Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trăng Trên Thung Lũng Jerusalem

Bản dịch Nguyễn Thu Hồng SHMUEL YOSEF AGNON (1888-1970)SHMUEL YOSEF AGNON sinh năm 1888 1 và lớn lên trong một gia đình gồm những học giả tại Buczacz thuộc miền Đông Galicia (nay là vùng Tây Ukraina). Buczacz là một cộng đồng Do-thái không quá tám ngàn người và cũng là một trung tâm đào tạo các rabbi (thầy cả) Do-thái giáo. Agnon đã được hấp thụ nền văn hóa cổ truyền của Do-thái do thân phụ ông đích thân truyền dạy. Galicia lúc đó là một trong những trung tâm của nền văn chương tân Hy-bá. Ngay từ nhỏ Agnon đã khởi sự văn nghiệp trên báo chí tiếng Hy-bá và tiếng Yiddish 2 ở địa phương. Và kể từ năm 1907 tức là năm ông trở về Palestine, ông thôi không viết bằng tiếng Yiddish nữa. Việc Agnon từ đó chuyên sáng tác bằng tiếng Hy-bá có lẽ phần nào đã do ảnh hưởng của phong trào phục quốc Zion của người Do-thái mà ông đã tham gia. Nếu nhìn vào số ngôn ngữ được sử dụng tại Israel ngày nay người ta sẽ thấy trong số hơn hai triệu dân, đã có tới một triệu tám sử dụng ngôn ngữ chính thức là tiếng Hy-bá. Lớp di dân đầu tiên từ các ngả trên thế giới trở về Israel còn nói hoặc hiểu được tiếng Yiddish và một số ngôn ngữ dùng trong các nghi lễ Do-thái giáo, nhưng hiện nay số thanh niên Israel chỉ dùng có ngôn ngữ Hy-bá ngày càng thêm đông đảo. Tuy vậy, thứ tiếng Hy-bá của Agnon không hẳn là thứ tiếng mà thế hệ trẻ hơn của Israel hiện sử dụng. Đúng hơn đó là ngôn ngữ của nền văn chương truyền thống Hy-bá với những nhà văn tiêu biểu như Bialik, Tchernichowsky và Shneur. Đứng giữa ngôn ngữ văn chương cổ truyền của dân tộc và tiếng Hy-bá hiện đại hóa, Agnon đã quyết định nối kết các thế hệ Do-thái bằng một nội dung đề cao truyền thống dân tộc, nhưng trong khi chờ đợi một nền văn chương ổn cố của ngôn ngữ Hy-bá hiện đại, ông đã lựa chọn diễn tả bằng thứ ngôn ngữ trang trọng của nền văn chương Hy-bá cổ truyền (xuất hiện từ thế kỷ XI và còn kéo dài cho đến ngày nay). Agnon làm thơ từ năm lên 9 và bài thơ đầu tiên của ông được đăng vào năm ông mười sáu tuổi. Câu chuyện đầu tay của ông in tại Palestine là truyện "Agunot". Ngay từ năm 1913, Shalom Streit đã nói về tác phẩm này: “Một luồng điện chạy qua toàn thể cộng đồng chúng tôi khi đọc truyện ấy.” Cùng với "Agunot" có nghĩa là cô đơn, trơ trọi hoặc đơn độc, 3 ông khởi sự dùng bút hiệu Agnon thay vì tên thực là Czaczkes. Khi được hỏi là bút hiệu này có liên hệ với truyện trên hay không, Agnon đã xác nhận là có. 4 Những năm kế đó, tuần báo Hapo’el Hatza’ir của nhóm xã hội chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Tolstoi và những tư tưởng địa dân (narodniki) đã đăng tải cuốn sách đầu của Agnon nhan đề Vehaya he’akov lemishor (Và những nơi cong queo sẽ được uốn ngay lại). Tác phẩm dài này đã làm say mê độc giả Do-thái đương thời không ít đến nỗi Joseph Haim Brenner đã phải dốc cạn túi tiền để xuất bản thành sách (1912). Đối với một người vô thần như Brenner thì đây là “tác phẩm đầu tiên của nền văn chương thế tục Hy-bá trong đó