều và được làm rất chi tiết, phân ra rõ ràng chú thích cũ của tác giả và chú thích mới của người dịch. Các đoạn “tiếng nước ngoài” rất nhiều (các nhân vật thời này có vẻ thích chêm vào vài câu Latin, Đức, Pháp để tỏ ra nguy hiểm? Điều này gây khó chịu khi đọc, nhưng không phải lỗi ở đội ngũ làm mà là do nguyên bản, không thể trách họ). Rất giống Poirot, nhưng Trẻ làm chỉ dịch đúng 1 lần, nên lần sau gặp lại từ đó không nhớ thì rất khó chịu. May là đội ngũ làm sách rất có tâm nên không phải chịu đựng cảnh này. Một chi tiết khá thú vị nữa là các nhân vật nhắc đến những tên tuổi nổi danh trong giới khoa học đương thời như thể trong những câu chuyện thường ngày, như thể họ đang cạnh tranh những công trình khoa học với những người đó, điều này khiến cho cuốn sách có cảm giác như đã thực sự diễn ra trong thời điểm đó. Tuy nhiên, có điểm hơi thất vọng là mặc dù tác giả xây dựng hình tượng Vance rất nguy hiểm: ngoài bắt chước Conan Doyle xây dựng Sherlock Holmes từ góc nhìn của Dr. Watson, ông này còn vô cùng hiểu biết, cái quái gì cũng nói chuyện được (chém Toán cao cấp, Vật lý, thậm chí cờ vua như đúng rồi). Nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết vụ án ở mức độ hiệu quả cao nhất. Đáng lẽ không nên nâng bi quá đà như vậy. Điểm cá nhân: 7/10. Nguyễn Minh Thắng   VỤ ÁN MẠNG GIÁM MỤC – S.S. VAN DINE Ngày xửa ngày xưa, ở 1 vùng đất xa xôi bên kia đại dương (ờ thì thật ra cũng không xưa lắm và không xa lắm, chỉ là mùa xuân năm 1929 ở New York thôi), có 1 cô tiểu thư hiền lành giỏi bắn cung tên là Belle Dillard. Belle sống với bác mình là giáo sư Bertrand Dillard và người con nuôi của ông, Sigurd Arnesson. Ngày nọ, 1 trong những người thường tập bắn cung với Belle bị chết vì cung tên. Sau đó không lâu, 1 sinh viên có quen với gia đình Dillard bị chết do súng lục bắn vào đỉnh đầu. Tiếp theo là những cái chết kỳ lạ ứng với 1 bài đồng dao trẻ con xảy ra xung quanh gia đình Dillard. Thám tử Philo Vance, luật sư Van Dine, công tố viên Markham, trung sĩ Heath của Cục Hình sự, cùng với sự hợp tác của Arnesson, đã tiếp nhận điều tra các vụ án bí ẩn nêu trên. Manh mối ít ỏi, không có động cơ gây án, ai cũng không có chứng cứ ngoại phạm… cuộc điều tra cứ xoay quanh những bài đồng dao trẻ con, các công thức toán học phức tạp và những ván cờ vua kéo dài hàng tiếng đồng hồ. Rất may, khi những vụ án mạng đáng sợ cứ tiếp tục xảy ra thì bên cạnh tiểu thư Belle luôn có Arnesson thông minh, vững vàng che chở cho cô. Nếu cứ không tìm được hung thủ thì mọi chuyện rồi sẽ đi về đâu? Biển được tặng cuốn “Vụ án mạng giám mục” khi đi offline Hội Thích Truyện Trinh Thám đầu tháng 5/2018 nhưng hạ tuần tháng 5 mới bắt đầu đọc nó. Quyển sách giản dị nhỏ nhắn do thành viên của hội tự dịch và tự in, bìa sách gợi liên tưởng đến Google Map. Khi được chọn sách, (nói thật thì cuốn Biển tăm tia đã được người khác chọn trước), còn “Vụ án mạng giám mục” vẫn xếp thành 1 chồng nhỏ, thấy thương quá nên Biển lấy 1 cuốn!, và quyển sách cũng thương lại Biển, vì nó rất xuất sắc. Sách nhỏ nhưng nặng, đọc lâu hết. Chữ in to rõ, chất giấy tốt. Nội dung Biển đã kể sơ ở trên, lôi cuốn từ trang đầu đến trang cuối. Biển xin phép khen ngợi 2 người dịch quyển này, dịch rất kỹ, rất mượt, không có lỗi dùng từ hoặc lỗi chính tả. Trong khi đọc, có những câu Biển cảm giác rõ rằng dịch giả đã phải cân nhắc kỹ lưỡng bao nhiêu để sắp xếp trật tự câu chữ cho hợp lý nhất và hay nhất. Không phải vì sách được tặng hoặc vì Biển phải đợi lâu để “chộp” được nó mà Biển khen nó hay, bản chất của nó hay sẵn. Quyển sách nhìn đơn giản nhưng thật sự hấp dẫn, đọc cứ như Sherlock Holmes. Tuy cũng thuộc dòng trinh thám kinh điển nhưng Biển thấy nó mang nhiều hơi hướm hiện đại (vì bối cảnh truyện là thế kỷ XX) và hay hơn quyển “Hồ sơ số 113”. Đọc được a/b