Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ông Già Goriot - Honore de Balzac

Ông Già Goriot là một tiểu thuyết xuất bản lần đầu năm 1835 của nhà văn Pháp Honoré de Balzac. Đây là một tác phẩm thuộc phần Những cảnh đời riêng (Scènes de la vie privée) của bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời (La Comédie humaine). Lấy bối cảnh là kinh đô Paris năm 1819, Ông Già Goriot đề cập tới số phận của ba nhân vật, ông lão Goriot, tên tù khổ sai vượt ngục Vautrin và anh sinh viên luật Eugène de Rastignac. Tiểu thuyết này được coi là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Balzac, nó lần đầu tiên cho thấy ý định của nhà văn trong việc nối kết các tác phẩm riêng lẻ của bộ Tấn trò đời bằng những nhân vật xuất hiện qua nhiều tiểu thuyết (điển hình là Rastignac). Ông Già Goriot cũng là điển hình cho chủ nghĩa hiện thực trong phong cách viết của Balzac với những nhân vật được mô tả chi tiết và có chiều sâu. *** Honoré de Balzac (1799-1850) là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực.  Ông là con trai của Bernard-François Balssa và Anne-Charlotte-Laure Sallambier, họ Balzac được lấy của một gia đình quý tộc cổ Balzac d'Entraigues. Cuộc đời ông là sự thất bại toàn diện trong sáng tác và kinh doanh - đó là tổng kết chung về thời thanh niên của Balzac từ khi vào đời cho đến năm (1828). Ông chỉ thật sự được văn đàn Pháp công nhận sau khi đã mất. Người ủng hộ ông nhiều nhất khi còn sống là Victor Hugo. Ông có một sức sáng tạo phi thường, khả năng làm việc cao, thường chỉ ngủ một ngày khoảng 2 đến 3 tiếng, thời gian còn lại làm việc trên một gác xép. Balzac sớm có ý thức về sự tái hiện cuộc đời một cách hoàn chỉnh ở đủ mọi góc cạnh của nó và được đặt trong hệ thống mà ông ví như một "công trình kiến trúc của vũ trụ" với tính chất vừa hệ thống vừa hoành tráng từ các tác phẩm của ông. Vũ trụ ấy là cuộc đời nhìn qua nhãn quang của ông tạo nên một "thế giới kiểu Balzac" in rõ dấu ấn của "cảm hứng vĩ mô". Vì vậy, vũ trụ trong tiểu thuyết Balzac là một "vũ trụ được sáng tạo hơn là được mô phỏng". Honoré de Balzac từng nói một câu nổi tiếng " Ai cũng có thể làm thầy ta !" ; chính sự sâu sắc này của ông đã ảnh hưởng rất lớn về cách sống cũng như trong nghệ thuật của ông. Một số tác phẩm tiêu biểu : Miếng da lừa, Lão Goriot, Bước thăng trầm của kĩ nữ, và đặc biệt là bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời. *** Kính tặng đại danh sĩ Geoffroy Saint Hilare để tỏ lòng ngưỡng mộ sự nghiệp và thiên tài cùa ông De Balzac Bà Vauquer, nhũ danh de Conflans, là một bà già từ bốn mươi năm nay đang cai quản tại thành Paris một ký túc xá ờ đường mới Neuve Sainte Geneviève, khoảng giữa xóm la tinh và vùng ngoại ô Thánh Marcel. Ký túc xá này được gọi là ký túc xá Vauquer nhận ở trọ cả đàn ông lẫn đàn bà, cả người già cả đến hạng thanh niên, mà chẳng bao giờ thanh danh của nhà trọ ấy bị xuyên tạc. Nhưng cũng đã ba mươi năm nay, không hề có một người trẻ tuổi nào ờ đây, và nếu có thanh niên nào lạc lõng chốn này thì có lẽ thanh niên ấy chỉ nhận được của gia đình một số tiền cấp dưỡng rất kém cỏi. Tuy nhiên, vào năm 1819, là lúc mở màn tấn thảm kịch sắp kể ra đây, nhà này có chứa một thiếu nữ khôn lớn. Ta cần phải dùng chữ thảm kịch ờ đây, dầu danh từ này đã mất cả ý nghĩa vì người ta đã quá lạm dụng và quá ngược đãi nó trong thời buổi văn chương bi khổ này? Không phải vì câu chuyện có một kịch tính thật sự: nhưng câu chuyện kể ra có cũng sẽ làm cho đọc giả xa gần không cầm được nước mắt intra muros et extra? Nhưng bạn sống xa cách Paris thông cảm được câu chuyện này chăng? Điều đó không chắc. Những đặc tính của “Cảnh đời” (Scènce de la vie privée) này mang nặng màu sắc địa phương mà chỉ những dân ở giữa đồi Montmartre và vùng Montrouge, ở cái thung lũng nổi danh vì đầy vôi gạch lúc nào cũng sắp sụp đổ và đầy những rạch bùn đen. Cái thung lũng đầy những đau khổ thực sự, những vui mừng thường là giả tạo, cái thung lũng đã hằng bị náo động ghê gớm, đến nỗi chỉ có chuyện gì thật quá lố mới có thể gây được ở đây một cảm xúc lâu dài. Nhưng thỉnh thoảng cũng có những nỗi đau khổ mà