truyền thống đã trở thành phương tiện diễn đạt nghệ thuật thuần túy...” Năm 1913 Agnon qua Đức. Ông định ở lại vài năm nhưng vì chiến tranh 5 nên mãi tới năm 1924 ông mới trở lại Jerusalem được. Tuy nhiên những năm ở Đức đã ảnh hưởng lớn lao đến văn nghiệp ông sau này. Ông tiếp xúc với văn chương châu Âu và yêu chuộng sự hoàn hảo đến độ các truyện sáng tác thường viết đi viết lại tới sáu, bảy lần. Trong thời kỳ này ông xuất bản rất ít, chỉ chăm lo sửa chữa các tác phẩm cũ và viết những truyện mới. Ông cũng làm khá nhiều thơ và viết một cuốn tiểu thuyết tự sự. Nhưng tới tháng Sáu năm 1924, căn nhà ông ở tại Homburg gần Frankfurt bị hỏa hoạn 6 và toàn bộ bản thảo, giấy tờ và tủ sách Hy-bá do ông sưu tập được đều biến ra tro. Biến cố này đã thay đổi hẳn con người Agnon. Ông thôi không sáng tác thi ca nữa và không bao giờ viết lại tác phẩm tự sự trên. Năm 1929, sau khi ông đã trở về Palestine, căn nhà ông tại ngoại ô Jerusalem lại bị người Ả-rập cướp phá. 7 Lần này ông trở lại Galicia trong một chuyến thăm viếng ngắn ngủi và ở lại Đức tới gần một năm để chứng kiến bốn cuốn đầu gồm các tác phẩm mà ông đã thu thập, sửa chữa trong năm năm trời được ấn hành tại đây. Cũng nên ghi nhận là Agnon là một nhà biên soạn các tuyển tập văn chương rất có tài. Trong những năm ở Đức, ông đã biên soạn hai tuyển tập bằng Đức ngữ. Ở Jerusalem ông đã bỏ khá nhiều ngày giờ để biên soạn ba tuyển tập văn chương. Trong tuyển tập đầu nhan đề Những ngày kinh sợ, gồm một kho tàng những chuyện cổ dân tộc, ông đã hài hước sắp thêm vào đó những mẩu truyện trích trong một tác phẩm tưởng tượng được mệnh danh là Kol Dodi (Tiếng nói của người tôi yêu dấu) và ghi chú rất tự nhiên ở phần thư mục là “một bản thảo mà tác giả hiện giữ”. Trong ý định soạn những tuyển tập Do-thái này, Agnon cũng đã đồng ý cộng tác với một triết gia Do-thái là Martin Buber nhưng về sau tác phẩm chung của hai người bị thiêu hủy và Agnon không soạn lại tác phẩm đó nữa. Công cuộc soạn thảo các tuyển tập này đã ảnh hưởng tới Agnon. Trong một số truyện, nhân vật chính của Agnon cũng là những học giả. Hình như hình ảnh tận tụy vô vọng của các học giả có một sức thôi miên tột độ đối với Agnon. "Trăng trên thung lũng Jerusalem" (Ido và Eynam) 8cũng là một câu chuyện của một học giả; sự say mê tìm kiếm một thứ ngôn ngữ và những ca khúc mà thế nhân đã để lạc mất trong vô tận của sa mạc thời gian tưởng chừng như một việc phù phiếm, nhưng dưới ngòi bút của Agnon lại mang những ẩn dụ sâu sắc và tế nhị (luôn luôn dựa trên một sự hiểu biết căn bản về Do-thái giáo), gợi ra được cái khát vọng vô biên của những con người sống trong một thế giới Babel hiện đại, và có một sức chiêu dụ đến mê hoặc tột độ. Gabriel Gamzou, nhân vật khó quên trong truyện này đã phản ảnh phần nào tác giả, một tâm hồn xao xuyến luôn khát vọng hợp nhất, sẵn sàng đương đầu với những tiếng nói của ngày Phán xét cuối cùng, như sách đã viết: “Ngay từ tiền sảnh, con hãy sửa soạn để đi vào phòng khách”. Với "Trăng trên thung lũng Jerusalem", câu chuyện thường được