truyện thì Biển đã đoán (đúng) được hung thủ (a/b là 1 phân số, không dùng số mà dùng chữ ab để không spoil truyện). Độc giả có thể đọc 1 mạch đến hết, cũng có thể đọc từng chương rồi dừng lại để nghiền ngẫm thêm. “Vụ án mạng giám mục” không có chi tiết kinh dị, có thể đọc thoải mái không cần băn khoăn. Theo Biển thì đây là 1 quyển đáng có trên kệ sách của mọi mọt. Biển xin gửi lời cảm ơn Hội 4T đã tặng Biển quyển này, và cảm ơn người đầu tiên đã nảy ra ý tưởng dịch quyển này sang tiếng Việt để đem đến cho độc giả VN 1 quyển sách hay. Nói nhỏ nhỏ: nếu được, mong Hội 4T hãy đầu tư nhân lực + hiện kim để dịch thêm các truyện trinh thám khác của tác giả này nhé ^^ (Sea, 28-5-2018) Camellia Phoenix *** S. S. Van Dine là bút danh của Willard Hungtington Wright (15/10/1888 - 11/04/1939), một nhà phê bình nghệ thuật và cũng là một nhà văn người Mỹ. Ông tạo ra thám tử hư cấu rất nổi tiếng là Philo Vance, xuất hiện trong cuốn sách đầu tiên vào năm 1926, sau đó là trong các bộ phim và trên đài phát thanh. Willard Hungtington Wright là con trai của Archibald Davenport Wright và Annie Van Vranken Wright. Ông sinh ngày 15 tháng Mười năm 1888, tại Charlottesville, Virginia. Em trai ông, Stanton Macdonald-Wright (1890 - 1973), một nghệ sĩ trừu tượng nổi tiếng của Mỹ, có vẽ một bức tranh chân dung ông bằng sơn dầu vào khoảng năm 1913 -1914. Năm 1907, Wright kết hôn với Katharine Belle Boynton tại Seattle, Washington. Ông kết hôn lần thứ hai vào năm 1930 với Eleanor Rulapaugh, được biết đến dưới cái tên Claire De Lisle, một họa sĩ tranh chân dung. Wright, một nhà văn chủ yếu tự học, đã theo học trường St. Vincent College, Pomona College và đại học Havard nhưng không hoàn tất. Ông cũng học nghệ thuật ở Munich và Paris, chính việc học ở đây đã dẫn dắt ông tới công việc liên quan đến văn học và phê bình nghệ thuật cho tờ Los Angeles Times. Wright là một người ủng hộ chủ nghĩa tự nhiên của Theodore Dreiser. Ông đã viết tiểu thuyết “The Man of Promise” và một số truyện ngắn theo thể loại này. Khi là biên tập viên cho tạp chí văn học The Smart Set, từ năm 1912 - 1914, ông đã cho xuất bản một số tiểu thuyết hiện thực của các tác giả khác. Ông bị sa thải khỏi vị trí đó khi chủ sở hữu bảo thủ của tạp chí cảm thấy rằng Wright đã cố tình khiêu khích độc giả trung lưu của họ với sự hứng thú của ông về những tác phẩm hư cấu trái với thông lệ và bị cho là khiêu dâm. Trong thời gian hai năm đó, Wright đã xuất bản truyện ngắn của Gabriele D’Annunzio, Floyd Dell, Ford Madox Ford, D.H. Lawrence và George Moore; một vở kịch của Joseph Conrad; và những bài thơ của Ezra Pound và William Butler Yeats. Ông xuất bản cuốn “What Nietzsche Taught” vào năm 1915. Trong cuốn sách này, ông cung cấp thông tin và những lời nhận xét trong các cuốn sách của Nietzsche, cũng như trích dẫn từ mỗi cuốn sách. Năm 1917, ông đã xuất bản Misinforming a Nation, một lời phê bình gay gắt về sự thiếu chính xác và định kiến tiếng Anh của bách khoa toàn thư Britannica tái bản lần thứ 11. Wright tiếp tục sự nghiệp trong vai trò một nhà phê bình và nhà báo cho đến năm 1923, khi sức khỏe ông trở nên yếu đi do làm việc quá sức, nhưng thật ra là do nghiện thuốc (theo “Tiểu sử bút danh S. S. Van Dine” của John Loughery). Bác sĩ đã khuyên ông nên nghỉ ngơi (được cho là do bệnh tim, nhưng thật ra là do nghiện cocaine, một loại ma túy chiết xuất từ lá coca) trong hơn hai năm. Thất vọng và chán nản, ông bắt đầu sưu tập và đọc hàng trăm tác phẩm về tội phạm và điều tra. Wright cũng quyết định thử sức mình với tiểu thuyết trinh thám và tham khảo ý kiến của Maxwell Perkins, biên tập viên Scribner nổi tiếng mà ông quen tại Đại học Harvard. Năm 1926, cuốn sách đầu tiên về Philo Vance, The Benson Murder Case, được xuất bản dưới bút danh “S. S. Van Dine”. Wright lấy bút