Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Kẻ Tủi Nhục - Fyodor Dostoyevsky

Tiểu thuyết "Những Kẻ Tủi Nhục" lấy khung cảnh là thành phố Peterburg, trung tâm chính trị, kinh tế, hành chính, văn hóa,... của nước Nga Sa hoàng. Dưới ngòi bút của tác giả, Peterburg không còn là những lâu đài tráng lệ, thành phố của những tượng đài và nhà bảo tàng nguy nga, của những ngựa xe như nước, những công hầu bá tước, trai thanh gái lịch, với những dạ hội và những buổi tiếp tân như trong "Chiến Tranh Và Hoà Bình" của L.Tônxtôi. Thế giới của Đốxtôiepxki là những tầng hầm tối tăm , ẩm thấp, những căn gác áp mái lạnh lẽo, là sương mù, mưa, tuyết với những con người khốn khổ cùng: ăn đói, mặc rách, ho lao, động kinh, những kẻ ma cô, đĩ điếm, ăn mày... Tóm lại đấy là một bức tranh đầy, phản ánh cái mâu thuẫn âm ỷ nhưng quyết liệt của một chế độ thối nát tập trung trong một thành phố khổng lồ mà nhân vật Ivan Petrovits gọi là "Dở điên, dở khùng". Một trong những nét hấp dẫn và làm nên đặc thù của Đốxt là tài phân tích, mổ xẻ tâm lý con người. Có thể nói, đây là sở trường đặc biệt và cũng là niềm hứng thú bất tận của Đốxt. Cũng như ở các tác phẩm khác, "Những Kẻ Tủi Nhục" có rất nhiều đoạn phân tích tâm lý hết sức sâu sắc, tinh tế, chứng tỏ một khả năng quan sát, suy ngẫm, một vốn sống phong phú, lịch lãm của một tài năng bậc thầy. Hứng thú này làm cho ngòi bút của ông có lúc sa đã thậm chí có chỗ lắp khép khiên cưỡng. Tuy nhiên, người đọc vẫn rất thú vị vì những nhận xét, mổ xẻ lòng người rất đỗi tinh vi và có sức khái quát cao, giúp cho ta khám phá sâu sắc thế giới nội tâm của chính mình mà nhiều lúc ta cũng không hiểu nổi. Từ những bối cảnh, những con người của một thời, tác phẩm của Đốxt đã vượt qua biên giới của không gian và thời gian để trường tồn cùng nhân loại. *** Dos[1], như cách gọi thân mật tên Dostoevsky của bạn đọc Việt Nam, là một nhà văn thực sự vĩ đại của cả nhân loại, hơn thế nữa, không như những nhà văn vĩ đại khác mà tác phẩm chỉ có ý nghĩa lịch sử như những chứng nhân của một nền văn minh đã qua, Dos luôn luôn đồng hành cùng nhân loại, thậm chí càng ngày Dos càng trở nên vĩ đại hơn. Sức sống vượt thời gian đó của Dos tựa hồ như là do sự lựa chọn của số phận; cuộc đời Dos, cũng như cuộc đời của Jesus, đã chịu đựng tất cả những đau khổ điển hình của con người, và trí tuệ, tình cảm của ông lại được trang bị để cảm nhận và biểu hiện cuộc đời ấy đầy đủ và sinh động nhất với sức mạnh chín muồi của một cây bút mà lịch sử đã đặt vào tay ông. Dos (1821–1881) bắt đầu cuộc đời sáng tác văn học vào quãng giữa thế kỷ XIX (tác phẩm đầu tay của Dos Những người nghèo khổ in năm 1845), lúc mà xã hội Nga đang có những biến chuyển mạnh mẽ – cái cũ đã suy thoái cùng cực, phơi bày tất cả mặt trái xấu xa và những mâu thuẫn không thể giải quyết nổi; cái mới đang manh nha, đang lần hồi định hướng – đó là một giai đoạn phức tạp và đau khổ trong lịch sử phát triển của xã hội Nga. Tuy nhiên “cùng tắc biến”, chính trong tột đỉnh đau thương và phức tạp ấy, những tư tưởng lớn lao sẽ ra đời, những nhân cách vĩ đại sẽ tự khẳng định. Đối với văn học cũng vậy: xã hội càng nhiễu nhương, văn chương – nếu vượt qua được ranh giới của thứ văn chương bồi bút – lại càng phong phú và có ích. Dos thuộc số những nhà văn mang trong mình một nhà tư tưởng và một con người hành động – ông là nghệ sĩ và cũng là một chiến sĩ. Vì vậy, không chỉ viết văn, ông còn tham gia hoạt động chính trị, và hậu quả của việc này là cái án tử hình mà phải đến tận phút chót trước giờ hành quyết mới được giảm xuống thành khổ sai ở Xibir. Sau bốn năm lưu đày, Dos tiếp tục bị sung vào quân dịch làm lính trơn, rồi sau đó bị cấm cả tự do cư trú lẫn sáng tác. Trong suốt cuộc đời của mình, Dos luôn luôn bị cuộc sống thúc bách, nợ nần như chúa chổm, phải viết văn như “một thứ ngựa trạm” để kiếm sống và trả nợ, sức khỏe kém sút, chứng động kinh luôn luôn hành hạ... Đó là hình ảnh xám xịt phủ lên toàn bộ cuộc đời nhà văn mà bạn đọc sẽ bắt gặp đó đây qua những nhân vật trí thức nghèo trong các tác phẩn của Dos, chẳng hạn Raskolnikov trong Tội ác và hình phạt, và nhất là nhân vật Ivan Petrovich của cuốn sách này. Chính vì phải sống một cuộc đời làm lũ ở giữa đám “thập loại chúng sinh” như vậy, cộng với một trái tim nhân hậu và một trí tuệ sâu sắc bẩm sinh, Dos đã trở thành lương tâm của những người “hạ đẳng”, nhà văn của những kẻ bị áp bức và sỉ nhục. Qua nhân vật Ivan Petrovich trong cuốn sách này, một nhân vật có rất nhiều nét gần gũi với đời riêng tác giả, ta thấy một nhân cách làm người, một phẩm chất nhà văn rất cao thượng: luôn luôn đồng cảm, yêu thương, xả thân vì những đồng loại bất hạnh đến mức quên mình. Trong cuộc đời tăm tối thuở ấy, nhân cách của ông, nghĩa cử của ông lóe lên như một tia sáng rực rỡ, ấm áp như một ngọn lửa mà đến trăm năm sau bạn đọc còn cảm nhận được giữa những trang sách. Đằng sau tất cả những tư tưởng và triết lý có những điều đúng đắn và sâu sắc, nhưng cũng có cả những sai lầm, thậm chí phản động, cái còn lại và làm nên chân dung đặc thù của Dos chính là tấm lòng ưu ái này của ông. Người ta kể rằng, trong đám tang của ông, những người đi đưa tang đã tự đeo những cái gông cổ, những cái còng tay, những dây xích tượng trưng... để nói lên phẩm chất của người quá cố là nhà văn của những người bị xích xiềng và chà đạp. Tác phẩm mà bạn đọc đang có trong tay là một chứng minh cụ thể cho những phẩm chất ấy của Dos. Có thể nói, tiểu thuyết Những kẻ tủi nhục[2] tuy không phải là tác phẩm tiêu biểu về chiều sâu tư tưởng và độ chín của bút pháp của nhà văn, nhưng vẫn phản ánh rất đúng Dos về hai mặt: chủ đề và văn phong. Nhà văn viết tác phẩm này năm 1861 (sau mười năm đi đày và lưu lạc vừa trở về Petersburg), và cho in lên ngay số đầu tiên của tờ tạp chí Thời Đại (Valkovskyrêmia) do ông và người anh trai chủ trương mà trong đó thực chất ông là linh hồn. Sau những bước thăng trầm dữ dội, những khủng hoảng nghiêm trọng trong tư tưởng, thế giới quan của Dos chao đảo. Ông hoài nghi con đường cách mạng xã hội của những người cách mạng dân chủ và rơi vào những tư tưởng duy tâm: muốn kêu gọi sự thức tỉnh của lương tâm, dùng cái đẹp để cải tạo thế giới. Ông phát biểu chính kiến này trong loạt tác phẩm tiêu biểu ở giai đoạn cuối đời, như Tội ác và hình phạt, Lũ người quỉ ám, Thằng ngốc, Anh em nhà Karamazov... Tiểu thuyết Những kẻ tủi nhục nằm vào giữa giai đoạn giao thời này của Dos. Ở đây đã bắt đầu xuất