coi như là truyện ngắn đẹp nhất của Agnon, người đọc có thể tìm thấy qui tụ lại nhiều khía cạnh của tài năng Agnon và những chủ đề chính của ông: sự thiếu quân bình của cái hiện tại còn hoài niệm một thời đại vàng son khi mà “người Do-thái còn biết cầu nguyện và ngợi ca Chúa trong một niềm tin ngây thơ và chân thành”; sự xao xuyến cô đơn và nỗi sợ hãi phải mất nơi cư ngụ thể chất là mái nhà, hoặc nơi cư ngụ tinh thần là nhà nguyện; sau rốt là giấc mơ như một dự cảm hay sức hấp dẫn huyền diệu, mê hoặc, giữa sự sống và sự chết... Quả thật, như giáo sư Gershom Scholem của viện Đại học Hy-bá ở Jerusalem đã viết, “Agnon đã khởi sự văn nghiệp bằng cách viết những truyện ngắn, và chính trong lối sáng tác này ông đã đạt được một sự hoàn hảo khiến người đọc phải theo rõi đến đứt hơi thở”. "Trăng trên thung lũng Jerusalem" cùng với một số truyện ngắn khác của Agnon đã trở thành những tác phẩm cổ điển châu báu của dân tộc Israel ngay trong thế kỷ 20. Bí quyết chính của sự hoàn hảo này là Agnon đã khéo léo phong phú hóa tác phẩm bằng vô vàn chi tiết lọc lựa hết sức nghệ thuật trong một hình thức văn chương vô cùng giới hạn. Trong tác phẩm của Agnon, những đam mê của con người chiếm phần quan trọng chính, nhưng Agnon có một lối viết, một ngôn ngữ diễn đạt điềm tĩnh lạ thường, khác hẳn thứ ngôn ngữ đầy xúc cảm của những nhà văn Hy-bá trước ông. Agnon cũng thường lưu tâm tới những con người hèn mọn, bình thường, mà cuộc sống với muôn vẻ đều bày ra những cảnh tượng hết sức thực mà đồng thời lại đầy những mầu sắc huyền bí. Bởi thế mà rất nhiều khi trong truyện của Agnon một nỗi buồn khôn tả thường đi đôi với một niềm an ủi siêu nhiên. Trong một truyện ngắn của Agnon, một công nhân nghèo khổ nọ, một người đơn độc trơ trọi trên đời, đã cần mẫn dành dụm chút tiền để có thể trở về “Đất Thánh”. Nhưng không biết giấu tiền ở đâu cho chắc dạ, bác đã bỏ tiền vào một hộp lạc quyên đặt bên dưới cây thập tự ngoài đường lộ. Sau cùng, khi tìm đến lấy lại món tiền đã giấu thì bác bị bắt về tội ăn trộm của thánh. Bác bị tù và bị kết án tử hình, nhưng trong ngục bác được “Người” tới thăm viếng – trong tiếng Hy-bá “Người” đây chỉ Jésus – và đưa tới thành thánh Jerusalem nơi đồng bào bác nhận thấy bác đã chết. Sau khi trở lại Jerusalem, 9 Agnon đã sáng tác một số tiểu thuyết dài. Những tác phẩm xuất sắc nhất của ông hợp thành một bộ ba cuốn mô tả đời sống Do-thái trong một trăm năm từ 1830 đến 1930. Ấy là những cuốn Của hồi môn của nàng dâu (1931), Người khách trọ một đêm (1940) và Cách đây không lâu (Tmol shilshom, 1946). Của hồi môn của nàng dâu (Hakhnasat Kalla) kể lại những cuộc phiêu lưu của Thầy cả Jude Hasid, người đã phải lang thang khắp vùng Đông Galicia để thu thập chút của hồi môn cho ba cô con gái đi lấy chồng. Trong tác phẩm này Agnon không những đã mô tả tục lệ phải lo của hồi môn cho con đi lấy chồng của Do-thái mà còn vẽ lại một cách chính xác và đầy màu sắc lối sống thuần túy Do-thái ở thế kỷ 19, trước khi va chạm với thời hiện tại. Tám mươi năm sau khung cảnh đã hoàn