danh từ chữ viết tắt của từ “steamship” và cái tên Van Dine, mà theo ông nói là một cái tên cổ trong gia đình. Tuy nhiên, theo như lời Loughery, “không ai có cái tên Van Dine trong cây gia phả”. Ông tiếp tục viết thêm 11 tiểu thuyết trinh thám, và những quyển sách đầu tiên về vị thám tử nghiệp dư trong tầng lớp thượng lưu, Philo Vance (người có tình yêu về mỹ học giống Wright), trở nên nổi tiếng tới nỗi lần đâu tiên trong đời Wright trở nên giàu có, nhưng niềm vui không trọn vẹn. Số phận của ông đã được báo trước một cách kỳ lạ ở Stanford West, người anh hùng trong cuốn tiểu thuyết của ông, nổi tiếng do từ bỏ công việc không được ưa chuộng trong khi tìm kiếm “một nền móng vững chắc của văn minh và tầng lớp quý tộc” và trở thành một tiểu thuyết gia thành công. Tiêu đề của một bài báo ông viết ở đỉnh cao của sự nổi tiếng của mình, “Tôi từng là một nhà trí thức và bây giờ hãy nhìn tôi đi”, phản ánh cả niềm tin và sự hối tiếc của ông về việc ông không được coi trọng như là một nhà văn hàng đầu. Những cuốn sách sau này của ông đã ít nổi tiếng hơn vì sở thích của công chúng trong việc đọc các tiểu thuyết hư cấu bí ẩn đã thay đổi. Wright, người có tính cách giống với Vance, là một người điệu bộ và ham mê nghệ thuật, hiểu biết về nghệ thuật, âm nhạc và phê bình. Ông sống trong một căn hộ đắt đỏ, với niềm yêu thích trang phục và thức ăn đắt tiền, và sưu tập các tác phẩm nghệ thuật. Wright mất vào ngày 11 tháng Tư năm 1939, ở thành phố New York, một năm sau khi xuất bản cuốn tiểu thuyết “The Grade Allen Murder Case” và để lại một tiểu thuyết ngắn được dự định dựng thành phim cho Sonja Henje, và được xuất bản sau khi ông mất dưới tên “The Winter Murder Case”. Series về thám tử Philo Vance gồm 12 tác phẩm: The Benson Murder Case (1926) The Canary Murder Case (1927) The Greene Murder Case (1928) The Bishop Murder Case (1928) The Scarab Murder Case (1929) The Kennel Murder Case (1933) The Dragon Murder Case (1934) The Casino Murder Case (1934) The Garden Murder Case (1935) The Kidnap Murder Case (1936) The Grade Allen Murder Case (1938) The Winter Murder Case (1939) Cùng với sự thành công trong vai trò một nhà văn viết tiểu thuyết hư cấu, những dòng giới thiệu và ghi chú của Wright trong tuyển tập “The world’s great detective stories” (Những truyện trinh thám hay trên thế giới - 1928) rất quan trọng trong lịch sử nghiên cứu phê bình về tiểu thuyết trinh thám. Ông cũng đã viết một bài báo có tựa đề “Twenty rules for writing detective stories” (Hai mươi quy tắc viết truyện trinh thám) vào năm 1928 được đăng trên tạp chí The American. Nó thường xuyên được tái bản và thường được đối chiếu với “Ten commandments of detective fiction” (Mười điều răn về truyện trinh thám - 1929) của Ronald Arbuthnott Knox (1888 - 1957), một linh mục, nhà thần học và tác giả truyện trinh thám người Anh. Wright cũng viết một series truyện ngắn cho hãng phim Warner Brothers vào đầu thập niên 1930. Những câu chuyện này đã được sử dụng trong một series gồm 12 phim ngắn, với độ dài khoảng 20 phút mỗi tập, được phát hành vào năm 1931 -1932: The Clyde Mystery (tháng 09/1931) The Wall Street Mystery (11/1931) The Week End Mystery (12/1931) The Symphony Murder Mystery (01/1932), The Studio Murder Mystery (02/1932) The Skull Murder Mystery (03/1932) The Cole Case (The Cole Murder Case) (04/1932) Murder in the Pullman (05/1932) The Side Show Mystery (06/1932) The Campus Mystery (07/1932) The Crane Poison Case (07/1932) The Trans-Atlantic Murder Mystery (08/1932) Trong số đó, The Skull Murder Mystery cho thấy việc xây dựng tình tiết kịch bản mạnh mẽ của Wright. Nó cũng nổi tiếng về cách đối xử không phân biệt chủng tộc đối với những nhân vật người Trung Quốc, một điều khá bất thường vào thời điểm đó. Theo như được biết, không có kịch bản nào của ông được xuất bản thành sách và dường như không có bản thảo nào tồn tại đến ngày nay. Những phim ngắn cực kỳ phổ biến vào thời điểm đó và Hollywood đã làm hàng trăm phim như thế trong thời kỳ đó. Tuy nhiên, trừ một số phim hài câm, hầu hết những bộ phim này đều bị lãng quên và không được liệt kê trong các cuốn sách tham khảo về phim ảnh. Mời các bạn đón đọc Vụ Án Mạng Giám Mục của tác giả S. S. Van Dine & Nhã Nhã (dịch) & Tào Huỳnh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ôi Đàn Bà - James Hadley Chase