hiện hệ tư tưởng mới của ông trong cách phân tích và giải quyết các tình huống và số phận nhân vật. Tuy nhiên, về cơ bản tác phẩm vẫn tiếp tục đi nốt con đường của những tác phẩm trước đây, mở đầu bằng Những người nghèo khổ. Chính vì lẽ đó, người đọc và giới phê bình Nga vẫn coi Những kẻ tủi nhục như tập tiếp theo trong loạt chủ đề của Những người nghèo khổ, vẫn chịu ảnh hưởng của Belinskij trong những tư tưởng cuối cùng mà Dobroljubov gọi là “khuynh hướng nhân đạo”. Khung cảnh của câu chuyện là thành phố Petersburg, trung tâm chính trị, kinh tế, hành chánh, văn hóa của nước Nga sa hoàng. Dưới ngòi bút của Dos, Petersburg không còn là những lâu đài tráng lệ, thành phố của những tượng đài và nhà bảo tàng xa hoa, của những ngựa xe như nước, những công hầu bá tước, trai thanh gái lịch, với những dạ hội và những buổi tiếp tân như trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tolstoy. Thế giới của Dos là những tầng hầm tối tăm ẩm thấp, những căn gác áp mái lạnh lẽo, là sương mù, mưa, tuyết với những con người khốn cùng: ăn đói, mặc rách, ho lao, động kinh, những kẻ ma cô, đĩ điếm, ăn mày... Tóm lại, đấy là một bức tranh đầy mâu thuẫn, phản ánh cái mâu thuẫn âm ỉ nhưng quyết liệt của một chế độ thối nát tập trung trong một thành phố khổng lồ mà nhân vật Ivan Petrovich gọi là “dở điên dở khùng”. Toàn bộ cốt truyện gồm có hai tuyến: Một phía là gia đình Ikhmenev, một địa chủ nhỏ bị sỉ nhục và phá sản, bị thua kiện, mất đất mất của, con gái lại bỏ nhà theo nhân tình – vốn là con trai của kẻ thù của mình. Một phía khác là gia đình ông già Smith: cô con gái cũng bị quyến rũ và bỏ nhà theo trai, mang theo toàn bộ tiền nong và lúc mang thai thì bị người tình ruồng bỏ, phải sống cầu bơ cầu bất trong cảnh ốm đau và bị người bố nguyền rủa cho đến tận lúc chết, để lại đứa con gái bé bỏng, côi cút giữa nanh vuốt của bọn người tàn ác bất lương... Tuy cùng là những người bị chà đạp, sỉ nhục đến cùng cực, nhưng mỗi nhân vật đều có một cách phản ứng riêng, một thế giới nội tâm riêng. Hai ông bà Ikhmenev mang bản chất của những người Nga trung lưu đang bị bần cùng hóa: chân chất, trong sạch, giàu lòng thương nhưng cũng đầy tự ái và sỉ diện. Họ không có cách nào chống trả hữu hiệu đối với những kẻ thù đích thực của mình và quay ra trút lên đầu nhau tất cả sự bất hạnh mà mỗi người không đáng phải chịu, và hành hạ nhau nhiều khi bằng chính lòng tốt của mình. Cô Natasha, con gái của họ, tỏ ra quyết liệt hơn trong mọi cách xử thế. Mặc dù hơi có nét lãng mạn kiểu cũ, tính cách Natasha cơ bản là tính cách hành động và thực tế: cô biết yêu và dám dũng cảm lao vào tình yêu, giành lấy hạnh phúc cá nhân, bất chấp mọi hoàn cảnh éo le, có lúc đi ngược lại cả những tín điều vốn thiêng liêng nhất trong lòng cô. Lúc gặp trắc trở, cô biết chấp nhận sự thật và tỉnh táo vượt qua nó. Cô cũng là người duy nhất biết và dám đánh trả trực diện và quyết liệt kẻ thù bằng những lý lẽ tinh tế và xác đáng. Hai bố con ông già Smith được tác giả miêu tả sơ lược hơn và có phần được sử dụng để minh họa cho những tư tưởng của tác giả. Ngược lại nhân vật Nenli, em bé gái côi cút, là cả một phát hiện sâu sắc của Dos về tâm lý, vừa đơn giản vừa phức tạp, vừa bí ẩn vừa rõ ràng... của một đứa trẻ bị chà đạp từ thuở ấu thơ, luôn nghi ngờ và thù hận tất cả mọi người, nhưng thực chất vẫn mang trong đáy lòng những tình cảm yêu thương đầm ấm và khát khao hướng tới cái thiện. Nenli cũng là nhân vật trong suốt và minh bạch nhất trong mọi quan hệ. Với bản năng thiên bẩm của đứa trẻ và sự từng trải trước tuổi, em đã phân biệt chính xác cái tốt và cái xấu, cái có thể tha thứ và cái không thể tha thứ. Cho đến phút chót của cuộc đời ngắn ngủi, trái tim kiêu hãnh ấy đã kiên trì một thái độ không khoan nhượng trước cái xấu bản chất – em đã chết đi mà tự mình không tha thứ cho kẻ đã gây nên bất hạnh cho cả gia đình em và bao nhiêu người khác, dù kẻ ấy là bố đẻ của em đi nữa! Có thể nói hình tượng nghệ thuật này đã phần nào vượt qua ý định luân lý của tác giả, và một ông Dos nghệ sĩ ở đây đã chiến thắng một ông Dos nhà tư tưởng cứng ngắc. Nhân vật móc nối hai tuyến nhân vật nói trên và là nguyên nhân gây ra tất cả mọi bất hạnh cho mọi người là công tước Valkovsky. Đây là một kẻ quí tộc đã tư sản hóa, sản phẩm của một xã hội hưởng thụ mà đồng tiền là thước đo của mọi nhân cách, cái thời mà “vị công tước chân chính duy nhất là Rôtsin” (một nhà triệu phú, tư bản ngân hàng Pháp). Nói đúng hơn, Valkovsky chỉ còn quí tộc ở cái vỏ ngoài hào hoa, tao nhã. Còn thực chất, lão là một kẻ nô lệ của đồng tiền, một tên gian manh, đàng điếm, hiếu sắc, du côn với một tâm địa cực kỳ tàn ác và nham hiểm. Lão là một tên đê tiện có ý thức, thậm chí còn biết khái quát hóa hành động xấu xa thành lý thuyết. Tự nhận định về cuốn sách này, Dos có nói rằng trong đó “có độ năm mươi trang rất đáng tự hào” – theo tôi trong số năm mươi trang này chắc hẳn có đoạn bộc bạch của công tước Valkovsky với nhân vật nhà văn Ivan Petrovich. Trong đoạn tự bạch này, lão công tước đã tự lật mặt nạ, bày tỏ tất cả những hành vi xấu xa mà lão đã làm, đồng thời đúc kết thành lý luận và hi vọng một ngày nào đó sẽ đem ra truyền bá! Đó là một thứ chủ nghĩa vị kỷ tư sản dưới dạng cổ điển nhất. Lý thuyết của lão gói gọn trong mấy câu: “Tất cả là để cho tôi, toàn thế giới được tạo ra cho tôi”, “Tôi chỉ coi là có bổn phận chừng nào có lợi cho tôi”. Khẩu hiệu của lão là: “Hãy yêu lấy chính mình!” Cách lập luận của lão không phải là không sâu sắc và có sức thuyết phục. Tuy nhiên chỉ cần với lý trí tỉnh táo bình thường, đã có thể thấy ngay được tất cả mặt trái tồi tệ của ý thức hệ tư sản ngay trong những ngày đầu hình thành của nó. Chủ nghĩa vị kỷ và tham vọng tự do cực đoan đã chà đạp lên mọi nguyên tắc nhân bản trong quan hệ giữa người với người và trở thành một mảnh đất tốt cho tội ác chà đạp đồng loại tự do phát triển. Tính chất trắng trợn và quyết liệt của nó thực sự là hồi chuông báo động cho lương tri của loài người. Trước cái hình ảnh ghê tởm của con quái vật hai chân này, tác giả đã tỏ thái độ qua lời của nhân vật Ivan Petrovich: “Lão gợi lên cho tôi ấn tượng về một loài bò sát, một con nhện khổng lồ mà tôi ao ước được đập cho chết tươi”. Như trên đã nói, trong hoàn ảnh giao thời của xã hội Nga giữa thế kỷ XIX, khi mà cái cũ đang sụp đổ, nhưng cái mới cũng chưa định hướng xong, nhất là phải trải qua một cuộc đời đầy thử thách khắc nghiệt, thế giới quan của Dos lúc này đang