toàn thay đổi hẳn. Yitzhak Kummer, vai chính của Cách đây không lâu, là cháu của Thầy cả Judel. Tuy nhiên lý tưởng của thế hệ trẻ là xây dựng một xã hội mới, là tái tạo một dân tộc Do-thái nơi cố hương. Trong thời kỳ này, những nền tảng của xã hội cũ như tôn giáo, truyền thống đều bị lung lay. Mọi sự đều ở trong giai đoạn chuyển tiếp, bất ổn. Kummer tha thiết với ý tưởng phục quốc nhưng anh cũng không muốn chối bỏ truyền thống. Anh không tìm thấy chỗ đứng của mình giữa xã hội cũ ở Jerusalem và xã hội mới ở Tel Aviv và những nông trại. Anh luôn luôn cố gắng nối kết cuộc sống hiện tại với thế giới truyền thống đầy hứa hẹn an ủi nhưng mọi cố gắng dường như đều vô ích. Cuộc sống mới mà phong trào phục quốc Zion đề xướng chưa đạt được những kết quả mong muốn. Và lối sống cũ, với những vinh quang quá khứ, thì không sao tìm thấy đường về với hiện tại. Các truyện ngắn và tiểu thuyết của Agnon thường đi lại giữa hai thái cực không sao đạt tới được này. Ở cuối tác phẩm Cách đây không lâu, Agnon có hứa hẹn sẽ viết về đời sống của thế hệ trẻ ở Israel hiện tại, lẽ dĩ nhiên với những hình thái tích cực hơn của xã hội mới. Tuy nhiên cuốn tiểu thuyết này chưa xuất hiện. Người khách trọ một đêm dường như là tác phẩm sầu muộn nhất của Agnon, một người sùng thượng thế giới đẹp đẽ cổ truyền của dân tộc ông. Ngược lại với Kummer đi tìm thế giới mới và chỉ gặp thấy trống rỗng trong sinh hoạt ở phần đất Palestine của Israel, người kể truyện trong Người khách trọ một đêm từ thế giới mới trở về thăm thế giới cũ của thị trấn Szybuscz sau hai mươi năm trời xa vắng. Và nơi chôn nhau cắt rốn giờ đây chỉ là một nơi khốn khổ, hoang tàn, thoi thóp những phút cuối cùng của đổ nát. Tất cả những cố gắng tái tạo dĩ vãng dường như cũng hoài công, vô vọng. Và trong dĩ vãng ấy của cố hương, người kể chuyện chỉ là một “khách trọ qua đêm”. Trong truyện nhân vật chính đã phải thốt ra như sau: “Khi còn trẻ tôi có thể thấy trong trí tất cả những gì tôi ao ước thấy; ngày nay tôi không thấy cả những gì tôi ao ước thấy lẫn những gì người ta chỉ cho tôi”. Với một tâm hồn yêu mến quá khứ như Agnon, nỗi buồn kia đã trở thành một ám ảnh vô cùng đau đớn. Trong viễn tượng ấy của những khát vọng trần thế, những năm gần đây, Agnon đã khởi sự viết một tác phẩm tự sự thật kỳ lạ. Trong tác phẩm mới ông đã ngược dòng thời gian đến cả hàng ngàn năm và kể lại những cuộc thiên cư của tâm hồn ông qua mọi giai đoạn quan trọng của lịch sử kể từ những ngày Sáng thế. Tác phẩm tự sự có tích chất lịch sử-siêu hình này mang nhan đề là Hadom ve-Kissei(Ghế và Ngai) 10 cho đến nay vẫn chưa hoàn tất, tuy nhiên nhiều đoạn dài đã được trích đăng. Năm 1934, Agnon được tặng giải thưởng Bialik nhờ cuốn Của hồi môn của nàng dâu. Và giải thưởng Ussischkin cũng đã về tay ông với tác phẩm Cách đây không lâu. Năm 1954, Agnon được bầu làm nhân viên Hàn lâm viện Hy-bá và cùng năm đó, toàn bộ tác phẩm của Agnon đã được giải thưởng Văn chương cao nhất của Do thái, Giải ISRAEL. Agnon thường được coi như một nhà văn kiệt xuất đã nối kết được