James Hadley Chase là bút danh của tác giả người Anh - Rene Brabazon Raymond (24/12/1906 – 6/2/1985), người cũng đã viết dưới tên James L. Docherty, Ambrose Grant và Raymond Marshall. Ông sinh ra ở Luân Đôn, là con của một đại tá người Anh phục vụ trong quân đội thuộc địa Ấn Độ, người dự định cho con trai mình có một sự nghiệp khoa học, bước đầu đã cho học tại trường học Hoàng gia, Rochester, Kent và sau đó học ở Calcutta. Ông rời gia đình ở tuổi 18 và làm nhiều công việc khác nhau, một nhà môi giới trong nhà sách, nhân viên bán sách bách khoa toàn thư của trẻ em, người bán sách sỉ trước khi tập trung vào sự nghiệp viết lách với hơn 80 cuốn sách trinh thám. Năm 1933, ông đã cưới Chase Sylvia Ray và có một con trai. Trong Thế chiến II, ông phục vụ trong Không quân Hoàng gia, cuối cùng đạt được thứ hạng lãnh đạo Đội tàu chiến. Chase đã biên tập Tạp chí Không quân Hoàng gia cùng với David Langdon với nhiều câu chuyện, nó được phát hành sau chiến tranh trong cuốn sách Slipstream. Chase chuyển đến Pháp năm 1956 và sau đó đến Thụy Sĩ vào năm 1961, sống một cuộc sống ẩn dật ở Corseaux-Sur-Vevey, phía bắc của hồ Geneva, từ năm 1974. Ông qua đời yên bình vào ngày 6/2/1985. *** Các tác phẩm của James H. Chase đã được xuất bản tại Việt Nam: Tỉa Dần Cái Chết Từ Trên Trời Cả Thế Gian Trong Túi Ôi Đàn Bà Cạm Bẫy Gã Hippi Trên Đường Hứng Trọn 12 Viên Đam Mê và Thu Hận Tệ Đến Thế Là Cùng Mười Hai Người Hoa và Một Cô Gái Buổi Hẹn Cuối Cùng Trở Về Từ Cõi Chết Thằng Khùng Không Nơi Ẩn Nấp Đồng Tiền và Cạm Bẫy Lại Thêm Một Cú Đấm Đặt Nàng Lên Tấm Thảm Hoa Cành Lan Trong Gió Bão Những Xác Chết Chiếc Áo Khoác Ghê Tởm Món Quà Bí Ẩn Âm Mưu Hoàn Hảo Cướp Sòng Bạc Cạm Bẫy Dành Cho Johnny Những Xác Chết Câm Lặng Em Không Thể Sống Cô Đơn Thà Anh Sống Cô Đơn Buổi Hẹn Cuối Cùng Mùi Vàng Phu Nhân Tỉ Phú Giêm Tình Nhân Gã Vệ Sĩ Dấu Vết Kẻ Sát Nhân Trong Bàn Tay Mafia Này Cô Em Vòng Tay Ác Quỷ Thiên Đường của Vũ Nữ Châu Dã Tràng Xe Cát .... Mời các bạn đón đọc Ôi Đàn Bà của tác giả James Hadley Chase.
Bản Thông Báo Tử Vong: Sự Trừng Phạt - Chu Hạo Huy
Vị bác sĩ chuyên khao Thận của bệnh viện Nhân Dân - Lý Tuần Tùng mất tích, ông bị cắt một một ngón tay cái bên bàn tay phải và kẻ bắt cóc đòi tiền chuộc bằng kim cương trị giá mọt triệu nhân dân tệ. Mặc dù cảnh sát đã bủa vây thiên la địa võng, nhưng số kim cương vẫn biến mất còn Lý Tuấn Tùng thì mất mạng.  Đội cảnh sát hình sự dốc toàn lực quyết tâm phá an, bao nhiêu manh mối tìm được lại lần lượt bị cắt đứt, các nhân vật liên quan đến lý Tuấn Tùng đều được điều tra tỉ mỉ, nhưng cái chết của bác sĩ Lý vẫn là một ẩn số.  Liệu La Phi - đội trưởng đội cảnh sát hình sự có nhìn được ra điểm mù vốn được dàn dựng công phu chặt chẽ để phá án thành công hay không? Và rột cuộc , ai là kẻ đã sát hại Lý Tuấn Tùng? Liệu tất cả những kẻ có tọi đều bị trừng phạt *** Ngày 30 tháng 10 " sao không kéo rèm cửa sổ ra? tối om om thế." Vừa bước vào phòng, Dư Tĩnh đã kêu toáng lên. Cô chạy thẳng đến bên cửa sổ, kéo toang rèm ra, ánh nắng chiều rực rỡ tràn vào khiến vẻ âm u nặng nề của bầu không khí trong căn phòng hoàn toàn thay đổi. Mấy anh chàng đang ngồi trong phòng đều không nói gì, xem ra họ đã quen với lối hành động theo ý mình của Dư Tĩnh. Cô gái vùng phương nam trông