chao đảo dữ dội và thể hiện ra đầy mâu thuẫn. Một mặt, bằng trái tim tha thiết yêu người, lo lắng cho số phận của những đồng loại đau khổ, ông đã lên tiếng tố cáo thực trạng bất công của xã hội bằng cách vẽ lên một bức tranh chân thực cà sinh động về một cuộc sống tăm tối, bế tắc của nhân dân bị áp bức. Ngỡ như trái tim ông rỉ máu trên từng trang viết và đến trăm năm sau ta còn nghe rõ những tiếng đập quằn quại của nó. Tuy nhiên, một mặt khác, những kết luận mà ông hướng người đọc đi tới lại mang đầy cảm tính sai lầm. Xa rời tư tưởng thực tế của cuộc cách mạng xã hội. Dos đi tìm lối giải thoát cho mọi mâu thuẫn xã hội bằng con đường duy tâm, tôn giáo. Ông kêu gọi sám hối và tha thứ. Kết cục đoàn viên ở cuối truyện này là một dẫn chứng cho những tư tưởng ấy của Dos. Tác giả tạo ra một sự đối chứng giữa hai cách giải quyết mâu thuẫn: ông già Smith khăng khăng không tha thứ cho con gái, thì rốt cuộc người chết, kẻ phát điên, bố con, ông cháu đều rơi vào thảm cảnh; ngược lại ông già Ikhmenev cuối cùng đã tha thứ cho cô con gái Natasha thì toàn gia đoàn tụ, mọi người đều hạnh phúc. Tác giả đã đặt vào miệng của ông già này những lời hùng hồn thực ra chỉ để tuyên dương một chiến thắng giả tạo: “Mặc cho chúng ta bị sỉ nhục, mặc cho chúng ta bị lăng mạ, nhưng chúng ta lại bên nhau, và mặc cho lúc này những kẻ kiêu ngạo và hợm hĩnh, những kẻ đã sỉ nhục và lăng mạ chúng ta đang ca khúc khải hoàn! Mặc cho chúng ném ta vào đá! Đừng sợ” – Một thắng lợi đầy chất A.Q. Mặc dù có những hạn chế như vậy trong tư tưởng, Những kẻ tủi nhục vẫn là một tác phẩm tích cực và có sức cuốn hút mạnh mẽ. Trước hết, cũng như nhiều tác phẩm khác của Dos, tính chất chân thực của cuốn tiểu thuyết rất cao. Dos bao giờ cũng viết bởi một thúc bách nội tâm mãnh liệt, ông không e ngại biểu hiện chính mình lên mặt giấy, mà ngược lại. Vì vậy, có cái đúng và cái sai, cả cái hay và cái dở ở ông đều rất chân thực. Đọc ông, ta bắt gặp một cuộc sống ngồn ngộn, chồng chất, hối hả, lúc ồn ào, lúc sâu lắng... ngỡ như vượt qua cả câu chữ, văn chương. Do đó, văn của ông dù nhiều lúc rườm rà, rắc rối, thậm chí cẩu thả, nhưng vẫn cuốn hút người đọc nhờ cái dòng chảy xiết dào dạt của cuộc sống. Mặt khác, một trong những nét hấp dẫn và làm nên đặc thù của Dos là tài phân tích mổ xẻ tâm lý con người. Có thể nói đây là sở trường đặc biệt và cũng là niềm hứng thú bất tận của Dos. Cũng như ở các tác phẩm khác, Những kẻ tủi nhục có rất nhiều đoạn phân tích tâm lý hết sức sâu sắc, tinh tế, chứng tỏ một khả năng quan sát, suy ngẫm, một vốn sống phong phú, lịch lãm của một tài năng bậc thầy. Hứng thú này làm cho ngòi bút của ông đôi lúc sa đà, thậm chí có chỗ lắp ghép khiên cưỡng. Tuy nhiên, người đọc vẫn rất thú vị vì những nhận xét, mổ xẻ lòng người rất đỗi tinh vi và có sức khái quát cao, giúp cho ta khám phá sâu sắc thế giới nội tâm của chính mình mà nhiều lúc chính ta cũng không hiểu nổi. Từ những bối cảnh, những con người của một thời, tác phẩm của Dos đã vượt qua biên giới của không gian và thời gian để trường tồn cùng nhân loại. Chính vì những lẽ trên, chúng tôi rất vui mừng được chuyển đến các bạn thêm một tác phẩm nữa của Dos để các bạn có dịp tìm hiểu tiếp một nhà văn vĩ đại mà chúng ta hằng yêu mến, kính trọng và luôn khao khát được thưởng thức. Hà Nội ngày 20–11–1986 Anh Ngọc [1] Cách gọi ngắn gọn này của người đọc Việt Nam đối với Dostoevsky thể hiện một tình cảm đặc biệt rất đáng quí. Về tiểu sử của Dos, xin xem thêm ở “Tội ác và hình phạt” (NXB Văn Học - 1982) [2] Nguyên văn tiếng Nga - Униженные и оскорблённые: Những kẻ bị sỉ nhục và lăng mạ. *** Fyodor Mikhailovich Dostoevsky (1821- 1881), sinh ngày 11.11.1821, là nhà văn nổi tiếng người Nga. Cùng với Gogol, L. Toystol, ông được xem là một trong ba văn hào vĩ đại của Nga thế kỉ 19. Dostoevsky sinh tại thành phố Moscow, là con trai thứ hai trong 7 người con của ông Mikhail, một bác sĩ quân y được biệt phái qua phục vụ tại Bệnh Viện Maryinski chuyên chữa trị các người nghèo. Ông Mikhail là một con người cứng rắn, thẳng thắn trong khi bà mẹ lại có bản tính trái ngược, bà ta rất thụ động, tử tế và rộng lượng. Các sự kiện của gia đình quý tộc xa xưa này với cha mẹ có một vùng đất và hơn một trăm nông nô, đã là hình ảnh của các nhân vật với các bản tính thái cực trong các cuốn tiểu thuyết của Dostoevsky sau này. Trong thời gian Fyodor đi học xa nhà, ông Mikhail đã bị giết chết do các nông nô trong vùng nổi loạn và hình ảnh giết người bất ngờ và tàn bạo này luôn luôn ám ảnh Fyodor Dostoevsky khiến cho các tác phẩm của ông thường dùng đề tài là các tội ác. Và vào cuối cuộc đời, cái chết của người cha đã là căn bản cho tác phẩm danh tiếng Anh Em Nhà Karamazov. Fyodor Dostoevsky rất yêu thích văn chương. Vào tuổi 25, Fyodor đã cầm bút, sáng tác ra cuốn tiểu thuyết đầu tiên với tên là Những kẻ bần hàn xuất bản vào năm 1846. Đây là một câu chuyện tình cảm mô tả một cách bóng bẩy các cảnh tàn phá của kiếp nghèo. Cuốn truyện này đã được các nhà phê bình khen ngợi, đặc biệt là Vissarion Belinsky, và nhà văn trẻ tuổi Dostoevsky được gọi là một "Gogol mới", tác phẩm của ông trở nên bán chạy nhất, bởi vì từ xưa tới nay chưa có một nhà văn người Nga nào cứu xét một cách kỹ càng sự phức tạp tâm lý của các cảm xúc bên trong tâm hồn con người. Fyodor Dostoevsky đã dùng tới phương pháp phân tích tâm lý để tìm hiểu các hoạt động rất tinh tế của tâm lý mọi người. Sau tác phẩm Những kẻ bần hàn , Fyodor Dostoevsky sáng tác ra cuốn Con người kép đề cập tới sự phân đôi cá tính và đây là căn bản dùng cho nhân vật Raskolnikov của đại tác phẩm Tội Ác và Trừng Phạt. Qua tác phẩm này, Fyodor Dostoevsky được toàn thế giới công nhận là một trong các Đại Văn Hào của nước Nga, được xem là người sáng lập hay là người báo trước cho chủ nghĩa hiện sinh thế kỷ 20. Tác phẩm tiêu biểu: Chàng Ngốc Những kẻ bần hàn (1846) Con người kép (1846) Đêm trắng (1848) Ghi chép từ Ngôi nhà chết (1862) Những kẻ tủi nhục (1861) Con bạc (1867) Hồi Ký Viết Dưới Hầm (1864) Tội ác và trừng phạt (1866) Gã Khờ (1868) Lũ người quỷ ám (1872) Anh em nhà Karamazov (1880) Là Bóng Hay Là Hình Chàng Thiếu Niên Người Chồng Vĩnh Cửu  Mời các bạn đón đọc Những Kẻ Tủi Nhục của tác giả Fyodor Dostoyevsky.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hiện Tại