thế hệ đi tiền phong trong phong trào phục quốc Do-thái và thế hệ đương lên hiện tại ở Israel bằng một nội dung thâm trầm và sâu sắc nêu cao truyền thống dân tộc trong mọi tác phẩm. Năm 1966, Agnon đã được Hàn lâm viện Thụy điển trao tặng giải thưởng Nobel văn chương cùng với nữ văn sĩ Nelly Sachs. Tác phẩm của ông đã được phiên dịch ra chừng 15 thứ ngôn ngữ trên thế giới. Shmuel Yosef Agnon 11 không những là một nhà văn lớn của Israel mà còn là của toàn thế giới – như Edmund Wilson, người đã đề nghị trao tặng giải Nobel cho ông, đã nói: “... điều làm cho Agnon đáng kể như vậy và xứng đáng với giải thưởng Nobel là ở chỗ ông đã có thể thể hiện tới mức ấy trong thế giới Do-thái của ông, cái nhân loại tính chung của chúng ta...” Mời các bạn đón đọc Trăng Trên Thung Lũng Jerusalem của tác giả ShmuelYosef Agnon & Nguyễn Thu Hồng (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

108 Truyện Ngụ Ngôn Hay Nhất (Nhiều Tác Giả)
Ngụ ngôn là những truyện ngắn thường mượn chuyện loài vật để nói về việc đời nhằm dẫn đến những đạo lý, kinh nghiệm sống. 108 truyện ngụ ngôn là 108 câu chuyện chủ yếu của các con vật: Rùa học bay, Ngựa và Lừa, Chó nhà và Sói, Muỗi và Sư tử... và rất nhiều chuyện ngụ ngôn khác. Mỗi câu chuyện đó là mỗi một bài học cho đến giờ vẫn còn nguyên giá trị. Vậy những câu chuyện về các con vật đó dạy chúng ta điều gì?Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook 108 Truyện Ngụ Ngôn Hay Nhất PDF của tác giả Nhiều Tác Giả nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
101 Truyện 100 Chữ (Nguyễn Thị Hậu)
Nhà văn Trần Nhã Thụy: Quan niệm của chị thế nào về truyện cực ngắn, và vì sao chị chọn truyện cực ngắn? Nguyễn Thị Hậu: Truyện cực ngắn là truyện... cực ít chữ, và giản dị. Bằng một hai chi tiết, hình ảnh “gợi” nhiều hơn là “kể”, truyện cực ngắn thường “ý tại ngôn ngoại”. Tôi thích viết ngắn vì nó như một thách đố: Càng ngắn gọn càng chính xác thì càng đạt đến sự giản dị. Viết truyện cực ngắn cũng rất thú vị vì thường mang lại bất ngờ: định viết thế này mà khi hoàn chỉnh lại ra một truyện hoàn toàn khác hẳn. (Báo Tuổi trẻ ngày 7/11/2011) Tìm mua: 101 Truyện 100 Chữ TiKi Lazada Shopee Tiến sĩ khảo cổ học, từng “công tác bảo tàng” nhiều năm, hiện là Viện phó Viện nghiên cứu phát triển TPHCM, Phó Tổng thư ký Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, chừng ấy thứ để khó hiểu về việc viết văn của Nguyễn Thị Hậu. Nhưng nếu đọc loạt truyện cực ngắn này, không cần nghĩ ngợi đến những chức tước, học hàm học vị, sẽ thấy một cái nhìn nhạy cảm rất đàn bà, một kết cấu truyện gọn sắc như những cú đâm của dao găm, và cả tiếng cười như sắp phá bung ra đằng sau sự lạnh lùng của con chữ. Nhà văn Lê Anh Hoài (báo Tiền Phong cuối tuần, ngày 8/5/2009) ***Đồng hồNhìn đâu cũng thấy đồng hồ. Trên tường nhà, trên bàn làm việc, trên màn hình máy tính, trên điện thọai... Trong phòng làm việc, phòng họp, phòng của sếp, phòng của lính... Đi công tác: Trong xe hơi, trong khách sạn từ sảnh đến phòng ngủ... Nhưng tất cả đồng hồ đều chậm nhanh vài phút khác nhau, khi xem giờ chị luôn tự hỏi: đồng hồ nào đúng? Vì vậy, chị không đeo đồng hồ. Bởi không muốn nghi ngờ chính mình.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook 101 Truyện 100 Chữ PDF của tác giả Nguyễn Thị Hậu nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
99 Truyện Cười Dân Gian (Nhiều Tác Giả)
Cùng với tục ngữ, ca dao, dân ca, cổ tích, thần thoại..., truyện cười dân gian, cũng còn gọi là truyện tiếu lâm, là di sản quý giá mà cha ông đã để lại cho chúng ta, để gìn giữ và phát triển... Ngoài việc tích hợp văn hóa và phản ánh đời sống và trình độ văn minh của dân tộc ta qua các thời đại, truyện cười dân gian tham dự và góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Tập 99 Truyện cười dân gian Việt Nam này, vì lẽ đó, luôn là một kho tàng cần được đọc và chia sẻ. *** 99 Truyện cười dân gian Việt Nam gồm có: Thầy Chúng Mày Nói Dối Thầy Không Bằng Con! Chết Nhầm Văn Hay Ngửi Văn Bánh Tao Đâu? Tại Thầy Không Hỏi Để Tráp Lại Vậy Thầy Đồ Liếm Mật Bán Không Được Giá Chết Hóc Vẫn Chưa Chết Ba Người Đầy Tớ Trả Thù Bia Mộ Nhà Giàu Không Còn Chỗ Trả Nợ Không Dám Làm Ông Khổ Lây Sang Cả Mình Con Bôi Bẩn Mặt Quan Lí Sự Nói Với Quan Thầy Đề Tán Thơ Quan Vịt Hai Chân Xử Kiện Giỏi May Áo Cho Quan Quan Đấy Tiễn Quan Toàn Chó Cả Thần Bia Trả Nghĩa Cái Ấy Thì Con Xin Chịu Thật Là Đen Ông Quá Tao Mừng Quá Còn Ai Vào Đây Để Mẹ Xơi Nữa Ạ! Con Vịt Muối Cắn Cà Trứng Ngót To Bằng Cái Nồi Cũng Chả Biết Nữa Cái Gì Cứng Nhất Đổi Giày Mẹ Dặn Con Thừa Một Con Nghe Lời Vợ Làm Đúng Lời Vợ Dặn Hâm Nước Mắm Không Tự Biết Mình Công Việc Trong Ngày Cảm Ơn Vợ Cho Nó Chết Khát Chữ "Vạn" Dài Lắm Bạn Quan Quan Thanh Liêm Thơm Rồi Thối Giàn Lý Đổ Râu Dài Quan Sắp Đánh Bố Lạy Cụ Đề Ạ Rắm Của Con Có Nuôi Được Không Không Phải Là Ta Nhớ Tiếng Bật Bông Bán Hàng Ai Cũng Phải Cả Đẽo Cày Giữa Đường Đá Cũng Như Vàng Cầm Sợi Dây Thừng Túng Quá Có Nhẽ Đâu Thế! Để Được Báo Giờ Hãy Giải Thích Trong Rạp Chiếu Bóng Điểm Yếu Thuốc Tuyệt Cảnh Cuối Cùng Thiếu Dấu Người Mê Tín Được Trả Lương Lời Trên Bia Mộ Diệu Kế! Giấu Đầu Hở Đuôi Con Dã Hổ Không Còn Thanh Tịnh Sát Sinh Tội Nặng Lắm Ba Quan Đắt Quá Hàn Kim Nhuộm Màu Trứng Sáo Cưỡi Ngỗng Rách Giày Đố Thầy Đấy Bài Học Lái Ôtô Chuyện Đổ Xăng Người Giúp Việc Tập Chạy Nhìn Và Nghĩ Đỡ Đẻ Tại Sao? Tôi Chả Có Nguyện Vọng Gì Khi Đến Thăm Em Đừng Quan Tâm Thoát Nợ Số Học Và Bóng Đá Tại Sao Phải Trói Vẫn Chiếc Đen Chiếc Vàng Chiếc Ghế Trống Dài Lưỡi Chuyện Mượn Ô Chớ Bán Con Bò Ấy Thế Mới Tài Được Ăn Thả Cửa Sàn Sàn Bằng Nhau Còn Mười Năm Nữa Ai Nuôi Mèo Đen Mũi Trắng Há Miệng Chờ Sung Khỏi Mất Công Rượu Chua Hẹn Trước Thỉnh Thần Xa Vắt Cổ Chày Ra Nước Hai Cái Xô Nhựa Phải Rõ Nghĩa Hơn Rèn Luyện Hai Hiệp Phụ Có Mặt Cả Chứ Luật Pháp Không Cho Phép Là Một Thương Binh Hiểu Ý Chỉ Có Con Này Thôi Ạ! Kết Quả Hãy Làm Như Tôi Bệnh Ngoại Trong Giờ Tập Bắn Sợ Nói Đúng Sự Thật Luyện Mắt Mua Và Bán Thủ Môn Sững Sờ Cũng Lại Chuyện Mỹ Tìm Vợ Cậu Giải Pháp Cuối Cùng Kén Rể Giàu Chủ Nhà, Đầy Tớ Vậy Thì Không Mất Nói Khoác Mất Tiền Chẳng