do sự quy tụ của tệ tập và đức hạnh đã làm cho thành lớn lao và nghiêm trọng: trước những cảnh huống ấy, lòng ích kỷ và quyền lợi đều trăm lại và thương cảm; nhưng sự khích động ấy chỉ như một quả ngon được nhai nuốt mau lẹ. Chiếc xe của văn minh, chẳng khác chi chiếc xe chở tượng Thần ờ thành Jaggernath (1), chỉ chậm tiến đôi chút vì có một mảnh tim khó nghiến hơn chững tim khác đã làm kẹt bánh thần xa. Và chính người cũng sẽ làm như thế, người là kẻ đang cầm cuốn sách này trong bàn tay trắng, là kẻ đang chễm chệ trên chiểc ghế bành êm dịu, và người cũng tự nhủ thầm: “Cái này có lẽ cũng tiêu khiển ta được đây!”. Lúc đã đọc xong những nghịch cảnh âm thầm của ông già Goriot, người sẽ ăn ngon cơm; còn lòng người không chút rung cảm, người chỉ quy tội cho tác già đã nói quá, hoặc đã thi vị hóa câu chuyện. Ẩy, nhưng người hãy biết cho rằng tấm thảm kịch xảy ra đây không phải là chuyện bịa đặt hay là một tiểu thuyết. Tất cả đều có thật (2), thật đến nỗi ai cũng có thể nhận thấy từng chi tiết ở ngay mình, có lẽ ở ngay nội tâm mình. Ngôi nhà dùng làm ký túc xá thuộc quyền sở hữu của bà Vauquer. Nhà ở dưới dốc Đường mới Sainte Genevière, ngay chỗ con đất uốn thấp xuống để rẽ qua đường Cái Ná một cách rất đột ngột và rất gắt, đến nỗi ngựa ít lên xuống con đường đó. Trường hợp này đã làm thuận tiện cho không khí êm lặng ở những con đường bị ép giữa khu vực nhà thờ Val de Grâce và đền Panthéon: hai lâu đài đã biến đổi bầu không khí với những màu vàng tung vào đấy, và đã làm mọi vật phải tối tăm vì những mầu sắc chát chúa của các nóc dọi xuống. Ở đây những đá lát đường khô ráo, những rãnh chẳng có nước mà cũng chẳng có bùn, cỏ mọc ven theo các bức tường. Người rất vô tư vào đây cũng phải u buồn như những khách khác, tiếng ồn một cái xe đến đây cũng thành một biến cố đặc biệt, nhà cửa ủ rủ, tường vách sặc mùi một ngục tù. Một người dân Paris lạc loài vào đây chỉ nhận thấy toàn những nhà trọ tầm thường hoặc những trường học, một vẻ nghèo nàn hoặc buồn nản, những người già sắp chết, hoặc những thanh niên đang tươi vui mà phải cặm cụi làm việc. Không một xóm nào ở Paris có thể ghê tởm hơn, hoặc ít người biết hơn. Nhất là con đường mới Sainte Genevière giống như một cái khung bằng hoàng đồng, cái khung cảnh độc nhất hợp với cốt truyện này: để đưa vào cốt truyện và để hiểu, không gì bằng những màu sắc nâu sậm, những lý tưởng trang trọng... cũng như từ bậc một ánh mặt trời tối dần và tiếng hát người đánh xe trầm dần lúc kẻ lữ hành xuống đần Hầm mộ. So sánh đúng thay! Nào ai đoán định được còn gì rùng rợn hơn sự việc này, ai, những kẻ có một quả tim khô héo, hay những kẻ mang một khối óc trổng rỗng? Mặt tiền của ký túc xá nhìn xuống một cánh vườn nhỏ, và cái nhà đâm thẳng góc ra đường Mới Sainte Genevière, trông hình như cái nhà bị con đường cắt sâu vào vậy. Dọc theo mặt tiền nhà, giữa nhà và vườn có một đám sân sỏi lõm sâu vào và rộng lối một thước (3); trước đám sân là một con đường nhỏ rải cát, hai bên có những cây phong lữ thảo, trúc đào và cây lựu trồng trong những chậu lớn bằng sành màu xanh và trắng. Người ta vào đường nhỏ ấy do một cửa lớn trên có tấm bảng mang chữ: Nhà Vanquer, và ở dưới: Nhà trọ cho cả nam phụ lão ấu. Ban ngày, một cánh cửa song thưa có mắc cái chuông rung kêu rổn rảng để thấy ở cuối con đường nhỏ, trên bức tường đối diện với đại lộ một cái vòm tròn vẽ màu cẩm thạch xanh do tay một họa sĩ trong xóm vẽ. Trong chỗ lõm dưới vòm vẽ ấy, có đựng cái tượng thần Ái tình. Nhìn lớp sơn long của bức tượng, những người thích tượng trưng có lẽ nhận thấy đây là một thần thoại của thứ tình ái ở thành Paris mà người ta đang chữa bệnh khỏi được chỉ cách đó vài bước đường. Trên đế bức tượng, một hàng chữ đã bị xóa hết phân nửa làm cho ta nhớ tới cái thời đã xây dựng kỷ vật trang trí này, do lòng hâm mộ đối với văn hào Voltaire, đã trở về Paris vào năm 1777. Đây là thầy ngươi, bất cứ người là ai: Hiện tại ông là thầy ngươi, trong quá khứ ông cũng đã là thầy, hoặc ông phải là thầy của ngươi. Tối đến, cánh cửa song thưa được thay thế bằng một cánh cửa kín. Cái vườn nhỏ rộng bằng bề dài mặt tiền cái nhà, ở giữa