Khi toàn bộ gia đình Malory tập trung tại Haverston để đón Giáng Sinh, một món quà bí ẩn được một người vô danh gửi đến. Món quà là một cuốn nhật ký cũ - một câu chuyện nhẹ nhàng và gay cấn về mối tình giữa vị Hầu tước thứ hai, Christopher Malory, và một người đẹp Gypsy bí ẩn tên là Anastasia, người đang tìm kiếm một mối tình với một người không phải Gypsy để cứu mình khỏi một cuộc hôn nhân sắp đặt trước với một kẻ vũ phu. Mặc dù lãnh chúa người Anh bảnh bao thấy Anastasia là một cô gái nóng bỏng và xinh đẹp lạ kỳ, Christopher cũng không bao giờ có thể đồng ý kết hôn với một phụ nữ ở tầng lớp thấp kém như vậy. Nhưng những điều kỳ diệu đã xảy ra trong hội mùa của hòa bình và sự trao gửi và yêu thương này, khi hai con người phi thường bị ngăn cách bởi tầng lớp xuất thân bắt đầu một vũ điệu cuồng nhiệt của ý chí và mưu mô. Và trong sự thăng hoa kỳ diệu của một mối tình lãng mạn huy hoàng vào dịp Giáng Sinh cách đây rất lâu, có những bài học khôn ngoan được đúc kết đầy đủ sẽ làm phong phú thêm trái tim của con cháu họ - và thực sự là của tất cả những ai đã từng mơ ước. *** Một cuốn tiểu thuyết mới từ JohannaLindsey là một món quà trong bất kỳ mùa lễ hội nào. Tuy nhiên, câu chuyện theo chủ đề ngày lễ mới của bà về một gia tộc liêm khiết - nhưng vẫn lộng lẫy đến say đắm - Gia tộc Malory, The Present, là một thứ đặc biệt không thể cưỡng lại được. Có rất nhiều kịch tính xung quanh cây thông Noel của gia đình ngay cả trước khi một gói quà bí ẩn được gửi đến, một gói quà sẽ mãi mãi thay đổi cách họ nhìn nhận về bản thân họ. The Present có những bí mật đen tối, những căng thẳng trong gia đình, tình yêu đơn phương - tất cả những yếu tố cấu thành nên một cuốn tiểu thuyết lãng mạn lịch sử khó quên. *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), Ngôi Sao Lạc Loài Chỉ Một Lần Yêu Nơi Em Thuộc Về Trái Tim Hoang Dã Yêu Lầm Anh? Tình Yêu Tìm Thấy Chỉ Một Tình Yêu The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** Nước Anh, 1825 Gia tộc Malory luôn dành những ngày lễ Giáng Sinh tại Haverston, dinh thự của tổ tiên ở nông thôn, nơi người lớn tuổi nhất trong số họ sinh ra và lớn lên. Jason Malory, Hầu tước Thứ Ba của Haverston và là người lớn tuổi nhất trong số các anh em trai nổi loạn, là thành viên duy nhất trong gia đình vẫn thường xuyên trú ngụ tại đây. Là chủ gia đình từ khi mới mười sáu tuổi, Jason đã nuôi nấng các em trai của mình — hai người trong số họ đã hoàn toàn gây tai tiếng trong những trò theo đuổi của họ — và một cô em gái. Hiện tại, các Malorys và con cháu họ khá đông và khó sắp xếp chỗ ở, đôi khi ngay cả đối với chính Jason. Vì vậy, một đoàn người đông đúc đã tập trung tại Haverston vào những ngày này cho mùa Giáng Sinh. Con trai và là người thừa kế duy nhất của Jason, Derek, là người đầu tiên đến, hơn một tuần trước Giáng Sinh. Cùng với câu là vợ của cậu, Kelsey, và hai đứa cháu đầu tiên tóc vàng và mắt xanh của Jason. Anthony, em trai út của ông, là người tiếp theo đến chỉ vài ngày sau Derek. Tony, như hầu hết mọi người trong gia đình đều gọi anh, thừa nhận với Jason rằng anh đã rời khỏi London sớm sau khi nghe tin rằng anh trai James của họ đang tức giận với anh. Trêu trọc James là một chuyện, và một số điều mà Anthony thường cố gắng làm, nhưng khi James tức hộc máu, thì Tony coi đó là một vấn đề hoàn toàn khác. Anthony và James là hai người em trẻ nhất của ông, nhưng họ chỉ cách nhau một tuổi. Cả hai đều là những tay đấm bốc cừ khôi, và Anthony có thể cầm cự với những tay đấm cừ nhất, nhưng James thì cao tay hơn, và nắm đấm của anh thường được ví như những viên gạch rắn chắc. Đi cùng với Anthony là vợ anh, Roslynn, và hai cô con gái của họ. Judith, đứa lớn nhất 6 tuổi, giống cả cha và mẹ, có mái tóc vàng đỏ chói lọi của mẹ và đôi mắt xanh coban của cha, một sự kết hợp nổi bật nghiêm trọng mà Anthony sợ rằng sẽ khiến cô bé trở thành người đẹp trị vì trong thời đại của mình — điều mà với tư cách một người cha và một tay phóng đãng hoàn lương anh không hề mong đợi. Nhưng cô con gái nhỏ của anh, Jaime, cũng sẽ khiến vô số trái tim tan vỡ. Cũng như tất cả các vị khách của mình, Jason là người đầu tiên nhận thấy món quà xuất hiện trong phòng khách trong khi gia đình đang ăn sáng. Thật ra, thật khó để bỏ lỡ khi nó được đặt nổi bật trên một chiếc bàn bên cạnh lò sưởi. Được bọc bằng vải vàng, thắt một dải ruy băng nhung đỏ và nơ, nó có hình dạng kỳ lạ, gần giống như kích thước của một cuốn sách dày, nhưng một phần nhô ra tròn ở trên gợi ý rằng nó không chỉ đơn giản như vậy. Chọc ngón tay vào thấy phần nhô ra có thể di chuyển, nhưng không nhiều lắm, vì ông phát hiện ra khi ông nghiêng gói quà sang một bên mà nó không thay đổi vị trí. Thật lạ lùng, nhưng lạ lùng hơn vẫn là không có dấu hiệu gì cho thấy món quà này được gửi từ ai, cũng như nó là dành cho ai. “ Hơi sớm để chuyển quà Giáng sinh, phải không?” Anthony nhận xét khi đi vào phòng nhìn thấy Jason đang cầm món quà. “Cây thông Noel thậm chí còn chưa được đưa vào.” “Đó cũng là suy nghĩ của tôi, vì tôi không đặt nó ở đây,” Jason trả lời. “ Không ư? Vậy thì là ai?” “ Tôi không biết,” Jason thừa nhận. “ Vậy thì nó dành cho ai?” Anthony hỏi, “ Bản thân tôi cũng muốn biết điều đó.” Anthony nhướng mày vào thời điểm đó. “Không có tấm thiệp nào sao?” Jason lắc đầu. “Không có. Tôi vừa thấy nó ở đây trên cái bệ này,” ông nói và đặt nó trở lại. Anthony cũng nhặt món quà lên để xem xét nó một chút. “Hmmm, ai đó chắc chắn đã bọc nó thật đẹp mắt. Em cá rằng nó sẽ thu hút bọn trẻ — ít nhất là cho đến khi chúng ta tìm ra nó là gì.” Khi nó xuất hiện, nó cũng thu hút cả người lớn. Trong những ngày tiếp theo, vì không ai trong gia đình nhận đã đặt nó ở đó, món quà đã tạo ra một cảm giác tò mò. Tất cả người lớn đều cầm lên chọc, lắc hoặc kiểm tra nó, nhưng không ai có thể tìm ra nó có thể là gì, hoặc nó dành cho ai. Những người đã đến cho đến nay đã tập trung trong phòng khách vào cái đêm khi Amy bước vào ôm một trong hai đứa con sinh đôi của cô ấy. “Đừng hỏi tại sao chúng cháu đến muộn, mọi người sẽ không tin điều đó đâu.” Cô ấy nói, thở một hơi rồi nói tiếp, “Đầu tiên bánh xe ngựa rơi ra. Sau đó, không đầy một dặm trên đường, một trong những con ngựa bị mất không phải một, mà là hai chiếc móng. Sau khi chúng cháu giải quyết xong tất cả và chúng cháu gần như đã ở đây, thì chiếc trục xe chết tiệt lại bị gãy. Cháu nghĩ chắc chắn lúc đó Warren sẽ đập tan chiếc xe ngựa tội nghiệp đó. Anh ấy đã đá nó cho hả giận. Nếu cháu không nghĩ sẽ đánh cuộc với anh ấy rằng chúng cháu sẽ đến đây hôm nay, cháu thực sự không nghĩ rằng chúng cháu sẽ đến nơi được. Nhưng mọi người biết