nhẹ nhàng đằm thắm này lại có tính cách thẳng thắn bộc trực như người phương Bắc. Đợi cô gái ngồi vào bàn họp, một cậu thanh niên đeo kính bên cạnh mới nhắc: Lát nữa phải bật máy chiếu đấy, sáng quá sẽ không nhìn rõ được." "Đợi đến lúc bật máy lên rồi tính". Dư Tĩnh đáp lời rồi nhìn cậu thanh niên hỏi "Sư huynh, anh ngửi xem trên người em có mùi không?" Cậu thanh niên đeo kính trên ghế sát lại ngửi, sau đó nói to xuýt xoa, vẻ mặt ngây ngất: " thơm quá" Tất cả mọi người trong phòng đều cười theo. " Đáng ghét!" Dư Tĩnh giơ nắm tay thon lên đấm một nhát vào đối phương, lại hỏi lần nữa: " Nói thật đấy trên người em có mùi của người chết không?" "Mùi người chết gì? Đấy là mùi formalin." Cậu thanh niên đeo kính sửa lời và vặn lại, "Cái mùi này thì trên người bọn mình ai mà không có hả?" Dư Tĩnh chau mày nhấn mạnh: "Em khác các anh." Cậu thanh niên đeo kính hiểu ra điều gì đó, cậu nhìn cô bằng ánh mắt thông cảm:"Mấy hôm nay em mệt lắm hả?" "Chứ còn gì nữa? Vùi trong đống người chết." Dư Tĩnh nhe răng cười ngao ngán, "Con gái mà bị phân vào khoa Bệnh lý, anh bảo có phải là bi thảm nhất thế giới không cơ chứ?" "Đừng kêu ca nữa, chẳng phải là tự em chuốc lấy còn gì?" Một anh chàng khác ngồi phía đối diện khuyên bảo, "Cô chịu đi. Thường cũng chỉ hai ba tháng thôi, qua được là ổn cả thôi." Cậu thanh niên vừa nói dứt lời thì ngoài hành lang vang lên tiếng gót giày nện xuống mặt sàn. Mọi người trong phòng như thể bất được tín hiệu gì đó, lập tức trở nên im lặng, không dám nói thêm lời nào. Giây lát sau một bóng người bước vào phòng, tất cả sinh viên nam nữ đều đứng lên, kính cẩn chào: "chúng em chào cô Trang" Giáo viên là một người phụ nữ có khí chất đặc biệt, dáng người cao ráo, gương mặt đoan trang. Sau khi vào phòng, bà liền ngồi vào vị trí đầu bàn họp, đồng thời quay đầu nhìn về phía cửa sổ, ánh nắng chiếu thẳng vào khiến bà hơi nhíu mày. Dư Tĩnh ở gần đó hiểu ý, vội ra cửa sổ kéo rèm lại rồi ngồi vào cùng các sinh viên khác. Cô Trang đặt một tập tài liệu và điện thoại di động lên bàn họp, sau đó nói ngắn gọn: "Bắt đầu đi" Thứ tự báo cáo đã được xếp lịch sẵn từ trước. Cậu thanh niên đeo kính khi nãy báo cáo đầu tiên, cậu điều khiển máy chiếu mở file ppt đã chuẩn bị, slide đầu tiên hiện ra tên của cậu: Dương Triết. Trong quá trình Dương Triết báo cáo không khí trong phòng họp vô cùng yên lăng, chỉ có chiếc điện thoại của di động của cô Trang vang lên một tiếng giữa chừng. Có điều bà không hề xem ngay. Khoảng mười phút sau, phần báo cáo của Dương Triết kết thúc. Cô giáo Trang lập tức đưa ra lời nhận xét, đám sinh viên của bà vừa nghe vừa chăm chỉ ghi chép. Cuối cùng cô nói "Được rồi". Dương Triết liền thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng. Cô giáo Trang nhớ ra hình như điện thoại có tin nhắn liền mở ra xem, sau đó phân công Dương Triết :" Tôi có một gói bưu phẩm ở trạm chuyển nhận, cậu đi lấy giúp tôi." Dương Triết cầm chứng minh thư của cô giáo Trang rời phòng họp đi lấy bưu phẩm chuyển phát nhanh. Khi quay lại phòng họp cậu thấy sinh viên báo cáo thứ hai đang cúi đầu nghe cô giáo Trang phê bình. Dương Triết có chút đắc ý, nhưng không thể hiện ra mặt, chỉ lặng lẽ đặt hộp bưu phẩm chuyển phát nhanh vừa lấy về và chứng minh thư trước mặt cô giáo rồi ngồi vào chỗ của mình. Cô giáo Trang cầm chiếc hộp giấy lên xem. Trên chiếc hộp đó dán đầy băng dính, không thể mở ngay ra được. Bà cầm chiếc hộp rời khỏi phòng họp, một lúc sau đã thấy quay lại ngay, trên thay cầm theo một con dao dọc giấy. Vì thời gian có hạn, bà không trao đổi tiếp với sinh viên trước đó nữa. " Chúng ta đừng làm mất thời gian của mọi người vấn đề của bạn hết buổi tôi sẽ tiếp tục trao đổi riêng với bạn." Cô giáo Trang nghiêm khắc nói với cậu sinh viên sau đó bà quay về phía cô gái duy nhất trong phòng họp " Dư Tĩnh, em