bức tường phía đường cái và bức tường ngăn cách nhà bên cạnh. Một màn bìm bìm treo dọc phủ kính cả bức tường chung này, và giữa thành Paris đây là một cảnh đẹp làm người qua đường lưu ý: Mỗi tường thành đều cổ phủ một thảm cây nho hoặc cây ăn quả khác với những lớp trái mảnh mai và đầy bụi: những trái cây này là mối lo âu hằng năm của bà Vanquer và là đầu đề của những cuộc trò chuyện của bà và các khách ở trọ. Dọc theo mỗi bức tường có một đường nhỏ dẫn đến một lùm cây điền ma (4) cái tên cây mà bà Vanquer tuy thuộc dòng dõi de Conflans vẫn đọc trại đi, dầu mấy khách trọ cố phê bình về văn phạm cho bà. Giữa hai con đường bên hông là một cái bồn vuông trồng artisô, có kèm những cây ăn quả được cắt cành lá tròn như búp chỉ, chung quanh thêm những cây chua me, rau diếp hay ngò tây. Dưới vòm cây điền ma có để cái bàn tròn sơn màu lục, có ghế để quanh. Những ngày nóng bức, những khách trọ nhà giàu có thể dùng đến cà phê được đều ra ngồi đây uống nhâm nhi trong lúc ánh nắng có thể làm nở được trứng ấp. Mặt tiền cao ba tầng có cả rầm thượng kiến trúc bằng đá cuội và quét bằng thứ màu vàng nó đã làm cho hầu hết những nhà ở cận Paris đều có cái vẻ khả ố làm sao. Mỗi tầng lầu có năm cửa sổ đều lắp kính nhỏ và đều có bỏ mành mành, nhưng chẳng có bức mành nào được cuốn lên giống nhau, thành thử chẳng bức nào ngay hàng với bức nào. Bề sâu nhà có hai cửa sổ, và tầng dưới hai cửa sổ này được trang trí bằng những song sắt có rào lưới. Sau nhà có cái sân rộng độ hai chục bộ (5): trong sân phát hiện một cuộc sống chung rất hòa hiệp giữa những giống lợn, gà, thỏ.., và phía sau có một cái kho để củi. Giữa kho củi và cửa sổ của nhà bếp, có treo một tủ đồ ăn, dưới tủ là dòng nước dơ của chậu rửa bát. Từ sân này ra đường Mới có một cửa nhỏ do đó đầu bếp đổ rác rến trong nhà ra đường và giội nước chùi rửa nơi đây, nếu không có thể phát bệnh ôn dịch. Lẽ tất nhiên tầng dưới nhà dùng làm nhà trọ và gồm có một phòng ngoài: phòng này được sáng nhờ hai cửa sổ trông ra đường, đi vào do một cửa lớn vừa là cửa sổ. Phòng khách này thông vào một phòng ăn, rồi đến cái chân cầu thang mới đến nhà bếp. Bậc thang bằng gỗ và gạch vuông sơn màu, đánh bóng. Chẳng có gì buồn hơn quang cảnh cái phòng khách đầy ghế bành và ghế dựa bọc vải sọc chen lẫn đường lì và đường láng. Giữa phòng kê một bàn tròn mặt cẩm thạch trang trí bằng hình cái quán trên một tấm sành trắng viền chỉ vàng đã phai hết nửa hình trang trí mà hiện nay đâu cũng có. Nền phòng lát gập ghềnh, tường đóng ván đến ngang lưng người đứng. Phần trên tường còn lại thì dán một giấy sơn vẽ những cảnh chính của truyện Télémaque với các nhân vật vẽ màu. Khoảng giữa hai cửa sổ rào lưới sắt là bức tranh vẽ buổi tiệc của nữ thần Calypso đãi con trai vua Ulysse (6). Trong bốn mươi năm trường, bức vẽ đã gợi bao nhiêu lời chế giễu của bọn thanh niên ở trọ: tự kiêu ngạo bữa ăn mình, bọn này vẫn tưởng đang ở một địa vị cao sang hơn cảnh hiện tại mà sự nghèo khổ đã buộc họ vào. Lò sưởi được trang trí bằng hai độc bình cắm đầy hoa giả đã cũ rích và được bọc lồng lại, ở giữa là một đồng hồ bằng cẩm thạch màu xanh nhạt rất xấu xí. Lòng lò sưởi lúc nào cũng sạch sẽ chứng tỏ là lò chỉ được đốt lửa vào những cơ hội lớn. Phòng thứ nhất này để xông ra một mùi mà trong ngôn ngữ không có danh từ nào diễn tả được, và có lẽ phải gọi nó là cái mùi nhà trọ. Đây là mùi của một phòng hay đóng cửa, mùi mốc, mùi ôi; lạnh lẽo ẩm iu ngửi thấy ngay ở mũi, thâm nhập vào cả áo quần, mùi của một phòng người ta mới ăn cơm, hôi mùi chén bát, mùi một phòng để đồ ăn, mùi một nhà thương thí. Cái mùi có lẽ diễn tả được nếu người ta sáng chế được một phương pháp để đo lường được số lượng yếu tố và buồn nôn của hơi đờm dãi và đặc biệt của mỗi người ở trọ, trẻ hay già. Ấy thế mà mặc dầu có những cái ghê tởm tầm thường ấy, và nếu ta so sánh với cái phòng ăn kề cận đó, ta lại cho cái phòng khách là trang nhã và thơm tho như một phòng khuê. Phòng ăn có vách hoàn toàn lót gỗ nguyên trước có sơn một màu mà bây giờ không còn nhìn ra màu gì nữa, màu ấy đã thành cái nền trên đó cát bụi chồng chất thành lớp vẽ nên những hình kỳ lạ. Những tủ chén bát trơn nhớt dựa tường, trên tủ bày những bình nước sứt mẻ, lu mờ, những tấm sắt tây tròn có vân, mấy chồng dĩa bằng sành dầy có viền xanh, chế tạo tại Tournal. ở một góc để một cái thùng có nhiều hộc số để đựng khăn lau lốm đốm dơ hay đỏ màu rượu vang, của những người ở trọ. Lại có những thứ bàn ghế bất hủ, đâu đâu cũng phế bỏ nhưng được đặt tại đây như những di vật của nền văn minh được đặt tại Nan y viện (7). Người ta còn có thể thấy một phong vũ biểu được đem ra lúc mưa, những tranh ảnh ghê gớm làm hết muốn ăn, cái nào cũng để trong khung gỗ sơn đen có chỉ vàng; một đồng hồ treo bằng đồi mồi khảm đồng; một lò sưởi màu lục, những cây đèn dầu mà dầu và bụi trộn lẫn nhau, một bàn dài trải tấm vải sơn, nhờn mỡ trên ấy một trú sinh nghịch ngợm đã lấy ngón tay viết tên lên như đã dùng một mũi sắt nhọn, những ghế dựa khập khễnh, những tấm đệm cói chỉ trải ra mà không lúc nào hưởng những lồng ấp có lỗ đã bè, bản lề lật ra, gỗ đã đen thui. Muốn giải rõ đồ đạc ở đầy đã cũ kỹ đến bậc nào, đã lũng, mục, lung lay, sứt bể, cụt tay dơ dáy, què quặt, gần tàn phế hấp hối... thì phải làm một bài miêu tả làm quá chậm câu chuyện, và những người gấp nghe chuyện không thể tha thứ. Gạch lát vuông đỏ thì bị vạch đường vì sự lau chùi hay vì những lúc tô màu. Tóm lại, nghèo khổ ngự trị ở đây, không chút thi vị, một nghèo khổ tằn tiện, cô đọng, xơ xác. Nếu cảnh nghèo ở đây chưa có bùn lầy, thì cũng đã có những vết dơ, nếu nó chưa có áo lũng, giẻ rách, thì nó cũng sắp đồ ra thối mục. Căn phòng này hoàn toàn sáng lạn vào lúc bảy giờ sáng, lúc con mèo của bà Vanquer dậy trước chủ nó nhảy lên các tủ đồ ăn, đánh hơi sữa trong những tô có dĩa đậy, và lên tiếng gầm gừ. Ngay sau đó bà chủ xuất hiện với cái mũ ren trên đầu, với một vành tóc giả treo lủng lẳng vụng về ở dưới. Bà ta kéo xà lệt một đôi dép méo mó. Khuôn mặt bì dày dày, mập mạp, ở dưới nổi lên một cái mũi mỏ keo; hai bàn tay nhỏ nhắn, múp míp, thân hình bụ bẫm như con chuột ở nhà thờ, áo lót quá dày và phồng phềnh lên, tất cả hình ảnh này rất phù hợp với căn phòng đầy mùi khốn đốn, chứa một không khí đầu cơ, trong ấy bà Vanquer biết thở mùi nồng thối, không chút gì ghê tởm. Vẻ mặt bà tươi tắn như buổi gió lạnh đầu tiên của tiết thu, đôi mắt nhăn nheo của bà đi từ vẻ nụ cười bắt buộc của vũ nữ đến vẻ cau có của viên thu ngân chiết khấu... tóm lại là cả con người bà giải thích cho cái nhà trọ, cũng như cái nhà trọ ám tàng con người của bà. Ngục tù không thể tồn tại được nếu không có tên ngục tốt, người ta không thể tưởng tượng có thể có cái này mà không cái kia. Vẻ phì nộn xanh xao của người đàn bà thấp bé này là kết quả của lối sinh hoạt kia, cũng như bệnh đậu lào là quy kết của bể khí một bệnh viện. Cái váy lót bằng len đan của bà ló dài hơn cái váy ngoài may với một áo dài cũ mà lớp bông lót lòi ra do những đường nứt nẻ của đường vải rách, cái váy này là một hình ảnh thu gọn của phòng khách, căn phòng ăn, cái vườn nhỏ, và báo trước cái nhà bếp, làm thấy trước những khách trọ ra thế nào rồi. Lúc bà chủ có mặt, quang cảnh thật là hoàn mỹ, bà Vanquer tuổi lối năm mươi, bà giống như mọi người đàn bà khác đã chịu đựng đau khổ. Mặt bà lờ đờ, bộ bà ngây thơ như một mụ môi dong làm bộ tức giận để đòi hoa hồng thêm, nhưng vẫn sẵn sàng làm hết mọi sự để số phận mụ được êm dịu hơn, sẵn sàng bán cả Georges hay Pichegru nếu còn một Georges hay một Pichegru để bán. Tuy vậy, bà là một người tốt, các người ở trọ nói vậy, và ai cũng tưởng bà là nghèo, vì ai cũng nghe bà kêu rêu ho hen như họ. Còn ông Vanquer trước kia thẽ nào? Bà không lúc nào phân giải về người quá cố. Tại sao ông ta mất hết của cải? Bà chỉ trả lời: “Trong những tai nạn”. Ông ta cư xử với bà không tốt, chỉ lưu lại cho bà cặp mắt để khóc, ngôi nhà này để sinh sống, và cái quyền không thương hại một nghịch cảnh của ai, vì theo bà nói, bà đã chịu đựng tất cả những gì người ta có thể chịu đựng được. Nghe tiếng chân bà chủ đi lắc nhắc, mụ Sylvie béo, người làm bếp lật đật dọn ăn sáng cho khách trọ. ... Mời các bạn đón đọc Ông Già Goriot của tác giả Honore de Balzac.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Veronika Quyết Chết - Paulo Coelho