đấy, cháu không bao giờ thua một vụ cá cược nào, vì vậy ... Nhân tiện, bác Jason, ngôi mộ không bia tội nghiệp nằm trong vùng đất trống đáng yêu ở phía đông ấy. Ngôi mộ nằm gần với con đường chạy qua khu đất của bác. Chúng cháu đã đi bộ qua con đường đó để đến đây, vì nó là con đường ngắn nhất vào thời điểm đó, chỉ cần đi qua khu đất trống đó.” Lúc đầu không ai nói một lời nào, vẫn còn buồn cười sau bài diễn văn dài đó. Nhưng sau đó Derek lên tiếng, “Nhớ lại ngôi mộ mà nãy em vừa nhắc đến, em họ. Reggie và anh đã tìm thấy nó khi bọn anh còn là những đứa trẻ đang tìm hiểu về điền trang. Đã từng luôn luôn có ý hỏi cha về nó, Cha không bao giờ nói đến nó, sau đó bọn con cũng quên nó luôn.” Lúc đó, tất cả mọi người đều đang nhìn về phía Jason, nhưng anh chỉ nhún vai. “Quỷ tha ma bắt nếu ta biết ai đã được an nghỉ ở đó. Ngôi mộ đó đã có ở đó từ trước khi ta được sinh ra. Ta đã hỏi cha ta về điều đó một lần, như ta nhớ lại, nhưng cha ta không trả lời, thực sự lúng túng và ấp úng rất nhiều. hình như ông ấy cũng không biết nên ta không hỏi lại.” “ Hãy nghĩ xem tất cả chúng ta đều đã nhìn thấy ngôi mộ đó vào lúc này hay lúc khác, ít nhất là những người trong chúng ta đã từng được nuôi dưỡng ở đây”, Anthony không nhắc đến ai cụ thể. “Một nơi kỳ lạ cho một ngôi mộ, và một ngôi mộ được chăm sóc tốt ở đó, trong khi có hai nghĩa trang gần đó, chưa kể nghĩa trang của tổ tiên ngay trên khu đất này.” Judith, người đang đứng cạnh cái bàn nhìn chằm chằm vào món quà bí ẩn, đến gần người chị họ Amy và giơ tay đỡ lấy đứa con song sinh hai tuổi khỏi tay cô. Judy cao so với tuổi của cô bé và rất thích chơi với những đứa trẻ mới biết đi. Amy chỉ ngạc nhiên là cô bé chả nói năng gì. “ Cái ôm của chị đâu, mèo con?” Khuôn mặt xinh đẹp nhìn chằm chằm vào cô một cách ương bướng. Amy nhướng mày về phía cha của cô bé. Anthony đảo mắt, nhưng vẫn giải thích, “Nó đang hờn dỗi vì Jack vẫn chưa ở đây.” Jack là con gái lớn của James và Georgina. Mọi người đều biết Jack và Judy, hai đứa chỉ cách nhau một tháng tuổi, không thể tách rời khi chúng ở cùng nhau, và chúng yêu nhau đến mức cha mẹ của chúng phải đảm bảo rằng chúng được thường xuyên ở bên nhau - đặc biệt là vì cả hai đều không hạnh phúc khi chúng cách xa nhau quá lâu. “Không phải,” Judith phủ nhận với một cái bĩu môi lầm bầm khi cô bé bước trở lại cái bàn. Jason là người duy nhất chú ý khi sự quan tâm của Amy tập trung vào món quà đang thu hút sự tò mò của mọi người. Ông sẽ không nghĩ gì, ngoại trừ biểu hiện của cô. Cái nhíu mày thoáng qua của cô khiến ông tự hỏi liệu cô có đang cảm nhận được điều đó không. Cô cháu gái này của ông có một sự may mắn phi thường, chưa bao giờ thua một cuộc cá cược nào trong đời, mà cô cho rằng đó là những “linh cảm”, như cách cô gọi chúng, mà cô có được. Jason coi những điều đó như những cảm giác quá kỳ lạ, đó là lý do tại sao ông sẽ không nhận ra nếu như cô đang có linh cảm đó ngay bây giờ. Vì vậy, ông cảm thấy nhẹ nhõm khi cái cau mày của cô dịu đi và cô dành sự quan tâm trở lại cho em trai ông. “Vậy là chú James vẫn chưa đến ạ?” Amy phỏng đoán từ phản ứng cuối cùng của Anthony. Anthony lẩm bẩm. “Chưa, và hy vọng anh ấy sẽ không đến.” “Ôi chao. Hai người lại đánh nhau ạ?” Amy lại phỏng đoán. “Chú á? Đánh nhau với anh trai thân yêu của chú à? Chú sẽ không nghĩ đến điều đó đâu,” Anthony trả lời, “Nhưng ai đó chết tiệt cũng phải nói với anh ấy rằng đây là lễ hội cho những lời chúc tốt đẹp chứ.” Derek cười khúc khích trước vẻ mặt chua ngoa của chú mình. “Nghe nói có tin đồn là chú James đang săn lùng chú. Điều gì đã khiến lần này chú ấy khó chịu thế ạ?” “ Nếu chú biết, thì chú sẽ biết cách để xoa dịu anh ấy, nhưng chú sẽ là con lừa nếu chú biết điều gì. Chú đã không gặp James trong một tuần vui vẻ, không phải từ khi chú bỏ Jack sau chuyến đi chơi mà chú dẫn các cô gái nhỏ đi cùng.” “Chà, James sẽ cho tôi biết nếu chú ấy không đến,” Jason chỉ ra. “Vì vậy, khi chú ấy đến đây, vui lòng gây lộn ở bên ngoài. Molly nghiêm túc phản đối máu làm vấy bẩn thảm.” Mời các bạn đón đọc Hiện Tại của tác giả Johanna Lindsey.
Hai Năm Trên Hoang Đảo
Một sự cố xảy ra trong đêm tối – du thuyền Sloughi mất tích và trôi dạt vào Thái Bình Dương, mang theo mười lăm cậu bé từ tám đến mười bốn tuổi, không một cơ may được cứu giúp cũng chẳng có người lớn nào để cậy trông. Vừa thoát khỏi bão tố và những con sóng dữ của đại dương, du thuyền lại dạt vào một miền đất hoang sơ, bí ẩn. Kì nghỉ hè mơ ước bỗng chốc hóa thành một "trường học" sinh tồn gian khổ: các cậu bé phải tự xoay xở để kiếm cái ăn, chốn ở và sống sót qua bao thử thách, hiểm nguy với hi vọng mong manh được thấy lại quê nhà. Hai năm trên hoang đảo của Jules Verne trước hết là một cuộc phiêu lưu kì thú mở ra bao điều mới lạ về thế giới tự nhiên, đồng thời khơi gợi khao khát trưởng thành và ý chí tự lập ở các em nhỏ. Nhưng nhìn rộng ra, đây cũng là bức tranh thu nhỏ về công cuộc thám hiểm và chinh phục những vùng đất mới từng là một chương quan trọng trong lịch sử loài người. Qua đó, độc giả có dịp hiểu thêm về mối quan hệ giữa con người nhỏ bé nhưng giàu trí khôn và nghị lực với thiên nhiên kì vĩ, đôi khi khắc nghiệt nhưng hào phóng vô cùng. *** Đã có nhiều Robinson khơi dậy lòng hiếu kì của các bạn đọc trẻ. Đó là một người đàn ông trong tác phẩm bất hủ Robinson Crusoe của Daniel Defoe, là một gia đình trong Robinson Thụy Sĩ* của Wyss, là một nhóm người trong Miệng núi lửa của Cooper, là một nhóm bác học trong Hòn đảo huyền bí của tôi. Người ta còn tưởng tượng ra Robinson mười hai tuổi, Robinson miền băng giá, Robinson thiếu nữ v.v. Mặc dầu đã có vô số truyện Robinson như vậy, tôi vẫn thấy cần thêm vào cho đầy đủ một nhóm trẻ em từ tám đến mười ba tuổi, bơ vơ trên một hòn đảo, phải vật lộn để sống còn giữa những thiên kiến do sự khác biệt về dân tộc, tóm lại, một kí túc xá những Robinson. Tác phẩm này đã có bản dịch tiếng Việt với nhan đề Lớn lên trên đảo vắng. (Sau đây các chú thích không có ghi chú gì thêm đều của người dịch). Mặt khác, trong truyện Thuyền trưởng mười lăm tuổi, tôi đã cố gắng chứng tỏ những gì một cậu bé, bằng lòng dũng cảm, trí thông minh, với ý thức trách nhiệm cao hơn lứa tuổi, có thể làm được để vượt qua bao gian khó, hiểm nguy. Nên tôi nghĩ rằng nếu đó là bài học bổ ích thì cũng cần được bổ sung cho hoàn mĩ hơn. Tác phẩm này ra đời nhằm mục đích kép ấy. Jules Verne *** Jules Gabriel Verne sinh ngày 8 tháng 2 năm 1828 tại Pháp và được coi là cha đẻ của thể