bắt đầu đi." Dư Tĩnh căng thẳng nuốt nước bọt, mở file ppt. Cô giáo Trang vừa nghe Dư Tĩnh trình bày, vừa bắt đầu dùng chiếc dao nhỏ cắt băng dính trên chiếc hộp giấy. Dư Tĩnh vừa nói vừa liếc nhìn cô giáo Trang, có vẻ không tư tin về bài báo cáo của mình. Và tình hình có vẻ đúng như cô lo lắng, vẻ mặt của cô giáo Trang mỗi lúc một năng nề hơn. Dư Tĩnh lại càng phấp phỏng bất an, giọng nói cũng bắt đầu run. Cuối cùng cô giáo Trang giơ tay chặn lại: "Em đừng nói nữa" Dư Tĩnh nín thở, luống cuống không biết làm gì. Cô cúi đầu chờ đợi trận phong ba bão táp sắp sửa giáng xuống. Nhưng cô giáo Trang không nói gì thêm nữa. Giây lát sau, Dư Tĩnh ngẩng đầu quan sát phản ứng của cô giáo Trang, cô thấy sắc mặt cô tái nhợt, mặt cắt không còn giọt máu. Trong ấn tượng của Dư Tĩnh cô chưa bao giờ thấy sắc thái như vậy trên gương mặt người phụ nữ này, cô biết chắc chắn mình không phải nguyên nhân khiến sắc mặt bà trở nên như vậy. Lúc này, đối tượng mà bà đang chăm chú lại là chiếc hộp chuyển phát nhanh vừa được mở ra ... Mời các bạn đón đọc Bản Thông Báo Tử Vong Ngoại truyện: Sự Trừng Phạt của tác giả Chu Hạo Huy.
Vị Bá Tước Thứ Năm Của Giòng Họ Hauberk - Aldous Leonard Huxley
Aldous Leonard Huxley sinh năm 1894 trong một gia đình nhiều đời làm công tác khoa học: ông nội và bố là những nhà sinh học lớn của nước Anh. "Tuổi trẻ thất trận" (The Defaith of Youth - 1918) mở đầu sáng tác của ông, cũng là mở đầu cho "Thế kỷ đen" ở Anh. Loạt sáng tác kế tiếp trong nhiều năm vẫn nằm trong dòng tư tưởng bi quan: liệu những người tự cho là có trách nhiệm bảo vệ giá trị tinh thần và vật chất của loài người, họ có làm tròn nhiệm vụ không, hay ngược lại họ đang phá hỏng cái gia tài chung ấy? Ông không tin ở những món quà thế kỷ 20 mang tới. "Vàng mạ kền" (Crome Yellow - 1921) "Phản bác" (Point Counter Point -1928): những bức tranh châm biếm cái xã hội tứ chiếng, phè phỡn của châu Ảu những năm 20. "Thế giới mới dũng cảm" (Brave New World - 1932) chỉ giễu tham vọng Mỹ hóa thế giới của các trùm tài phiệt và trùm văn hóa Mỹ. "Bình yên dưới đáy sâu" (1945) phê phán nếp sống gấp... (Jouvence - tên tác phẩm của tập này) ra đời năm 1954. Bằng nhận thức sắc sảo, trí tuệ Aldous Huxley nhìn ra cái thế giới của Con Bò Vàng, ông mất năm 1963 ở California - Mỹ. *** Tại vùng ngoại ô một thành phố miền Nam California, có một tòa lâu đài kỳ dị, cao đến 24 tầng, xây dựng trên đỉnh đồi. Bao quanh khu nhà là hai lớp tường, rồi một hào nước sâu, ra vào bằng một cái cầu treo kiểu trung cổ. Đó là trụ sở một siêu công ty kinh doanh từ xăng dầu, hầm mỏ, ngân hàng tới nghĩa trang, mồ mả. Tòa nhà có đủ cơ quan và phương tiện tối tân, có cả nhà thương làm phúc cho trẻ, thảo cầm viên, một viện nghiên cứu khoa học với các chuyên viên cực giỏi. Phần trên dành riêng cho chủ nhàn và cô nhân tình với một bể bơi hiện đại cách một đất trên 200 mét. Nơi đây đã xảy ra một vụ án tình, kẻ giết người chính là Stoyte. Tỷ phú Stoyte có quá nhiều thú vui nên chỉ có một mơ ước: tìm ra phương thuốc trường sinh. Một học giả Anh có trong tay tài liệu của dòng họ Hauberk ở Anh từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17 về phương thuốc. Vị Bá tước thứ năm của dòng họ này, cách đây trên trăm năm đã ứng dụng và ghi chép kỹ diễn biến trên cơ thể ông và một người tình cùng dùng thuốc với ông cho đến năm ông gần trăm tuổi. Có chứng cứ nói rằng hai người cho đến nay vẫn còn sống dưới hầm bí mật của một tòa lâu đài cổ đâu đó ở Bắc Anh. Stoyte đang thất tình, đang bê bối trong vụ án bèn cùng với cô nhân tình và nhà khoa học tới nước Anh truy tìm hai con người bất tử kia. Họ còn sống hay đã chết? Câu trả lời phải dành cho ngòi bút trào lộng mà cay đắng của Huxley. Mời các bạn đón đọc Vị Bá Tước Thứ Năm Của Giòng Họ Hauberk của tác giả Aldous Leonard Huxley.