“Veronika quyết chết” là một cuốn sách viết về cái chết, nhưng ngay và bên trong cái chết lại là khúc tráng ca về sự sống, mãnh liệt, kiên cường... Cuốn sách của Paulo Coelho mở đầu bằng một vụ tự tử. Veronika, một cô gái vốn chẳng có lý do gì để bất hạnh trong cuộc đời. Cô có một gia đình hết lòng yêu thương mình, có một công việc không thú vị lắm nhưng ổn định, có sắc đẹp, có các chàng trai theo đuổi... Thế nhưng cô vẫn quyết định chết. Một quyết định không ai có quyền phán xét. Bởi: “Mỗi người tự biết những nỗi khổ đau cùng tận của mình, đó là những nỗi khổ đau khi mà rốt cuộc chính ý nghĩa của cuộc đời cũng chẳng còn”. Thế nhưng vụ tự tử không thành. Và Veronika thấy mình thức dậy trong Villete – nơi dành cho những bệnh nhân tâm thần. Tại đây, cô nhận được tin xấu. Như ý muốn của mình, Veronika vẫn sẽ “được” chết. Nhưng không phải chết một cách tức thì như khi uống thuốc ngủ tự tử, mà là một cái chết khắc khoải. Bởi thuốc độc đã hủy hoại đến tận cùng cơ thể cô, cô chỉ có thể sống trong vòng chưa đầy một tuần lễ nữa. Có gì khác giữa một cái chết tức thì và một cái chết được báo trước? Có lẽ với cái chết tức thì, nạn nhân sẽ chỉ “đau một lần rồi thôi”, còn với một cái chết được báo trước như trường hợp của Veronika, cô sẽ phải sống trong nỗi lo sợ khắc khoải. Cái chết sẽ từ từ ngấm vào cơ thể cô. Cô cảm nhận được nó, cô nhìn thấy bước đi của nó mỗi ngày. Và đó thực sự là một nỗi ám ảnh ghê gớm. Nhưng chẳng ai ngờ, chính trong khoảng thời gian ngắn ngủi tự mình “chiêm nghiệm” về cái chết như thế, Veronika đã nhận ra nhiều điều. Cuộc chạy đua với lưỡi hái tử thần đã giúp cô ý thức được giá trị của từng khoảnh khắc được sống. Sự sợ hãi về một cái chết đang đến từng giờ, từng phút lại có tác dụng biến mỗi ngày được sống với Veronika là một điều kỳ diệu. Chính tại nơi ấy, trong bệnh viện của những người điên, Veronika mới được là chính mình – điều mà cô đã đánh mất trong cuộc sống của những người bình thường ở bên ngoài bức tường kia. Cô được đắm mình trong niềm đam mê âm nhạc đã bị vùi lấp từ lâu chỉ vì những mong muốn của cha mẹ. Cô khám phá ra những “mặt khác” trong con người mình, và trên tất cả, cô trở nên yêu nó – yêu cái cuộc sống mà cô đã từng có ý định từ bỏ, một tình yêu muộn màng nhưng đáng quý. Tại Villete, Veronika cũng tìm thấy tình yêu của cuộc đời mình khi gặp gỡ chàng trai mắc chứng tâm thần phân lập Eduard. Và tình yêu ấy đã biến Veronika, từ ý định “quyết chết” sang “quyết sống”. Trong “Veronika quyết chết”, Paulo Coelho đã chứng tỏ một tài năng bậc thầy trong việc đi sâu khám phá tâm lý nhân vật. Cho dù là một cô gái đang đứng trước ranh giới mong manh của sống và chết, hay một người đàn bà trở nên điên loạn vì yêu, một người mắc chứng hoảng sợ hay một bệnh nhân tâm thần phân lập... Mỗi một con người ở nhà thương Villete ấy là một số phận, một cuộc đời nhiều ngang trái. Sau những trang viết của Paulo Coelho, độc giả bỗng nhận ra rằng, trại thương điên không chỉ dành cho những người điên! Ở đó còn có những người hoàn toàn bình thường, nhưng tự đóng khung mình trong những bức tường ấy để thoát khỏi cuộc sống hỗn tạp bên ngoài. Thậm chí những bệnh nhân nơi đây còn lập luận rằng: “Cuộc sống của chúng ta đã đạt tới sự cân bằng hoàn toàn, thế mà ở ngoài kia, sau những bức tường này có bao nhiêu người muốn được như thế đến phát điên lên!”. Sự thực thì ai mới là người điên? Những người bên trong hay bên ngoài bức tường này? Ranh giới thật khó đoán. Và sự thật ngỡ ngàng mà Paulo Coelho đã chỉ ra rằng, điên rồ không phải là việc làm mình trở nên khác biệt, mà chính là cái mong muốn mình được bình thường giống như tất cả mọi người. Chính cái ước muốn “bình thường” ấy đã thủ tiêu tất cả ý nghĩa của cuộc sống. Và phải chăng cũng vì bình thường mà trở nên tầm thường, nhạt nhẽo, vô vị - một lý do khiến cô gái Veronika quyết tâm từ bỏ thế giới này. Và cuối cùng, sau những trang viết về cái chết, thông điệp mà cuốn sách của Paulo Coelho gửi gắm lại chính là nét đẹp vĩnh hằng của sự sống. Chẳng có cuộc đời nào là vô nghĩa, chẳng có sự tồn tại nào