loại Khoa học viễn tưởng. Để theo đuổi việc viết văn, Jules Verne đã bỏ học luật, nghề cha ông định hướng. Cuốn tiểu thuyết đầu tay thành công Năm tuần trên khinh khí cầu (1863) đã mở đầu cho hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng về sau của Jules Verne như Cuộc Thám Hiểm Vào Lòng Đất (1864), Hai vạn dặm dưới biển (1870), 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới (1873)… Các  tác phẩm của ông được dịch khắp nơi trên thế giới. Jules Verne mất ngày 24 tháng 3 năm 1905. Sau khi ông qua đời, nhiều tiểu thuyết chưa in của ông vẫn được tiếp tục xuất bản. - Ông là nhà văn Pháp nổi tiếng, được coi là người khai sinh ra thể loại văn học Khoa học viễn tưởng. - Tác phẩm của ông được dịch nhiều thứ ba trên thế giới và được chuyển thể thành phim nhiều lần. - Danh tiếng ấy chắc hẳn đã là đẹp đẽ lắm rồi. Tuy nhiên ông còn xứng đáng được nhiều hơn thế. Và thật không công bằng khi chúng ta kể lại lịch sử văn học của thời đại này mà không đặt tiểu thuyết gia có lẽ là có tính sáng tạo bậc nhất vào một vị thế đúng đắn. - Ông đã dùng phòng thí nghiệm và kính viễn vọng để viết tiểu thuyết phiêu lưu. Ông không chỉ ghi lại quá trình các nhà bác học tạo nên những phát minh lớn, mà còn tiên đoán chúng. Đọc những tác phẩm cùa ông, ta có thể nhận thấy những mâu thuẫn vì trong số những ý tưởng khoa học còn có những kiến phát chưa thể xác minh. Và bỗng dưng năm sau, hoặc vài năm sau, những giả thuyết mà ông đặt ra mà đôi khi thậm chí ông còn không tin, đã trở thành sự thật, một cách hoàn toàn chính xác. Những nhà bác học đã hoàn toàn đồng tình với ý tưởng của ông, hay nói cách khác, ông đã đi trước họ!.. - Trước đây, người ta vẫn đặt câu hỏi liệu khoa học thực sự có đi ngược hướng với trí tưởng tượng văn chương hay không. Các nhà triết học thì đồng tình, lules Verne chứng minh điều ngược lại qua hành động. Ông dùng chất liệu khoa học để xây dựng nên những câu chuyện hấp dẫn, những cuộc phiêu lưu lôi cuốn. *** I Trận bão - Con tàu bị hư hỏng - Bốn chú bé trên boong tàu Sloughi - Buồm trước rách tả tơi - Trong khoang tàu - Chú học việc thủy thủ bị chẹt cổ gần chết - Sóng đánh đuôi tàu - Thấy đất qua sương mù - Bãi đá ngầm Đ êm mùng 9 tháng 3 năm 1860, mây rà sát mặt nước, tầm nhìn xa chỉ vài sải tay. Biển động, sóng dậy dồn dập chiếu ra một thứ ánh sáng nhợt nhạt, một con tàu nhỏ gần như không giương buồm lao nhanh. Đó là một du thuyền trọng tải một trăm tấn mà người Anh, người Mỹ gọi là “schooner”. Tên chiếc schooner này là Sloughi. Nhưng giờ thì đừng hoài công tìm tên ấy vì tấm biển đề đã bị một sự cố - sóng đánh hay một cú va đập mạnh - làm vỡ ra từng mảnh rồi. Đã 11 giờ đêm. Ở vĩ độ này vào đầu tháng 3, đêm hãy còn ngắn. Đến 5 giờ sáng thì trời hửng. Nhưng liệu ánh mặt trời có làm giảm bớt hiểm nguy đang đe dọa con tàu không? Nếu sóng dịu xuống, gió lặng đi thì chắc nó sẽ không bị đắm, một tai nạn khủng khiếp nhất ở giữa đại dương, xa mọi mảnh đất, nơi những người sống sót có hi vọng được cứu giúp. Ở cuối tàu, bên bánh lái có ba chú bé, một chú mười bốn tuổi, hai chú kia cùng mười ba với một chú da đen học việc thủy thủ mười hai tuổi. Các chú hợp sức cố giữ cho tàu khỏi chệch hướng quay ngang. Công việc thật khó nhọc vì bánh lái cứ cưỡng lại, muốn quay ngược, có thể hất bay các chú qua thành tàu. Đã thế, gần nửa đêm, một con sóng trùm qua boong, đập mạnh vào sườn tàu đến nỗi các chú không bị văng mất đã là một sự thần kì. Cú đập làm các chú ngã nhưng đứng dậy được ngay. - Còn lái được không, Briant? - Một cậu hỏi. - Còn, Gordon ạ. - Briant đã trở về vị trí và bình tĩnh trả lời, rồi nói với cậu thứ ba. - Chúng mình phải vững vàng, Doniphan ạ! Phải dũng cảm vì bọn mình phải cứu mấy đứa kia. Briant nói bằng tiếng Anh, nhưng cách phát âm cho thấy cậu là người Pháp. Quay sang chú tập sự thủy thủ, cậu hỏi: - Mày có bị thương không, Moko? - Thưa cậu* không sao, - Moko trả lời. - Cần nhất bây giờ là giữ cho tàu gối lên sóng, không chệch hướng quay ngang, không thì chúng ta sẽ chìm nghỉm ngay! Vào thời ấy, tệ phân biệt chủng tộc da trắng, da màu rất nặng nề. Nguyên văn tiếng Pháp là “monsieur Briant”, đúng ra phải dịch là “thưa ông Briant”. Người dịch tạm dùng chữ “cậu” cho nhẹ bớt. Vừa lúc ấy, ca pô cầu thang xuống phòng khách du thuyền bật mở, hai cái đầu bé bỏng nhô lên mặt boong cùng một con chó dễ thương sủa mấy tiếng. - Anh Briant!… Anh Briant!… Chuyện gì thế? - Một chú bé chín tuổi gào lên. - Không, Iverson, chẳng có chuyện gì cả, - Briant đáp - em với Dole xuống ngay đi… nhanh lên! - Là vì chúng em sợ quá! - Chú nhóc thứ hai còn non tuổi hơn nói thêm. - Còn những đứa kia? - Doniphan hỏi. - Những đứa kia cũng sợ! - Dole trả lời. - Thôi, các em xuống cả đi! - Briant nói - Đóng chặt cửa lại, trùm kín chăn, nhắm mắt vào là hết sợ thôi! Chẳng có gì nguy hiểm đâu. - Chú ý! Lại sóng lớn! - Moko thét. Đuôi tàu bị đập mạnh. May sao sóng không trùm lên boong, nếu không nước sẽ qua ca pô cầu thang ùa vào, tàu nặng lên sẽ không đè trên sóng được. - Xuống ngay! Nếu không thì… liệu hồn! - Doniphan quát. - Thôi nào! Về buồng đi các em! - Briant nói, giọng ôn tồn hơn. Hai cái đầu vừa thụt xuống thì một cậu bé khác xuất hiện: - Briant! Có cần chúng mình không? - Không! Baxter, bốn chúng tớ là đủ, Cross, Webb, Service, Wilcox và cậu, các cậu ở lại với các em bé. Baxter sập ca pô xuống. “Những đứa kia cũng sợ!” Dole đã nói thế. Chẳng lẽ chỉ có toàn trẻ em trong con tàu đang bị cuốn theo gió bão này sao? Đúng, toàn là trẻ em! Bao nhiêu? Mười lăm đứa, kể cả Gordon, Briant, Doniphan và chú thủy thủ tập sự. Vậy các em xuống tàu trong hoàn cảnh nào? Ta sẽ sớm biết thôi. Và trên tàu không có một người lớn, không có thuyền trưởng để chỉ huy, không có một thủy thủ nào để sử dụng các thiết bị, không có một người lái nào để lái tàu hay sao? Không! Không có một ai! Vì thế, không ai trên tàu biết vị trí chính xác của tàu trên đại dương này! Mà là đại dương nào? Đại dương lớn nhất, Thái Bình Dương trải rộng hai nghìn dặm từ bờ biển Australia và New Zealand tới tận bờ biển Nam Mỹ. Vậy chuyện gì đã xảy ra? Tai họa nào đã làm thủy thủ đoàn biến mất? Phải chăng cướp biển Mã Lai đã bắt tất cả, để mặc đám hành khách trẻ con này, mà đứa lớn nhất mới suýt soát mười bốn tuổi, tự xoay xở lấy? Chiếc du thuyền một trăm tấn ít ra phải có một thuyền trưởng, một thủy thủ trưởng và năm, sáu người nữa. Thế mà cả cái bộ sậu tối thiểu để vận hành con tàu chỉ còn lại chú thủy thủ tập sự!… Cuối cùng, du thuyền từ đâu tới, từ vùng biển nào của Australia hay quần đảo nào của châu Đại Dương, đã đi từ bao lâu và định tới đâu? Bất cứ thuyền trưởng nào gặp tàu Sloughi ở vùng biển khơi này cũng sẽ hỏi như vậy và chắc chắn là bọn trẻ sẽ trả lời được. Nhưng có tàu thuyền nào đâu. Tàu viễn dương thường qua lại các vùng biển châu Đại Dương cũng chẳng thấy, mà tàu buôn chạy bằng máy hơi nước hoặc chạy bằng buồm, thường có hàng trăm chiếc từ châu Âu hoặc châu Mỹ sang các hải cảng Thái Bình Dương cũng không gặp chiếc nào. Mà dẫu có một con tàu khỏe có động cơ hoặc hệ thống buồm đi chăng nữa thì thủy thủ cũng phải tập trung chống bão, cứu sao được chiếc du thuyền đang nhấp nhô trên mặt biển như mảnh vỡ của một con tàu! Mời các bạn đón đọc .Hai Năm Trên Hoang Đảo của tác giả Jules Verne & Đinh Khắc Phách (dịch)