Phải Tay Ông Cứt Ăn Mất Rồi Tí Nữa Tao Sang Ba Đời Gàn Mất Rồi Mời Bác Xơi Ngọc Hành Không Xu Nịnh Quan Lớn Nhân Đức Thật Chết Một Ngàn Năm Chết Cũng Không Chừa Đừng Nói Nữa Mà Tao Thèm Thầy Bói Lạc Đường Thầy Bói Xem Voi Chỉ Tại Anh Thầy Địa Lý Thầy Phù Thuỷ Sợ Ma Chồn Nào, Chồn Nấy Tôi Lấy Một Con Ngày Tốt Tài Bịa Thi Nói Khoác Con Rắn Vuông Chưa Ghê Bằng Tớ Khoe Tài Lợn Cưới Áo Mới Hiểu Biết Chân Mới Dài Ra Sáu Chân Nhanh Hơn Ngốc Cẩn Thận Mẹ Rất Bận Lần Đầu Tiên Chuyện Cái Đầu Người Lạc Quan Giá Trị Bà Xã May Quá Có Lý Sẵn Sàng Nỗi Lo Của Ông Chồng Nhà Mới Đánh Đổ Cái Thang Ai Đây? Nhìn Bài Nhau Đau Ở Đâu? Vẫn Có Thể Cạo Râu Kính Phóng Đại Tắm Nửa Người Truyện Ngắn Hay Không Ngủ Được Trò Chuyện Giữ Mồm Giữ Miệng Mát-sa Trái Tim Không Đẻ Được Trứng Tại Đi Giày Quay Lại Hãy Tìm Ở Tai Tôi Có Còn Hơn Không Thầy Đồ Đỡ Đẻ Chữ Lẻ Cây Bất Bể Đông Không Việc Gì Đâu Khó Hơn Rặn Đẻ Thơ Bốn Anh Học Trò Nói Chữ Nhà Thông Thái Thầy Đồ Và Thầy Cúng Thầy Bói Với Thầy Lang Thay Đổi Ai Không Hiểu Ai Chuyện Gà Dễ Thấy Nhường Chỗ Siêu Nhân Thuận Cả Hai Tay Liên Hồi Cách Trả Lời Hoa Hồng Và Hoa Vi-ô-lét Theo Cách Thầy Lang Giỏi Chẩn Bệnh Chọn Người Gầy Mà Chữa Dùng Thuốc Gì Còn Trách Tôi Ư? Cái Chổi Lông Gà Lí Thầy Lang Kén Rể Hay Chữ Kén Rể Sang Nói Cho Có Đầu Có Đuôi Tin Ở Mình Sao Lại Gặp Nhau Để Cảm Ơn Hai Gã Bần Tiện Gặp Nhau Sẽ Ngủ Ngay Khỏi Bệnh La Sao Được Chuyện Của Người Gác Thang Máy Sao Lâu Vậy Cái Áo Bằng Da Trả Lời Không Sao Mơ Ước Tương Lai Nhiều Công Dụng Phân Định Biện Pháp Tốt Nhất Hơn Bán Đảo Sướng Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook 99 Truyện Cười Dân Gian PDF của tác giả Nhiều Tác Giả nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
69 (Ryu Murakami)
Ở tuổi 32, Murakami Ryu đã viết lại tuổi 17 của mình một cách chân thực nhất! 69 có thể nói là một tác phẩm tươi sáng nhất của Murakami Ryu. Trên cái nền nâu trầm bỗng vút qua một nét màu sáng tươi. Người đọc bất ngờ như khi đi qua rừng sâu bỗng thấy trước mình cánh đồng bạt ngàn hoa thơm cỏ lạ. Những đóa hoa của tình yêu thơ ngây và tuổi trẻ chưa bị đời làm cho gục ngã. Không những thế, 69 còn là tác phẩm hài hước và kích động vô cùng. Rất nhiều lần ta phải bật cười vì vui thích, hân hoan như tìm lại thấy người em thuở sơ đầu. Tác phẩm này gần như là tự truyện. Nhân vật Yazaki, mười bảy tuổi, đang học phổ thông dường như là hình bóng của chính Murakami Ryu. ***"Cái tuổi trẻ mà mình muốn sống nó y như Ryu đã mô tả trong sách này. Cảm giác tâm đắc làm sao khi bạn nghe y chang cái thứ âm nhạc mà ông nội nhân vật chính đang nghe trong truyện, này thì Beatles, Rolling Stones, Led Zeppelin...???? Y như là bạn xem Deadpool và thấy vui quá chừng khi thằng ôn này nhắc tới Yoda, Liam Neeson, Ripley Alien hay Sinead O'Connor. Tuổi trẻ nó cần phải chất như vậy. Nó rất là ngầu như Jeff Buckley tuy đang chết đuối trên sông nhưng người ta vẫn nghe hắn rống điệp khúc Whole Lotta Love của Led vậy." (Độc giả Viet Hung)***Nếu bạn đã nghe đến danh tiếng của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto, hẳn