là sai lầm, chỉ có cách mà mỗi người nhìn nhận cuộc đời của mình là khác nhau. Bởi thế, bạn đọc, dù chán nản thì cũng đừng buông tay. Hãy nhìn lại bản thân mình, hãy sống đúng với những gì mình yêu, những ước mơ mà mình theo đuổi, bạn sẽ nắm giữ chiếc chìa khóa diệu kỳ của cuộc sống này. *** Paulo Coelho là tác giả viết tiếng Bồ Đào Nha bán chạy nhất mọi thời đại, là một trong những nhà văn được nhiều người đọc nhất thế giới, và là tác giả còn sống được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Cha đẻ tiểu thuyết 'Nhà giả kim' sẵn sàng đăng sáng tác của mình lên mạng Internet và khuyến khích mọi người tải về đọc. Tiểu thuyết gia cho rằng, cách này rất hữu hiệu để khuyến khích mọi người đến với sách in, cũng như kích thích văn hóa đọc.   Là một nhà văn lướt web sành điệu, Paulo Coelho bỏ thời gian tìm tòi một phần mềm mới trên trang The Pirate Bay và khám phá các chức năng của nó. Sau khi kết luận rằng chương trình này rất thú vị, ông đăng các tác phẩm của mình trên trang này cho mọi người cùng đọc. Nhà văn khẳng định, càng nhiều người đọc miễn phí sách ông trên mạng thì sách in của ông sẽ bán chạy hơn. Những tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam Nhà Giả Kim Ngoại Tình Hành hương Bên bờ sông Piedra tôi ngồi khóc Những nữ chiến binh Ngọn núi thứ năm Cẩm nang của chiến binh ánh sáng Veronika quyết chết Quỷ dữ và nàng Prym Cha, con và chú Mười một phút Như một dòng sông chảy Phù thủy phố Portobello O ZAHIR - Nỗi Ám Ảnh 24 Giờ Cô Độc Ở Cannes Điệp Viên ... *** Bác sĩ Igor vừa mới bật công tắc đèn - trời vẫn sáng rất muộn, mùa đông vẫn kéo dài lê thê - thì đã có tiếng người gõ cửa phòng. Một nhân viên giám sát bước vào. Vậy là lại bắt đầu có chuyện đây. Bác sĩ Igor tự nhủ. Hứa hẹn một ngày khá vất vả đấy, dù sao đi nữa cũng không bằng cuộc nói chuyện sắp tới với Veronika. Ông bác sĩ đã mất cả tuần chuẩn bị cho cuộc nói chuyện này, vì thế đêm nay khó mà có thể ngủ được. - Tôi có những tin tức đáng lo ngại - nhân viên giám sát nói - Có hai bệnh nhân mất tích: anh con trai ông Đại sứ và cô gái đau tim. - Trời ơi! Các anh kém hết chồ nói rồi đấy. Đội bảo vệ của bệnh viện này mãi vẫn không khá lên được. - Nhưng bởi trước đây chưa từng có một ai có ý định trốn cả - nhân viên giám sát sợ hãi đáp - chúng tôi không ngờ là có thể có chuyện này. - Anh ra khỏi đây mau! Tôi cần phải chuẩn bị để báo cáo cho các vị chủ nhân đây, báo cảnh sát, có ngay các biện pháp cần thiết đi và hãy nói để đừng có ai làm phiền tôi thêm nữa. Để giải quyết vụ việc do các anh gây nên phải mất đứt không chỉ một tiếng đồng hồ mà xong đâu! Người nhân viên giám sát đi ra, mặt cắt không còn hạt máu vì hiểu rằng, dù gì thì anh ta cũng phải gánh phần lớn trách nhiệm, bởi những người có quyền thế thường hành xử chính xác là thế với những ai yếu thế hơn. Không còn nghi ngờ gì nữa đến cuối ngày hôm nay anh sẽ bị đuổi việc thôi. Bác sĩ Igor lấy cuốn sổ ghi chép ra, đặt lên bàn và chuẩn bị bắt đầu những ghi nhận của mình, nhưng lại chợt đổi ý. Ông tắt đèn, vẫn ngồi yên sau bàn, nét mặt sáng lên đôi chút nhờ những tia nắng đầu tiên của mặt trời mùa đông, và ông mỉm cười. Điều Này đã có tác dụng rồi đấy. Ông nhẩn nha, khoan khoái nghĩ đến việc sau mấy phút nữa, cuối cùng ông cũng bắt tay vào bản báo cáo của mình về phương pháp duy nhất được biết đến để tránh khỏi Vitriol - nhận thức về sự sống. Và về phương pháp được ông áp dụng trong lần thử nghiệm đầu tiên thành công của mình trên bệnh nhân - nhận thức về cái chết. Cũng có thể có các phương pháp chữa trị khác, nhưng bác sĩ Igor quyết định xây dựng bản luận án của mình dựa trên phương pháp duy nhất mà ông có thể thử nghiệm một cách toàn diện nhờ một cô gái, tình cờ đến với cuộc đời ông. Cô ấy nhập viện trong tình trạng hết sức nguy kịch, bị trúng độc rất nghiêm trọng và đã bắt đầu giai đoạn hôn mê sâu. Gần một tuần cô ấy ở giữa sự sống chết và thời gian này là vừa đủ để ông nảy ra một ý tưởng tuyệt vời - thực hiện thử nghiệm. Tất cả chỉ phụ thuộc vào một việc - liệu cô gái có thể sống được hay không? ... Mời các bạn đón đọc Veronika Quyết Chết của tác giả Paulo Coelho.