Bóng Tàu Ma
Reng... Reng... Reng... Tiếng chuông cửa reo vang. Ông Đốc gọi con: - Côn ơi, ra xem ai, con! Côn từ trên lầu chạy xuống. Tiếng khách vọng vào: - Ba có nhà không em? Côn lễ phép đáp: - Thưa thầy, có ạ! Mời thầy vào chơi. Côn dẫn khách vào phòng, ông Đốc đứng dậy bắt tay mời khách ngồi. Côn giới thiệu: - Thưa ba, đây là thầy Mạnh, giáo sư vạn vật ở trường con đó ba. - Hân hạnh được biết thầy – rồi ông quay sang Côn – Con vào rót nước mời thầy, con. Thầy Mạnh vào đề ngay: - Thưa ông bà, hôm nay tôi đến đây là để xin phép ông bà cho em Côn đi cắm trại ít bữa ở Đại Lãnh. - Ủa, thì ra thầy... Có, tôi có nghe thằng Phan nói lại như vậy. Nhưng... Vừa lúc ấy, Côn bưng nước ra: - Mời thầy xơi nước. Côn là con gái duy nhất của ông bà Đốc hiện ngụ tại một biệt thự xinh xắn tọa lạc trên đại lộ Duy Tân, trông thẳng ra bãi biển Nha thành thơ mộng. Tuy là con gái, nhưng Côn có bản tính nhanh nhẹn gan góc không kém con trai mấy. Nghe giáo sư Lê Mạnh đề cập đến vụ đi nghỉ hè, bọn trẻ ló đầu ra chờ kết quả. Thầy Mạnh nheo mắt ra hiệu: - Phan, Minh, An xuống rồi đấy hả? Ra đây các em. Bốn đứa trẻ ngồi quanh ông Đốc và giáo sư Mạnh. Phan, Minh, An là con của bà Liên, chị ruột của ông Đốc. Khi niên học sắp tàn, năm nào cũng vậy, Phan, Minh, An đều náo nức được đến biệt thự Thùy Dương, căn nhà của ông bà Đốc. Bà Liên sinh sống ở trên thành nhưng hàng ngày, ba đứa con vẫn đạp xe đạp xuống tỉnh học. Năm nay, bọn trẻ dự tính đi Đại Lãnh cắm trại nhưng xin mãi, ông bà Đốc vẫn nằng nặc không chấp thuận. May mắn thay, giáo sư Mạnh cũng cùng chí hướng nên ông cố nài: - Vâng, tôi biết ông bà không muốn để các cháu đi cắm trại xa quá, tại Đại Lãnh lận. Các em có nói lại với tôi. Tôi nghĩ đi một ngày đàng, học một sàng khôn, có tôi cùng đi kỳ này, các em không dám nghịch ngợm đâu. Ông Đốc cười nói: - Thầy nói thế chớ... Tụi nó nghịch dữ lắm, thầy không chịu nổi đâu – Ông nhìn Côn – Nhất là con Côn, con gái gì mà... bảo coi má làm bếp, chả chịu nghe gì cả. Bọn trẻ lo lắng chưa biết kết quả đi đến đâu. Thầy Mạnh tiếp: - Các em còn nhỏ cả mà, ông bà cứ để cho các em nô đùa. Các em học giỏi cả, tháng nào cũng xếp hạng cao, thế mà ông bà còn chê trách. Ông Đốc hớp một ngụm nước, hít một hơi thuốc, rồi thong thả nói: - Chúng tôi cũng muốn cho các cháu cùng đi với thầy. Nhưng... Côn van nài: - Ba, nhưng, nhưng hoài. Con đi mấy bữa, đâu có sao mà ba lo. Phan cũng vòi theo: - Cậu ừ đi cho rồi cậu! Ông Đốc nhìn bọn trẻ, ông cười: - Các cô các cậu nài dữ quá. Thôi được, tôi cho phép đấy. Bọn trẻ vui mừng ôm nhau cười ra nước mắt, con chó Tô Tô của Côn cũng nhảy cỡn lên sủa nho nhỏ. - Chúng em cám ơn thầy hết sức. Nhờ thầy chứ không... - Thôi, thế nhiệm vụ của tôi hoàn thành rồi nhé. Xin phép ông bà tôi về. Chủ nhật sau, tôi đón các em đi. Phan, Minh, An, Côn chuẩn bị nghe chưa, chủ nhật sau, thầy chở các em đi Đại Lãnh. Minh vỗ tay: - Vâng, chúng em sẽ lo đâu đấy trước. Thầy Mạnh leo lên xe rồ máy. Chiếc xe "cà tàng" giừn giựt mấy cái mới chịu lăn bánh. Mời các bạn đón đọc Bóng Tàu Ma của tác giả Hà Đức Nghi.
Bản Sao Không Hoàn Hảo
Một câu chuyện ngây ngô đáng yêu về hai cô nhóc dễ thương. Cứ tưởng chị em sẽ vui vẻ hòa thuận, nhưng hóa ra hai đứa lại như nước với lửa, cứ khều qua chọc lại nhau. Dù có bao nhiêu trò đùa kì quái đi nữa, nhưng thật ra họ lại thật sự yêu thương nhau. Mặc dù tính cách cực trái ngược nhau, đủ chuyện nhỏ to tranh giành nhưng đôi khi nhìn thấy đối phương lại cảm thấy cực kì thân thiết và có lẽ cả hai là người thân duy nhất thấu hiểu nhau. *** Hàn Băng Vũ tên thật là Vương Thị Bích Việt, sinh năm 1989, hiện đang sống cùng gia đình ở xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh. Năm 2006, Bích Việt thi đỗ vào Trường Đại học Hà Nội, khoa Tiếng Anh. Học được hai tháng, cô thi đỗ khoa Quan hệ công chúng tại một trường đại học danh tiếng ở Inđônêxia. Tháng 9 năm 2007, trong một dịp về nghỉ hè, cô theo bố từ Vân Đồn lên Hà Nội chơi. Trên đường trở về, một tai nạn giao thông thảm khốc đã giáng xuống đầu hai bố con. Bố mất ngay tại chỗ, còn cô thì thập tử nhất sinh, phải đi cấp cứu, sau đó gia đình đưa đi điều trị hết bệnh viện này đến bệnh viện khác và cuối cùng thì hậu quả để lại là đôi chân bị liệt hoàn toàn… Truyện ngắn đầu tiên Hàn Băng Vũ viết và gửi cho trang web radio online.com là truyện “Cho em khóc vì anh thêm lần nữa”. Ngay sau khi xuất hiện trên mạng, nó lập tức đã lọt vào trong top 20 truyện có số độc giả cao nhất. Tác phẩm: Không gì ngăn cách nổi tình yêu, Bản sao không hoàn hảo, Chỉ là yêu thôi mà, Cuộc đời thật hoàn hảo,... *** Trường tôi có một hotboy mới xuất hiện. Thực ra thì anh ta vẫn cứ sống ở đó hàng chục năm nay rồi, chỉ là anh ta mới được khai quật sau khi giành giải nhất cuộc thi tháng Olympia mà thôi. Nếu nói cho công bằng thì anh ta cũng chẳng đẹp trai lắm, chỉ là anh ta cao to và khác với những thằng con trai mọt sách khác ở chỗ anh ta không đeo hai cái đít chai ở mắt với mặt không có sủi cảo chứ cũng đen nhẻm đen nhèm, có đẹp đẽ gì đâu. Chỉ được cái sống mũi thẳng, trán cao, hàm răng trắng đều và nụ cười hơi duyên duyên một tí, đá bóng cực giỏi. Thế mà tự dưng sau một đêm, anh ta trở thành hotboy. Cả trường để ý tới anh ta, lũ con gái thì bàn tán, quan tâm xem anh ta có bồ chưa và lập kế hoạch cưa cẩm. Tất nhiên trong số đó không có tôi, tôi mà thèm quan tâm đến mấy anh chàng hotboy ấy à, mà tôi quan tâm thì cũng có được đâu, chẳng phải nhỏ Xuân Lan vẫn bảo tôi là thiểu năng đấy còn gì. Một trong số những người thích anh chàng hotboy có cái tên "nữ tính" Nhật Anh ấy là vật thể lạ sống trong nhà tôi. Tôi chẳng hiểu sao anh ta có điểm