bạn phải biết đến “Tổ hợp 2 Murakami và 1 Banana”, và người còn lại, chính là Ryu Murakami. Cùng chung một thể loại hiện thực huyền ảo, nhưng nếu Banana được biết đến với phong cách nhẹ nhàng mà sâu lắng, Haruki sáng tạo và đầy sức hút, thì Ryu lại nổi tiếng về chiều sâu và sức nặng của những chủ đề được phản ánh. Cuốn “69” mình review lần này lại có phần nhẹ nhàng hơn những tác phẩm bình thường của Ryu Murakami, vì nó là một cuốn dạng “bán hồi ký”, nên gần như loại bỏ yếu tố huyền ảo ra ngoài, và mang trong mình hơi thở rất rõ rệt của một quãng đời đã trôi qua. Và “69” chính là cách Ryu Murakami chọn tái hiện tuổi trẻ của mình, thứ thanh xuân không dịu dàng man mác như nhiều người, mà nổi loạn, phá cách, có phần “hư hỏng”, mà vẫn xanh tươi không kém. Tìm mua: 69 TiKi Lazada Shopee “69” là hồi tưởng về năm 1969, năm 17 tuổi hoa mộng của cậu thiếu niên Yazaki Kensuke (gọi tắt là Ken), một thanh niên nổi loạn. Dù không thuộc bất cứ nhóm nào, nhưng cậu lại quen biết với hầu hết các thành phần “bất hảo” trong trường, và từ đó, kiến tạo nên “năm tươi đẹp nhất cuộc đời” bằng việc thành lập một “đại nhạc hội”. Ken cố gắng mời “Lady Jane” Kazuko của đội Kịch làm vai nữ chính, và phá cả buổi luyện tập “Ngày hội thể thao quốc gia” để nàng đồng ý tham gia. Ken còn chủ mưu việc treo biểu ngữ giữa đêm khuya ở trường học, rồi sáng dậy gọi cả đài truyền hình đến đưa tin, để rồi hơn một trăm năm mươi ngày tiếp theo bị đình chỉ học và quản thúc tại gia. Trong khoảng thời gian đó, Ken vẫn lên kế hoạch cho buổi “đại nhạc hội”, và sau cùng, đã thực hiện thành công điều mình muốn dù gặp nhiều trắc trở. Giờ đây 32 tuổi, đã thành nhà văn nổi tiếng và ở ẩn để viết cuốn sách thứ hai sau thành công rực rỡ của cuốn đầu, Ken hồi tưởng lại những năm tháng nổi loạn huy hoàng ấy, và nhiều thứ khác đã xảy ra với những thanh niên ấy ngày nào.“69” là cuốn tiểu thuyết dạng bán hồi ký của Ryu Murakami, mang một âm hưởng tươi sáng và lạc quan hiếm hoi trong sự nghiệp văn chương của ông, vốn đào sâu vào tâm trí và sự bất hạnh của con người thông qua các yếu tố bạo lực và ma tuý. Cả cuốn tiểu thuyết chứa đựng thực tế về thập niên 60 của thế kỷ trước đầy biến động trong lòng đất nước Nhật Bản, khi giới trẻ hâm mộ cuồng nhiệt các ban nhạc rock, jazz, các diễn viên, nhà văn, triết gia nổi tiếng của phương Tây. Đó cũng là trái tim nồng cháy của tuổi trẻ, mơ ước những điều vĩ đại, và thực hiện những điều không tưởng, dẫu chỉ đơn giản là để chứng tỏ bản thân, hay sâu xa hơn, là để gây ấn tượng với một cô gái. Chương cuối của cuốn sách kể về chuyện tình ngắn ngủi trong sáng của Ken với Kazuko thật sự rất bất ngờ, với những tư tưởng và hành động của Ken, không ngờ cậu chàng lại… ngây thơ đến thế. Thật là tuổi trẻ!Mình nghĩ mình sẽ sớm đưa Ryu Murakami lên hàng những nhà văn mình thích nhất mọi thời đại sau khi đọc hết những gì ông viết.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook 69 PDF của tác giả Ryu Murakami nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.