11 Phút - Paulo Coelho
Mười một phút là cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Brazil, Paulo Coelho, xoay quanh nhân vật Maria, một thiếu nữ Brazil, 23 tuổi, một gái điếm trẻ trung, quyến rũ bị lừa đến thành phố Geneva xinh đẹp của Thụy Sĩ. Maria là cô gái tuyệt vọng với tình yêu. Maria sống bằng công việc tình dục. Nghề gái điếm đã đặt cô vào những trải nghiệm li kì, và từ đó, cô khám phá bản chất của tình dục bằng kinh nghiệm thực tế của mình. Mười một phút, chính là thời gian để Maria có thể khiến những vị khách của mình có được cảm giác sung sướng, thỏa mãn. Nhưng bản thân Maria gần như lãnh cảm. Cô chưa bao giờ cảm nhận được sự thăng hoa trong xác thịt. Cô làm công việc như một gái điếm chuyên nghiệp. Cô được trả tiền để thực hiện việc đó.   Trong cuộc hành nghề của mình, Maria đã gặp gỡ một kẻ khiến cô “phát điên”, kẻ đã khai mở những cực khoái trong bản năng tình dục của cô. Paulo Coelho khá tỉ mỉ khi miêu tả những cảnh tình dục giữa Terence và Maria. Tình dục trở thành một hố thẳm đen tối, ngột ngạt, trần trụi, nhưng nó khiến Maria run rẩy trong sung sướng. Những cảnh tình dục trần trụi ấy, khiến ta có thể liên tưởng đến không gian tình dục ngột ngạt trong bộ phim The last Tango in Paris của đạo diễn Bernardo Bertolucci. Điều quan trọng nhất là sự thỏa mãn của bản năng. Nhưng, trong cái dữ dội ấy, tình dục không phải là điều sau cuối con người tìm kiếm. Hành trình sống, theo Paulo Coelho là hành trình của tình yêu. Cái đích cuối cùng chính là tình yêu chân chính. Cũng giống như trong Người tìnhcủa Marguerite Duras, tình dục đưa đến một cái kết về tình yêu đầy ám ảnh. Cuộc gặp gỡ giữa Maria và chàng họa sĩ trẻ, đẹp trai Ralf Hart chính là hạt nhân bên trong lớp vỏ sắc dục mà Paulo Coelho tạo nên. Ralf Hart chính là người đã nhìn thấy vẻ đẹp thuần khiết trong tâm hồn Maria. Chàng say đắm Maria, tôn sùng Maria bởi ánh sáng toát ra từ tâm hồn nàng. Hình ảnh Maria phản chiếu trong đôi mắt chàng Ralf Hart là một phiên bản thơ ngây đẹp đẽ. Trong mối quan hệ tay ba giữa Maria, Ralf Hart, Terence, người đọc có cơ hội được nhìn thấy Maria ở hai trạng thái đối lập. Nàng là trinh nữ Maria, hay gái điếm Mary Magdalen? Ở nàng có tất thảy những suy tư, ẩn ức, đau buồn, hạnh phúc, khao khát của những người đàn bà trên thế gian này. Những phức cảm ấy, tác giả đã thật khéo léo thể hiện bằng cách dẫn dắt câu chuyện với những tình huống éo le, những suy tư nội tâm khắc khoải. Ralf Hart đã khiến Maria một lần nữa có niềm tin vào tình yêu, nhưng khoái cảm tình dục trong mười một phút hoàn hảo kia, Terence đã mang lại cho nàng. Vậy cuối cùng nàng lựa chọn điều gì? Tình yêu và tình dục thực chất có phải là hai điều tách rời nhau không? Nietzsche đã từng nói: “Trong một tình yêu đích thực, chính tâm hồn bao bọc lấy thân thể”. Tâm hồn và thân thể không tách rời nhau, cũng như tình yêu và tình dục thâm nhập vào trong nhau, đó là cách khiến con người thăng hoa. Hành trình Mười một phút của Maria không phải là hành trình tìm kiếm sự thỏa mãn trong cơn mê tình dục. Đó là hành trình đi đến tình yêu đích thực. Trong bộ phim Devdas của đạo diễn Sanjay Leela Bhansali, nhân vật gái điếm trong phim, Chandramukhi đã từng nói: “Chẳng lẽ gái điếm không được quyền yêu”. *** Paulo Coelho là tác giả viết tiếng Bồ Đào Nha bán chạy nhất mọi thời đại, là một trong những nhà văn được nhiều người đọc nhất thế giới, và là tác giả còn sống được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Cha đẻ tiểu thuyết 'Nhà giả kim' sẵn sàng đăng sáng tác của mình lên mạng Internet và khuyến khích mọi người tải về đọc. Tiểu thuyết gia cho rằng, cách này rất hữu hiệu để khuyến khích mọi người đến với sách in, cũng như kích thích văn hóa đọc.   