Ông Cố Vấn: Hồ Sơ Một Điệp Viên - Hữu Mai
Ông cố vấn: Hồ sơ một điệp viên là một tiểu thuyết của nhà văn Hữu Mai, viết về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Việt Nam Vũ Ngọc Nhạ trong khoảng thời gian từ năm 1958 đến năm 1975. Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1987, bao gồm 3 tập, và được tái bản nhiều lần. Lần tái bản gần nhất vào năm 2002, khi đó tác phẩm đã được chỉnh, hiệu đính và gom lại thành 2 tập. Tiểu thuyết kể về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ và mạng lưới tình báo A.22. Bằng tài năng của mình, Vũ Ngọc Nhạ đã trở thành “Ông Cố vấn” đáng tin cậy trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cung cấp cho Hà Nội những thông tin tình báo quan trọng, góp phần vào chiến thắng cuối cùng giải phóng đất nước. *** CUỐI năm 1969, cả Sài Gòn xôn xao vì mới tìm ra một lưới tình báo quân sự của Việt Cộng nằm ngay trong những cơ quan đầu não của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Báo chí đưa tin bằng những hàng tít lớn: “Vụ án gián điệp lớn nhất thời đại”[1], “Vụ án chính trị của thế kỷ”[2]. Các bị cáo đều là những nhân vật quan yếu trong chính phủ Sài Gòn: người là cố vấn đặc biệt của tổng thống, người là cấp bộ trưởng, người là tham chánh văn phòng bộ chiêu hồi... Có nhà bình luận còn nói trong số những người bị đưa ra xét xử, có người được coi là ứng cử viên tổng thống nhiệm kỳ sắp tới. Những cơ quan thông tin đại chúng nước ngoài, đặc biệt là của Mỹ, đã đưa nhiều tin tức về vụ án. Năm 1983 trong cuốn hồi ký của mình[3], Ralph McGehee, một nhân vật CIA kỳ cựu, đã nhận chính CIA dã làm áp lực mạnh mẽ với tổng thống Thiệu để tiến hành chiến dịch phá lưới gián điệp này. Vì nội vụ đề cập tới những nhân vật quan yếu trong chính phủ, những nhà hoạt động chính trị xã hội có uy tín rộng rãi trong quần chúng, nên người phúc trình tin tức đã được chính Dale Waites kiểm tra bằng máy dò sự thật (Polygraph Tost). Cuối cùng, ngày 28-11-1969, chính quyền Sài Gòn đã cho mở phiên tòa quân sự tại Sài Gòn để xét xử những bị can. Trên một trăm ký giả trong và ngoài nước đã có mặt tại Nha Quân pháp ở đại lộ Bạch Đằng chật ních người đến theo dõi vụ án. Bản cáo trạng dài 23 trang, đọc hết một tiếng rưỡi đồng hồ. Theo tường thuật trên báo chí, “Vụ án này rất căng thẳng và quan trọng, vì qua hồ sơ không có một đảng phái chính trị nào, một nhân vật chính trị nào mà không có liên quan ít nhiều đến vụ án. Xếp hồ sơ đó nặng gấp 200 lần so với bản cáo trạng đã đọc...”[4]. Sau ngày giải phóng Sài Gòn, chúng ta đã tìm được toàn bộ những hồ sơ đó tại Nha Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia của chính quyền Sài Gòn. Trong tập 1 của hồ sơ, có thể trích ra vài nhận xét sau đây: “Từ trước đến nay, ngoại trừ những giai thoại giả tưởng trong tiểu thuyết trinh thám, chưa bao giờ có những tổ điệp báo thành công đến như thế. (...) Cụm A.22 hoạt động và phát triển đều đặn và đã thi thố nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhìn nhận là huyền diệu và xuất sắc... Cụm đã phát triển một hệ thống diệp vụ vô cùng quan trọng và đã len lỏi vào được nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam cộng hòa (...) Những tin tức chiến lược mà Cảnh sát Quốc gia biết họ đã cung cấp, đều có giá trị giúp cho Hà Nội có được những dữ kiện chắc chắn khi ấn định chính sách của họ đối với cuộc chiến tranh hiện nay. (...) Các dự án quốc gia đều được Cụm A.22 thu thập và phúc trình và nhờ cụm tình báo chiến lược mà các cấp lãnh đạo Hà Nội biết nhiều điều cơ mật mà chính các Tổng Bộ trưởng Sài Gòn không biết. (...) Họ đã tiếp xúc được với các yếu nhân Việt Nam và cũng gặp gỡ đàm luận dễ dàng với các yếu nhân Mỹ như CONLON, HEAVNER, SMITH, COLBY, BURGER...”