gì nổi bật, mà trong số một tá con trai theo đuổi nó, nó lại chọn anh ta trong khi anh ta hoàn toàn chẳng biết nó là ai. Người thích nó thì đẹp trai cũng có, vừa vừa cũng có, xấu tệ cũng có. Thông minh cũng có, học khá cũng có, dốt dốt cũng có, dốt đặc cũng có. Thế mà sao nó lại chọn anh ta? Có thể nó đang bị say nắng bởi cái vẻ chói lóa từ chiếc kỉ niệm chương Olympia và cái vòng nguyệt quế làm cho mê mẩn chăng? Hoặc có thể anh ta đã dụ dỗ nó ra căng tin và mua cho nó vài cái kẹo mút, hối lộ cho nó mấy ly kem vào giờ giải lao rồi chăng? Trời mới biết được... à mà tôi gần nó hơn trời, tôi không biết thì trời nào biết nữa. Nhưng tóm lại vẫn là nó đã để mắt tới anh chàng Nhật Anh hay Nhật Chị đấy. Dạo này nó thích chải chuốt, tết tóc hai bên hoặc buông xõa xuống, mặc váy và đi giày búp bê nhìn nữ tính. Động đất Nhật Bản ảnh hưởng tới tận Việt Nam chăng? Nó không chạy ầm ầm trong sân trường mà bẽn lẽn, rụt rè đi bên cạnh tôi. Bỗng dưng sao tôi thấy mình muốn độn thổ quá, sao cái gì nó cũng hơn tôi vậy ta? Lúc nó mặc quần Jeans, đi giày thể thao chạy nhảy hò hét, nhìn nó cá tính hơn tôi. Còn bây giờ nó mặc váy, đi giày búp bê sao nó cũng nữ tính hơn tôi nữa. Cái bóng đèn cao áp này quả là sáng lâu và sáng dai. Hay tại tôi thuộc cái loại dở dở không có tính cách rõ ràng nhỉ? - Nhật Anh! - Nó gọi lớn tên anh ta khi thấy anh ta chạy qua. - Hai bạn gọi mình à? - Anh ta tới gần, nở nụ cười tươi rói như quảng cáo Close up tự tin hơn gần nhau hơn. - Kìa, gọi anh ấy thì nói gì đi. - Nó huých tay tôi như thể tôi chính là thủ phạm trong việc dụ dỗ anh ta đến gần vậy. Tôi ấp úng, không nói được gì. - Chị em muốn làm quen với anh. - Cái giọng nó bẽn lẽn đến khó ưa. Mà... khoan đã, nó vừa gọi tôi là chị đấy sao? Sét nào vừa đánh từ tai trái qua tai phải thế nhỉ? Tôi quay cuồng, hóa đá ngay thời điểm đó. Tôi quay lại lừ mắt nhìn nó thì gặp cái nháy mắt đầy ẩn ý của nó đáp lại. - Em tên là gì? - Nụ cười anh ta nhìn hiền lành một cách điêu điêu. Tôi chẳng tin là anh ta hiền lành như thế đâu. - Chị em là Xuân Lan. Bí thư lớp Hóa 10a3 đấy. - Nó đẩy tôi nhích lên một bước. Trò đùa gì đây? Trao đổi danh xưng à? Tôi thề là lát nữa vào trong lớp, tôi sẽ bóp cổ nó. - Thì ra em là Xuân Lan. - Anh ta cười với tôi. - Còn đây là Lan Xuân hả? - Anh ta quay ra phía nó. - Anh biết tụi em hả? - Nó cười hí hửng, hình như quên mất cái vẻ nữ tính đang cố diễn nãy giờ. - Ừ, tất nhiên là biết rồi. Anh biết từ cuộc thi học sinh giỏi Hóa cấp tỉnh kì trước.Một người là Xuân Lan, còn một người Lan Xuân phải không? Cô gái nữ tính này chắc là Lan Xuân rồi Chờ mãi mà mặt đất chẳng nứt ra cho tôi giấu cái mặt đỏ bừng bừng, may mà đúng lúc đó tiếng trống vào lớp kéo bọn tôi ra khỏi anh ta. Nó còn quay lại vẫy tay tạm biệt như thể đã quen từ lâu lắm. - Chị bị khùng đấy hả? - Tôi hỏi nó. - Ừ, đang khùng đây. - Cái mặt nó nhơn nhơn. - Cho làm chị thêm một lần không thích à? Từ nay trước mặt Nhật Anh, cho mày đóng vai Xuân Lan vô cùng thông minh và xinh đẹp. Còn để chị mày đóng vai Lan Xuân, một con bé thiểu năng và ngây ngô. - Nó lại cười ha hả bằng cái giọng đáng ghét. Tôi nhéo vào hông nó, đập thêm một cái vào lưng kèm theo một từ "điên" rồi lầm bầm lôi sách ra ôn bài, không bận tâm về cái trò đùa của nó, chắc một phút xuất thần nào đó nó nghĩ ra rồi cũng sẽ quên luôn. Nó vẫn thường hay nghĩ ra những trò đùa nào đó mang "tầm chiến lược" nhưng rồi lại quên béng đi trước khi thực hiện. Cuối giờ học, tôi thấy cái tên Nhật Chị đó với một lũ con gái vây quanh ngoài cổng trường, tôi muốn lờ đi thì nó kéo tôi lại gần, vờ đi ngang qua mặt mà làm ngơ. Nó cúi mặt vào vai tôi cười khúc khích. - Cười cái gì đấy? - Tôi giống như con nai vàng ngơ ngàng, hỏi một cụ cáo già dù là đang sợ hãi con cáo già này sẽ ăn thịt mình bất cứ lúc nào. - Nhật Anh đang để ý. - Tiếng cười của nó càng rõ ràng. - Đừng quay đầu lại. Nó nhéo tay tôi khi tôi tò mò quay lại sau lưng theo phản xạ. - Nàng ơi! Nàng định ăn thịt hay lột da tôi thì nàng nói luôn cho tôi nhờ. Cứ như thế này tôi đau tim chết mất thôi. - Cứ để yên rồi sẽ biết. Hôm đó, anh chàng hotboy cùng chúng tôi về. Nó ngồi sau xe tôi, im thin thít không nói một câu nào. Anh chàng kia có hỏi câu nào thì nó cũng nhéo hông tôi để tôi trả lời. Bây giờ tôi mới biết mỗi lần đi cùng tôi, cái miệng nó mỏi mệt như thế nào. Về đến nhà, tôi lôi cổ nó vào phòng rồi hỏi một cách bực bội: - Nàng định cho tôi làm Xuân Lan thông minh xinh đẹp hay định cho tôi làm cáo già chín đuôi đấy hả? Tự nhiên bắt người ta đóng giả mình là sao? - Tôi tức giận. - Theo một nguồn tin mật, - nó cười lém lỉnh - thì chàng thích người nhu mì, nữ tính và giỏi nấu ăn. - Thế thì sao? - Thế mà còn phải hỏi à? Người có bề ngoài nhu mì, nữ tính, giỏi nấu ăn và ngây thơ vô số tội còn ai vào đây nữa. Là Vũ Ngọc Lan Xuân chứ có phải là Vũ Ngọc Xuân Lan đâu. Thôi, cho chị mượn tạm cái tên nhá. Cưa đổ thì chị khao một chầu kem. - Một tháng tiền tiêu vặt. Hai quyển truyện Harry Porter. Và một chầu kem ăn thoải mái. - Tôi ra giá. - Mà giả vờ im thin thít thế thì gọi là nữ tính à? - Tôi há hốc miệng hỏi nó. - Yên tâm. Có chiến thuật cả rồi. - Nó vỗ vai tôi rồi đi vào phòng đóng sầm cửa lại. Trong khi tôi vẫn mải há hốc miệng thì nó đã khóa chặt cửa ở trong phòng mà quên béng mất việc nó đang trốn dọn cơm thì tôi mới hét toáng lên. Nhưng cũng vô ích, nó luôn nhanh hơn tôi một bước. - Tối nay sinh nhật Hiếu lớp Sinh, đi nhá. - Nó nói với tôi như ra lệnh. - Không đi. Sao em phải đi? - Tôi ngoặc lại nó, vẫn còn ấm ức chuyện về Nhật Anh - Lệnh của tổng cục đấy. Quyết định rồi. Phải đi. - Nó lì lợm, giọng như thủ trưởng nói với cấp dưới. - Em không đi. Làm gì được em? - Tôi vênh váo nhìn nó. - Không đi cũng được. Nhưng ai không đi người ấy thiệt thôi. - Nó thản nhiên không quay lại nhìn tôi, vẫn mải sơn móng tay bằng cái màu đỏ chóe như vừa ăn thịt người. - Thiệt cái gì? - Tôi lại ngơ ngác như con nai vàng trước nó. - Nhật kí của em đâu? Em mà không đi, chị cho cả trường đọc. - Cái giọng nó thản nhiên đáng ghét. Sau một hồi lục tung giường chiếu, chăn màn, tôi phụng phịu: - Cái này là ép buộc nhau hả? - Ai ép buộc đâu. Tự do của mỗi người hơn mà. Đứa nào khôn, đứa đấy thắng. Tôi tức muốn trào nước mắt, mở tủ quần áo, lôi cái quần Jeans nó thích nhất ra đe dọa: - Chị mà không trả em, em cắt cái quần này của chị ra đấy. - Mặt tôi hằm hằm nhìn nó như kẻ thù muôn kiếp. Mời các bạn đón đọc Bản Sao Không Hoàn Hảo của tác giả Hàn Băng Vũ.