Là một nhà văn lướt web sành điệu, Paulo Coelho bỏ thời gian tìm tòi một phần mềm mới trên trang The Pirate Bay và khám phá các chức năng của nó. Sau khi kết luận rằng chương trình này rất thú vị, ông đăng các tác phẩm của mình trên trang này cho mọi người cùng đọc. Nhà văn khẳng định, càng nhiều người đọc miễn phí sách ông trên mạng thì sách in của ông sẽ bán chạy hơn. Những tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam Nhà Giả Kim Ngoại Tình Hành hương Bên bờ sông Piedra tôi ngồi khóc Những nữ chiến binh Ngọn núi thứ năm Cẩm nang của chiến binh ánh sáng Veronika quyết chết Quỷ dữ và nàng Prym Cha, con và chú Mười một phút Như một dòng sông chảy Phù thủy phố Portobello O ZAHIR - Nỗi Ám Ảnh 24 Giờ Cô Độc Ở Cannes Điệp Viên ... *** Đôi khi cuộc sống thật tồi tệ: một người có thể sống qua nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng và nhiều năm mà không cảm thấy có điều gì mới mẻ. Thế rồi, khi một cánh cửa mở ra - như nó đã xảy đến với Maria khi nàng gặp Ralf Hart - thì những điều tốt đẹp lại dồn dập ập tới. Khoảnh khắc trước, bạn chẳng có gì, một khắc sau, bạn đã có nhiều hơn cả những gì bạn có thể đối phó với nó. Hai giờ đồng hồ sau khi viết nhật ký, nàng đến chỗ làm thì Milan, ông chủ câu lạc bộ, đã đến tìm nàng: "Vậy cô đã ra ngoài với anh chàng họa sĩ đó, có phải không?" Hiển nhiên là Ralf đã được biết đến ở câu lạc bộ - nàng đã nhận ra điều này khi chàng trả số tiền bằng ba khách hàng mà không cần hỏi han giá cả. Maria chỉ gật đầu, cố gắng hành động một cách bí hiểm, nhưng Milan không để ý đến; anh ta biết về cuộc đời này nhiều hơn nàng. "Có thể cô đã sẵn sàng cho giai đoạn kế tiếp. Có một vị khách đặc biệt của chúng ta thường xuyên hỏi về cô. Tôi đã nói với anh ta rằng cô chưa đủ kinh nghiệm, và anh ta đã tin tôi, nhưng có lẽ bây giờ đã đến lúc thử rồi." Một khách hàng đặc biệt? "Điều này có nghĩa gì đối với người họa sĩ đó?" "Anh ta cũng là một khách hàng đặc biệt." Vậy là mọi thứ nàng đã làm với Ralf Hart đã được một người nào đó trong số những đồng nghiệp của nàng làm. Nàng cắn môi và im lặng; nàng đã có một tuần lễ dễ chịu, tuyệt vời, và nàng không được phép quên những gì nàng đã viết. "Tôi có nên làm điều gì tương tự với anh ta không?" "Tôi không biết cô đã làm gì; nhưng tối nay, nếu có ai đó mời cô uống, hãy nói không. Những khách hàng đặc biệt sẽ trả nhiều hơn; cô không phải hối hận vì điều đó đâu." Công việc bắt đầu như nó vẫn thường thế. Những cô gái Thái Lan ngồi cùng nhau, các cô gái Colombia thì tiếp tục cái không khí thường lệ của họ, luôn tỏ vẻ biết mọi thứ, ba cô gái người Brazil (trong đó có Maria) nhìn một cách lơ đãng như thể không gì có thể làm họ ngạc nhiên hay thích thú. Ngoài họ ra, còn có một cô gái người Áo, hai cô gái người Đức, và số còn lại là những phụ nữ cao lớn, xinh đẹp với những đôi mắt xanh nhạt đến từ các quốc gia thuộc khối Đông Âu cũ, những cô gái này có vẻ sẽ kiếm được những ông chồng nhanh hơn các cô gái đến từ nơi khác. ... Mời các bạn đón đọc 11 Phút của tác giả Paulo Coelho.
Con Nhà Giàu - Hồ Biểu Chánh
Tuy Thượng Tứ sanh trưởng nơi chốn nầy, nhưng mà hồi nào bị mẹ cưng không cho ra khỏi nhà, chừng khôn lớn thì mắc đi học, lúc bãi trường về nhà mẹ cũng không cho tới nhà tá điền tá thổ mà chơi, bởi vậy cậu không biết nhà ai, không quen với ai, cậu chỉ thấy nhà cậu cao lớn sung sướng, chớ cậu không dè nhà người ta lúm túm nghèo khổ. Hôm nay cậu đi vòng trong xóm, cậu thấy quang cảnh khó khăn của con nhà nghèo, già cả mà còn lụm cụm đi làm, con nít mà phải trần truồng không quần áo, người trải nắng dầm mưa mà không đủ cơm nuôi vợ con, kẻ chai tay nám mặt mà không dám than phiền mệt nhọc. Cậu thấy như vậy cậu lấy làm đau lòng, nên chừng ngồi ăn cơm với Hương hộ, cậu thở ra mà nói rằng: “Tôi nghĩ lại thiệt tôi dại quá. Tôi đi chơi bậy bạ mấy tháng tốn bốn năm ngàn đồng bạc. Chớ chi tôi để số tiền ấy tôi phát cho mỗi người nghèo trong xóm, mỗi người năm bảy chục hoặc một trăm, thì họ mừng biết là chừng nào”. *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Con Nhà Giàu của tác giả Hồ Biểu Chánh.