[5]. Các báo chí Sài Gòn đều ghi nhận “tất cả bị can đều có nét mặt tươi cười và rất tự nhiên”, “như đi dự đám cưới”, “tất cả cũng vẫn có vẻ đẹp trai”... Hơn hai mươi luật sư biện bộ, trong đó có những người danh tiếng nhất, đứng sau lưng họ. Phiên tòa trở thành diễn đàn vạch rõ những mâu thuẫn trầm trọng của chế độ Sài Gòn, giữa chính quyền với các đảng phái, tôn giáo, đồng minh chiến lược Hoa Kỳ, giữa những cá nhân trong những tổ chức nảy, với những bằng chứng cụ thể không thể bác bỏ, và công khai tuyên truyền cho đường lối hòa bình, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Một luật sư đã nói: “Là người biện hộ trong vụ án, tôi như ếch ngồi đáy giếng mà miệng giếng đã bị tổng thống Thiệu đậy lại rồi...”. Vũ Ngọc Nhạ, người bị tố cáo cầm đầu lưới gián điệp, xuất hiện trước tòa với bộ áo trắng, quần đen, cravat nâu, ung dung cầm một xấp giấy trắng, miệng luôn luôn tươi cười. Riêng anh từ chối nhờ luật sư biện hộ cho mình và cũng không tự bào chữa. Anh tuyên bố những việc mình đã làm chỉ có lịch sử phán xét. Tất cả những bị can không ai có một lời đề nghị được khoan hồng. Nhạ và hai đồng đội chính của anh đã bị án chung thân khổ sai. “Lần đầu trong một vụ án quan trọng và trước những bản án nặng nề, người ta không hề ghi nhận một tiếng khóc nào và chỉ thấy những gương mặt vui thân và nghe những tiếng cười...”[6]. Trước rất đông công chúng tụ tập ở cửa tòa án, vây quanh chiếc xe bịt bùng đưa những người vừa bị kết án về trại giam, Nhạ nói với mọi người: “Các bạn cứ chờ xem, một trang sử mới sắp lật qua. Không còn bao lâu nữa đâu!”. Anh và các bạn hướng về những máy ghi âm, ống kính truyền hình, máy ảnh của những ký giả nước ngoài chõ về phía họ, nói bằng tiếng Pháp và tiếng Anh: “Cuộc đấu tranh chưa kết thúc, đến đây chỉ mới tạm dừng. Chúng tôi ra đi nhưng nhất định chúng tôi sẽ trở về...” Họ đã giữ đúng lời hứa. Ba năm sau đó, họ lại xuất hiện ở Sài Gòn, tiếp tục cuộc chiến đấu trên mặt trận thầm lặng cùng với bao nhiêu đồng chí khác, trong đó có nhiều người dã lập nên những kỳ tích mà chúng ta còn chưa biết tới. Vụ án trở thành một vấn đề thời sự sôi nổi. Dư luận cho là nó còn chứa đựng nhiều nghi vấn. Theo nguồn tin từ dinh Độc Lập, tổng thống Thiệu trong những cuộc trao đổi riêng tư đã nói đây là một việc làm xấu xa của CIA nhằm bôi nhọ uy tín cá nhân mình. Sau đó lại có tin tỉnh trưởng Côn Sơn (Côn Đảo) đã bị thay. Người ta nói tổng thống đưa người của mình ra nắm quyền hành ở Côn Sơn, để chăm sóc ông cố vấn vừa ra đó bắt đầu cuộc sống lưu đày. Giáo hoàng Paul VI cũng gửi tới Côn Sơn tặng ông nguyên cố vấn huy chương “Vì Hòa bình” với một bức thư tỏ lòng ngưỡng mộ người chiến sĩ Công giáo đã cống hiến nhiều cho hòa bình vì lý tưởng thiêng liêng của Chúa. Cho đến những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn tháng 4-1975, Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ quan hệ với người cố vấn cũ của mình, coi đây là một mối quan hệ tốt đẹp trong suốt cuộc đời chấp chính. Tập hồ sơ sau đây sẽ đưa ra ánh sáng những vấn đề đến nay còn chưa rõ ràng chung quanh vụ nghi án. Nó được trình bày dưới dạng tiểu thuyết để cho về hình thức đỡ khô khan. Tuy nhiên, điều mong mỏi chủ yếu của tác giả là được chuyển tới bạn đọc những sự kiện, những chi tiết chân xác, với những con người thật. Bạn đọc có thể gặp nhiều nhân vật của cuốn sách này đang tiếp tục cuộc sống bình dị của họ sau những biến cố lịch sử ở nước ta, cũng như ở đâu đó một số nước ngoài. Nếu có những điều sai sót về họ, tác giả rất mong sẽ được chính họ góp ý kiến để bổ cứu cho lần in sau nếu cuốn sách có được may mắn đó. HỮU MAI Mời các bạn đón đọc Ông Cố Vấn: Hồ Sơ Một Điệp Viên của tác giả Hữu Mai.